Văn Nghệ - Sài·gòn·eer https://saigoneer.com/vn/arts-culture Sat, 31 Oct 2026 19:01:40 +0700 Joomla! - Open Source Content Management vi-vn Tiếng cạp cạp thuở nhỏ và bầy vịt miền Tây của má tôi https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17939-tiếng-cạp-cạp-thuở-nhỏ-và-bầy-vịt-miền-tây-của-má-tôi https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17939-tiếng-cạp-cạp-thuở-nhỏ-và-bầy-vịt-miền-tây-của-má-tôi

Hôm rồi, đi dạo quanh khu nhà, tôi gặp một ông chú trung niên người nước ngoài đang dắt chó cưng đi chơi. Tôi mon men bắt chuyện làm quen. Nghe tới hai tiếng “Việt Nam,” mắt chú sáng rỡ, chú cười rồi buột miệng: “Mekong Delta [Đồng bằng sông Cửu Long]. Vịt.”

“Sao mà người ta nuôi quá trời vịt,” chú nói tiếp. “Giờ nghĩ lại trong đầu vẫn còn nghe tiếng cạp cạp.”

Cạp cạp. Ảnh: Alberto Prieto.

Vịt thả vườn

Miền Tây sông rạch giăng giăng, ruộng lúa thì mênh mông, xóm làng lúc nào cũng rợp bóng cây. Vịt ở đây nhiều vô kể. Nhà nào cũng thả vài con trong sân. Ngoại tôi cũng vậy, nuôi vịt để dành cho mấy bữa giỗ, Tết, hay có dịp gì cần tới. Người miền Tây quen xoay xở sao thì vịt cũng rành y vậy. Đàn vịt nhà ngoại hay tha lá chuối khô, chất đầy trong bụi chuối rậm để làm ổ. Ăn trứng luộc, trứng chiên riết cũng ngán, cỡ chừng 28 ngày sau đã thấy mấy con vịt con vàng khè, lông tơ bông xù, lúp xúp chạy theo mẹ ra ao tập bơi.

Má tôi cũng nuôi vịt, vừa để đỡ tốn tiền chợ, vừa kiếm thêm chút đỉnh. Nhưng vịt nhà má đâu có kịp đẻ trứng. Mập mập một chút là má bắt đem ra chợ liền. Má bỏ vô hai cái giỏ đan bằng lát chắc nịch, mỗi bên ba con. Vịt nằm chồng lên nhau, im ru, chỉ ló cái đầu ra ngoài, mắt tròn xoe, coi bộ như đã chịu số phận sắp bị làm thịt, vặt lông. Mấy con không bị đem đi chợ thì cũng sớm muộn có mặt trên mâm cơm nhà tôi.

Đen nhủi. Ảnh: Alberto Prieto.

Hồi nhỏ, một trong mấy việc tôi phải làm là cho vịt ăn ngày hai bận. Nhìn tụi nó bu lại ăn lấy ăn để, rồi ung dung lạch bạch đi chỗ khác, um sùm như cái hội chợ. Thức ăn thì có bèo tấm, hoặc rau muống bằm nhỏ trộn với cám gạo và nước. Nhưng món tụi nó mê nhất là ốc gạo. Ăn lẹ tới mức ốc chưa kịp sinh sôi trong cái ao má tôi vừa vớt về đã hết sạch. Không được thả vịt rong ngoài sân, vì hễ đi ngang cái gì là mổ lia lịa cái đó. Thỉnh thoảng, ba tôi còn ra ruộng lúa bắt thêm ốc đem về cho vịt. Gặp ốc là tụi nó giành nhau, ăn được bao nhiêu cũng không chừa. Ăn no nê rồi, cả bầy lại nằm dài dưới bụi chuối bên mé ao. Nước ao trong veo, tôm cá côn trùng không còn dụ được tụi nó nữa.

Vịt chầu ông bà

Má tôi đâu có thương vịt gì cho cam, nhưng mỗi lần làm thịt thì má cũng có cái lệ riêng. Má vuốt cái đầu nó, nói nhỏ: “Thôi, ráng đầu thai sang kiếp khác nghe con.” Rồi má nhổ mớ lông nhỏ ngay cổ, sát dưới cái đầu, chừa ra một chỗ trống. Ở đó má khứa nhẹ bằng cây dao làm thịt, cây dao má lúc nào cũng mài bén ngót sau mỗi lần xong việc.

Má khứa xong, hứng tiết chảy vô cái chén sứ trắng có rải sẵn ít nếp. Khi giọt cuối cùng nhiễu xuống, má bưng con vịt qua nồi nước sôi mà tôi được giao canh sẵn. Cái đầu vô hồn của nó lắc qua lắc lại, lòng thòng trên thân lông trắng đục.

Tôi thấy tội lắm. Con vịt mình nuôi, ngày nào cũng chăm mấy tháng trời, nay tận mắt nhìn bị mần thịt. Tôi nhớ rõ từng con hồi còn bé xíu, lông vàng óng, lăng xăng chạy lại mỗi khi thấy tôi bưng thau đồ ăn trên tay.

Ảnh: Alberto Prieto.

Mấy lúc đó tôi với má im ru. Cái gì cũng thiếu nên chẳng có gì bỏ phí, từng phần của con vịt đều được tận dụng: nào tim, mề, gan, ruột… cho tới lông, đầu, chân, và dĩ nhiên cả huyết. Lông vịt thì đem phơi nắng, rồi bỏ vô bịch nilông để dành bán cho mấy người ve chai. Họ thường chạy xe đạp cọc cạch dọc theo xóm, gần như lúc nào cũng ngay giờ trưa, khi cả nhà đang nằm võng lim dim. Vừa đạp vừa rao: “Ai ve chai, lông vịt bán hông?”

Vịt mần thịt

Mỗi năm, khi mai vàng nở trước sân, má lại nấu nồi thịt ba rọi kho hột vịt. Phải chờ tới Tết cả nhà mới được ăn món này. Má hay nói: “Vậy mới ngon. Ăn quài thì biết chờ gì nữa.” Má luộc hột vịt cho chín, rồi kho chung với thịt ba rọi bằng nước dừa. Kho riết, nước dừa sánh lại, óng ánh vàng nhẹ, thấm vô trứng vô thịt. Hột vịt thì giòn giòn, còn thịt thì mềm tới mức rục rã.

Ngoài món đặc biệt mỗi năm chỉ có một lần đó, má còn có thực đơn vịt không giống ai, chắc đầu bếp Michelin cũng khó nghĩ ra. Có bữa má nấu cà ri vịt, bỏ bột nghệ cho dậy màu, thêm cà rốt, khoai lang, chan ngập nước cốt dừa béo ngậy. Có bữa má kho vịt với nước màu dừa, nước mắm và cả đống gừng. Ăn vô cay nồng mùi gừng, ấm bụng dễ chịu. Bí quyết nằm ở chỗ gừng phải cắt hai kiểu: sợi thì nhai sần sật, thơm cay; bằm nhuyễn thì thấm vô thịt cho nhanh.

Theo y học cổ truyền, thịt vịt có tính hàn, nên khi nấu thường bỏ thêm gừng cho ấm người, ăn vô thấy cân bằng hơn. Ngoại kể, hồi ngoại còn nhỏ đã quen mùi gừng từ mấy nồi vịt kho trong xóm, thành ra tới đời con cháu cũng cứ vậy mà theo. Ngoại dặn, gừng với tỏi phải xắt trên thớt gỗ mới dậy mùi. Tôi nhớ lời ngoại, đem bày lại cho chồng. Ảnh nghe xong thì khoái, bữa cơm nào trong bếp cũng phảng phất mùi tỏi gừng.

Má hứng tiết vịt vô chén nếp sống, quậy cho đều rồi để cho mặt nếp se lại, sau đó luộc trong nồi đang sôi. Khi thì cháo, khi cà ri, có khi là món kho. Chín tới, miếng tiết đông lại như thạch, có màu nâu thẫm. Hột nếp lấm tấm bên trong, ăn dẻo dẻo, lại có vị ngọt nhẹ. Tới bữa, cả nhà ăn chung với thịt vịt, chấm nước mắm gừng.

Thỉnh thoảng, má nấu cháo vịt đãi cả nhà. Mấy bữa đó, ai cũng luôn tay luôn chân. Má rượt con vịt mập nhất, làm thịt rồi chặt đôi, thả vô nồi nước sôi với gạo rang. Vịt vừa mềm, má vớt ra dĩa cho nguội, gỡ từng thớ thịt. Tôi với chị chạy ra vườn, chặt cây chuối non, hái thêm rau răm để làm gỏi. Thịt xé trộn vô, ăn kèm nồi cháo vịt nóng hổi, chấm chén nước mắm gừng. Tôi húp cạn tô cháo, bụng vẫn còn đói cồn cào, thầm ước mai má lại nấu nữa. Cả nhà cũng vậy.

Vịt quay. Ảnh: Alberto Prieto.

Tôi mê nhất là vịt quay, món má chỉ làm mỗi dịp giỗ nội. Má thường đem vịt ra lò gần nhà để quay. Tới bữa, phải chờ nhang trên bàn thờ tàn hết mới được ăn, cúng nội ăn trước. Nội cười hiền, bận cái áo nhung đỏ mận mà sinh thời nội chưa từng bận lần nào. Vịt quay da giòn rụm, vàng óng, thịt thơm lựng. Ăn một miếng lớn chưa đã thèm, tôi còn mút sạch đầu ngón tay. Mùi vịt lẩn quẩn trong nhà mấy bữa chưa hết.

Vịt ngoài chợ

Chợ quê lúc nào cũng náo nhiệt, trái cây rau củ ê hề, người mua kẻ bán chen lấn, tiếng rao hòa lẫn tiếng xe máy inh ỏi. Giữa chợ búa ồn ào, chỉ cần nghe tiếng vịt kêu oai oái là biết ngay đâu là sạp vịt. Vịt thì đủ loại: nuôi thả vườn cũng có, nuôi nhốt cũng có. Nào là vịt xiêm, vịt cỏ, vịt Bắc Kinh… muốn mua kiểu nào cũng có. Người ta bày con vịt đã mần sẵn, để nguyên lòng ruột, nằm trên cái mâm bự như lá sen khổng lồ. Ai thích vịt sống thì cứ lựa một con cho ưng bụng, đi chợ xong xuôi rồi quay lại lấy.

Hồi còn ở một thân một mình, nửa con vịt cũng đủ tôi ăn trong hai ngày. Cả con thì chắc dư sức cầm cự lâu hơn, nhưng với cái khí trời nóng hầm hập, không có tủ lạnh thì nó sớm sình lên, nhớp nháp như con ếch dưới ao. Tôi thường nhờ cô bán vịt chặt giùm nửa con thành từng miếng nhỏ vừa ăn. Cô làm lẹ làng, xoẹt mấy đường kéo bén ngót như dao mổ. Hôm nào quên dặn, tôi lại phải lôi con dao để xó ra, chặt loạng choạng, miếng to miếng nhỏ.

Để đỡ tốn công, tôi cũng kho vịt. Bắt chước má, tôi ướp thịt với nước màu dừa, nước mắm, dĩ nhiên không thể thiếu gừng. Xong xuôi, tôi đậy nắp để lửa riu riu, rồi lo chuyện khác. Chừng nghe trong nồi xèo xèo là biết vịt đã chín tới.

Vịt lộn

Ngay bên mấy cô bán vịt là mấy cô bán trứng. Rổ trứng đủ cỡ, đủ màu, chất cao ngồn ngộn, chờ mấy bà nội trợ kỹ tính ghé lựa. Trứng gà, trứng vịt, trứng cút… trứng mới đẻ cũng có, mà trứng có cồ cũng có. Mà trứng có cồ thì lúc nào cũng là trứng vịt với trứng cút.

Hột vịt lộn. Ảnh: Brandon Coleman.

Hột vịt lộn từ xưa đã là món khoái khẩu. Người lớn kêu nó bổ lắm: nào sắt, nào canxi, thậm chí còn vitamin C gì đó nữa. Chưa thấy sách vở nào nói, mà thiên hạ cứ truyền miệng nhau từ đời này tới đời kia. Còn tụi nhỏ thì đơn giản lắm, ăn vì khoái, vì vui, đi chơi đêm nào không có thì thấy thiếu thiếu.

Hồi cấp ba, tôi và đám bạn còn bày ra trò “thi ăn hột vịt lộn.” Ai xử được nhiều nhất thì thắng, phần thưởng chẳng có gì ngoài tiếng vỗ tay rần rần của cả đám, coi vậy chứ còn quý hơn lời khen của thầy cô, ba má. Có bữa thằng bạn tôi làm liền sáu trái, còn tôi lặc lè tới cái thứ hai là bỏ cuộc. Bữa đó tôi thề chắc một năm không dám đụng tới nữa. Ấy vậy mà mới một tuần sau, tôi lại ngồi bên quán cóc, húp hột vịt lộn chung với đám bạn như chưa từng có chuyện gì.

Ăn hột vịt lộn cũng có “nghi thức” riêng. Trước hết, lấy muỗng gõ nhẹ đầu to, bóc cho hở một chút, húp cái thứ nước ngọt ngọt mằn mặn bên trong. Rồi tiếp tục lột vỏ, gặp tới lòng đỏ vàng chắc, xen mấy sợi gân máu đã chín. Xúc một muỗng, chấm vô chén muối tiêu chanh đâm ớt đỏ, kèm vài cọng rau răm. Vị béo bùi, giòn dai, lại thêm chua cay mặn ngọt hòa vô nhau; lá rau răm cay nồng, thơm hăng, ăn xong nóng cả người, thông cả mũi. Tới khi phần vịt non hiện ra, đôi mắt bé xíu như nhìn tôi trối chết, mà tôi cũng chỉ cười, rồi múc thêm miếng nữa. Xương nó đã thành, nhưng mềm rệu, nhai rốp là tan.

Một tiệm hột vịt lộn nổi tiếng ở Sài Gòn. Ảnh: Cao Nhân.

Vịt ơi vịt

Vịt không chỉ có mặt trên mâm cơm mà còn len vô cả lời ăn tiếng nói hằng ngày. Má tôi thì khỏi nói, cả một kho thành ngữ dính tới vịt. Thời thằng em tôi chưa đẻ, ba tôi cứ buồn buồn vì quanh bạn bè ai cũng có con trai nối dõi, còn nhà mình chỉ toàn con gái. Mấy lúc tụi tôi chẳng giúp gì được mấy việc nặng nhọc của đàn ông, má lại cười khúc khích mà nói: “Nhà này toàn vịt trời không hà.”

Hễ tôi lì, không chịu nghe lời, má lại than: “Y như nước đổ đầu vịt.” Sau này tôi mới biết bên tiếng Anh cũng có câu giống vậy, đại loại là “nước đổ lưng vịt.” Có khi tôi ngơ ngác không hiểu má nói gì, má lại lắc đầu: “Như vịt nghe sấm.” Làm việc gì chậm chạp, má liền hối: “Lẹ lên coi! Lạch bạch như vịt bầu.” Rồi để thúc sấp nhỏ ráng học hành cho có tương lai, má còn hù: “Không lo học, sau này đi chăn vịt ráng chịu nghen.”

Nhưng chăn vịt đâu có dễ. Người ta phải lùa cả ngàn con, hết đồng này qua đồng khác, chỗ gặt xong còn sót lại cua, ốc, châu chấu, hạt lúa cho vịt ăn. Chiều xuống, mặt trời vừa tắt, người chăn lại gom bầy vịt về chỗ nghỉ. Chân họ lúc nào cũng lem luốc bùn đất, ngủ thì khi ngoài trời sao, khi may mắn có cái chòi ọp ẹp bên bầy vịt để canh chừng, sợ vịt lạc hay đổ bệnh. Vịt đi tới đâu đẻ tới đó, họ lại phải lượm trứng đem về. Cực khổ vậy mà tiền công không được bao nhiêu. Hiểu cảnh đó, anh em tôi đồng thanh tuyên bố: làm nông đã ngán, ai mà dám chăn vịt.

Ảnh: Alberto Prieto.

Quay lại chuyện ông chú dễ thương đã gợi nhắc tôi về quê nhà. Chú nói: “Chú sẽ còn về miền Tây nữa.” Nhưng lại thề: “Hột vịt lộn thì không bao giờ ăn nữa. Nhất định không.”

Thấy tội cho trải nghiệm ẩm thực không vui của chú, tôi cười nói: “Tháng 12 vừa rồi, Taste Atlas có công bố danh sách mười món ăn đường phố kinh dị nhất. Hột vịt lộn đứng hạng nhì đó chú.”

“Thấy chưa!” — ông chú khoái chí gật gù.

Bất chợt, từ trên cao vọng lại tiếng quạc quạc liên hồi. Ngẩng lên, tôi thấy hai con ngỗng Ai Cập bay qua. Chắc chúng đang tìm đường về nhà, khi màn đêm sắp phủ kín bầu trời.

Một nỗi nhớ bỗng dâng tràn. Tôi nhớ bầy vịt miền Tây tung tăng ngày nào. Và nhớ má thiệt nhiều.

Ảnh bìa có sử dụng ảnh chụp của tác giả Bill Yeaton/Smithsonian Magazine.

]]>
info@saigoneer.com (Mai HD. Ảnh bìa: Mai Khanh.) Văn Hóa Fri, 23 Oct 2026 10:00:00 +0700
5 hiệu sách độc lập cho người Sài Gòn trót 'nghiện' mùi của giấy https://saigoneer.com/vn/literature/18234-5-hiệu-sách-độc-lập-cho-người-sài-gòn-trót-nghiện-mùi-của-giấy https://saigoneer.com/vn/literature/18234-5-hiệu-sách-độc-lập-cho-người-sài-gòn-trót-nghiện-mùi-của-giấy

Với thế hệ người Sài Gòn trưởng thành vào thập niên 2000–2010 như tôi, nhà sách có lẽ là một người bạn đồng hành thân thuộc suốt năm tháng tuổi thơ. Cũng không hẳn vì chúng tôi đam mê đọc đến thế, mà vì nhà sách là một trong số ít địa điểm ngày đó có máy lạnh phà phà miễn phí.

Thuở nhỏ, trong tâm trí tôi, quán cà phê có vẻ rất “người lớn,” giống chỗ người ta bàn chuyện hợp đồng và nhà đất hơn, chưa kể con nít cũng không có tiền rủng rỉnh vào quán. Tiệm tạp hóa có thể giúp giải tỏa cơn khát hay cơn thèm bánh snack, nhưng cũng không có chỗ ngồi, cho nên trước khi có cửa hàng tiện lợi, chúng tôi hay lê la trong thế giới sáng choang, sạch sẽ, thơm mùi giấy mực của nhà sách: như FAHASA, Nguyễn Văn Cừ, Minh Khai, Xuân Thu, Cây Gõ, v.v. Dường như chỉ lăng xăng ở gần sách thôi cũng đủ ươm mầm trong tôi niềm yêu thích đọc sách. Cảm ơn các anh chị nhân viên FAHASA ngày xưa thấy tôi đọc cọp cả ngày nhưng không xua đuổi.

Năm 2026 là một năm buồn cho nhà sách, vì phải tái cấu trúc và đóng cửa liên miên: tháng 4/2026, chuỗi Nhà sách Cá Chép chính thức tạm biệt độc giả sau 13 năm chinh chiến, rồi PNC cũng khép lại hành trình của Nhà sách Phú Thọ 44 năm tuổi nghề. Lý do đưa ra thường xoay quanh hành vi tiêu dùng thay đổi, kinh tế khó khăn, và chi phí vận hành leo thang.

Dẫu sao, nếu chỉ nhìn cục diện ảm đạm ấy để nhận định rằng người Sài Gòn không còn thích đọc sách nữa cũng không đúng, vì trong thời điểm này, một thế hệ người đọc mới đã và đang bắt đầu tìm đến trải nghiệm đọc, mua, và trải nghiệm sách quy mô nhỏ hơn, thân tình hơn, và đôi khi là vừa túi tiền hơn, tại những hiệu sách độc lập và hiệu sách cũ. Bài viết này nhằm giới thiệu một số địa chỉ như thế. Tuy mỗi tiệm sách dưới đây có tệp sách, khách hàng không hoàn toàn giống nhau, chúng đều có vài điểm chung: không quảng bá rầm rộ, người đọc chỉ tìm đến qua mạng xã hội và truyền miệng, và hơn hết, tiệm không chỉ chăm lo cho nhu cầu mua sách, mà còn quan tâm đến nhu cầu ngồi đọc và kết nối của người đọc.

1. Pages of Passion

Lầu 6, 35 Nguyễn Văn Tráng, phường Bến Thành, TP. HCM

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Đi thang máy lên lầu 6 của chung cư cà phê quen thuộc trên đường Nguyễn Văn Tráng, ta sẽ bắt gặp ngay cánh cửa nâu của Pages of Passion (tạm dịch: Từng trang say mê). Đây có lẽ là hiệu sách có tốc độ lan tỏa ấn tượng nhất trong 5 địa điểm trong danh sách. Thảo và Huy, hai bạn chủ tiệm, bắt đầu bán sách online hồi 2024, lúc đầu chỉ tìm sự khuây khỏa sau những giờ vật lộn với công việc văn phòng. Nhưng sau một thời gian, họ quyết định nghỉ làm để chăm chút cho tiệm sách toàn thời gian. Lúc Saigoneer ghé thăm lần đầu giữa năm 2025, hiệu sách chỉ đơn thuần trữ sách — cả mới và (hơi) cũ. Tuy nhiên, năm nay, Pages of Passion đã vụt lớn thành một cộng đồng đọc sách nhỏ, vừa có khu vực cà phê cho khách đọc, và một không gian nhỏ để mở workshop và tọa đàm nho nhỏ.

Pages of Passion chuyên về sách tiếng Anh, với nhiều tựa sách phong phú. Ai cần tìm những đầu sách kinh điển như Austen hay Dickens, nơi đây cũng đáp ứng được, nhưng tôi phải tán dương hai bạn chủ đã bỏ công sức tìm tòi, nhập về nhiều tựa sách mới và hiếm, chẳng hạn như việc dành hẳn một kệ bày sách tiếng Anh về Việt Nam: gồm tác giả gốc Việt và người nước ngoài viết chủ đề Việt. Cũng phải khoe luôn là Pages of Passion là người đồng hành của series Loạt Soạt do chính Saigoneer viết nhằm giới thiệu sách mới cho bạn đọc. Xem qua theo link này nhé!

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Liên hệ: Website | Instagram

2. InBook

25A Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Sài Gòn, TP.HCM

Khởi điểm của InBook là ở Hà Nội, nhưng gần đây, hiệu sách đã mở rộng chuỗi sang một góc nhỏ 2 tầng tọa lạc trên một quán cà phê trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chị Lan, người sáng lập InBook, từng du học tại Pháp và cũng tham gia nhiều dự án dịch sách Pháp sang tiếng Việt. Chị chia sẻ rằng quyết định mở ra InBook lúc đầu chỉ xuất phát từ mong muốn cho con gái mình được tiếp xúc với văn học thiếu nhi thế giới nhiều hơn, nhưng dần dà, ý tưởng đơn giản ấy đã đơm hoa kết trái thành hiệu sách khang trang ngày nay.

Kệ sách tại đây tập trung vào tệp sách mới tiếng Pháp và Anh. Trong chuyến “tiền trạm” tới InBook gần đây, tôi bắt gặp nhiều đầu sách văn học kinh điển, bên cạnh tiểu thuyết truyện YA (thanh thiếu niên), tình cảm, và trinh thám. Nếu cần tìm sách hơi hiếm một chút, có lẽ InBook không phải là địa chỉ thích hợp, nhưng tôi cũng khá tâm đắc với góc văn học Việt Nam tiếng Anh trong nhà sách, bên cạnh quầy nước giải khát miễn phí cho khách tới đọc sách. Chưa kể InBook cũng dành hẳn một kệ lớn ngay cổng vào để giới thiệu từng tựa sách nổi bật đi kèm review ngắn có tâm, viết tay.

Liên hệ: Website | Facebook

3. Bá Tân - Sách cũ Thư viện

451/22 Hai Bà Trưng, phường Xuân Hòa, TP.HCM

Ảnh: Cao Nhân.

Ghé thăm Bá Tân, mùi giấy cũ thoang thoảng trong gió, và những chồng sách cao ngút hai bên lối đi tạo nên khung cảnh rất thân thương, khiến tôi tưởng như lạc vào một mảnh ký ức nào đó ngày xưa, được đi các hiệu sách cũ với anh chị, nhưng là một phiên bản ngăn nắp, khang trang hơn. Chi nhánh trong con hẻm Hai Bà Trưng là một trong số những hiệu sách mà anh chủ Lê Bá Tân gầy dựng vài năm gần đây. Theo Tân kể, một ngày nọ, anh được người bạn cũ nhượng lại kho sách cá nhân khá đồ sộ, nên chụp hình sách đăng Facebook. Những tin nhắn bày tỏ ý muốn mua sách xuất hiện từ khắp nơi, nên anh quyết định thuận theo “ý trời” khuyên bảo mình nên vào nghề bán sách.

Ảnh: Cao Nhân.

Bá Tân chủ yếu bán sách cũ tiếng Việt, phân ra thành 2 khu vực chính: một gian bán sách cân ký, còn bên kia trưng bày sách cũ ngoại hình tương đối mới. Thư viện đầu sách ở đây có lẽ là phong phú và bao quát nhất trong danh sách này, bao gồm nhiều tựa sách từ bản in đầu của tiểu thuyết kinh điển cho đến truyện tranh nguyên bộ. Nhìn chung, giá sách khá mềm và các bạn nhân viên cũng rất am hiểu về sách để giúp bạn tìm được đầu sách như ý.

Ảnh: Cao Nhân.

Đọc bài viết của Saigoneer về Tiệm sách Bá Tân ở đây.

Liên hệ: Website | Facebook

4. Hiệu sách Mùi Của Giấy

41 Đường Số 9, KDC Trung Sơn, phường Bình Hưng, TP.HCM

Đây có lẽ là nhà sách có cái tên nên thơ nhất danh sách này: Mùi Của Giấy. Dù không gian trưng bày kệ sách hơi chật một chút, gian nhà cũng được chăm chút kĩ và vệ sinh, quét bụi sạch sẽ, phù hợp để khách đến ngắm nghía, chọn sách. Phần lớn sách tại đây viết bằng tiếng Việt, tuy nhiên tôi cũng “tia” được một chồng sách tiếng Anh vừa mới về. Nếu xương khớp không cho phép mình lăn lê tìm sách, bạn đọc cũng có thể ghé thăm trang web của hiệu sách hoặc nhờ hai bạn nhân viên giúp. “Nhân viên” ở đây ý tôi nói là nhân viên người, còn hai bạn “nhân viên” mèo thì không biết chữ để giúp — nhưng thôi vì quá dễ thương và thân thiện nên tha thứ hết. Ai không thể chờ được về tới nhà để đọc sách mới mua, thì Mùi Của Giấy cũng có thể đáp ứng với không gian đọc và thực đơn nước, đi kèm thẻ khách hàng thân thiết. Tôi cũng tò mò không biết 5 dấu thức uống hay 3 dấu mua sách sẽ đem lại bất ngờ gì.

Liên hệ: Facebook | Website

5. Emtrangtri Bookstore

451/50 Hai Bà Trưng, phường Xuân Hòa, TP.HCM

Tôi tình cờ bắt gặp Emtrangtri trên mạng xã hội và thấy có cảm tình, nên đã quyết định xách xe ghé thử. Khi vừa quẹo cua vào hẻm 451, tôi mới nhận ra đây cũng là chiếc hẻm địa bàn của Bá Tân, và hai tiệm cách nhau chỉ khoảng dăm căn nhà. Thật ghen tị với cư dân sống ở đây lâu đời, mỗi sáng dậy chỉ cần đi vài bước chưa kịp đổ mồ hôi là đã có thể tới ngay cửa những 2 hiệu sách.

Do Emtrangtri còn khá mới, không có nhiều thông tin trên mạng nên cảm giác bước vào tiệm khá bí hiểm. Khu vực trưng bày sách chỉ gói gọn trong phòng khách tại tầng trệt của một căn nhà hẻm. Vừa mở cửa bước vào, tôi đã bắt gặp ngay một bạn nhân viên đang ngồi sofa, vừa nghiền ngẫm sách vừa ăn bánh snack vừa nghe nhạc Laufey du dương. Tôi biết rằng mình đã tìm được một nơi chốn đồng điệu, vì đây cũng chính là điệu bộ của chính mình nếu ai đó tình cờ đi ngang nếu đang chúi mũi vào cuốn nào đó. Kho sách tại đây tập trung vào sách cũ tiếng Anh, Pháp, Việt, nhưng thú vị nhất là cách Emtrangtri chọn tựa sách rất hiếm. Đối với bất kỳ tác giả nổi tiếng nào, bạn sẽ khó lòng tìm được các tác phẩm nổi tiếng nhất của họ. Muốn kiếm Kiêu hãnh và Định kiến của Jane Austen hả? Rất tiếc, chúng tôi chỉ có Trang viên Mansfield.

Theo lời bạn nhân viên thì kho sách được các bạn “thrift [lụm] từng cuốn.” Nhìn chung, sách có giá trung bình, có thể hơi cao một chút so với mặt bằng chung, tuy nhiên đúng như lời bạn nhân viên, gu sách ở đây rất có chọn lọc. Tựa sách nào cũng hay, tôi cũng muốn đọc. Trong phòng khách còn có ghế sa-lông rất thích hợp để ngồi đọc một chút trước khi về, thậm chí không mua cũng ngồi đọc cọp được. Chắc chắn tôi sẽ quay lại, biết đâu với một bịch snack của riêng mình.

Liên hệ: Instagram | Threads

]]>
info@saigoneer.com (Khôi Phạm. Ảnh bìa: Vi Nguyễn.) Văn Chương Mon, 12 Oct 2026 15:00:00 +0700
Hien, từ Hungary đến Việt Nam, và câu chuyện âm nhạc qua 3 ngôn ngữ https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18233-hien,-từ-hungary-đến-việt-nam,-và-câu-chuyện-âm-nhạc-qua-3-ngôn-ngữ https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18233-hien,-từ-hungary-đến-việt-nam,-và-câu-chuyện-âm-nhạc-qua-3-ngôn-ngữ

Hien, tên thật Nguyễn Thanh Hiền, vừa phát hành album phòng thu đầu tay ”Trăng Qua” sau một thập kỷ viết và gom nhặt.

“Trăng Qua,” album phòng thu đầu tay của Hien, được thực hiện trong khoảng 10 năm. Những ý tưởng đầu tiên xuất hiện từ năm 2015, trong khi những ca khúc mới nhất được cô bắt đầu vào năm 2025. Album không được xây dựng từ một ý tưởng hoàn chỉnh ngay từ đầu. Hien viết từng ca khúc, hoàn thiện chúng qua nhiều giai đoạn, rồi chỉ sau một thời gian mới nhận ra những điểm chung giữa các bài hát.

Khoảng thời gian đó cũng chứng kiến nhiều thay đổi trong cuộc sống và cách làm nhạc của Hien. Sinh ra và lớn lên tại Budapest trong một gia đình Việt Nam, sau này chuyển đến Brooklyn, New York, cô đi qua ba ngôn ngữ và nhiều môi trường văn hóa khác nhau. Tiếng Việt là ngôn ngữ của gia đình và di sản; tiếng Hungary gắn với những năm tháng trưởng thành tại Budapest; còn tiếng Anh trở thành ngôn ngữ của cuộc sống và công việc sáng tạo tại Mỹ.

Bìa album “Trăng Qua.”

Với Hien, việc có nhiều thời gian để hoàn thiện “Trăng Qua” cũng đồng nghĩa với việc những ca khúc cũ có cơ hội được nhìn lại từ một phiên bản khác của chính cô.

Một album được hoàn thiện qua nhiều năm

Hien mô tả quá trình sáng tác của mình khá đơn giản: cô thường bắt đầu từ âm thanh, sau đó đến giai điệu, còn lời bài hát xuất hiện sau cùng. Nhưng trong suốt một thập kỷ, người thực hiện những bước đó đã thay đổi.

“‘Trăng Qua’ đã có nhiều thời gian hơn để chín,” Hien nói. Cô nhắc đến “Bloom,” EP phát hành năm 2021, như một bước chuyển tiếp trước khi đi đến album đầu tay. “Tôi đã trưởng thành — tôi trở thành một người phụ nữ trưởng thành và một nghệ sĩ trưởng thành,” cô chia sẻ. “Tôi mừng vì đã có thể tạm gác lại một số ca khúc này trong thời gian dài, bởi vì khi quay lại với chúng, tôi có thể nghe chúng bằng một góc nhìn mới mẻ hơn. Tôi cũng táo bạo hơn nhiều trong các lựa chọn sáng tạo của mình. Tôi ngừng chạy theo sự hoàn hảo và để cho phần sản xuất trở nên thô mộc, chân thật hơn.”

Hien mô tả quy trình sáng tác của mình: bắt đầu từ âm thanh, rồi đến giai điệu, và lời bài hát đến sau cùng.

Với những ca khúc đã nằm lại nhiều năm, việc hoàn thiện không nhất thiết đồng nghĩa với việc giữ nguyên cách chúng từng được viết. Hien cho rằng việc buông bỏ những phiên bản cũ của mình cũng là một phần tự nhiên của quá trình trưởng thành.

“Việc buông bỏ những phiên bản cũ của bản thân không hề khó, vì tôi đơn giản là đã trưởng thành vượt qua chúng rồi. Đó là một phần của sự trưởng thành, của việc tạo không gian cho con người mà mình đang trở thành.”

Những thay đổi ấy cũng thể hiện rõ trong cách Hien xử lý các chất liệu âm nhạc. “Trăng Qua” đi giữa electronic, ambient và pop, đồng thời sử dụng những ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau. Trong album có bolero, chèo, cải lương Việt Nam, dân gian Romani Hungary, Latin bolero, nhạc hợp xướng Bulgaria, R&B và hip-hop.

Hien không cố tái tạo những chất liệu truyền thống theo nguyên bản. Cô chọn những yếu tố mình quan tâm, từ giai điệu, kỹ thuật thanh nhạc, hòa âm, nhịp điệu đến tính chất cảm xúc, rồi đưa chúng vào cách làm nhạc của riêng mình.

‘Trăng Tàn Trên Hè Phố’ là ca khúc đầu tiên Hien phát hành bằng tiếng Việt, được làm lại từ sáng tác của Phạm Thế Mỹ và kết hợp bolero với drum & bass. Ở ‘next to you,’ cô sử dụng một đoạn từ ‘Xa Mối Tình Đầu,’ còn được biết đến với tên ‘Đoạn Tái Bút 2,’ sáng tác bởi Tú Nhi và Bằng Giang. Trong ‘through this phase,’ một đoạn từ ‘Tình Thư Hạ Vị,’ qua phần thể hiện của Minh Thu và Khắc Tư, được đưa vào một sáng tác electronic.

Hien tại buổi chụp hình cho “Trăng Qua”

Học lại Việt Nam từ khoảng cách

Mối quan hệ của Hien với Việt Nam cũng được hình thành theo cách tương tự. Cô lớn lên ở Hungary, trong một gia đình Việt, thay vì trải qua tuổi thơ và quá trình trưởng thành tại Việt Nam. Điều này khiến việc tiếp cận văn hóa và âm nhạc Việt Nam của cô luôn có một khoảng cách nhất định.

MV ’Bloom’ kể về những cô gái lớn lên trong văn hóa mẫu hệ M’Nông. Những câu chuyện về gia đình, cội nguồn, văn hóa và thiên nhiên tiếp tục trở thành những chất liệu quan trọng trong âm nhạc của Hien.

“Tôi sẽ không bao giờ trải nghiệm văn hóa Việt Nam giống hệt như một người sinh ra và lớn lên ở đó, nói tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ,” Hien nói. “Nhưng khoảng cách đó cũng cho tôi một góc nhìn khác. Nó cho phép tôi nhận ra, trân trọng và nâng niu những điều mà có lẽ một người lớn lên ở Việt Nam sẽ coi là điều hiển nhiên.”

Cô không xem khoảng cách này là điều cần phải che đi trong âm nhạc. Ngược lại, nó trở thành một phần trong cách cô tìm hiểu về nguồn gốc của mình: “Tôi vẫn còn rất nhiều điều cần học về Việt Nam, và tôi nghĩ quá trình khám phá không ngừng đó cũng là một phần trong âm nhạc của tôi.”

Một phần câu chuyện này đến từ gia đình, đặc biệt là người ông của Hien, Trần Thượng Tư, một nghệ nhân cải lương đến từ Bạc Liêu. Ông từng chơi đàn nguyệt, đàn nhị, guitar và violin, đồng thời làm việc tại Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang ở Sài Gòn và sau đó là Nhà hát Cải lương Trung ương ở Hà Nội.

Khi còn nhỏ, Hien thường dành mùa hè bên ông bà và nhớ hình ảnh ông ngẫu hứng chơi cải lương trên guitar. Nhiều năm sau, cô tìm lại những bản thu cũ của ông và đưa một phần tiếng đàn vào ‘trăng ơi,’ một ca khúc trong “Trăng Qua” Với Hien, đây gần như là một cách tiếp tục làm nhạc cùng người ông của mình, dù hai người thuộc về những thời điểm khác nhau.

MV ‘Jetplanes’ được xây dựng từ những thước phim VHS do gia đình Hien lưu giữ, trải dài qua ba địa điểm và nhiều thế hệ.

Câu chuyện gia đình cũng xuất hiện trực tiếp trong ‘Jetplanes,’ ca khúc thứ 15 của album. Bài hát nói về việc tìm kiếm những mái nhà mới và trải nghiệm của một người sống xa quê hương, gắn với hành trình gia đình Hien rời Việt Nam sang Hungary và hành trình của chính cô từ Budapest đến Brooklyn.

MV của ‘Jetplanes’ được thực hiện hoàn toàn từ những thước phim VHS của gia đình, quay tại Việt Nam và Hungary. Những đoạn phim năm 1992 tại một thị trấn gần Hải Phòng ghi lại gia đình bên nội của Hien; các tư liệu tại Hà Nội ghi lại những ngày Tết, bữa cơm gia đình, karaoke sinh nhật và hình ảnh ông bà ngoại; còn những thước phim tại Budapest ghi lại gia đình nhỏ và những người bạn đã đi cùng cô trong tuổi thơ.

Những tư liệu này không chỉ là phần hình ảnh đi kèm cho một ca khúc. Chúng cho thấy những địa điểm và con người đã hình thành nên câu chuyện của Hien, từ Việt Nam đến Hungary và sau đó là Mỹ.

Ba ngôn ngữ và những nơi chốn khác nhau

Trong “Trăng Qua,” tiếng Việt, tiếng Hungary và tiếng Anh cùng xuất hiện. Với Hien, mỗi ngôn ngữ gắn với một phần khác nhau của cuộc đời, nhưng chúng cùng tồn tại trong một album được tạo ra tại Brooklyn.

Việc hát bằng tiếng Việt cũng là một quá trình Hien phải học lại. Cô từng không tự tin với khả năng hát tiếng Việt của mình, trước khi bắt đầu tìm cách đưa ngôn ngữ này vào âm nhạc. ‘Trăng Tàn Trên Hè Phố’ trở thành bước đầu tiên, sau đó những chất liệu Việt Nam tiếp tục xuất hiện trong các ca khúc khác của album.

Cách Hien nhìn về Việt Nam vì thế không phải là câu chuyện của một người đã biết sẵn tất cả về nơi mình thuộc về. Nó là quá trình tiếp tục tìm hiểu thông qua gia đình, ngôn ngữ, âm nhạc và những ký ức được truyền lại.

“Trăng Qua” được tạo nên từ những ca khúc thuộc nhiều giai đoạn khác nhau trong cuộc đời Hien. Một số bắt đầu khi cô còn ở Budapest, một số được hoàn thiện sau khi cô chuyển đến Mỹ. Giữa chúng là những thay đổi về nơi sống, ngôn ngữ, âm nhạc và chính bản thân người viết.

Sau khi album phát hành, Hien cũng đang lên kế hoạch trở lại Việt Nam và hy vọng có thể ở lại khoảng một tháng vào dịp Tết Nguyên Đán để biểu diễn.

“Trăng Qua” hiện đã có mặt trên Bandcamp và được phát hành trên các nền tảng âm nhạc từ ngày 18.09.2026.

]]>
info@saigoneer.com (Huy Thịnh. Ảnh bìa: Ngọc Tạ.) Quãng 8 Sun, 11 Oct 2026 23:02:10 +0700
Đi tìm kiếm bức tranh sơn mài lớn nhất Việt Nam: 'Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX' https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/18231-hành-trình-tìm-kiếm-bức-tranh-sơn-mài-lớn-nhất-việt-nam-hà-nội-36-phố-phường-thế-kỷ-xix-của-nguyễn-thế-khang https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/18231-hành-trình-tìm-kiếm-bức-tranh-sơn-mài-lớn-nhất-việt-nam-hà-nội-36-phố-phường-thế-kỷ-xix-của-nguyễn-thế-khang

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1996. Trước chuyến đi Việt Nam kéo dài một tháng cùng 30 giáo viên Na Uy khác, tôi đã cất công tìm đọc những câu chuyện ít người biết và các địa danh hay bị bỏ qua trên sách báo, mạng Internet. Điều này xuất phát từ trải nghiệm dạy học cho người Việt tị nạn tại Na Uy hồi cuối thập niên 1970 và 1980. Trong quá trình tìm hiểu, một cái tên khiến tôi đặc biệt lưu tâm: họa sĩ Nguyễn Thế Khang. Ông đang ấp ủ một dự án tham vọng nhằm tái hiện 36 phố phường Hà Nội qua một tác phẩm sơn mài đồ sộ. Ngay hôm sau ngày đặt chân đến thủ đô, tôi đã vinh dự được ông đón tiếp tại nhà riêng ở số 47 Triệu Việt Vương.

Năm ấy, vị họa sĩ đã bước sang tuổi 74. Ban đầu, ông đón tiếp tôi bằng thái độ từ tốn lịch thiệp, nhưng sự nhiệt thành đã nhanh chóng xua đi bầu không khí khách sáo. Chỉ vài phút sau, hai chúng tôi đã đứng trước bản phác thảo cho dự án tâm huyết của ông. Bản phác thảo vẽ lại toàn cảnh 36 phố phường Hà Nội vào khoảng năm 1850, thời điểm trước khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ. Tác phẩm này sẽ được thực hiện bằng chất liệu sơn mài.

Dự án mang quy mô vô cùng lớn. Theo dự kiến, bức tranh hoàn thiện sẽ gồm 16 tấm ván lớn ghép lại, đạt kích thước 1,7 m x 10,08 m. Xung quanh tác phẩm là đường viền trang trí nổi chạm khắc các họa tiết minh họa những sự kiện lịch sử trọng đại và nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội. Tác phẩm cũng kết hợp thêm các câu đối viết bằng chữ Hán và chữ Nôm cổ. Tính cả phần khung, tổng diện tích bức tranh khoảng hơn 22 m².

Tác giả bài viết Olaf Husby (trái) và họa sĩ Nguyễn Thế Khang (phải) tại nhà riêng của ông ở Hà Nội vào năm 1996.

Họa sĩ Khang dự định sử dụng kỹ thuật sơn khắc. Phương pháp bắt nguồn từ Trung Hoa, đòi hỏi người thợ phủ nhiều lớp sơn đen lên một bề mặt gỗ đã qua xử lý. Đợi sơn khô, nghệ nhân bắt đầu chạm trổ các họa tiết lên bề mặt rồi mới tô màu, thếp vàng hoặc khảm thêm các vật liệu trang trí như xà cừ. Nhờ vậy, từng hình ảnh sẽ nổi bật sống động trên nền sơn đen tuyền.

Họa sĩ Khang trải rộng bản phác thảo dài chừng một mét rưỡi. Chẳng mấy chốc, mặt bàn ngập tràn các cảnh sinh hoạt đời thường của Hà Nội xưa với cổng thành, nhà cửa, chợ búa, cây cối, kênh rạch, thuyền bè, cầu cống, đền chùa. Khi hoàn thiện, tác phẩm sẽ tái hiện khoảng 400 nóc nhà thấp tầng cùng chừng 2.000 nhân vật thuộc mọi tầng lớp xã hội đang làm việc, trả giá, trò chuyện, dự lễ hay thực hành các tín ngưỡng dân gian. Lượng chi tiết đồ sộ đến mức tác giả buộc phải tinh lược ngay cả trên một bức tranh khổ lớn. Lấy ví dụ, phố Hàng Đào từng có 120 nếp nhà, song bản phục dựng của ông Khang chỉ có thể giữ lại 25 căn.

Phục dựng Hà Nội xưa

Quá trình chuẩn bị diễn ra vô cùng gian nan. Họa sĩ dành nhiều năm ròng rã nghiên cứu giai đoạn quanh năm 1850 và thu thập tư liệu về một thế giới cùng những phong tục gần như đã thất truyền. Các nông cụ, kỹ thuật và phương thức tác nghiệp từng làm nên tên tuổi của phố Hàng Bạc, Hàng Đào hay Hàng Bông nay chỉ còn là dĩ vãng. Ngay cả thông tin chi tiết về kiến trúc, trang phục và đời sống sinh hoạt cũng trở nên chắp vá.

Ông đặt ra yêu cầu phải xuất bản bằng được một ấn phẩm đi kèm tác phẩm, có nhiệm vụ khắc họa rõ nét bối cảnh lịch sử, cấu trúc khu Phố cổ cùng hệ thống điển tích văn hóa dưới một lăng kính bao quát hơn. Vốn kiến thức của ông chủ yếu đến từ những năm tháng học sử tại trường tư thục Thăng Long, một trong những ngôi trường lâu đời nhất Hà Nội. Thầy dạy sử của ông khi ấy chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tương lai. Rời ghế nhà trường, ông Khang vẫn miệt mài nghiên cứu các cổ thư tiếng Việt và tiếng Pháp viết về Hà Nội.

Cận cảnh tranh sơn mài của Nguyễn Thế Khang.

Nguyễn Thế Khang tự nhận phong cách của mình mang hơi hướm tân cổ điển, dù chưa từng qua trường lớp đào tạo mỹ thuật chính quy. Từ nhỏ, ông đã được tiếp xúc với nghề thêu thùa và thếp vàng. Về sau, ông trau dồi kỹ năng trong các hội nhóm nghệ thuật đương thời rồi dần khẳng định tên tuổi qua những bức tranh sơn mài và tranh lụa. Sự nghiệp nghệ thuật của ông chỉ thực sự cất cánh sau khi ông về hưu ngành bưu điện vào năm 1980, ở tuổi 58. Ban đầu, ông tập chép thư pháp Trung Hoa, nhưng tinh thần dân tộc trỗi dậy mạnh mẽ trong và sau cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979 đã thôi thúc ông tìm về những truyền thống lâu đời của Việt Nam, đặc biệt là các chủ đề về lễ hội dân gian.

“Sáu tháng nữa, tức chừng tháng 10 năm 1996, tôi sẽ khởi công,” ông quả quyết nói khi cuộn bản phác thảo lại.

Có điều, dự án vấp phải một rào cản lớn: kinh phí. Quy mô tác phẩm quá đồ sộ buộc ông phải thuê thêm thợ phụ. Để có tiền trả cho họ, ông đành cắn răng rao bán những bức họa trong bộ sưu tập cá nhân, những đứa con tinh thần ông nâng niu và chưa bao giờ có ý định nhượng lại. Vậy mà số tiền thu về vẫn chưa thấm vào đâu.

Tôi mê mẩn vô cùng. Trong mắt tôi, dự án này độc nhất vô nhị, chẳng giống bất kỳ tác phẩm sơn mài Việt Nam nào khác tôi từng xem qua. Nhận thấy sự hào hứng của vị khách phương xa, ông Khang đặt thẳng vấn đề: “Anh giúp tôi tìm nguồn tài trợ được không?”

Ông nhẩm tính cặn kẽ: chính xác là 78.200 đô la Mỹ. Khoản này sẽ bao trọn chi phí hoàn thiện tác phẩm, tiền công cho hai thợ phụ, thiết bị triển lãm tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, kinh phí truyền thông, cùng tiền in 1.000 cuốn ấn phẩm phụ trợ.

Rời ngôi nhà số 47 Triệu Việt Vương, tôi cẩn thận mang theo ghi chép, phác thảo, hình ảnh và tài liệu để làm hành trang đi xin tài trợ. Trong bản dịch tiếng Anh do chính tay mình chấp bút, họa sĩ Khang đặt tên cho dự án là ‘The 36 Old Street Quarter of Hanoi in the XIXth Century’ (Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX).

Hành trình tìm kiếm nguồn tài trợ

Vừa về đến Na Uy vào đầu tháng 4 năm 1996, tôi tức tốc đi tìm nguồn tài trợ dự án. Tôi chẳng quen vị mạnh thường quân nào đam mê hội họa Việt Nam. Bạn bè, người thân hay đồng nghiệp, có gom hết lại cũng không thể nào quyên góp được nửa triệu kroner. Giới nghệ sĩ Na Uy tuy phản hồi rất tích cực nhưng không ai hiến được kế gì thiết thực.

Rồi cơ hội cũng đến. Năm 1995, Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt sang thăm chính thức Na Uy. Tại tiệc chiêu đãi, Thủ tướng Na Uy Gro Harlem Brundtland bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam, đồng thời tuyên bố chính phủ sẽ mở đại sứ quán tại Hà Nội vào năm 1996. Trước đó, hai nước cũng đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1971.

Nguyễn Thế Khang.

Đến tháng 8/1996, Cơ quan Hợp tác Phát triển Na Uy (NORAD) công bố chương trình tài trợ văn hóa dành cho các nước đang phát triển. Cũng trong thời gian này, chính phủ Na Uy ấn định ngày khánh thành đại sứ quán tại Hà Nội đúng vào dịp Thủ tướng Brundtland sang thăm đáp lễ ngày 8/10.

Thời cơ đến quá gấp gáp. Tôi liền gửi toàn bộ hồ sơ về Nguyễn Thế Khang cho Bộ Ngoại giao Na Uy và ông Jens Kjell Otterbech, vị tân đại sứ tại Việt Nam. Do không kịp chuẩn bị hồ sơ xin tài trợ bài bản, tôi đề xuất chính phủ Na Uy rót ngân sách trực tiếp cho dự án này để rút gọn thủ tục. Làm vậy, họ cũng sẽ có một món quà đầy ý nghĩa đánh dấu ngày Na Uy chính thức có mặt tại Thủ đô.

Ngày 12/9, Đại sứ Otterbech đích thân đón tiếp họa sĩ Khang tại Hà Nội. Vài hôm sau tôi nhận được thư thuật lại sự tình. Ông Khang đã trình bày tường tận dự án, mang ra đủ thứ tài liệu cùng bản phác thảo khổ lớn và được dặn cứ yên tâm, không cần lo hạn chót nộp hồ sơ. Phía đại sứ quán sẽ trao đổi trực tiếp với Oslo vì họ không đủ thẩm quyền tự quyết. Cuộc gặp diễn ra hết sức thân tình, ngài đại sứ còn hứa sẽ ghé thăm nhà và xưởng vẽ của ông.

Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cuối cùng, sự tình cũng đã đến tai những người có tiếng nói quyết định.

Song, tham vọng của họa sĩ lúc này lại ngày một lớn. Ông rục rịch lên kế hoạch xây một phòng tranh tư nhân để trưng bày tác phẩm. Thấy giá nhà đất Hà Nội đang tăng phi mã, ông tin rằng đây là lúc phải chớp lấy thời cơ. Theo ông tính toán, nếu cất một tòa nhà năm tầng với đầy đủ tiện nghi sẽ tiêu tốn khoảng 200.000 đô la Mỹ. Cơ ngơi này sẽ cho thuê một phần, còn lại làm chỗ ở, không gian triển lãm, phòng trưng bày nghệ thuật, xưởng vẽ sơn mài và khu vực chế tác thủ công.

Ông xem đây là một nước đi “đón đầu” tuyệt vời. Ông đề xuất đại sứ quán Na Uy sẽ đứng tên tòa nhà, còn ông đảm nhận vai trò giám sát và quản lý. Nếu bán được bức sơn mài đồ sộ kia, ông hứa sẽ hoàn trả toàn bộ vốn liếng cho chính phủ Na Uy, rồi bắt tay làm một phiên bản thứ hai cách tân đôi chút để dành riêng cho một bảo tàng tư nhân.

Đó là lá thư cuối cùng tôi nhận được từ Nguyễn Thế Khang. Phần mình, tôi tự nhủ bản thân đã nỗ lực hết sức, còn chuyện chạy theo cơn sốt đất Hà Nội lúc bấy giờ quả thực nằm ngoài khả năng của mình. Bẵng đi một thời gian, hy vọng xin tài trợ từ chính phủ Na Uy vụt tắt, tôi cũng đành buông xuôi. Câu chuyện cứ thế chìm dần vào quên lãng.

 ‘Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX.’

Số phận tác phẩm về đâu?

Gần 30 năm sau, nhân lúc sửa soạn đồ đạc quay lại Việt Nam, tôi bỗng nhớ đến chuyện cũ: rốt cuộc bản kế hoạch vĩ đại của họa sĩ Nguyễn Thế Khang đã trôi dạt về phương nào?

Tra cứu trên mạng không mang lại nhiều thông tin, ngoại trừ một kết quả vô cùng quý giá: bài phỏng vấn họa sĩ Nguyễn Thế Khang đăng trên báo VnExpress ngày 22/2/2001 với tiêu đề “Số phận long đong của bức tranh lớn nhất về Hà Nội.”

Hóa ra sau 8 năm ròng rã và 300 triệu đồng bỏ ra, họa sĩ cũng hoàn thành tác phẩm. Ông định giá bức tranh 1,2 tỷ đồng, gấp 4 lần chi phí ban đầu, nhưng vì khách mua dự kiến là Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội, nên ông đã quyết định giảm giá xuống còn một nửa.

Các bức đã hoàn thiện của tác phẩm ‘Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX.’

Tác phẩm từng được trưng bày ngay tại trung tâm thủ đô trong đại lễ kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội vào năm 2000. Hết đợt triển lãm, người ta đành mang tranh cất vào kho đợi hội đồng chuyên môn chốt xem thành phố có mua hay không.

Giới chuyên môn lúc bấy giờ tranh cãi nảy lửa. Một bên cho rằng mua tranh là cách đền đáp công lao của nghệ sĩ, bên kia lại sợ châm ngòi cho cơn bão dư luận trong giới mộ điệu. Nhiều người từng đặt dấu hỏi về tay nghề của họa sĩ Khang, thậm chí coi ông là dân ngoại đạo. Hơn nữa, họ còn đau đầu trước một câu hỏi nhạy cảm hơn: tác phẩm này là nghệ thuật thực thụ hay chỉ dừng ở mức là đồ thủ công mỹ nghệ?

Ông Khang vẫn kiên định với mức giá đã chốt và tuyên bố sẵn sàng bán tác phẩm cho bên khác, thậm chí ra nước ngoài, nếu chính quyền Hà Nội từ chối mua. Khó khăn chồng chất khi sức khỏe của ông ngày một suy yếu, cần chi phí điều trị tốn kém hàng tuần. Cơ quan quản lý dùng dằng chưa quyết, bản thân lại mang gánh nặng bệnh tật, vị họa sĩ đành để ngỏ số phận tác phẩm tâm huyết của cả đời mình.

Một bài báo VnExpress khác xuất bản ngày 9/5/2001 đưa tin họa sĩ Nguyễn Thế Khang đã nhắm mắt xuôi tay trong những tháng ngày mỏi mòn chờ đợi. Gia đình mong chính quyền tôn trọng di nguyện của ông và mua lại tác phẩm. Đại diện cơ quan chức năng gửi lời chia buồn sâu sắc và khen ngợi bức tranh đã lột tả xuất sắc không khí lịch sử. Ngặt nỗi vì bức tranh quá lớn nên thành phố cũng không tìm đâu ra không gian đủ rộng để trưng bày cố định.

Lên đường tìm kiếm bức tranh

Quán cà phê ở 47 Triệu Việt Vương, nằm sát vách nhà cũ của họa sĩ Nguyễn Thế Khang.

Thế là mùa hè vừa qua, mang theo tinh thần của họa sĩ Khang, tôi thuê một phòng khách sạn trên phố Chân Cầm trong khu Phố cổ, và bắt đầu lân la gõ cửa các bảo tàng, không gian triển lãm xem bức tranh có đang lưu lạc nơi đâu. Bặt vô âm tín. Tôi quyết định đổi hướng tìm kiếm quyết liệt hơn.

Từ chỗ tôi ở đi bộ nửa tiếng là tới nhà cũ của ông Khang ở số 47 Triệu Việt Vương. Theo địa chỉ, tôi bước vào một khoảng sân yên tĩnh, nằm sát vách một quán cà phê nhỏ xíu. Lúc cô nhân viên trẻ bưng ly cà phê đá ra, tôi vận dụng mớ tiếng Việt bập bõm hỏi thăm về chủ cũ của căn nhà. Tôi viết tên ông cùng dòng chữ “tranh Phố cổ Hà Nội 36 phố phường” rồi vẽ nguệch ngoạc mấy nét phác họa. Cô gái mở Google Dịch lên và đưa tôi xem đúng một chữ: “Đợi.”

Lúc cô quay lại, tôi lờ mờ đoán được cô vừa chạy đi hỏi thăm hàng xóm và biết ông Khang có người con trai tên Nguyễn Thế Duy. Đáng tiếc là cô không có địa chỉ hay số điện thoại. Dù đã tiến thêm một bước, nhưng chặng đường phía trước xem ra vẫn còn mù mịt.

Thật may, một giám đốc sáng tạo tại Hà Nội, Trịnh Lan Hương, cũng hứng thú với câu chuyện này. Cô nhanh chóng kết nối được với anh Nguyễn Thế Duy và xác nhận anh đúng là con ruột của họa sĩ. Chúng tôi đánh xe rời phố cổ đến thăm anh và được đón tiếp nồng hậu. Có vẻ như cả gia đình đều có máu làm nghệ thuật: anh Nguyễn Thế Duy nay đã là một nhạc sĩ thành danh. Căn hộ của anh trông chẳng khác nào phòng tranh thu nhỏ, treo đầy các sáng tác cá nhân. Lẫn trong số đó, tôi nhận ra những bức sơn mài mang chữ ký Nguyễn Thế Khang.

Chữ ký của họa sĩ Nguyễn Thế Khang trên nhiều tác phẩm trưng bày tại nhà con trai ông.

Khi được hỏi thăm về các bức tranh sơn mài, anh Duy úp mở đôi chút rồi mở trang web của Old Streets Gallery. Toàn bộ tác phẩm hiện ra ngay trước mắt chúng tôi. Bức tranh không chỉ có 16 tấm như dự kiến ban đầu mà lên tới 21 tấm. Hai tấm ngoài cùng khắc chữ, 19 tấm còn lại phác họa toàn cảnh Hà Nội xưa kéo dài từ Hàng Than đến Hàng Khay và từ bờ sông Hồng đến tận Hàng Gai cùng Hàng Quạt.

Nhưng bản gốc hiện đang ở đâu? Hóa ra, tác phẩm đang được trưng bày tại cửa hàng Hồng Ngọc Fine Art ở số 110B Ngọc Hà thuộc quận Ba Đình.

Hồng Ngọc Fine Art, số 110B Ngọc Hà — nơi lưu giữ tác phẩm đồ sộ của họa sĩ Nguyễn Thế Khang.

Hành trình tái ngộ

Tôi đặt chân đến Hồng Ngọc Fine Art vào một ngày tháng Tư ấm áp. Cửa hàng bày biện la liệt tranh thêu, y phục, tượng điêu khắc cho đến vàng bạc, đá quý. Đích đến của chúng tôi nằm ngay gần cửa ra vào, nép mình khiêm tốn bên những món đồ lưu niệm bình dân. Dọc theo bức tường phía sau quầy thu ngân là những tấm ván sơn mài nằm cạnh tấm biển đề “tác phẩm sơn mài lớn nhất Việt Nam” mang tên ‘36 phố phường Thăng Long Hà Nội thế kỷ XIX.’

Đáng tiếc là không gian trưng bày lại không xứng tầm với tác phẩm. Dài hơn 15 mét, bức tranh dường như lọt thỏm giữa những bức ảnh khổ lớn và vô số hàng hóa phục vụ khách du lịch. Lớp sơn mài bóng bẩy phản chiếu đồ đạc trong cửa tiệm. Một quầy thu ngân dài chắn ngang khiến người xem không thể chiêm ngưỡng toàn cảnh hoặc tiến lại gần để ngắm nhìn kỹ các chi tiết. Rải rác quanh đó là vài mẩu giấy giới thiệu, kèm theo bản dịch các tấm hoành phi chữ Nôm.

Không gian trưng bày hiện tại của ‘Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX.’

Dù đã tìm lại được tác phẩm, nhưng liệu nhiệm vụ của chúng tôi đã thực sự khép lại? Cả nhóm muốn liên lạc với người chủ sở hữu. Theo lời anh Nguyễn Thế Duy, người này vốn yêu nghệ thuật và đã ngưỡng mộ tài năng của họa sĩ Khang từ lâu. Sau khi ông qua đời, vị khách này đã thuyết phục vợ ông nhượng lại bức tranh để mang về trưng bày tại cửa hàng. Về sau, vì nhiều biến cố cá nhân, ông phải sang nhượng cửa hàng và cũng rời khỏi Hà Nội. Mọi nỗ lực liên lạc với người chủ hiện tại đều đi vào ngõ cụt. Và bao nhiêu thắc mắc của chúng tôi đến nay vẫn đành bỏ ngỏ.

Dù vậy, chúng tôi không coi sự dang dở này là dấu chấm hết cho hành trình. Toàn bộ trải nghiệm vừa qua âu cũng là một cơ duyên, thắt chặt thêm tình cảm của tôi với mảnh đất, con người Hà Nội và cả Việt Nam.

Biết đâu đấy, câu chuyện chưa hẳn đã dừng lại ở đây, bởi giờ đây, khi nó được lan tỏa, nhiều cánh cửa mới có thể sẽ mở ra, không chỉ cho chúng tôi mà còn cho đông đảo công chúng. Khát khao lớn nhất của cả nhóm là tìm được một không gian triển lãm xứng tầm với hoài bão của họa sĩ Nguyễn Thế Khang. Tại đó, người xem sẽ có cơ hội gặp gỡ trực tiếp nguyên bản, khám phá tác phẩm thông qua công nghệ kỹ thuật số và tìm hiểu thêm về Hà Nội xưa qua một cuốn sách nghệ thuật được biên soạn chỉn chu. Còn hiện tại, bức tranh vẫn nằm đó, nhẫn nại chờ đợi những tâm hồn yêu nghệ thuật chịu khó gác lại vẻ ngoài khiêm tốn của một tiệm đồ lưu niệm để chiêm ngưỡng kiệt tác chắt chiu từ tầm nhìn và tâm huyết của cả một đời người.

]]>
info@saigoneer.com (Olaf Husby và Trịnh Lan Hương. Ảnh: Olaf Husby. Ảnh bìa: Mai Khanh.) In Plain Sight Sun, 11 Oct 2026 10:00:00 +0700
Mùa Trung thu, ghé thăm xưởng chế tác đầu lân thủ công ở Sài Gòn https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18217-mùa-trung-thu,-ghé-thăm-xưởng-chế-tác-đầu-lân-thủ-công-ở-sài-gòn https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18217-mùa-trung-thu,-ghé-thăm-xưởng-chế-tác-đầu-lân-thủ-công-ở-sài-gòn

“Niềm đam mê múa lân đã ngấm vào máu thịt. Hồi xưa, không biết bao nhiêu đứa con nít sẵn sàng bỏ học, bỏ làm chỉ để đi theo đoàn lân,” anh Bành Chí Hùng, chủ cơ sở sản xuất đầu lân Thuận Anh Hãng tại Sài Gòn, chia sẻ.

Nhắc đến múa lân, người miền Trung thường nghĩ ngay đến dịp Trung thu, còn tại Sài Gòn, Tết Nguyên đán mới là mùa rộn ràng nhất. Dẫu vậy, những tuần giáp rằm tháng Tám vẫn khiến anh Hùng bận rộn đến mức gần như dành trọn mọi lúc không chợp mắt để hoàn thiện đơn hàng. Giữa lịch trình dày đặc, anh vẫn dành chút thời gian mời Saigoneer ghé thăm xưởng chế tác tại nhà riêng ở phường Bình Hưng Hòa, để tận mắt quan sát quy trình làm lân cũng như lắng nghe câu chuyện về công việc của mình.

Anh Hùng cùng thợ ngồi làm việc ở tầng trệt phủ kín đầu lân.

Từ những vật liệu cơ bản như tre, mây và dây kẽm, nghệ nhân ráp nối tỉ mỉ để tạo nên bộ khung đầu lân. Sau đó, họ bồi giấy kỹ lưỡng, chờ bề mặt cứng lại rồi mới bắt đầu vẽ tay. Toàn bộ quy trình này kéo dài đến 5 ngày, chưa kể 2 ngày nữa để hoàn thiện phần thân lân. Mỗi “chú lân” thành phẩm có giá từ 5 đến 7 triệu đồng, được phân phối đi khắp các tỉnh thành cả nước và xuất khẩu sang thị trường quốc tế như Pháp, Mỹ, Malaysia, Singapore, Hồng Kông và Thái Lan.

Phần khung phải được lắp ráp kỹ lưỡng để cho ra thành phẩm chất lượng.

Phải đợi lớp giấy bồi khô ráo hoàn toàn thì nghệ nhân mới có thể tô vẽ.

Anh Hùng đã gắn bó gần như trọn đời với nghệ thuật múa lân, nhờ vậy anh thấu hiểu sự chuyển dịch trong thị hiếu thiết kế cũng như bước tiến của chất liệu. Chẳng hạn, đầu lân đời mới có bộ khung nhẹ và dễ thao tác hơn; các loại keo dán hiện đại cũng giúp thợ đi cọ trơn tru, vẽ nên những đường nét sắc sảo cùng gam màu rực rỡ. Do làn sóng giao lưu văn hóa những năm gần đây, tạo hình và họa tiết lân Việt Nam cũng bắt đầu mang hơi hướm ảnh hưởng từ các nước bạn như Malaysia, Trung Hoa hay Hồng Kông. Thế nhưng theo anh Hùng, không phải cái gì mới thì cũng tốt hơn. “Anh vẫn chuộng kiểu truyền thống. Người ta thấy được nét hoài cổ khi nhìn vào một con lân truyền thống.”

Các mẫu mã hiện đại thường sặc sỡ và cầu kỳ hơn so với những kiểu dáng quen thuộc thời anh Hùng còn trẻ.

Dù trung thành với truyền thống, anh Hùng vẫn đáp ứng các thiết kế do khách hàng đặt riêng, như gắn thêm các chi tiết phá cách như răng-sừng inox hay đèn LED. Dẫu hình thức có biến tấu đến đâu, không thể thiếu vẫn là khâu “khai quang điểm nhãn.” Cứ đến ngày lành tháng tốt, anh cùng thợ sửa soạn mâm cúng tươm tất rồi tự tay điểm mực vào chính giữa đôi mắt lân. Bất kỳ ai cũng có thể mua lân mang về, nhưng trước khi chính thức đem ra múa, nhất là ở miền Nam, lân bắt buộc phải qua nghi thức này để thực sự có được “thần khí, linh hồn.”

Đầu lân đang đợi được điểm nhãn.

Completed heads ready to be delivered to customers.

Đứng giữa ngổn ngang đầu lân, anh Hùng cười hóm hỉnh nói: “Ví dụ một món đồ nào em bán được người ta mới nhái! Em không đẹp, ai mà nhái em ra làm gì? Càng nhiều người học hỏi, càng nhiều người chép ra mình có giá trị hơn. Cái đó mình phải hãnh diện chứ!” Sự tự tin của anh hoàn toàn có cơ sở, bởi tay nghề của anh đã được bảo chứng bởi nhiều giải thưởng quốc tế cùng lượng đơn hàng hằng năm nhiều không đếm xuể. 

While overshadowed by the lions, Ông Địa plays a crucial role in all performances and Hùng makes these masks as well.

Hùng makes somewhat traditional and more experimental versions.

Anh Hùng hiện là một trong những thợ làm đầu lân có tiếng nhất thành phố, nhưng anh đến với nghề này từ một cái duyên khác. “Hồi nhỏ cứ nghe tiếng trống lân là anh phóng ra coi. Nghe tùng tùng là cắm cổ chạy ra đường tìm xem trống đánh ở đâu, lân múa chỗ nào,” anh kể. Múa lân mới chính là niềm đam mê lớn nhất của anh. Sau nhiều năm ròng rã đi diễn, anh được người đi trước chỉ dạy cách làm đồ nghề để tự sử dụng. Hiện tại, khi tuổi tác không còn cho phép, anh mới lùi về xưởng và chuyển hẳn sang công việc chế tác. 

Dàn mai hoa thung ngày nay đòi hỏi võ sinh phải biểu diễn ở độ cao "khó nhằn" hơn hẳn trước kia.

Nếu như nghệ thuật múa lân xưa mang nhiều sự phóng khoáng và dấu ấn cá nhân, thì theo anh Hùng, nghề này hiện nay đa phần đã đi theo quy chuẩn chung.  “Hồi xưa thì mỗi người mỗi kiểu. Bây giờ là kiểu quốc tế rồi, chung kiểu hết. Thi đấu thì mỗi tổ chức đại diện sẽ lấy một bộ ra là giống hệt, bài thức y chang nhau,” anh chia sẻ.

Các vũ sư ngày nay không còn phải phòng hờ những trận “hỗn chiến” như xưa.

Từ ngày bài trống, bước nhảy và độ cao dàn cọc được chuẩn hóa, nghề múa lân Sài Gòn cũng không còn tính chất “giang hồ bạo liệt” khét tiếng một thời. Đã có giai đoạn, các đoàn lân ra đường chạm mặt nhau phân định hơn thua không chỉ bằng kỹ thuật múa. “Hồi xưa là hai đội lân đụng nhau, uýnh trống sung lên, kình nhau là đánh lộn. Tiếng trống vang lên ghê lắm, bên này đang lên, bên kia cũng không chịu thua là quất,” anh Hùng kể.  “Còn nếu uýnh trống lạy thì hai bên lạy, lễ qua lễ lại không có gì.”

“Hồi xưa máu lắm, uýnh lộn hoài. Với lại đội lân toàn mấy người giang hồ, còn bây giờ văn minh rồi. Mấy vụ đó giờ hết, bây giờ có nhà nước cấp giấy phép đàng hoàng.”

Ngay cả khi tập luyện, nguy hiểm vẫn luôn rình rập.

Trang phục lân của anh Hùng không chỉ xuất hiện tại các đấu trường quốc tế mà còn đồng hành cùng vô số lễ khai trương, tiệc cưới và các sự kiện quanh năm. Các vũ sư chuyên nghiệp luôn phải ở trong tâm thế sẵn sàng và miệt mài rèn luyện suốt năm để giữ vững phong độ.

Chẳng có đám đông vây quanh, những buổi tập thiếu vắng sự rình rang, nhộn nhịp thường thấy lúc đi diễn.

Sau nhiều lần dời lịch vì trời mưa, Saigoneer mới có dịp được tận mắt xem đội lân ra sân. Sau đây là một vài khoảnh khắc ôn luyện của các vũ sư:

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Ảnh; Jimmy Art Devier, Huy Leo and Bạch Văn Quốc Khánh.) Văn Hóa Thu, 24 Sep 2026 20:26:32 +0700
Nghệ nhân phỗng đất làng Đông Hồ giữ hồn đồ chơi dân gian vùng Kinh Bắc https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18215-nghệ-nhân-phỗng-đất-làng-đông-hồ-—-người-giữ-hồn-đồ-chơi-dân-gian-vùng-kinh-bắc https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18215-nghệ-nhân-phỗng-đất-làng-đông-hồ-—-người-giữ-hồn-đồ-chơi-dân-gian-vùng-kinh-bắc

Một người bạn từng tặng ông Phùng Đình Giáp một bài thơ mang tên ‘Người giữ hồn đồ chơi dân gian.’ Suốt hơn 60 năm, ông và vợ, bà Nguyễn Thị Điểu, là những người cuối cùng ở khu phố Đông Khê, phường Song Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, còn nặn phỗng đất. Mỗi nhân vật ông sư, ông phỗng, con chim, con rùa bằng đất thó và giấy bản đều mang theo một bài học đạo đức.

Trong tủ kính nhà ông Phùng Đình Giáp, cạnh những tác phẩm bằng đất nung, có một tờ giấy đã ngả màu: bài thơ ‘Người giữ hồn đồ chơi dân gian’ mà một người bạn, ông Vũ Kim Tôn, viết tặng ông vào tháng 6/2020. Đó là cách gọi chính xác nhất cho việc ông Giáp đã làm suốt hơn 60 năm qua.

Thăm anh vào một chiều hè
Được nghe anh kể một nghề đam mê
Sinh ra từ một làng quê
Truyền thống các cụ làm nghề dân gian
Chỉ từ đất sét làm nên
Nào là ông phỗng lại thêm chim, rùa
Thời gian dầu dãi nắng mưa
Giữ gìn nghề tổ sớm trưa miệt mài
Không bon chen chẳng khoe tài
Thổi hồn vào đất biệt tài nghệ nhân
Song Hồ nhân kiệt địa linh
Ngàn năm văn hiến danh vinh làng nghề.

Ngày 19/6/2020 — Vũ Kim Tôn

Bài thơ ‘Người giữ hồn đồ chơi dân gian’ do ông Vũ Kim Tôn tặng ông Giáp ngày 19/6/2020.

Đằng sau 5 nhân vật truyền thống

Ông Giáp học nghề từ bố từ năm 6-7 tuổi. Ông không chỉ học cách vê đất, nặn hình, mà học cả câu chuyện đằng sau từng nhân vật. Bộ phỗng truyền thống gồm 5 nhân vật, mỗi nhân vật ẩn chứa một bài học: ông sư mang tính chất tâm linh, là hình mẫu các cụ muốn dạy con cháu có tâm có đức, từ bi, sống lương thiện mới thành người tốt. Ông phỗng đứng tượng trưng cho thế hệ người cao tuổi; em bé tay cầm bông hoa, tượng trưng cho thế hệ mầm non. Hai nhân vật ấy đứng cạnh nhau như một lời nhắc về sự nối tiếp: người già rồi cũng mất đi, nhưng luôn có một thế hệ mới sinh ra, như tre già măng mọc.

Đôi bàn tay của ông Giáp, nhào nặn đất thó từ năm ông mới 6, 7 tuổi.

Con chim mang hai lớp nghĩa: trước hết là khát vọng, luôn sải cánh bay cao mang thông điệp hòa bình; sau đó là sự đoàn kết, bắt đầu từ anh chị em trong nhà, rồi đến ông bà cha mẹ, rồi lan rộng ra ngoài xã hội. Con rùa cũng mang hai lớp nghĩa: không được lùi bước, vì việc nhỏ nhất cũng cần sự kiên trì; và phải quyết tâm vươn lên vượt qua khó khăn, như những vị thần rùa trong truyền thuyết Việt Nam — Thần Kim Quy, Thần Rùa Hoàn Kiếm. Đó là lý do, ông nói, mình theo nghề không hẳn vì miếng cơm: “Cảm thấy bộ phỗng có giá trị giáo dục đạo đức rất cao nên cứ âm thầm thích, giữ gìn thế thôi.”

Bộ phỗng đất truyền thống 5 nhân vật — ông sư, ông phỗng đứng, em bé cởi trần mang bông hoa, con chim và con rùa — mỗi nhân vật mang một bài học đạo đức ông Giáp được cha truyền lại từ nhỏ.

Một nghề truyền thống trăm năm, giờ chỉ còn một gia đình gìn giữ

Theo lời bà Nguyễn Thị Điểu, vợ ông Giáp, nghề phỗng đất đã có ở Đông Khê từ rất lâu trước khi bà về làm dâu, có khi đã hàng trăm năm, truyền từ đời này sang đời khác một cách tự nhiên, đến mức không ai trong nhà còn nhớ rõ mốc thời gian chính xác.

Nghề mai một, theo ông Giáp, đến từ hai nguyên nhân. Một là thiếu người quảng bá, tuyên truyền để nghề được biết đến rộng rãi hơn. Hai, và đây mới là lý do khiến gần như cả làng bỏ nghề, là phỗng đất chỉ “sống” đúng một lần mỗi năm, vào dịp Trung Thu, nên không mang lại lợi ích kinh tế đều đặn. Người làng dần chuyển sang cấy lúa, làm ruộng, và về sau là làm vàng mã, những nghề mang lại thu nhập đều đặn hơn quanh năm. “Đây chỉ coi như là nghề phụ,” ông nói.

“Bây giờ chỉ còn một mình tôi,” ông nói, “làm để phục vụ con cháu trong nhà rồi anh em con cháu hàng xóm.” Một gia đình vẫn âm thầm giữ nghề truyền thống trong bối cảnh kinh tế thị trường biến đổi, mang theo tâm niệm những bài học từ ông cha.

Nguyên liệu đầu tiên, và cũng gần như là nguyên liệu duy nhất tạo nên phần cốt của một con phỗng, là đất thó, loại đất sét đặc biệt mà ông Giáp phải đào tận dưới đáy ao, đầm, hoặc ruộng cạn nước. “Ngày xưa thì lấy ngay tại trong làng, đào sâu dưới lòng đất khoảng 2,5–3m là lấy được,” ông kể. “Còn bây giờ phải ra đồng, ao cá, đầm sen đào dưới đáy để tìm.” Đất lấy về được phơi khô, cất trữ như cất thóc, có khi để dành cả năm, có khi vài năm mới dùng hết một mẻ.

Đất thó khô và giấy bản xé nhỏ — hai nguyên liệu chính tạo nên một con phỗng đất.

Đất thó khô được giã trong cối đá, rồi dần bằng dần tre cho đến khi lấy được lớp bột mịn nhất.

Đất thó khô được giã trong cối đá, theo lời ông Giáp, “như giã cua,” trước khi dần lấy lớp bột mịn nhất.

Song song đó là giấy bản, cùng loại giấy làm từ vỏ cây dó dùng để in tranh Đông Hồ, được ngâm nước khoảng một tuần cho đến khi nhuyễn như cháo. Bột đất và giấy bản nhuyễn được trộn, đập, nhồi vào nhau đến độ dẻo vừa đủ để nặn. Bà Điểu nói về cách bà nhận biết đất đã đủ dẻo: “Cảm nhận đất nặn được là nó vừa cái tầm nặn, không rắn không nát.”

Bột đất thó được trộn với giấy bản đã ngâm nhuyễn, sau đó đập và nhồi đến độ dẻo vừa đủ để nặn.

Nặn hình là công đoạn kỳ công nhất, và cũng là công đoạn quyết định một con phỗng có “hồn” hay không. Ba trong số các nhân vật truyền thống có khuôn để đảm bảo kích thước đồng đều, nhưng ngay cả hình nặn từ khuôn cũng phải được ông vuốt sửa lại từng đường nét bằng tay.

Vê đất thó tạo hình trước khi nặn để tạo ra những nhân vật có “hồn.”

Những chi tiết nhỏ nhất — mắt, mỏ, từng đường lông — đều được người nghệ nhân khắc bằng một que tre nhỏ, một tay giữ khối đất, tay kia tỉ mẩn khắc từng nét. Ông nói. đặc điểm của đồ thủ công là cùng một dáng nhưng không bao giờ lặp lại y hệt.

Ông Giáp khắc chi tiết mắt, mỏ cho một con chim đất còn ướt.

Nặn xong, phỗng được xếp trên ván, đem phơi ngoài nắng tự nhiên, tuyệt đối không sấy lửa. Nhân vật nhỏ nhất cũng cần một ngày rưỡi nắng mới khô kiệt, gặp trời âm u có khi kéo dài cả tuần.

Phỗng đất đã tạo hình được xếp trên ván gỗ

Sau khi khô, phỗng được quét một lớp hồ điệp. Đây là bột gạo tẻ nấu chín trộn với điệp, bột vỏ sò nghiền mịn cùng loại dùng trong tranh Đông Hồ, phơi khô, rồi tráng thêm một lớp nữa. Đây chính là công đoạn được người dân dùng để đặt tên cho Làng Hồ. Bởi từ quy trình làm tranh Đông Hồ cho đến phỗng đất,“tất cả các thứ đều phải dùng đến hồ gạo,” bà giải thích.

Sau khi quét hồ điệp, phỗng chuyển sang màu trắng ngà, chờ khô hẳn trước khi tô màu.

Cuối cùng, phỗng được tô bảy màu tự pha theo công thức truyền thống — xanh, đỏ cánh sen, đỏ son, tím, vàng, đen, trắng — rồi quét một lớp bóng để hoàn thiện.

Bộ màu tự pha và bút lông ông Giáp dùng để tô bảy màu truyền thống lên từng con phỗng.

Người hậu phương lặng lẽ của nghệ nhân phỗng đất

Ông Phùng Đình Giáp và bà Nguyễn Thị Điểu trong xưởng nhỏ nhà mình.

Trong câu chuyện về nghề phỗng đất Đông Khê, bà Nguyễn Thị Điểu, vợ ông Giáp, sinh năm 1953, thường chỉ xuất hiện lặng lẽ đứng sau chồng. Bà là người làng khác, về làm dâu Đông Khê khi nghề này đã có từ trước đó rất lâu, “có khi từ hàng trăm năm,” theo lời bà. Tự nhận tay nghề “không khéo bằng chồng và bố chồng,” bà đảm nhận những công đoạn phụ: giã đất, nặn quả, trộn giấy đất, và đặc biệt là đánh hồ điệp.

Nhưng có một quãng thời gian bà thực sự là người giữ nghề chính. Khi ông Giáp đi bộ đội hơn 5 năm, bà cùng bố chồng ở nhà tiếp tục nặn phỗng. Ở thời kỳ chưa có điện thoại hay mạng xã hội để rao bán, bà tự đạp xe, có khi đi bộ, mang sản phẩm đi khắp các phiên chợ trong vùng: chợ Thuận Thành, chợ Mão Điền, chợ Chẹm, chợ Dâu, chợ Keo, chợ Hồ, chợ Núi. “Bắt đầu từ mùng 9, mùng 10 tháng 8 âm lịch, tôi bắt đầu đạp xe đi bán các chợ vì chồng không có nhà,” bà kể. Ngày đó, bà mới ngoài 30 tuổi, một mình rong ruổi qua từng làng, cả những xóm lân cận không thuộc phiên chợ chính — “gọi là đi bán rong.”

Hỏi bà có bao giờ muốn hai ông bà nghỉ làm nghề này không, bà lắc đầu. “Nhiều khi không bán được nhiều, như thời chiến tranh, nhưng hàng xóm thấy ông bà nặn, bôi vẽ thì sang chơi vui lắm,” bà nói. “Không bao giờ nghĩ rằng sẽ bỏ.” Với bà, nghề phỗng đất không chỉ là một nguồn thu nhập theo mùa, mà còn là một niềm vui âm thầm được nuôi giữ qua hàng chục năm, thứ khiến căn nhà nhỏ ở Đông Khê chưa bao giờ thực sự vắng khách.

Bà Nguyễn Thị Điểu về làm dâu Đông Khê và học nghề từ bố chồng và chồng.

Mang hồn đồ chơi dân gian vào cuộc sống hiện đại

Trước khi ông Giáp đi bộ đội, bộ phỗng đất Đông Khê chỉ gói gọn trong năm nhân vật truyền thống, thêm con chim và con gà. Trở về sau quân ngũ, ông Giáp bắt đầu sáng tác thêm để “hòa nhập với thị trường,” không phải đi ngược truyền thống, mà để nghề tiếp tục sống được, tiếp tục mang những câu chuyện cũ đến với những người mua mới.

Mẫu sáng tạo chính mà ông theo đuổi nhiều năm nay là bộ 12 con giáp — mỗi con một tư thế riêng, vẫn nặn từ đất thó theo đúng quy trình cũ, chỉ khác ở hình dáng và tên gọi. Trong 12 con giáp ấy, bà Điểu ấn tượng nhất với con ngựa. “Nó có sức tươi trẻ, dũng mãnh mà lại rất là gần gũi với cuộc sống,” bà nói, nhất là vào năm Bính Ngọ này. “Con ngựa giúp đỡ người dân mình được nhiều việc trong dân gian.”

Bộ 12 con giáp, mẫu sáng tạo của ông Giáp.

Bà Điểu yêu thích con ngựa bởi “nó có sức tươi trẻ, dũng mãnh mà lại rất là gần gũi với cuộc sống.”

Ngoài bộ 12 con giáp, ông còn nặn thêm một số nhân vật khác tùy theo nhu cầu đối tượng khách hàng, từ học sinh, phụ huynh đặt hàng dịp rằm Trung Thu đến khách hàng từ nhiều quốc gia đặt đa dạng đủ mẫu mã. Ông đã từng nặn những hình tượng gắn liền với dân gian con chó đá (biểu tượng bảo vệ ở những gia đình khá giả, gợi sự bình yên), hay mâm ngũ quả gắn liền với dịp Trung thu. Đối với mẫu truyền thống, ông cũng sáng tạo nên bộ phỗng treo, hay tìm cách gắn còi vào con chim, con cá, để biến chúng thành món đồ chơi gần gũi với giới trẻ.

“Con chim, con rùa, con cá, mấy loại cá nặn gắn còi vào, sáng tạo thêm để thu hút lớp trẻ.”

Mâm ngũ quả bằng đất nặn, tô màu sặc sỡ, một trong số các mẫu ông làm thêm theo yêu cầu khách đặt.

Những con phỗng treo với tua chỉ đỏ, vàng cùng chuông nhỏ, móc trên khung cửa sổ sắt.

Tủ trưng bày các sản phẩm phỗng đất và con giống bằng đất của gia đình ông Giáp, gồm cả loại đã tô màu và loại còn để mộc màu đất nung.

Ghi dấu ấn của phỗng đất lên bản đồ trong nước và quốc tế

Suốt nhiều năm làm nghề, sản phẩm của ông Giáp được ghi nhận qua nhiều giải thưởng và sự kiện cả trong và ngoài nước. Năm 2020, bộ phỗng truyền thống của ông đạt giải Khuyến khích tại Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ toàn quốc. Từ năm 2005, sản phẩm của ông đã được trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Từ năm 2017, ông được mời đến Trung tâm Triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam. Từ năm 2018 đến nay, năm nào ông cũng có mặt tại sự kiện phố bích họa Phùng Hưng.

Bộ phỗng đạt giải Khuyến khích Cuộc thi Sản phẩm Thủ công mỹ nghệ Toàn quốc.

Ông cũng thường xuyên được mời đi dạy nặn, vẽ phỗng đất tại các trường mầm non, tiểu học ở Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội; tại Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Bắc Ninh Năm 2025, ông được nhà nước mời sang Pháp cùng đoàn nghệ nhân quan họ, nghệ nhân tranh dân gian Đông Hồ và nghệ nhân thư pháp tỉnh Bắc Ninh, đại diện cho làng tranh Đông Hồ ký nhận chứng chỉ UNESCO, góp phần ghi tên làng nghề dân gian Đông Hồ vào bản đồ di sản thế giới.

Nghề phỗng đất của ông cũng từng được một số bạn trẻ khởi nghiệp tìm đến hợp tác theo một cách rất khác, qua sản phẩm bánh Trung Thu. Một nhóm bạn trẻ ở thương hiệu cà phê “Cà Phê Nhẹ” tại Bắc Ninh từng đặt ông làm bộ phỗng đất năm nhân vật để in hình lên hộp bánh dẻo dịp Trung Thu. Mỗi chiếc bánh trong hộp mang hình một nhân vật phỗng, ghép lại thành trọn bộ năm nhân vật.

Tương lai nghề làm phỗng đất sẽ đi về đâu?

Trăn trở với nghề, ông Giáp chia sẻ: “Phỗng đất sẽ không mất đi đâu, nhưng còn phát triển hay không lại do truyền thông rồi mọi người tìm hiểu đến, quảng bá rộng rãi — càng rộng rãi thì độ bền giữ được nghề lại càng được lâu.” Ở độ tuổi ngoài 70, cả ông Giáp và bà Điểu vẫn cần mẫn làm nghề, giữ gìn mẫu cũ và sáng tạo các mẫu theo đơn đặt hàng của nhiều đối tượng khách khác nhau. Tuy nhiên, ông bà nhận thấy trong 20 năm nữa, khi họ đều đạt ngưỡng gần 100 tuổi, thì tương lai của nghề “không nói trước được điều gì.”

Con cháu trong nhà ông Giáp, bà Điều đều được học và biết cách nặn, vẽ phỗng đất. Từ anh con trai đến cháu đích tôn đều có thể nặn phỗng thành thục dù chưa tinh xảo bằng ông. Cháu gái cũng có thể vẽ và làm những hình phỗng đơn giản. Tuy nhiên, để thích nghi trong một xã hội ngày càng phát triển, các cháu cần đảm bảo việc học văn hóa và mong muốn học Đại học tại Hà Nội, còn các con ông cũng cần mưu sinh bằng những nghề có thu nhập ổn định để duy trì cuộc sống gia đình. Bởi vậy, thời gian để có thể dành cho việc phát triển nghề làm phỗng không còn nhiều. Ông Giáp chia sẻ rằng: “Chỉ lăn tăn đầu ra kém không đảm bảo được cuộc sống, bởi nghề chỉ bán được một lần mỗi năm. Chứ nếu đảm bảo được đầu ra thì các cháu cũng làm được.”

Hai nghệ nhân dành cả đời gìn giữ nghề làm đồ chơi dân gian, mong muốn phỗng đất có thể được gìn giữ và phát triển

Khi được mời đến các trường, lớp học để dạy cho các cháu học sinh nặn, vẽ phỗng đất, ông không gò các cháu phải làm giống mình, chỉ để các cháu tự nghĩ, tự vẽ theo ý thích. Ông cũng kể rằng năm nào cũng có những lớp thanh thiếu niên muốn tìm hiểu và về học hỏi tại xưởng.

Trong suốt hành trình chia sẻ, giáo dục và truyền bá về phỗng đất ấy, bà luôn đồng hành cùng ông. Bà Điểu kể, mỗi lần ông được mời đi dạy, đi sự kiện, hai ông bà lại cùng nhau lên đường, bất kể là Hà Nội, Hải Dương, hay một trường mầm non nhỏ ở đâu đó. “Ông đi đâu tôi đi đấy,” bà nói. Có lẽ đó mới là cách bền nhất để giữ hồn một nghề, sự đồng hành của hai vợ chồng đi cùng nhau qua từng mùa Trung Thu.

]]>
info@saigoneer.com (Mai Đỗ. Ảnh: Mai Đỗ.) Văn Hóa Sun, 20 Sep 2026 20:00:00 +0700
Hành trình đi tìm cảm thức thuộc về trên sàn nhảy của giới queer Sài Gòn văng vẳng tiếng Vinahouse https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18206-vinahouse-và-hành-trình-đi-tìm-cảm-thức-thuộc-về-trên-sàn-nhảy-của-giới-queer-sài-gòn https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18206-vinahouse-và-hành-trình-đi-tìm-cảm-thức-thuộc-về-trên-sàn-nhảy-của-giới-queer-sài-gòn

Chỉ cần lượn một vòng đường Bùi Viện về đêm, đi qua hàng loạt quán bar hay vũ trường nằm san sát, ta sẽ dễ dàng bắt gặp một thứ âm thanh vô cùng đặc trưng: những tiếng bass dồn dập trên nền nhạc pop lời Việt, liên tục bị dồn nén đến cao trào rồi bùng nổ sau những cú thả beat. Đó chính là nhạc Vinahouse. Không chỉ xuất hiện ở các tụ điểm ăn chơi, Vinahouse còn thâu tóm cả thuật toán TikTok và thường xuyên góp mặt trong các video thịnh hành. Nhưng dù phủ sóng từ đời thực đến không gian mạng, Vinahouse lại hiếm khi được giới phê bình nghệ thuật tại Việt Nam “để tai” đến và nhìn nhận nghiêm túc.

Phải bước chân vào đời sống về đêm của giới queer Sài Gòn, người ta mới thấy hết giá trị văn hóa thực sự của dòng nhạc này. Cụ thể, qua những gì các hội nhóm queer như Bung L0n đang làm, Vinahouse đang dần lấy lại chỗ đứng của mình trong một thị trường ưa chuộng nhạc điện tử phương Tây (EDM), từ đó trở thành phương tiện để người queer tự do bộc lộ bản ngã và tìm thấy chốn “thuộc về” của riêng mình. Queer, mang nghĩa “khác thường” trong tiếng Anh, là thuật ngữ chung chỉ những người không phải hoặc không coi bản thân là dị tính hoặc hợp giới. Lần theo cách Vinahouse len lỏi qua không gian âm thanh đô thị và các tụ điểm của giới queer, đồng thời lắng nghe góc nhìn của người trong cuộc, ta sẽ hiểu rõ hơn vai trò của dòng nhạc này trong việc củng cố bản sắc tập thể và đời sống cộng đồng của người queer giữa một đô thị không ngừng chuyển mình.

Người trẻ Sài Gòn dạo phố năm 1994. Ảnh: Ed Kashi. 

Ra đời vào cuối thập niên 1990 và đầu những năm 2000, Vinahouse thực chất là phiên bản “Việt hóa” của các dòng nhạc house, trance và hard dance của Âu-Mỹ. Thể loại này hình thành từ các trào lưu làm nhạc remix, cũng như sự bùng nổ của băng đĩa lậu và văn hóa đi club tại các đô thị lớn ở Việt Nam. Chẳng mấy chốc, Vinahouse đã có mặt ở khắp các vũ trường, đám cưới và những bữa nhậu bình dân; nhưng bất chấp độ phủ sóng rộng rãi, Vinahouse vẫn thường bị dư luận đánh giá là dòng nhạc bỗ bã, nghèo sáng tạo và thiếu tính nghệ thuật.

Quỳnh Chi, một tín đồ Vinahouse và cũng là nhân tố truyền cảm hứng cho tôi tìm hiểu về dòng nhạc này, từng chia sẻ góc nhìn tương tự: “Người ta ngầm mặc định với nhau rằng dân trung lưu thì không ai đi nghe Vinahouse, chứ đừng nói là thích.” Thế giới nightlife của queer tại Việt Nam cũng ở một vị thế bấp bênh tương tự. Dù luật pháp Việt Nam đã bỏ quy định cấm quan hệ đồng giới từ sớm và xã hội ngày càng cởi mở hơn, các không gian sinh hoạt của người queer vẫn buộc phải giấu mình sau sự kín đáo và chỉ xuất hiện chớp nhoáng qua vài sự kiện ngắn ngủi.

Do đó, các câu lạc bộ về đêm hay những đêm tiệc ngẫu hứng, nhất là ở Sài Gòn, đóng vai trò vô cùng quan trọng. Đó là nơi cộng đồng queer tự định hình ranh giới an toàn, kiến tạo tính thân mật và cảm giác thuộc về. Trong những không gian này, âm nhạc không dừng lại ở vai trò giải trí mà trở thành sợi dây kết nối mọi người, mở đường cho mỗi cá nhân tự do bộc lộ bản ngã. Giữa bối cảnh đó, Vinahouse được nhào nặn lại thành một thanh âm bản địa giàu tính gắn kết, đưa sàn nhảy trở thành trung tâm sinh hoạt cộng đồng của giới queer chốn thị thành.

Một buổi gặp gỡ của người queer Việt Nam năm 1990. Ảnh: Catherine Karnow.

Kiến tạo lại tính bản địa

Trước làn sóng đô thị hóa ồ ạt sau phong trào Đổi Mới, khi văn hóa thị dân Việt Nam đang manh nha thành hình, nhạc EDM phương Tây đã vội vã ập vào nhằm giải tỏa cơn khát nhạc điện tử của giới thành thị.

Về bản chất, Vinahouse vay mượn khá nhiều từ cấu trúc EDM quốc tế, nhưng lại khéo léo cài cắm những giai điệu V-pop, bolero và lời Việt quen thuộc. Thuở ban đầu, thể loại âm nhạc này là món ăn tinh thần không thể thiếu của giới Đôn Chề (Dolce), một nhóm tiểu văn hóa với gu thời trang có phần dị biệt và phô trương.

Thế rồi, không còn là sở thích âm nhạc cá nhân, Vinahouse đã trở thành một phần quen thuộc của đời sống người Việt khi hiện diện ở những quán cà phê bình dân, rạp cưới đến cả những loa kẹo kéo lề đường. Cách lan tỏa này, cùng sức mạnh của không gian số và tính chất bắt tai của thể loại, đã giúp Vinahouse trở nên thân thuộc với người dân.

Người Việt đi nhảy đầm, thập niên 1990.

Những điểm mà giới phê bình chê bai về Vinahouse, như “thiếu sự sáng tạo” hay “chắp vá,” thực chất lại là một chất liệu thẩm mỹ quan trọng luôn đề cao tính thân thuộc và độ nhận diện. Mạng lưới vũ trường dày đặc, các tụ điểm vui chơi tự phát cùng không khí xã hội tương đối cởi mở ở Sài Gòn đã trở thành bệ phóng cho các thể loại âm nhạc “lai tạp” nảy nở. Dù vậy, ngay cả ở mảnh đất nhà, Vinahouse vẫn bị giới đi bar “tinh hoa” ghẻ lạnh vì họ chỉ tôn sùng techno và các dòng nhạc điện tử quốc tế.

Khi đặt lên bàn cân, dòng nhạc điện tử của người da trắng và của phương Tây thường được xem là lựa chọn chuẩn mực và “có gu,” còn Vinahouse thì lại bị gắn với những cái mác như “trẻ trâu” hay “nhạc bay phòng.”

Những tụ điểm chơi đêm của giới queer Sài Gòn chính là mảnh đất màu mỡ để Vinahouse thoát khỏi những định kiến ấy. Trong những không gian này, tính bản địa của dòng nhạc vươn lên như một điểm sáng thay vì một vết nhơ. Trí Nguyễn (còn được biết đến với nghệ danh Smoothie Boiz), đồng sáng lập kiêm DJ của Bung L0n, cho biết bản thân anh đã chủ động chuyển hướng, đưa Vinahouse vào làm tâm điểm trong các set nhạc của mình như một cách để khẳng định “chất Việt” trong các không gian tiệc tùng trước đây bị thống trị bởi các thanh âm quốc tế. Động thái này hoàn toàn không phải để chối bỏ văn hóa club toàn cầu, mà đơn thuần là một bước tinh chỉnh để văn hóa ấy vừa vặn hơn với bối cảnh trong nước. Thực tế, ở những ngày đầu thành lập, các sự kiện của Bung L0n vẫn lăng xê techno cùng nhiều phong cách quốc tế; phải mãi về sau họ mới bắt đầu đưa Vinahouse vào cuộc chơi.

Đôn Chề là tiểu văn hóa bắt nguồn từ một phong cách thời trang, văn hóa đường phố và trào lưu mạng xã hội.

“Hoạt động được một thời gian, tụi mình mới bảo nhau: ‘Mình là người Việt Nam cơ mà, sao không bật thể loại này nhiều hơn chút’… [Bởi vì] mỗi buổi tiệc của nhóm đều đi theo một concept xoay quanh Việt Nam, nên nếu vắng bóng Vinahouse thì kỳ lắm,” Trí chia sẻ. “Tụi mình luôn có cảm giác thiếu thiếu gì đó.” Khi những bản nhạc Việt cất lên, anh quan sát thấy “thái độ của người tham gia khác hẳn, họ có vẻ tận hưởng hơn, hoặc nảy sinh một cảm giác thân thuộc mãnh liệt hơn… Mọi người bắt nhịp với nhau mượt mà hơn.” Suy cho cùng, việc mang Vinahouse trở lại không phải để khẳng định một lập trường văn hóa nào, mà đơn giản là vì nó chạm được vào cảm xúc của người nghe.

Gắn kết queer qua âm nhạc

Bung L0n ra đời vào giai đoạn hậu COVID-19 như một lời hồi đáp trước sự thiếu vắng các không gian cho giới queer tại Sài Gòn. Dù xuất phát điểm chỉ là một nhóm bạn tay ngang, không mấy kinh nghiệm làm DJ hay chạy sự kiện, Bung L0n hiện vẫn là một trong số rất ít những chuỗi tiệc underground nổi bật dành riêng cho cộng đồng LGBTQ+, sánh vai cùng các sân chơi như Vấp Cục Đá hay Gái Nhảy. Tuy nhiên, nhóm chủ động né tránh việc tự xưng là tiếng nói đại diện cho một “cộng đồng” nào cụ thể. Trí nói, thay vì hô hào khẩu hiệu, nhóm chỉ muốn “khi mọi người đến đây, họ cảm thấy thoải mái là chính mình, không bị gò bó,” bởi đơn giản “ở đâu vui nhất, ở đó có bê đê.”

Việc khước từ những diễn ngôn chính trị phô trương tự thân đã mang ý nghĩa biểu đạt lớn. Người ta vốn thường lãng mạn hóa sàn nhảy như một vùng đất tự do tuyệt đối, nhưng lại phớt lờ thực tế rằng các tụ điểm vui chơi vẫn luôn tồn tại những rào cản ngầm về giới tính, xu hướng tính dục hay sắc tộc. Hướng tiếp cận của Bung L0n cho thấy họ hiểu rõ những giới hạn ấy nhưng kiên quyết không để chúng tái diễn. Nhờ vậy, sự hiện diện của người queer được bộc lộ một cách tự nhiên thông qua chính bầu không khí của bữa tiệc, thay vì phải gồng mình lên khẳng định.

Một sự kiện do Bung L0n tổ chức. Ảnh: @captain_____bipolar, đăng trên trang Instagram bung_l0n.

Là một người từng tham gia nhiều buổi rave của giới queer, Linh Phạm coi các sự kiện của Bung L0n không chỉ là chốn dung dưỡng sự chở che và gần gũi, mà còn là “không gian để hóa thân.” Ở đó, quần áo lộng lẫy, lớp trang điểm phá cách và sự giải phóng ngôn ngữ cơ thể cho phép người tham gia sống với những bản ngã mà đời thường không cho phép. Các buổi rave này trở thành những cõi “siêu thực” và “trôi nổi giữa các thế giới.” Cảm giác bị gạt ra rìa mà những cá nhân queer phải trải qua trong các câu lạc bộ vốn dành cho người dị tính không chỉ xuất phát từ âm nhạc, mà còn từ chính bầu không khí và cách bài trí không gian tại đó. Khi bối cảnh được di dời hoặc tái thiết thành không gian riêng cho người queer, bầu không khí lập tức thay đổi. Những lằn ranh phán xét bị xóa bỏ, mở rộng vòng tay đón nhận những thân thể từng bị xua đuổi. Quan trọng nhất, quá trình hóa thân trong các không gian này là một trải nghiệm mang tính tập thể.

Dù những tụ điểm này thường đề cao cái tôi cá nhân, Linh nhấn mạnh rằng “những cái tôi ấy [khi bước vào Bung L0n] đều có sự kết nối chặt chẽ với nhau.” Mỗi cái tôi hiện lên qua chính cách nó tương tác với người khác, nơi trăm ngàn kiểu thể hiện khác nhau vẫn có thể chung sống dưới một mái nhà. Vinahouse là chất xúc tác, một thứ ngôn ngữ mà ai cũng hiểu, đủ sức kéo mọi khác biệt lại gần nhau. Linh kể rằng mỗi khi một bản Vinahouse quen thuộc vang lên giữa set nhạc, phản ứng của sàn nhảy “thay đổi rõ rệt”: mọi người đồng thanh hát theo, năng lượng tăng gấp bội, biến những chuyển động đơn lẻ thành một màn trình diễn chung. Sự cuồng nhiệt cá nhân bỗng hóa thành thanh âm đồng điệu vang dội cả một khán phòng. Khán phòng khi ấy bùng nổ không phải vì kỹ thuật chà đĩa điêu luyện, mà nhờ vào một khối “ký ức âm thanh” chung.

Cảm giác này nảy sinh bởi lẽ nhảy múa vừa là một hành động cá nhân, vừa là một trải nghiệm mang tính tập thể. Sàn nhảy lúc bấy giờ như hóa thành một sinh thể duy nhất, cuộn trào những luồng cảm xúc chung đan xen từ vô vàn xúc cảm cá nhân. Ở đó, dân đi quẩy vừa được đắm chìm vào cõi riêng của chính mình, vừa cảm thấy bản thân là một mảnh ghép trong một tổng thể lớn lao hơn, tựa như những trải nghiệm mang màu sắc tâm linh.

Sự thân thuộc của âm sắc và ca từ Vinahouse giúp người nghe không chỉ kết nối với âm nhạc mà còn dễ dàng đồng điệu với đám đông xung quanh. Trí kể rằng anh phải cân nhắc rất kỹ mỗi khi chọn nhạc, không thể cứ nhắm mắt bật Vinahouse tràn lan. Nếu bật quá tay, một số khán giả có thể cảm thấy ngộp mà bỏ về. Còn nếu bật ít quá, cả buổi tiệc lại sẽ thiếu đi “tính Việt.” Việc chọn lọc cho thấy Trí ý thức rất rõ vị thế còn nhiều tranh cãi của Vinahouse, đồng thời chứng minh rằng cảm giác gắn kết kia không tự dưng mà có, mà phải được vun đắp, giám tuyển cẩn thận.

Nhịp đập của cảm giác được hòa mình vào số đông

Sức hút của Vinahouse tại các tụ điểm queer gắn liền với chính tính chất âm thanh của nó. Tốc độ, chất âm và âm lượng hòa quyện với nhau, chi phối cách cơ thể phản ứng và chuyển động. Tốc độ dồn dập cùng cấu trúc dễ đoán liên tục tạo ra các chu kỳ nén lại rồi vỡ òa, hệt như các buildup và drop trong EDM. Sau một quãng lơ lửng, khoảnh khắc bùng nổ kéo đám đông “đáp đất,” kéo họ trở về với vòng lặp quen thuộc và đẩy hưng phấn lên tột đỉnh nhờ sự tương phản đột ngột.

Khi đám đông đang miên man theo những trường đoạn techno kéo dài, một lời ca hay hay một giai điệu quen thuộc bỗng vang lên, như chiếc mỏ neo kéo mọi người trở lại với không gian vật lý. Kết cấu âm thanh đóng vai trò quan trọng chủ chốt. Tiếng bass dày đặc bao trùm lấy giai điệu, đòi hỏi một sự tương tác bằng da thịt, thúc giục người nghe không chỉ thưởng thức bằng tai mà phải thả cơ thể trôi theo từng nhịp đập. Trải nghiệm đắm chìm bằng cả cơ thể này xóa nhòa ranh giới giữa cá nhân và đám đông, từ đó tạo ra một sự gắn kết sâu sắc về mặt thể chất. Âm lượng khủng lại càng khuếch đại trải nghiệm ấy khi kéo sập mọi khoảng cách. Vinahouse thường được miêu tả là ồn ào và náo nhiệt hơn các dòng nhạc điện tử khác, mà theo Trí, là dấu hiệu để nhận biết ngay lập tức thứ nhạc house kiểu Việt Nam. Độ ồn ào không đơn thuần tác động vào thính giác mà còn mang tính xã hội, bởi nó ép buộc người ta phải dấn thân vào cuộc vui.

Sự kiện kỷ niệm ngày thành lập Bung L0n. Ảnh: @ilang.tmp trên trang Instagram @bung_l0n.

Vì lẽ đó, đặc trưng của các không gian âm nhạc thường không nằm ở bản thân thứ âm thanh phát ra, mà ở bầu không khí mà âm thanh ấy kiến tạo nên. Tại các sự kiện của Bung L0n, chất liệu thanh âm của Vinahouse góp công xây đắp một bầu không khí bao dung, dùng tiếng nhạc át đi sự tự ti rụt rè cùng ánh nhìn dò xét từ xã hội, để những cơ thể queer được thỏa sức vẫy vùng mà không phải liên tục dè chừng, thu mình lại.

Quan trọng hơn cả, Vinahouse khéo léo dung hòa bản sắc văn hóa Việt Nam với cách thể hiện của người queer, qua đó đập tan những định kiến quen thuộc. Lâu nay, khái niệm queer tại Việt Nam vẫn hay bị quy chụp là thứ sản phẩm “lai căng” từ phương Tây, trong khi Vinahouse lại mang tiếng là thứ âm nhạc bảo thủ, cục bộ, thậm chí bài xích yếu tố ngoại lai. Việc văn hóa queer và Vinahouse hội ngộ tại các tụ điểm nightlife đã làm lung lay cả hai luồng suy nghĩ đó. Nói cách khác, màn giao thoa này tháo gỡ một mâu thuẫn tưởng chừng không thể dung hòa: một mặt, như Chi nhận định, chính sự nổi loạn và thoát ly khỏi chuẩn mực thông thường của Vinahouse đã mang phẩm chất queer. Mặt khác, cộng đồng queer Việt Nam từ lâu đã khao khát một điểm tựa văn hóa bản độc bản cho riêng mình, thay vì tiếp tục vay mượn hệ quy chiếu của phương Tây về tính dục và văn hóa đi club.

Linh, người mà tôi và Chi cũng từng chia sẻ chung một playlist Vinahouse trên Spotify, cho rằng chính Vinahouse là thứ đã “biến văn hóa club phương Tây thành một điều rất Việt Nam” chứ không phải một bản sao chép. Khởi điểm của quá trình tiếp biến này không bắt nguồn từ những hệ tư tưởng phức tạp. Bởi lẽ, một khi đã bước chân vào sàn rave, mọi lý thuyết đều phải nhường chỗ cho những trải nghiệm mang tính “thể chất,” “bản năng” và “được cảm nhận sâu sắc hơn.” Thế nhưng, hệ quả của nó vẫn mang tính tuyên ngôn. Nó cho phép người tham gia được sống thật với bản ngã queer của mình mà không cần phải chối bỏ cội nguồn văn hóa.

Ở góc độ này, sự hiện diện của Vinahouse trong chốn tiệc tùng của giới queer đã phá vỡ cả những rào cản phân cấp về âm nhạc lẫn tính dục trong xã hội, chứng minh rằng văn hóa queer tại Việt Nam không nhất thiết phải khoác lên mình thứ âm thanh phương Tây mới có giá trị hay mang ý nghĩa; và rằng dưới thanh âm của Vinahouse, mối liên kết giữa người queer không chỉ được biểu đạt mà còn được định hình bởi đời sống địa phương, được đánh thức qua từng giác quan và nuôi dưỡng bởi cả một tập thể.

Tất nhiên, dòng nhạc này không thể hóa giải dứt điểm mâu thuẫn giữa những khuôn thước văn hóa do xã hội định đoạt và vị thế ngoài lề của giới queer, nhưng chí ít, nó giúp cho thực tại ấy trở nên dễ thở hơn trong phút chốc. Có lẽ, giá trị của Vinahouse không nằm ở khả năng rũ bỏ định kiến, mà ở cách nó có thể tồn tại ngay giữa lòng định kiến đó, biến thứ âm nhạc từng bị chê là hạ đẳng, đơn điệu, hời hợt thành một ngôn ngữ chung của niềm vui, thấu hiểu và bao dung.

]]>
info@saigoneer.com (Đỉnh Nguyễn. Ảnh bìa: Vi Nguyễn. ) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Sun, 06 Sep 2026 20:09:30 +0700
Qua hai thập kỷ cùng âm nhạc, Kimmese vẫn neo giữ một niềm tin https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18192-qua-hai-thập-kỷ-cùng-âm-nhạc,-kimmese-vẫn-neo-giữ-một-niềm-tin https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18192-qua-hai-thập-kỷ-cùng-âm-nhạc,-kimmese-vẫn-neo-giữ-một-niềm-tin

Năm 2006, khi hip-hop tại Việt Nam còn là một dấu hỏi lớn mang theo nhiều định kiến, Kimmese tuổi 15 đã bước lên sân khấu với khát khao khẳng định cái tôi và đem tư duy mới đến cho nhạc Việt. Và 20 năm sau, thế giới cô gầy dựng đã trở thành khởi nguồn của nhiều nghệ sĩ trẻ, họ gọi cô là OG. Thế nhưng âm nhạc với Kimmese chưa bao giờ là cuộc đua vị thế. Đó là nơi cô thành thật với chính mình, là niềm tin, là tình yêu thuần khiết nhất. 

Kimmese đến với âm nhạc bằng hip-hop, nhưng khác với nhiều nghệ sĩ dòng nhạc ngách, cô đi thẳng vào thị trường đại chúng. Năm 2006, cô phát hành “Kim Vol. 1” — một album hip-hop của một nghệ sĩ nữ tuổi teen trong bối cảnh thể loại này vẫn còn xa lạ với phần đông khán giả Việt. Năm 2011, Kimmese cùng với các thành viên SpaceSpeakers giới thiệu bản nhạc ‘Hoa Sữa,’ đến nay đã trở thành một ký ức tập thể trong lòng người yêu nhạc. Cũng trong năm 2017, cô đã kết nạp thêm hai bản hit cho mình, gồm ‘Real Love’ kết hợp với JustaTee, và ‘Loving You Sunny’ với Đen, Touliver. Tác phẩm là một phần của làn sóng nhạc indie tôn vinh tinh thần “thủ công” của người chơi nhạc.

Sau 20 năm, thế giới Kimmese hip-hop gây dựng đã trở thành khởi nguồn của nhiều nghệ sĩ trẻ, họ gọi cô là OG.

Năm 2023, cô trở lại với EP “For The Old Kim,” một cuộc đối thoại với những âm thanh và phiên bản cũ của chính mình. Ba năm sau, EP “For My People” tiếp tục mở rộng cuộc đối thoại ấy, trước khi Kimmese thực hiện concert cá nhân đầu tiên, For Me'se, đánh dấu hai thập kỷ say mê với âm nhạc. 

Nhìn vào hành trình ấy, có thể gọi Kimmese là một OG của hip-hop Việt Nam. Nhưng có lẽ điều đáng nói hơn cả chữ OG là cách cô đã đi qua nhiều giai đoạn của âm nhạc Việt mà không hoàn toàn thuộc về bất kỳ một giai đoạn nào. Từ một cô bé 15 tuổi bước lên sân khấu giữa những ánh nhìn hoài nghi, đến một nghệ sĩ trưởng thành đủ lâu để nhìn lại chính mình, Kimmese vẫn giữ một sợi dây xuyên suốt: niềm tin vào điều mình đang làm.

Những đợt sóng của tuổi 15

Những năm gần đây, hip-hop đã trở thành một phần quen thuộc của nền âm nhạc Việt Nam. Các rapper xuất hiện trên sân khấu lớn, những bản rap đứng đầu bảng xếp hạng, những chương trình truyền hình đưa văn hóa đường phố đến với hàng triệu khán giả. Nhưng chỉ hai thập kỷ trước, mọi thứ vẫn còn nấp sau làn sương mờ.

Thật khó hình dung một công ty âm nhạc đại chúng khi ấy lại để một nghệ sĩ tuổi teen thực hiện một album hoàn toàn theo hip-hop, một thể loại vẫn thường bị xem là khó nghe và nổi loạn, thậm chí “không phù hợp với lứa tuổi.” Không ai biết hip-hop có thể đi được bao xa, càng không ai biết một cô gái 15 tuổi có thể đứng ở đâu trong một sân chơi còn chưa có nhiều tiền lệ. Thế mà ‘Kim Vol.1’ ra đời, trước bao ngờ vực. “Khởi đầu bao giờ cũng háo hức, muốn chinh phục, muốn chứng minh,” Kimmese nói.

Hai thập kỷ trước, ‘Kim Vol.1’ ra mắt giữa một bối cảnh hip-hop mới mẻ và non trẻ.

Cô bước vào cùng rất nhiều ánh nhìn. Nhiều người nghi ngờ về giá trị nghệ thuật của hip-hop, nghi ngờ năng lực của cô, từ đó sinh ra vô số tin đồn thất thiệt để xoa dịu sự hoang mang của chính họ. Nào là được o bế, nào là cậy giàu. Cô cũng không tránh khỏi những ánh nhìn tò mò rất đỗi bản năng của người quen.

Kimmese trả lời bằng âm nhạc. Trong ‘Niềm Tin (Scandal),’ cô rap về những lời bàn tán trên các diễn đàn. Trong ‘Kim - Thế Là Quá Đủ,’ cô trực tiếp đặt cái tôi của mình vào trung tâm bài hát, như một lời tuyên bố rằng cô biết mình đang làm gì và muốn được lắng nghe bằng chính âm nhạc của mình. Từ những bài hát đầu, Kimmese đã chọn lối viết phóng khoáng, từng câu chữ đều là suy tư chân thành. Đây là niềm tin vào chính mình mạnh mẽ nhất mà khó ai có được. Album như một chùm pháo, thông báo cho giới nhạc Việt về một nghệ sĩ trẻ, đủ giỏi, đủ cứng để mang đến một làn sóng chưa từng có.

Đến lúc này tôi xin hứa rằng tôi sẽ cải thiện mình.
Tôi muốn các bạn thấy tôi là real-hiphop
Lời bài hát ‘Kim - Thế Là Quá Đủ‘

Tìm kiếm sự tự do giữa địa hạt ngách và đại chúng

Năm 17 tuổi, cô rời công ty. Sau những năm đầu bước vào thị trường đại chúng, Kimmese bắt đầu đi tìm một không gian khác cho âm nhạc của mình. Sài Gòn rồi Hà Nội, những công ty lớn rồi những gương mặt mới, mỗi nơi mở ra một khả năng khác nhau nhưng không phải nơi nào cũng đủ rộng cho những điều cô muốn thử. Hai năm sau, Kimmese gặp SpaceSpeakers, một tập thể hãy còn mới, còn ngách, nhưng hiện hữu một niềm tin và đam mê diệu kỳ. Cái bắt tay với SpaceSpeakers được miêu tả như một “điểm chuyển giao,” nơi cô có không gian để hiện thực hóa những phác họa trong đầu.

Kimmese gia nhập SpaceSpeakers là một chương lớn trong hành trình âm nhạc của Kimmese.

Nhìn lại chặng đường ấy, điều thú vị là cả Kimmese và các thành viên SpaceSpeakers đều đã trở thành những cái tên nổi bật, xóa nhòa ranh giới giữa âm nhạc độc lập và thị trường đại chúng. Touliver, JustaTee, Binz, Soobin Hoàng Sơn và nhiều nghệ sĩ khác đều đang tỏa sáng với đông đảo bạn yêu nhạc bằng cá tính độc đáo của mình. Phải chăng đã có một thị trường riêng tôn vinh màu sắc độc lập, hay mọi người đều đang dần cởi mở với niềm tin của người khác?

Sống giữa mọi người

Niềm tin của Kimmese như thêm kiên cố khi đứng cùng niềm tin của đồng đội. Trước khi tìm thấy những cộng sự cùng chí hướng, Kimmese đã được nâng đỡ bởi những mối quan hệ đôi khi không có cùng gu âm nhạc với cô. Chị gái là một trong những người đầu tiên nhìn thấy khả năng của Kimmese và khuyến khích cô bước xa hơn, dù bản thân không phải người yêu thích hip-hop. Sự ủng hộ ấy cũng đến từ một niềm tin nguyên khôi.

Nhà sản xuất Cao Nhật Trung cũng để lại nhiều dấu ấn. Vốn quen thuộc với ballad và âm nhạc trữ tình, ông vẫn dành tâm huyết cho ‘Niềm Tin (Scandal)’ và những ca khúc khác trong album đầu tay của Kimmese. Trong ký ức của cô, điều đáng nhớ không chỉ là những âm thanh mới mẻ được tạo ra khi ấy, mà còn là sự sẵn lòng thử một thứ chưa chắc đã thành công. Giữa một bối cảnh âm nhạc còn dè dặt với hip-hop, việc một người đến từ một thẩm mỹ hoàn toàn khác vẫn chịu “chơi” cùng cô cũng là một dạng niềm tin.

Kimmese và Mỹ Linh song ca ca khúc ‘Ngày Xa Anh.’

“For My People” — một lời tri ân

Hai mươi năm cùng âm nhạc dường như đã đưa Kimmese đến một nơi ít cực đoan hơn. Không còn là câu hỏi phải chọn giữa ngách và đại chúng, giữa cái tôi và thị trường, giữa đi một mình hay đi cùng người khác. Thay vào đó là cách nhìn rộng hơn về những nguồn lực có thể nuôi dưỡng một đời sống sáng tạo: con người, ký ức, thành phố, những cuộc gặp gỡ và cả phần cốt lõi chưa bao giờ muốn đánh mất.

EP “For My People” phát hành vào 2026 chính là phiên bản trực quan của khái niệm đó. ‘Trong Lòng Thủ Đô’ là cuộc thử nghiệm độc đáo giữa hip-hop và giao hưởng, khắc họa nơi cô sinh ra và lớn lên, những góc phố, những âm thanh đã len lỏi vào đời sống rồi định hình cá tính. ‘Pull Up’ dành cho những người phụ nữ đẹp theo cách riêng của họ, một chủ đề đã nhiều lần trở lại trong âm nhạc Kimmese. ‘Tuyến Tính’ là câu chuyện cá nhân đặc quánh tâm tư nghệ sĩ. Còn ‘Lost Child’ lại dành cho những cá thể thoát ly khỏi những định nghĩa hạn hẹp mà tìm mình ở những đường biên.

Artwork từ “For My People.”

Có lẽ vì thế mà ‘Lost Child’ cũng dễ chạm đến một thế hệ khán giả mới. Cuộc đời có nhiều đứa trẻ lạc. Có người rời khỏi thành phố, có người rời khỏi vùng an toàn, có người rời khỏi phiên bản cũ của chính mình. Tất cả cùng chung một mục đích: đuổi theo ngọn hải đăng của niềm tin. Ta tin vào một phiên bản khác của thế giới, một phiên bản khác của chính mình, rồi chạy đi tìm nó. Đôi khi lạc lõng, bơ vơ, nhưng niềm tin và tình yêu với ngọn hải đăng ấy đã đốt cháy những nghi ngờ. Kimmese chia sẻ: “Hãy ôm lấy những điều chưa biết để đón nhận sự kỳ diệu của ngẫu nhiên.”

Neo vào chính mình

Thật khó để một nghệ sĩ tự đúc kết 20 năm làm nghề thành một câu trả lời. Vì vậy, thay vì hỏi Kimmese điều gì đã làm nên một sự nghiệp dài, có lẽ đáng hỏi hơn là: làm thế nào để một người không đánh mất mình giữa quá nhiều thay đổi?

Với câu chuyện mainstream và underground, Kimmese không chọn một phía. “Không để hết trứng vào một giỏ,” cô nói. Thay vì xem hai địa hạt như hai lựa chọn loại trừ lẫn nhau, cô chọn cách hoạt động ở cả hai và quan trọng hơn, “neo vào chính mình thay vì chạy theo môi trường.”

Kimmese trình diễn sân khấu “Hip-hop Tribute” trên sóng WECHOICE AWARD 2019.

Đó cũng là lời giải đáp cho nỗi lo canh cánh với nhiều nghệ sĩ trẻ về kỳ hạn để thành công. Trong một thời đại mà mọi thứ đều có thể được đo bằng lượt nghe, lượt xem và tốc độ lan truyền, việc đặt ra một kỳ hạn cho sự nghiệp trở thành tất yếu. Người trẻ nhìn vào những con đường đã được chứng minh là đúng và tự hỏi liệu mình có đang đi quá chậm. Nhưng nghệ thuật không là một đường đua có cùng vạch đích.

Kimmese bảo: “Nếu đủ tin yêu [vào hình dung nghệ thuật của mình], nỗi buồn hay nỗi sợ chỉ còn là gia vị cho một bữa ăn hài hòa, trọn vẹn.” Khi đã neo đậu được vào thứ tình cảm ấy, ta không còn sợ mất mát, chỉ còn lại sự tự do để trải nghiệm. Dẫu có mất thời gian hay thất bại, ta sẽ tìm ra cách để tiếp tục. Thời điểm tỏa sáng của mỗi người khác nhau, cô mong mọi người giữ được niềm tin quý giá, không để thời gian làm nản lòng. Có như thế, thế giới nghệ thuật mới rực rỡ bằng những gam màu mới lạ, chứ không chỉ rặt những lớp lang nhân bản.

Ảnh: Cổ Động.

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh.) Quãng 8 Wed, 19 Aug 2026 14:00:00 +0700
100 Đốt: Khi những tấm chiếu miền Tây hóa thân thành phụ kiện thời trang hiện đại https://saigoneer.com/vn/ton-sur-ton/18189-100-đốt-khi-những-tấm-chiếu-miền-tây-hóa-thân-thành-phụ-kiện-thời-trang-hiện-đại https://saigoneer.com/vn/ton-sur-ton/18189-100-đốt-khi-những-tấm-chiếu-miền-tây-hóa-thân-thành-phụ-kiện-thời-trang-hiện-đại

Với nhiều người Việt, tấm chiếu là mảnh ghép quen thuộc của tuổi thơ. Ai cũng đã từng lớn lên cùng những chiếc chiếu trải giữa nhà trong các bữa cơm gia đình đông đủ, những giấc ngủ trưa hè oi ả hay những buổi tối cả nhà quây quần hóng mát. Mộc mạc và bình dị, tấm chiếu hiện diện trong vô số khoảnh khắc đời thường. Thế nhưng, vì quá quen thuộc, chúng ta thường mặc định chiếu chỉ để trải ra nằm hoặc ngồi, ít ai hình dung chất liệu thô mộc ấy có thể phục vụ một mục đích nào khác.

Việc đi tìm một vai trò mới cho tấm chiếu quê chính là tiền đề đưa nhà sáng lập Nguyễn Huỳnh đến với 100 Đốt, thương hiệu phụ kiện khởi nguồn từ những làng nghề miền Tây Nam Bộ.

Trước khi bắt đầu hành trình với 100 Đốt, Nguyễn Huỳnh đã có nhiều năm làm việc trong lĩnh vực kiến trúc, marketing và truyền thông, đồng thời là người đứng sau chuỗi cà phê Ống. Dù khác nhau về hình thức, các dự án của Huỳnh đều hướng đến việc mang những giá trị truyền thống trở lại với cuộc sống hiện đại. 100 Đốt có thể xem là sự tiếp nối của hành trình ấy.

“Mình chọn chiếu vì đây là một chất liệu gắn liền với tuổi thơ, với vùng quê mình sinh ra và lớn lên. Từ những sợi lác, những đường dệt thủ công đến màu sắc đặc trưng, tất cả đều mang dấu ấn của làng nghề và những con người đã gắn bó với nghề qua nhiều năm,” Huỳnh chia sẻ. Từ tâm niệm ấy, 100 Đốt đã chính thức ra đời vào tháng 3/2026.

Nguyễn Huỳnh, nhà sáng lập 100 Đốt cùng các sản phẩm phụ kiện làm từ chiếu.

Tinh thần “cách tân” chất liệu bản địa được gói ghém ngay trong cái tên thương hiệu lấy cảm hứng từ truyện cổ tích ‘Cây tre trăm đốt.’ Giống như câu thần chú “khắc nhập” kết nối những đốt tre rời rạc thành thân cây vững chãi, thương hiệu cũng đang kết hợp những chất liệu thủ công bằng ngôn ngữ thiết kế sáng tạo để chúng có thể sống tiếp trong một hình hài mới.

Hiện tại, Nguyễn Huỳnh là người trực tiếp định hướng ý tưởng và phát triển thiết kế cho các bộ sưu tập của 100 Đốt. Tuy nhiên, mỗi chiếc túi đều là thành quả của sự phối hợp giữa nhiều bộ phận.

100 Đốt ra đời vào tháng 3/2026.

Trước khi đặt bút phác thảo, Huỳnh và cộng sự luôn thực hiện những chuyến đi thực địa tại làng nghề. Họ không chỉ đến để đặt hàng, mà còn nán lại trò chuyện cùng người làng và trực tiếp quan sát các công đoạn chế tác.

Quá trình cọ xát thực tế đã giúp nhóm thấu hiểu những trăn trở của nghệ nhân khi nghề truyền thống ngày một mai một và nuôi dưỡng thêm động lực theo đuổi dự án. Mặt khác, nhờ theo dõi sát sao chu trình sản xuất, họ cũng nắm rõ giới hạn vật lý của chất liệu để đưa ra giải pháp thiết kế phù hợp nhất.

Những sản phẩm của 100 Đốt mang tính ứng dụng và thẩm mỹ cao.

Chẳng hạn, nhóm đã thử nghiệm và phủ thành công một lớp bảo vệ lên bề mặt chiếu để hạn chế bám nước, tăng độ bền khi sử dụng hằng ngày. Nhờ “lớp giáp” này, chiếc túi chiếu có đủ sức để chống chọi với mọi thời tiết và hạn chế ẩm mốc.

Hiện nay, 100 Đốt đang khai thác hai dòng nguyên liệu chính: chiếu lác từ làng Định Yên (Đồng Tháp) và chiếu cỏ Uzu của làng Tân Châu (An Giang). Nếu chiếu lác giữ nguyên dáng vẻ mộc mạc của miền sông nước, thì chiếu cỏ Uzu lại nổi bật nhờ kết cấu dày dặn và họa tiết nổi bật.

Quạt Ba Tiêu, túi Gà và nón Gà từ bộ sưu tập chiếu lác. 

Dù mang đặc tính khác nhau, cả hai loại chiếu đều trải qua quy trình chế tác phức tạp. Từ những luống lác, bãi cỏ ngoài đồng, nguyên liệu phải đi qua nhiều khâu sơ chế, phơi nhuộm kỹ lưỡng trước khi đưa lên khung cửi. Mỗi tấm chiếu hoàn thiện là sự đúc kết kinh nghiệm làm nghề của nhiều thế hệ gia đình.

Trân trọng công sức lao động ấy, Nguyễn Huỳnh đã quyết định gắn bó lâu dài cùng các làng nghề thay vì tìm kiếm các nguồn vật liệu công nghiệp. Đồng thời, đó cũng là cách mà anh tìm về cội nguồn. Huỳnh cho biết: “Tân Châu cũng là quê hương của mình. Khi xây dựng 100 Đốt, mình luôn mong được trở về chính nơi ấy để bắt đầu hành trình của thương hiệu.”

Từ cánh đồng, khung cửi đến máy may.

Khi những tấm chiếu rời làng để về xưởng, đó cũng là lúc quá trình lột xác bắt đầu. Đội ngũ phải tính toán kỹ lưỡng cách lên rập, cắt mép chiếu sao cho không bị tưa sợi, rồi tiến hành gia cố bề mặt. Từng mảnh chiếu được khéo léo may ráp, kết hợp hài hòa cùng da thật, vải lót dày dặn, dây kéo và các phụ kiện kim loại. Màu sắc, chất liệu và các chi tiết hoàn thiện này đều được lựa chọn theo nguyên tắc tôn lên vẻ đẹp nguyên bản của chiếu.

Hạn chế sa đà vào các xu hướng, 100 Đốt chọn neo đậu thiết kế vào các giá trị và hình tượng văn hóa thân thuộc. Người yêu thời trang có thể bắt gặp dáng dấp mái đình làng vươn cao trong bộ sưu tập Mái, nét mềm mại của vỏ sò miền duyên hải qua dòng Sò, hay hình tượng mặt trời rực rỡ tượng trưng cho khởi đầu mới ở Nhựt.

Túi Nhựt và túi Mái làm từ chất liệu chiếu Uzu.

“Điều làm mình vui nhất là sự phấn khởi của cô chú, anh chị trong làng nghề khi nhìn thấy sản phẩm. Mọi người vui vì chiếu có thêm ứng dụng mới, đồng nghĩa với việc có thêm cơ hội phát triển và tiếp tục gắn bó với nghề. Đó là động lực để mình thêm tin vào hành trình của 100 Đốt,” Huỳnh chia sẻ.

Nếu hành trình của 100 Đốt bắt đầu với thời trang, thì với Huỳnh, đó chưa bao giờ là đích đến cuối cùng. Anh muốn 100 đốt được nhìn nhận như một dự án sáng tạo xây dựng trên nền tảng văn hóa Việt Nam hơn là một thương hiệu gắn với một dòng sản phẩm cụ thể. Trong những chặng đường tương lai, nhà sáng lập kỳ vọng có thể đồng hành cùng nhiều làng nghề trên khắp đất nước hơn nữa, đồng thời nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, có thể là từ đay, gốm, đồng, lưới hay các vật liệu bản địa khác. “Mỗi chất liệu đều mang trong mình một lịch sử và những câu chuyện xứng đáng được kể.” Và mỗi khi chúng được sử dụng, nhìn thấy hay nhắc đến trong đời sống hằng ngày, những câu chuyện ấy lại có thêm một cơ hội để tiếp tục tồn tại. 

Túi Mái cách điệu trong khuôn khổ Vietnam International Fashion Week.

Nguồn ảnh: 100 Đốt.

]]>
info@saigoneer.com (Thảo Nguyên.) Ton-sur-Ton Mon, 10 Aug 2026 10:00:00 +0700
Những sắc thái 'Good' của Kim Chi Sun và It's Charles https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/17046-những-sắc-thái-good-của-kim-chi-sun-và-charles https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/17046-những-sắc-thái-good-của-kim-chi-sun-và-charles

"Mình không đánh mất bản thân nhưng mình đã có thêm nhiều phương diện mới, nhận thức mới, cảm xúc mới và những rung động mới mà mình muốn chia sẻ với các bạn,” Kim Chi Sun tâm sự với người nghe trong phim tài liệu ngắn được thực hiện kèm theo việc phát hành “Still Good,” phiên bản remix của EP đầu tay “M Good” ra mắt năm 2019.

Ảnh bìa của EP "Still Good," sự tái hiện đầy mới mẻ EP "M Good" năm 2019 của Kim Chi Sun.

Là một trong những sản phẩm âm nhạc của năm 2019 mà Saigoneer yêu thích nhất, “M Good” có tiết tấu chậm, nhẹ nhàng, khéo léo hòa quyện giữa R&B, pop và chillwave. Giai điệu của EP lý tưởng để nghe vào đêm muộn, cùng với một ly cocktail và nhìn ngắm Sài Gòn từ trên cao khi ngàn ánh đèn lấp lánh như sao xa. Nhưng giờ đây, sau hai năm, nữ ca sĩ Kim Chi Sun (tên thật là Đoàn Thị Kim Chi) đã có nhiều thay đổi và không còn thấy giai điệu đó phù hợp với bản thân ở thời điểm hiện tại. “Mình đã thay đổi rất nhiều trong gần hai năm ở nhà… Mình trở thành một người thích dậy sớm và nghe nhạc khi đang nấu ăn trong bếp. Mình muốn nhảy nữa nên bản thân cảm thấy cần một thứ nhạc như vậy,” Kim chia sẻ với Saigoneer trong cuộc gọi qua Zoom vào tháng trước.

“Mình đã thay đổi rất nhiều trong gần hai năm ở nhà… Mình trở thành một người thích dậy sớm và nghe nhạc khi đang nấu ăn trong bếp. Mình muốn nhảy nữa nên bản thân cảm thấy cần một thứ nhạc như vậy.”

Saigoneer cũng được nghe thêm những chia sẻ của Huỳnh Phương Duy, được biết đến nhiều hơn với nghệ danh It's Charles, người bạn đời của Kim Chi Sun và cũng là nhà sản xuất âm nhạc duy nhất của “Still Good.” Anh cho biết thêm: “Khi nghe các bài hát trong album ‘M Good’ mình cảm thấy đó không hoàn toàn là cô ấy. Kim chưa lồng được dấu ấn cá nhân nhiều vào quá trình làm nhạc trước đó, nên mình muốn remake đúng theo cách mà Kim Chi Sun muốn. Dù là bản remake nhưng mình nghĩ đây mới thực sự là phiên bản thật và chính thức của các bài hát.”

Việc thu âm lại album ban đầu chỉ là để tham gia một buổi trình diễn âm nhạc trực tuyến theo lời mời của Joy Ruckus Club, một festival âm nhạc châu Á quy mô lớn. Tuy nhiên, Kim cảm thấy giai điệu gốc của các bài hát quá chậm so tính chất của sự kiện và bản thân cũng không kết nối được với chúng như trước đây. Ý định remix một bài hát dần phát triển thành hai bài và rồi bốn bài. Toàn bộ EP được thu âm lại, các đoạn hook được viết lại, lời nhạc mới được thêm vào, nhờ đó “M Good” được làm mới hoàn toàn chứ không đơn thuần là remix.

Và kết quả chúng ta có được một album mang màu sắc tươi mới để lắng nghe khi đang mỉm cười và nhảy múa quanh bàn ăn trong ánh nắng lung linh. Giọng hát êm dịu của Kim Chi Sun nhẹ trôi trên điệu beat vô cùng bắt tai, với tiếng piano, tiếng đàn dây và tiếng trống được Charles kết hợp một cách nhịp nhàng và sống động. Mang chất nhạc khiến người nghe cảm thấy yêu đời và tràn đầy năng lượng, mỗi ca khúc đều là quả ngọt từ sự kết hợp hài hòa giữa giọng hát nhẹ nhàng bay bổng cùng giai điệu lôi cuốn, thể hiện sự ăn ý giữa hai nghệ sĩ đã chọn cách sống và làm nhạc theo lý tưởng của riêng mình.

Nghệ thuật “không quan tâm”

“Bọn mình quyết định chẳng quan tâm tới điều gì,” Charles tâm sự về việc quá trình họ cùng nhau thực hiện dự án. Cả hai đều là những nghệ sĩ tiên phong trong làng nhạc indie đang dần phát triển của Việt Nam, họ thuộc nhóm những nghệ sĩ sáng tạo âm nhạc và tự quảng bá tác phẩm của mình mà không có sự hỗ trợ của hãng thu âm hay đội ngũ sản xuất, marketing và sale. Nhưng cũng nhờ thế, Kim và Charles có thể tự quyết định được dòng nhạc của mình, thời điểm phát hành, concept và hình ảnh mà họ muốn gửi đến người nghe. “Chúng mình tự học và thử làm mọi thứ. Nếu không được thì sẽ tiếp tục học cái khác,” Kim giải thích thêm về định nghĩa “nghệ sĩ độc lập” của cô.

Với ngân sách eo hẹp và thiếu cơ hội quảng bá, không dễ để âm nhạc của họ có thể tiếp cận được đông đảo người nghe. Tuy nhiên, cặp đôi đã thành công trong việc thu hút được một lượng người nghe đã theo dõi họ từ lâu mà Kim gọi là “bộ tộc” của mình. Đó là kết quả của những nỗ lực làm việc chăm chỉ suốt nhiều năm và phong cách nghệ thuật DIY đáng yêu của cô. Từ sự xuất hiện đầy thu hút và gần gũi trên các trang mạng xã hội, việc trình diễn live trong các show online và những video âm nhạc đẹp mắt, trong đó có MV ‘Lòng Vòng Sài Gòn’ mà Charles đã quay ngay trước thời điểm giãn cách vừa qua, cặp đôi đang tự tạo ra cho mình một con đường mới để có thể sáng tạo và chia sẻ âm nhạc theo đúng những gì họ muốn.

Kim Chi Sun cho biết Black Eyed Peas, Pussycat Dolls, Justin Timberlake, Nelly Furtado và Ciara là những nghệ sĩ đầu tiên tạo ảnh hưởng đến tư duy âm nhạc của cô. Sinh năm 1994, Kim nghe nhạc của họ mà lớn lên trong thời gian sinh sống tại Hà Nội. Cùng tuổi với cô, Charles cũng nghe những bài hát như thế suốt tuổi thơ ở Sài Gòn. Tuy nhiên những người thuộc thế hệ lớn tuổi hơn như tôi có thể nhanh chóng nhận ra âm hưởng ngọt ngào từ lớp nghệ sĩ trước đó như Aaliyah, Brandy, TLC và Destiny’s Child trong các ca khúc của cặp đôi này. Điều đó hoàn toàn dễ hiểu khi mà Kim và Charles luôn liên tục học hỏi và tìm ra những giá trị mà họ tâm đắc nhất và cách để làm thế nào đưa những giá trị đó vào âm nhạc của mình. Cả hai đều là những người trẻ rất khiêm tốn và ham học hỏi, Charles chia sẻ rằng họ hy vọng “học hỏi từ những nghệ sĩ tuyệt vời nhất, nỗ lực trau dồi chất riêng và tạo ra âm nhạc từ những gì đã học được.”

Nhập cuộc muộn

“Đôi khi bọn mình cảm thấy tiếc nuối vì đến với âm nhạc quá muộn. Đáng lẽ bọn mình phải bắt đầu sớm hơn và học hỏi được nhiều hơn rồi,” Charles nói. Cho dù họ chỉ mới bắt đầu sáng tác âm nhạc vài năm trở lại đây nhưng hoàn toàn có thể thấy là cả hai đã bù đắp được khoảng thời gian đã mất.

“Mình luôn yêu âm nhạc và cảm thấy vui thích được làm việc liên quan đến âm nhạc, dù là ở bất kỳ vị trí nào. Mình từng tham gia tổ chức các sự kiện và nhờ đó được gặp gỡ với nhiều nghệ sĩ. Họ luôn nói là ‘giọng bạn hay mà, nên đi hát đi.’ Nhưng hai năm trước, mình không biết cách viết một bài hát, cùng lắm chỉ có thể viết được đoạn điệp khúc hoặc hook thôi, nhưng sau đó thì mình gặp Charles khi anh ấy đang làm nhạc freelance,” Kim nhớ lại hành trình âm nhạc của mình từ vài năm trước.

“Đôi khi bọn mình cảm thấy tiếc nuối vì đến với âm nhạc quá muộn. Đáng lẽ bọn mình phải bắt đầu sớm hơn và học hỏi được nhiều hơn rồi.”

Sau khi Kim đi du học về, cả hai đã gặp nhau tại một sự kiện âm nhạc mà cô tham gia tổ chức. Nhớ lại cuộc gặp gỡ đầu tiên ấy, Charles kể rằng: “Mình đã thấy Kim ở hậu trường xem mọi người hát, và mình nhìn thấy điều gì đó trong mắt cô ấy. Đó là tình yêu và niềm đam mê khi cô ấy xem những người bạn nghệ sĩ của mình biểu diễn.”

Kim Chi Sun và Charles đã có những tác động tích cực đến hành trình âm nhạc của nhau.

Sau vài tháng hẹn hò, cả hai bắt đầu cùng nhau làm nhạc. Charles có công việc bán thời gian là sản xuất âm nhạc cho các nghệ sĩ khác, vì thế anh có một nền tảng tốt để cả hai học hỏi thêm và mở rộng chất nhạc của mình, không giới hạn bản thân trong thể loại acoustic quen thuộc. Ngoài việc giúp Kim về chuyên môn, Charles còn khích lệ để cô tự tin hơn vào bản thân. “Mình đã nghỉ việc. Mình từng muốn chứng minh là bản thân có thể kiếm được nhiều và nghĩ rằng mình sẽ hạnh phúc khi sự nghiệp phát triển thuận lợi, nhưng khi gặp Charles rồi thì mình đã quyết định từ bỏ tất cả và bắt đầu lại từ đầu. Về cơ bản thì mình ở nhà phần lớn thời gian để tập viết nhạc và giờ đây mình cuối cùng cũng đã có thể sáng tác được nhiều bài hát rồi,” cô chia sẻ.

Kinh nghiệm trong lĩnh vực sản xuất âm nhạc đã giúp Charles học thêm nhiều về sáng tác.

Có thể nói, Kim và Charles là một câu chuyện đại diện cho những người trẻ đi theo con đường nghệ sĩ độc lập. Bởi vì ngay cả khi có thể dành nhiều thời gian cho âm nhạc giống như Charles, cô vẫn phải có thu nhập để trang trải cuộc sống. Sau khi từ bỏ công việc chính, Kim chuyển sang làm nghệ sĩ lồng tiếng, và cô hài lòng với công việc này vì nó phù hợp với chất giọng tốt của cô. Bố mẹ Kim ban đầu đã lo lắng rằng hướng đi này sẽ khó mang lại sự ổn định tài chính, tuy nhiên họ vẫn dành cho cô sự ủng hộ lớn nhất.

Charles giải thích rằng làm việc cùng với Kim Chi Sun cũng giúp ích cho anh rất nhiều. Trước đó, anh từng thực hiện các bản cover và tự sáng tác đôi bài để giải trí trong thời gian rảnh rỗi. Tuy nhận được sự chú ý và ủng hộ của cộng đồng mạng, nhưng Charles nghĩ rằng bản thân chưa từng được đào tạo thanh nhạc bài bản nên đã không thực sự coi đó là một công việc nghiêm túc. Thế nhưng, những phản hồi tích cực khi anh tham gia thử giọng trong cuộc thi Giọng hát Việt 2018 đã tác động mạnh đến Charles, khiến anh tự tin rằng chất giọng nam cao độc đáo và tình yêu R&B bao lâu nay của anh sẽ có cơ hội phát triển trong nền âm nhạc Việt Nam, ngay cả khi chưa được nhiều người biết đến. “Cần phải có ai đó xung phong mở đường. Bọn mình muốn trở thành những người như thế và mang phong cách âm nhạc này đến với mọi người. Bọn mình là người Việt, sáng tác các bài hát bằng tiếng Việt nhưng mang âm hưởng giai điệu của âm nhạc quốc tế,” Charles chia sẻ.

Tận dụng thời gian giãn cách.

“Chào các bạn, đây là Kim mới,” cô hy vọng bản thu lần này sẽ giới thiệu lại nghệ sĩ Kim Chi Sun với người nghe đã biết cô từ trước. Ý tưởng đó sẽ tiếp tục được mở rộng sang một dự án với 20 ca khúc mới mà cô và Charles đang thực hiện, với nguồn cảm hứng đến từ thời kỳ giãn cách xã hội. Hiện tại, dự án đi được hai phần ba chặng đường, và sẽ là một sản phẩm mang nhiều cảm xúc của “thập niên 90, phong cách retro và disco.” Charles bổ sung thêm rằng dự án này sẽ giúp người nghe “nhìn thấy Kim trong hành trình tìm kiếm bản thân.”

Bên cạnh đó, Charles đã phát hành một album mới mang tên “Sweet N Sour” vào ngày 30/9 vừa qua, với nhiều MV được thực hiện cho các ca khúc. Anh gọi sản phẩm này là một “bản hướng dẫn cách trò chuyện với bóng tối, chữa lành những tổn thương và cách để chúng ta học yêu lần nữa.” So với “Still Good,” các bài hát trong album có phần phù hợp với tâm trạng về đêm hơn, điều này cho thấy sự tự tin của người nhạc sĩ về khả năng đa dạng hóa phong cách và thể loại của anh. “Sweet N Sour” có giai điệu R&B đặc trưng kết hợp chất nhạc điện tử có nhịp độ chậm, và xen lẫn âm hưởng của indie pop và hip-hop, tất cả các yếu tố cùng hòa quyện để tôn lên giọng hát nhẹ nhàng uyển chuyển của Charles.

Charles mô tả việc phát hành "Still Good" là khởi đầu cho một chương mới trong hành trình hợp tác của hai người. Với Kim, hành trình ấy cần có niềm tin "vào sự kỳ diệu của âm nhạc." Có thể hình dung rằng rồi đây thế hệ nghệ sĩ sau này sẽ nghe âm nhạc của Kim và Charles và được truyền cảm hứng để sáng tạo âm nhạc như cách mà cả hai đã học hỏi từ các thần tượng của họ. Nhưng ngay cả khi không trở nên nổi tiếng như thế thì Kim Chi Sun và Charles cũng đã rất vui vì có thể làm điều mình thích theo cách mình muốn.

Ảnh sử dụng trong bài do nhân vật cung cấp.

Bài viết được đăng tải lần đầu vào năm 2021.

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen.) Quãng 8 Wed, 05 Aug 2026 08:00:00 +0700
Thực hành thư pháp 'chữa lành' và tranh thủy mặc 'cợt nhả' tại Tịnh Thủy Đường https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18187-thực-hành-thư-pháp-chữa-lành-và-tranh-thủy-mặc-cợt-nhả-tại-tịnh-thủy-đường https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18187-thực-hành-thư-pháp-chữa-lành-và-tranh-thủy-mặc-cợt-nhả-tại-tịnh-thủy-đường

Những chiếc ấn triện khắc tay tinh tế và độc đáo. Những nét chữ thư pháp mềm mại, uốn lượn. Những bức tranh thủy mặc nên thơ. Và cả những bức họa “cợt nhả” đúng kiểu Gen Z thích mê. Bạn có thể tìm thấy tất cả tại Tịnh Thủy Đường.

 

Từ que củi bám bụi than đến bút lông, mực tàu

Tịnh Thủy Đường tự định vị mình là một không gian thực hành thư pháp, thủy mặc và ấn triện. Không chỉ dừng lại ở việc bán các tác phẩm nghệ thuật hay nhận đơn đặt hàng theo yêu cầu, nơi đây còn mở các buổi workshop để bất kỳ ai cũng có thể tự tay trải nghiệm loại hình nghệ thuật. Theo đuổi thẩm mỹ tối giản, mỗi tác phẩm bước ra từ Tịnh Thủy Đường chừa lại những khoảng trống gợi mở để người xem tự do đối thoại.

Lê Thị Thanh Trà tại Tịnh Thủy Đường. 

Gia chủ của không gian này là Lê Thị Thanh Trà, một cô gái sinh năm 2002 đến từ Vĩnh Long. Trong giới thư pháp, việc chọn tự và hiệu là một truyền thống đẹp để người cầm bút gửi gắm tâm tư. Cô chọn tự là Tịnh Thủy mang ý nghĩa một dòng nước bình yên, và hiệu là Chiêu Nga tượng trưng cho sự tỏa sáng. Cái tên Tịnh Thủy Đường (nơi có dòng nước bình yên) gói trọn mong muốn của Trà về một không gian an nhiên, thanh tịnh và được thỏa sức với đam mê.

Dù tuổi đời còn rất trẻ, Thanh Trà đã có hơn 7 năm gắn bó với nghệ thuật thư pháp. Tình yêu nghệ thuật của cô nảy mầm từ những ngày ấu thơ, khi cô bé mộng mơ vẫn thường lấy những khúc củi khô bám bụi than trong bếp để vẽ nguệch ngoạc lên tường. Lớn hơn một chút, niềm đam mê ấy được bồi đắp bởi những áng văn kinh điển. Hình ảnh ‘Ông đồ’ già nhẫn nại bên mực tàu giấy đỏ của Vũ Đình Liên, hay khí phách vung cọ tài hoa trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân đã thôi thúc cô tự mình bước vào thế giới thư pháp.

Tịnh Thủy Đường gói trọn mong muốn của Trà về một không gian an nhiên, thỏa sức đam mê.

Tuy nhiên, việc tiếp cận một bộ môn nghệ thuật mang tính kế thừa ở một vùng sâu vùng xa không hề dễ dàng. Đến năm lớp 10, khi bắt đầu có thể tự chủ về tài chính, Trà quyết định tự học. Không có thầy cầm tay chỉ việc, cô chủ động tìm tòi qua mạng và các video hướng dẫn trên YouTube. Thế rồi khi rời quê lên thành phố, Trà chọn theo học ngành Kiến trúc tại Trường Đại học Bách khoa. Một ngành học mang tính kỹ thuật ngỡ chẳng liên quan, lại trở thành mảnh ghép hoàn thiện tư duy sáng tạo của cô: “Mình đã học được nhiều thứ bổ trợ cho nghề thư pháp và thủy mặc, như cách sắp xếp bố cục, phối màu, đánh giá thẩm mỹ, và cả ứng dụng công nghệ, photoshop vào tác phẩm.”

Khi ấy, dù ở trong căn phòng ký túc xá chật hẹp, Trà vẫn khăn gói đủ đồ nghề theo để rèn nét chữ mỗi ngày. Cô nói: “Phải rèn mỗi ngày, chứ ngưng một thời gian tay sẽ bị cứng. Dần dần, hễ cầm bút lên là người bút hợp nhất.”

Viết con chữ, chữa tâm hồn

Với Trà, thư pháp trước tiên là một hành trình tự chữa lành. Cô thừa nhận bản thân từng trải qua giai đoạn tuổi mới lớn đầy cảm tính và nhiều bất đồng trong suy nghĩ. Chính quá trình mài mực, rèn chữ đòi hỏi tính kiên nhẫn đã giúp cô rèn luyện tâm tính. “Từ khi gắn bó với thư pháp, mình học được cách sống chậm lại, trầm tĩnh hơn, suy nghĩ cũng tích cực và sâu sắc hơn.”

Say Trà

Tâm

Vi Tiêu

Cảm giác an yên thu nhặt được từ bút mực đã thôi thúc Trà lan tỏa giá trị này đến những người cùng thế hệ — những người trẻ đang chới với giữa sự vội vã của xã hội hiện đại. Để làm được điều đó, cô chọn cách biến những kiến thức thư pháp khô khan thành một hình thức kể chuyện gần gũi. Thay vì chỉ phóng bút viết rồi giao thành phẩm, Trà thường dành thời gian trò chuyện, cắt nghĩa cặn kẽ cho khách qua lăng kính chiết tự Hán-Nôm. Cô mong muốn người nhận không chỉ nhìn thấy mặt chữ đẹp, mà còn thấu hiểu được cội nguồn và ý niệm sâu xa ẩn giấu bên trong.

Sức sáng tạo của Tịnh Thủy Đường cũng không tự đóng khung trong sự nghiêm cẩn của truyền thống, mà vươn sang hội họa đầy ngẫu hứng. Không khó để bắt gặp những tác phẩm nơi Trà khéo léo kết hợp con chữ mềm mại với nét vẽ hóm hỉnh, mang tinh thần của một Gen Z “cợt nhả.” Bằng cách làm dịu những quy chuẩn cứng nhắc, cô mong có thể giúp người thưởng lãm, đặc biệt là các bạn trẻ, tiếp nhận nghệ thuật thư pháp một cách cởi mở, tự nhiên hơn.

Tranh thủy mặc là tranh được vẽ bằng mực nước (mực tàu) trên giấy.

Dù mang đến một luồng sinh khí đầy tự do cho các tác phẩm, Thanh Trà vẫn giữ sự tôn nghiêm tuyệt đối với quy tắc truyền thống khi bước vào không gian thực hành. Nền tảng của sự nghiêm cẩn ấy nằm ở “văn phòng tứ bảo,” tức bốn món bảo vật cốt lõi của thư pháp gồm giấy, bút, mực và nghiên.

“Mình thích mài mực vì công đoạn này giúp tâm tịnh và là khoảng đệm để chuẩn bị. Nên mới có câu ‘Bút chưa hạ nhưng tâm đã mài.’ Có những người thích dùng mực pha sẵn vì rẻ và tiện. Còn với mình, mài mực thể hiện sự quy tắc và nghiêm túc của một thư pháp gia. Muốn mực đậm thì mài lâu, mình sẽ cảm nhận được độ già (sệt) của mực. Mọi người có thể ngửi thấy mùi thơm của mực sau một lúc. Ngửi riết là bị ghiền đó!”

Mài mực thể hiện sự nghiêm túc của một thư pháp gia. 

Giấy viết cũng được phân ra thành ba loại chính với từng công năng đặc thù. Giấy sinh tuyên mang đặc tính dễ loang nên cực kỳ lý tưởng để vờn cọ vẽ tranh thủy mặc. Trái lại, giấy thục tuyên thường được ưu ái dành riêng cho những bức tranh tả thực cần độ chi tiết cao. Riêng với việc chắp bút viết thư pháp, giấy bán sinh bán thục luôn là sự lựa chọn hoàn hảo nhất để truyền tải trọn vẹn thần thái và nét mềm mại của con chữ.

“Tranh thủy mặc đặc biệt ở chỗ không thể chỉnh sửa hay tẩy xóa. Nét vẽ cần nhanh gọn, dứt khoát, phù hợp với ý niệm của tác giả.”

Nói đoạn, Thanh Trà khua tay giới thiệu loạt cọ với đa dạng kiểu dáng và công năng rồi “thi triển” một bức thư pháp với tên Saigoneer cùng bức tranh thủy mặc đẹp mắt trước sự trầm trồ của chúng tôi. Như thể mọi đường nét đã được định hình sẵn trong tâm trí, bàn tay cô lướt trên mặt giấy uyển chuyển, để vạn vật tự nhiên thành hình.

Những con ấn triện khắc tay

Một bức thư pháp hay tranh thủy mặc sẽ càng toàn vẹn hơn khi được đóng lên một dấu ấn triện đỏ thắm. Khởi nguồn từ Trung Quốc, ấn triện là nghệ thuật chạm khắc chữ hoặc hình ảnh lên các bề mặt chất liệu như đá, ngọc hay gỗ để tạo ra con dấu dùng trong thư pháp.

Ấn triện từ truyền thống đến cách tân.

Trà hào hứng giới thiệu không gian làm việc với vô số phôi đá chế tác. Các loại đá dùng làm ấn triện vô cùng phong phú về kích cỡ, màu sắc và độ cứng, có thể kể đến Vân Nam Tử Sắc, Thiên Thanh, Tây Hiệp Lam Hoa Tuyết hay Thọ Sơn Diệp Lục. “Những viên đá mềm (có độ cứng khoảng 1 đến 3 Mohs), không hiếm thì giá sẽ rẻ. Ngược lại, viên nào cứng, mịn, có độ tinh khiết cao thường sẽ đắt hơn," Trà cho biết. Cô chỉ chọn khắc trên những loại đá có độ cứng vừa phải, nằm trong khoảng 1 đến 3 Mohs để đường dao được kiểm soát tốt nhất.

Mỗi con dấu ra đời đều bắt nguồn từ sự kết nối giữa nghệ nhân và người đặt. Trà thường kết hợp góc nhìn chuyên môn với mong muốn của khách để tư vấn chất liệu phù hợp. “Ví dụ, nếu khách mệnh Mộc, mình sẽ tư vấn đá màu xanh, hay khách muốn khắc nhiều chữ thì nên dùng đá lớn.”

Thiết kế 

In thiết kế lên mặt đá.

Về mặt cấu trúc, một con dấu hoàn chỉnh bắt buộc phải có danh chương hoặc nhàn chương, đôi khi là cả hai. Danh chương chính là tên, tự hoặc nghệ danh của khách hàng; còn nhàn chương là những ký hiệu hay hình ảnh điểm xuyết giúp cân bằng lại bố cục tổng thể của mặt dấu. 

Về kỹ thuật chạm khắc, nghệ nhân thường áp dụng ba thể thức cơ bản. Với thể chu văn, người thợ sẽ đục bỏ phần nền để chữ nổi cao, khi ấn vào chu sa sẽ cho ra nét chữ đỏ rực trên nền giấy trắng. Ngược lại, thể bạch văn chạm khắc chìm phần chữ để nền nổi lên, tạo ra nét chữ trắng muốt trên khung nền đỏ. Thể thức âm dương kết hợp cả hai kỹ thuật trên, thường tuân theo quy tắc “nam tả nữ hữu” với phần dương nằm bên trái và phần âm nằm bên phải, nhưng vẫn có thể linh hoạt biến tấu tùy theo chủ ý sáng tạo.

Sau khi cùng bàn bạc để thống nhất loại đá, thể thức chạm khắc cũng như các chi tiết danh chương và nhàn chương, Thanh Trà sẽ cẩn thận phác thảo hai mẫu thiết kế để khách hàng dễ dàng mường tượng và “chốt đơn.”

Chạm khắc

Để bắt đầu, Trà sẽ dùng giấy nhám mài phẳng và nhẵn nhụi phần mặt phẳng chạm khắc của phôi đá. Kế tiếp, cô cẩn thận cố định viên đá, tái hiện thiết kế lên một tờ giấy mỏng, rồi lật ngược để in mực lên mặt đá. Bằng chiếc bút kỹ thuật, cô đồ lại từng nét vẽ để dập mẫu trước khi chính thức hạ dao.

Trên chiếc bàn xoay nhỏ cố định phôi đá, một tay Trà ghì chặt con dao titan cặm cụi tỉa tót theo từng đường nét, tay kia cầm cọ liên tục phủi bay lớp bụi. Từng chút một, danh chương của vị khách bắt đầu hiện ra rõ nét.

Quá trình chạm khắc.

“Khách hàng của mình thích những món đồ thủ công mỹ nghệ, có hồn, đặc trưng và mang tính thẩm mỹ cá nhân. Họ không hứng thú với những con dấu khắc bằng máy thẳng thớm.”

Để hoàn thiện, cô cẩn thận đánh dấu chiều đúng của con ấn, không quên dặn khách cách dặm đều mực chu sa, đè chặt bốn góc trước khi chậm rãi nhấc lên. Mỗi ngày, Trà chỉ nhận khắc từ một đến hai ấn triện, nhiều nhất là ba ấn nhỏ vì lý do rất đỗi thật thà: “Làm nhiều đau tay lắm.”

Khi được hỏi về những khó khăn trong quá trình chế tác, cô nàng lập tức bày ra “nghĩa địa” đá nơi cất giữ những kỷ niệm đau thương khi hành nghề. Cô nhớ nhất một đơn hàng khiến mình phải hì hục khắc lại đến lần thứ ba, vì phôi đá cứ nứt toác ngay sau khi hoàn thành ở hai lần trước đó.

“Nghĩa địa” đá của Trà.

“Nếu khách hoặc mình không ưng ý mà viên đá vẫn còn nguyên vẹn, mình sẽ mài nhẵn bề mặt rồi khắc lại từ đầu,” Thanh Trà hóm hỉnh chia sẻ. “Đơn hàng ấn tượng nhất của mình đến từ vị khách đã dẫn dắt mình vào con đường vẽ ‘cợt nhả.’ Chị ấy yêu cầu khắc hình con heo và mình bắt đầu ‘sa ngã.’ Từ đó, ngày càng có nhiều khách tìm tới mình để đặt những đơn hàng kiểu như vậy.”

Đời xô đẩy mình vẽ tranh “cợt nhả…”

Dù từng ra mắt bộ sưu tập ấn triện phá cách từ năm 2025, mãi đến gần đây cô mới thực sự dấn thân vào con đường vẽ tranh “cợt nhả.” Bằng vài đường cọ gãy gọn, cô biến những góc nhìn đời thường thành vô số bức họa ngộ nghĩnh, mang lại tiếng cười cho người thưởng lãm.

Thanh Trà nửa đùa nửa thật chia sẻ: “Thực lòng thì mình thích vẽ tranh nghiêm túc hơn vì đây là một hình thức thiền giúp bản thân rèn luyện tâm tính. Vẽ cợt nhả hoài là hư nghề đó! Tuy nhiên, tình cảm và sự ủng hộ của mọi người khiến mình muốn tìm điểm cân bằng giữa hai trường phái.”

“Mã đáo thành công.”

“Tận hưởng những thứ mình có.”

Theo lời cô, giai đoạn khoảng đầu những năm 2000, nghệ thuật thư pháp gần như đứng trước nguy cơ thất truyền tại Việt Nam, sau đó mới bắt đầu khôi phục. Hiện tại, bộ môn này đã được nhiều bạn trẻ quan tâm hơn. Thanh Trà thường xuyên tham gia các sự kiện lẫn workshop về thư pháp, tặng chữ tại các trường đại học vào dịp Tết và rất vui mừng trước sự đón nhận của mọi người. “Thư pháp mang tính văn hóa cao. Mình thấy các thư pháp gia giao lưu như anh em bạn hữu, xem xét nét chữ hay theo dõi mạng xã hội của nhau chứ không có ý muốn cạnh tranh. Đây là điều mình cực kỳ thích.”

Sắp tới, Thanh Trà vẫn sẽ tiếp tục theo đuổi loại hình nghệ thuật này và tập trung trả dần các đơn đặt hàng ấn triện đã nhận tới gần cuối năm. Mới nhất chính là dự án “lây lan sự cợt nhả” trên những chiếc ly sứ in hình loạt lí lắc đặc trưng của Tịnh Thủy Đường. Tạm biệt không gian tĩnh tại này, Saigoneer chúc Thanh Trà “mã đáo thành công” trên chặng đường sáng tạo sắp tới, như bức tranh thủy mặc mà cô đã họa nên.

]]>
info@saigoneer.com (Mầm. Ảnh: Alberto Prieto.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Tue, 04 Aug 2026 17:25:23 +0700
Tập ngồi chồm hổm để thấy mình 'hòa tan' vào văn hóa Việt Nam https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18183-tập-ngồi-chồm-hổm-để-thấy-mình-hòa-tan-vào-văn-hóa-việt-nam https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18183-tập-ngồi-chồm-hổm-để-thấy-mình-hòa-tan-vào-văn-hóa-việt-nam

Văn hóa là gì? Là một cây bút Saigoneer, ngôi nhà của các bài viết văn hóa nghệ thuật, lẽ ra tôi phải có ngay một câu trả lời gãy gọn. Thế nhưng, càng ngẫm nghĩ, tôi càng nhận ra đó rốt cuộc chỉ là một mớ hỗn độn của vô vàn thói quen, lề thói vụn vặt và phù du: từ sở thích ăn uống, trang phục ngày lễ, kiểu hắt hơi, cách đếm số bằng ngón tay, các loại trái cây dùng để biếu tặng, cho đến vô số quy chuẩn xã hội khác. Chỉ cần gom nhặt đủ những tiểu tiết đó lại, ta sẽ có một nền văn hóa hoàn toàn riêng biệt.

Nếu thử đúc kết những mảnh ghép làm nên văn hóa Việt Nam, chắc chắn ta phải chừa một chỗ cho thói quen “ngồi chồm hổm.” Cái tên “Asian squat” (ngồi chồm hổm/ngồi xổm kiểu châu Á) mà phương Tây hay dùng đã phần nào nói lên độ phổ biến của thói quen này trên toàn châu lục. Để thực hành Asian squat, người ngồi gập sát người xuống đất và giữ thăng bằng mà chẳng cần đến ghế. Hình ảnh ấy xuất hiện thường xuyên ở Việt Nam đến mức được vô số du khách chụp lại và bàn tán trên mạng xã hội, nên ta hoàn toàn có thể coi đây là một phần của bản sắc văn hóa đất nước.

Ảnh chỉ mang tính minh họa và không đảm bảo độ chuẩn xác về mặt giải phẫu học.

Trong các cuộc thảo luận trên mạng, người phương Tây thường thú nhận rằng họ hoàn toàn chào thua dáng ngồi chồm hổm. Cứ thử hỏi một vòng bạn bè hay đồng nghiệp ngoại quốc mà xem, 10 người thì chắc hết 9 người sẽ gật đầu thừa nhận. Nhưng tại sao lại thế? Dù có vô vàn giả thuyết giải thích lý do người ngoại quốc hiếm khi ngồi được tư thế này, nguyên nhân thật ra không nằm ở sự khác biệt về vóc dáng hay cấu trúc cơ thể giữa các chủng tộc, mà chủ yếu đến từ quá trình rèn luyện.

Để ngồi chồm hổm, khớp cổ chân phải thật dẻo dai. Trẻ em vốn sinh ra với sự linh hoạt ấy nên, dù sinh ra ở nền văn hóa nào, tụi nó cũng ngồi chồm hổm rất đỗi dễ dàng. Thế nhưng, nếu không thực hành thường xuyên, cơ thể con người cũng giống như trí óc vậy, sẽ tự nhiên xơ cứng đi và khả năng này cũng theo đó mà lụi tàn. Điều đó có lẽ giải thích vì sao rất nhiều người Việt ở đủ mọi lứa tuổi đều ngồi chồm hổm một cách vô cùng thoải mái: họ liên tục thực hành tư thế này lúc lặt rau, sửa xe máy, đứng đợi xe buýt, hay đơn giản là khi chơi đùa trên sàn nhà mà không muốn làm bẩn mông quần.

Người Việt xưa từng hay ngồi chồm hổm khi đi ăn tiệm. Nguồn ảnh: kevintruong.vn.

Người bán mía ngồi chồm hổm trên đường Sài Gòn năm 1950. Ảnh: tài khoản LiveJournal Foto-history.

Tất nhiên, không phải người Việt nào cũng chồm hổm được, nguyên nhân có thể do thói quen hoặc đặc điểm thể trạng. Và có lẽ, khi đất nước ngày càng hiện đại hóa và những sinh hoạt gắn liền với dáng ngồi xổm dần thưa thớt đi, thì số người còn giữ được thói quen này sẽ ngày một hiếm. Xu hướng đó vô tình trùng khớp với một quan điểm khá phổ biến trong nước hiện nay, cho rằng ngồi chồm hổm trông bỗ bã, quê mùa và chỉ hợp với thời đất nước còn nghèo khó, mặc kệ những lợi ích sức khỏe thiết thực mà tư thế này mang lại. Định kiến ấy có lẽ còn cắm rễ sâu hơn vì dáng chồm hổm trông từa tựa tư thế đi vệ sinh bằng bồn cầu bệt kiểu cũ.

Minh chứng cho kỹ năng ngồi chồm hổm thượng thừa của tôi ngay từ lúc nhỏ.

Cá nhân tôi cho rằng nếu dáng ngồi này hoàn toàn biến mất thì đó sẽ là một mất mát lớn về mặt văn hóa. Tuy nhiên, tôi cũng có chút thiên vị. Chẳng hiểu sao, dù là một đứa trẻ da trắng 100% lớn lên ở Mỹ, tôi lại quen ngồi chồm hổm mọi lúc mọi nơi: từ lúc chơi điện tử, ngồi học ở trường cho đến khi dùng bữa cùng gia đình. Thói quen kỳ quặc đó từng khiến thầy cô và bố mẹ tôi phật ý. Mỗi bữa ăn, bố tôi phải càm ràm không biết bao nhiêu lần — “Bỏ cái chân xuống” — nhưng tôi chẳng bao giờ bỏ được cái nết ngồi đó hết. Và giờ đây, ít nhất là cho tới khi vốn tiếng Việt của tôi khá khẩm hơn và bớt bập bẹ, thì việc ngồi chồm hổm là thứ giúp tôi cảm thấy bản thân có thể hòa nhập vào văn hóa Việt Nam. Chưa kể, tư thế này còn thoải mái và tiện dụng hơn bất kỳ chiếc ghế nào tôi từng ngồi qua.

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Minh họa: Dương Trương.: ) Văn Hóa Fri, 31 Jul 2026 17:47:08 +0700
Cái ngố mà nghệ trong thế giới của họa sĩ Minh Phương (Phuongsongdep) https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18177-cái-ngố-mà-nghệ-trong-thế-giới-của-họa-sĩ-minh-phương-phuongsongdep https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18177-cái-ngố-mà-nghệ-trong-thế-giới-của-họa-sĩ-minh-phương-phuongsongdep

Bằng óc quan sát và cảm quan nghệ thuật tinh tế, Minh Phương vẽ ra một thế giới đầy màu sắc của những con người, con vật, hoa lá, trái cây, cả những câu chuyện đường phố quen thuộc cũng thành sinh động. Qua công cụ là những hình ảnh bắt mắt, cô bày tỏ niềm tin yêu chân thành với con người và cuộc sống, niềm trân quý văn hóa địa phương và lòng bao dung với chính bản thân mình.

Sống đẹp, sống ngố

Minh Phương (Phuongsongdep) là một họa sĩ minh họa đa chất liệu đến từ Hải Phòng, hiện là cư dân Sài Gòn. Nghệ thuật của cô mang nhiều màu sắc và cái nghịch ngợm, ẩn sâu bên trong là sự cởi mở với cảm xúc và khao khát được “sống đẹp.” Ngoài các dự án cá nhân, hợp tác với nhãn hàng và tham gia hội chợ nghệ thuật, Phương còn thử sức vẽ minh họa cho album của nghệ sĩ âm nhạc.

Dự án minh họa lót ly kết hợp với Tired City.

Nhắc đến nghệ danh Phuongsongdep (Phương Sống Đẹp), cô bật cười: “Ngày trước mình thấy nó ngồ ngộ, cũng ấn tượng nên đặt, giờ lại hơi áp lực vì đâu phải lúc nào mình cũng sống đẹp được.” Nhưng cô vẫn giữ lại cái tên ấy, xem như một mục tiêu. “Mình muốn sống đẹp, tử tế, yêu thương, muốn sống với cái đẹp nữa.”

Minh Phương và tác phẩm.

Nét vẽ của Phương luôn tròn trịa, là những cô gái luôn có khuôn mặt bầu bĩnh, mấy con mèo mũm mĩm, cả bông hoa cũng được nhồi bông. Thế giới mộng mơ ấy dường như luôn chuyển động, nơi hoa lá nghiêng nghiêng theo gió, dòng nước xoay tròn, giọt sương tung tẩy. Ở đó, cô cậu học sinh nhảy múa cùng chị bán trái cây, chị váy chống nắng ngã nhào còn chú chó cỏ phóng xe đi mất. Phương cũng thích nhân hóa đủ loại trái cây, rau củ, quả nào quả nấy đều có những biểu cảm sinh động. Khi thì đỏ má ngại ngùng, khi thì nhếch mép khiêu khích, lúc lại chu môi, nháy mắt. Một thế giới nghịch ngợm tương phản với gam màu ngọt ngào, tạo nên cái ngố rất duyên.

Thế giới nghệ thuật của Phương luôn tràn ngập màu sắc và sự tròn đầy. 

Ngoài phác họa cuộc sống hiện đại, Phương còn đem sự ngố vào các biểu tượng văn hóa lâu đời. Khi thực hiện bộ sưu tập MANIFEST MONEY với thông điệp “cầu tài,” ngoài Thần Tài Thổ Địa đã được biết đến rộng rãi, Phương còn ứng dụng hình tượng Thiềm Thừ (cóc ba chân, ý nghĩa giữ tiền vững như kiềng ba chân) và Tỳ Hưu (không có hậu môn, chỉ hút lộc chứ không nhả lộc). Cả bốn nhân vật vốn mang yếu tố phong thủy, uy nghi bỗng trở nên ngộ nghĩnh, hồng hào, bóng lưỡng trong vũ trụ của Phương. 

BST Manifest Money.

“Ngố cũng là một kiểu ngầu”

Để đến với tuyên ngôn hồn nhiên ấy, Phương cũng phải trải qua vài phen tự vấn. Người ta hay nghĩ đến “ngầu” với hình ảnh gai góc. Phương lại yêu thích màu sắc ngọt ngào nên từng cho rằng bản thân không “ngầu” bởi thế. Nhưng với cảm quan rõ ràng về phong cách mình theo đuổi, Phương không cho phép mình nương theo định nghĩa ấy. “Có lẽ chế độ phụ quyền làm mình tin rằng dễ thương thì không ngầu, dù thật ra việc mình hồng phấn cũng là một kiểu ngầu đấy chứ.”

Phương cũng có giai đoạn mà những nghi ngờ khiến cô ngại ngần, những nghĩ ngợi chiếm hết khoảng nghỉ ngơi. Nên Phương vẽ, như một cách tự thoại, tự giãi bày, cũng là một cách thiền nữa. Tâm trí là một vườn hoa, có hoa căng thẳng, có hoa yêu đời. Hoa căng thẳng của Phương thường nhọn hoắt với mảng màu đơn sơ, hoa yêu đời lại bông tròn và rực rỡ. Khu vườn tâm trí càng hiện lên rõ nét, Phương càng thấy yên bình khi nằm trong đó, ngắm nhìn và thấu hiểu nó.

Khu vườn tâm trí của Phương.

Yêu mình, yêu người và chia sẻ niềm yêu

Trải qua những lần nghi ngờ bản thân, Phương muốn nghệ thuật của mình là một chốn dừng chân cho tâm hồn, nơi đón chào những tâm hồn đồng điệu. Nghệ thuật luôn có một năng lực kết nối kỳ lạ, những bức vẽ ấy không chỉ giúp chính tác giả mà còn ấp ôm những người đón nhận. Tác phẩm của Phương từng được dùng cho một dự án Liệu pháp tâm lý nghệ thuật, củng cố thêm giá trị nghệ thuật và tinh thần mà cô mang lại cho cộng đồng.

Bộ bưu thiếp Friendly Reminder được Phương sáng tạo với nhiệm vụ ban đầu là nhắc nhở về giá trị của chính mình, thế mà chạm được biết bao tâm hồn đồng điệu. Đã nhiều bạn mang về những tấm bưu thiếp, trưng trong phòng để động viên bản thân, có người lại tặng bạn bè. Mỗi khi có tin nhắn đến, khoe rằng những tác phẩm ấy đã nâng niu họ trong khoảng thời gian u buồn và hiện tại họ đã tốt hơn thế nào, Phương lại yêu công việc của mình hơn. “Tác phẩm sẽ có ý nghĩa hơn nếu được đến với nhiều tâm hồn thay vì đứng riêng lẻ.”

Bộ bưu thiếp Friendly Reminder.

Ấp ôm những khoảng lặng

Với một nghệ sĩ, ý tưởng sáng tạo thường đến khá bất ngờ, càng thúc ép càng bí bách. Dù đồng ý rằng thật khó để sáng tạo gấp gáp, Phương cũng không khuyến khích “ngâm” một tác phẩm quá lâu, điều khiến nghệ sĩ mất dần lửa sáng tạo. Cô quan sát thấy các nghệ sĩ trẻ thường ngại công bố sản phẩm của mình. Dù có sản phẩm, họ vẫn chờ một mức độ hoàn thiện cao hơn. Với cô, điều này dường như không thể vì tiêu chuẩn và kỹ năng của chúng ta sẽ phát triển liên tục. Đến được thang điểm 5, tham vọng của ta đã ở thang 7, đến thang 7, ta lại mong chờ thang 10. Càng chờ đợi, tác phẩm sẽ không được ra mắt và quá trình phát triển của ta càng khó được ghi nhận. Do đó, Phương khuyến khích những người thực hành nghệ thuật, hay bất cứ ngành nghề nào, hãy đặt thời hạn cho công việc, đăng lên, đóng nó lại, và bắt đầu dự án tiếp theo. Sản phẩm sau chắc chắn tốt hơn sản phẩm trước, xét trong một khoảng thời gian tương đương.

Để hoàn thành công việc đúng tiến độ, Phương thường tạo cho mình không gian thoải mái để ý tưởng tự đến, thay vì quẩn quanh giữa những gì đã chán mắt. Phương sẽ đi dạo, quan sát cuộc sống rồi nắm bắt tất cả những hình ảnh thoáng qua đầu. Có thể nó thỏa mãn cái tôi nghệ sĩ của cô, có thể nó không đủ sức nặng, nhưng nghệ sĩ đã có một cơ hội thực hành, luyện tập.

Phương từng xem mỗi tác phẩm là đứa con tinh thần, luôn cố đẩy nó đến mức độ mà bản thân thỏa mãn. Nhưng hiện tại, cô cho các tác phẩm một cuộc đời riêng, và chính cô cũng sống cuộc đời của riêng mình. Sản phẩm vẫn ở đó, là một minh chứng cho hành trình của nghệ sĩ, nhưng không thể tự phát triển thêm. Còn bản thân nghệ sĩ là một khái niệm có thể biến đổi liên tục, là vật chủ để sản sinh những cột mốc đó. “Phải biết chấp nhận rằng khả năng của mình chưa tới, mình mới thoải mái khi sáng tạo.”

Để ủng hộ các tác phẩm của Minh Phương (Phuongsongdep), đồng nghệ có thể tìm mua ở các cửa hàng Tired City (@tiredcity_official) tại Hà Nội, Đà Nẵng, Huế; cửa hàng OhQuao (@ohquao) tại Sài Gòn. Bạn cũng có thể liên hệ trực tiếp với Minh Phương qua Instagram @minhphuong.work.

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. ) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Sun, 26 Jul 2026 21:38:40 +0700
Vietnam Sound Library: Dự án lưu trữ ký ức và bản sắc Việt Nam bằng kho tàng âm thanh https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18171-vietnam-sound-library-dự-án-lưu-trữ-ký-ức-và-bản-sắc-việt-nam-bằng-kho-tàng-âm-thanh https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18171-vietnam-sound-library-dự-án-lưu-trữ-ký-ức-và-bản-sắc-việt-nam-bằng-kho-tàng-âm-thanh

Cộc! Cộc! Cộc! Tiếng dao chan chát của chị bán vịt dội liên hồi trên mặt thớt gỗ dày cui. Cách đó chỉ vài xăng-ti-mét, một chiếc micro đang được chĩa sát vào để thu trọn âm thanh này.

“Với mình, nhiếp ảnh và thu âm thực ra rất giống nhau. Đều là cách ta níu giữ kỷ niệm, chỉ khác ở giác quan tiếp nhận. Mỗi lần nghe lại các đoạn băng cũ, mình như được quay ngược thời gian, trở về đúng khoảnh khắc đó, đắm mình trong bầu không khí đó và sống lại trải nghiệm đó một lần nữa,” Trần Đăng Khoa, người sáng lập dự án Vietnam Sound Library (Thư viện Âm thanh Việt Nam) chia sẻ. Lúc này, chúng tôi đang ngồi xì xụp tô bún vịt từ chính sạp hàng anh vừa thu âm ban nãy.

Bên tô bún đang ăn dở, Khoa say sưa nói về triết lý lưu trữ của mình. Âm thanh có sức mạnh vô hình, đủ sức đánh thức ký ức và khơi gợi niềm hoài niệm về những khoảnh khắc tưởng chừng đã rơi vào quên lãng. Thế nhưng, nếu thói quen chụp ảnh đã quá phổ biến, thì người ta lại hiếm khi nghĩ đến việc ghi lại một âm thanh cho đến khi nó vĩnh viễn biến mất. Khoa thì khác, anh luôn trăn trở xem mình nên lưu lại những gì và lên kế hoạch rất bài bản cho mỗi chuyến đi thực địa. Cứ đến một địa điểm mới, anh lại tự đặt ra hai câu hỏi. “Thứ nhất, đâu là nét đặc trưng nhất của âm thanh này? Nếu nhắm mắt lại và chỉ nghe thôi, liệu người ta có nhận ra ngay mình đang ở đâu không? Thứ hai, 30 hay 50 năm nữa, khi thế giới đổi thay, âm thanh nào của ngày hôm nay sẽ còn đọng lại ý nghĩa với thế hệ mai sau?”

Khoa thu âm không khí buổi sáng ở Chợ Bình Tây.

Saigoneer đã dành trọn một buổi sáng để theo chân Khoa đi thu âm. Điểm hẹn đầu tiên là Chợ Lớn (Chợ Bình Tây) vào lúc sáng sớm, khi các tiểu thương vừa mở sạp. Thấy một chiếc xe tải chở đồ đang tấp vào trước cổng chính, Khoa liền thốt lên: “Đoạn này đắt giá nè, tiếng người lao động!” Nói rồi, anh chạy đi tìm chỗ đứng phù hợp để thu lấy tiếng loảng xoảng, ồn ã của bàn ghế sắt đang được khuân vác, bày ra. Vài phút sau, chúng tôi lại thấy anh trên lầu hai của chợ, đang nhờ một tiểu thương kéo thử cánh cửa cuốn trước sạp. Khoa luôn dỏng tai nghe ngóng mọi thứ xung quanh. Thậm chí lúc đang ngồi ăn sáng, chuyện còn đang nói dở, anh sẵn sàng đứng phắt dậy vọt ra đường chỉ để thu tiếng rao của một cô bán chè vừa đi ngang qua.

Vẫn còn tràn đầy năng lượng, Khoa tiếp tục dẫn chúng tôi đi thăm vài ngôi chùa quanh đó. Tại đây, anh thu lại tiếng gieo quẻ xin xăm, tiếng chuyện trò rôm rả giữa một người bán vé số khiếm thị và khách đi lễ, tiếng chuông ngân vang cùng tiếng cầu kinh râm ran trong không khí.

Từ thuở nhỏ, Khoa đã có một sự gắn bó mật thiết với thế giới âm thanh. “Mỗi lần xem một bộ phim, hễ thấy xúc động hay nổi da gà, mình nhận ra phần lớn cảm xúc đều bắt nguồn từ âm thanh.” Niềm đam mê ấy dẫn dắt chàng trai Sài Gòn theo học ngành kỹ thuật âm thanh, sau đó làm công việc chỉnh sửa và hòa âm cho các dự án điện ảnh, quảng cáo (TVC) cùng nhiều sản phẩm thương mại khác.

Trong quá trình hành nghề, Khoa sẽ bắt gặp những cảnh phim đòi hỏi một âm thanh hoặc tiếng động đặc thù mà không một kho dữ liệu nào có sẵn. Đứng trước bài toán đó, các nghệ sĩ tiếng động (Foley artist) có thể tự sáng chế ra những âm thanh không có thật nhưng vẫn tạo được hiệu ứng cảm xúc mạnh mẽ, giúp câu chuyện càng thêm lôi cuốn. Dẫu vậy, vẫn có những lúc tính chân thực cần được ưu tiên tuyệt đối. Gặp phải tình huống như thế, Khoa quyết định xách máy lên đường, tự mình đi tìm và thu lại những âm thanh nguyên bản.

Chính nhu cầu lưu trữ và chia sẻ nguồn tư liệu thực tế này đã thôi thúc Khoa thành lập Vietnam Sound Library vào cuối năm 2024. Tính đến thời điểm hiện tại, kho lưu trữ đã thu thập được hơn 550 đoạn ghi âm, mang sứ mệnh đưa những âm thanh thường ngày của người Việt đến gần hơn với công chúng. Toàn bộ tệp âm thanh chất lượng cao (lossless) được tải lên nền tảng SoundCloud và phân loại thành từng thư mục rõ ràng như công viên, chợ, khu dân cư, quán ăn, tàu điện ngầm, hay thậm chí là âm thanh của một đám tang. Mở từng thư mục, người nghe sẽ tìm thấy những bản thu rất đa dạng, từ những phổ âm thanh bao quát đến những tiếng động rất cụ thể như tiếng trống trường buổi sáng, tiếng máy khoan cắt bê tông trên phố, hay tiếng đánh pickleball.

Kết thúc buổi sáng điền dã, chúng tôi theo Khoa về phòng thu. Tại đây, anh ngồi vào bàn làm việc, trước mặt là dàn máy tính nhiều màn hình cùng một màn chiếu cỡ lớn để bắt tay vào xử lý thành quả. Anh nghe lại các bản thu, tách lọc và loại bỏ tạp âm gây nhiễu, cắt đi những khoảng lặng rồi mới gắn thẻ và phân loại để đăng lên mạng. Khoa ví von công đoạn này với quá trình chỉnh sửa ảnh: mỗi nghệ sĩ âm thanh sẽ chọn một mức độ can thiệp khác nhau, việc gọt giũa nhiều hay ít đều phụ thuộc vào phong cách và chủ ý nghệ thuật của từng người

Để minh họa ứng dụng thực tiễn của các bản thu âm, Khoa mở cho chúng tôi xem một dự án phim điện ảnh mà anh đang đảm nhận khâu thiết kế âm thanh. Chẳng hạn như một phân cảnh diễn ra trong rừng, anh lồng ghép hàng loạt âm thanh từng thu tại Vườn quốc gia Cát Tiên vài tuần trước đó. Tiếng rừng rậm, tiếng dế kêu, tiếng chim hót, cả tiếng con muỗi đậu ngay trên mặt micro, cùng nhiều thứ tiếng động khác được đan cài vào nhau. Mục đích không phải để tái hiện chính xác không gian thực tế, mà là để tạo ra thứ âm thanh mà khán giả sẽ mường tượng trong đầu khi xem cảnh ấy.

Ban đầu, Khoa thành lập Vietnam Sound Library chỉ để phục vụ cho công việc. Thế nhưng, giá trị và ý nghĩa của dự án hoàn toàn thay đổi từ ngày anh gặp người bạn đời, chị Đinh Vũ Thu Thủy. Khoa chia sẻ: “Lúc đầu, mình chỉ định xây dựng một thư viện âm thanh để làm phim. Nhưng đến năm 2025, khi Thủy tham gia vào dự án, bạn ấy đã mang đến cho mình một góc nhìn hoàn toàn khác về âm thanh.”

Hầu như lúc nào Khoa và Thủy cũng nở nụ cười.

Nhớ lại chuyến đi thực địa đầu tiên cùng nhau, Thủy chia sẻ: “Lần đầu tiên mình tham gia thu tiếng là ở mấy khu chợ truyền thống. Lúc đó, mình mới nhận ra âm thanh không chỉ đơn thuần là dữ liệu, mà còn là phương tiện chứa đựng những câu chuyện văn hóa. Khoa cũng nghĩ như vậy. Tiếng rao ve chai, tiếng trống trường hay tiếng con nít chơi trò năm mươi... đều gắn liền với tuổi thơ của thế hệ 9x tụi mình... nhưng rất nhiều âm thanh trong số đó đang dần biến mất. Điều đó thúc giục hai đứa phải nhanh chóng ghi lại những âm thanh đời thường khi chúng vẫn còn tồn tại.” 

Nhờ thiết bị thu âm nhỏ gọn, hai người luôn sẵn sàng lên đường bất cứ lúc nào.

Kể từ đó, Thủy luôn đồng hành cùng Khoa trong mọi chuyến đi. Cô tinh ý nhận ra những âm thanh có thể chẳng dùng ngay cho phim ảnh, nhưng đang lưu giữ nét văn hóa nào đó sắp mai một. Thủy cũng tự tay bấm máy ghi lại hình ảnh đi kèm từng đoạn băng để người nghe hình dung rõ bối cảnh thực tế, nhất là với những không gian họ chưa từng trực tiếp trải nghiệm. Khi trở về phòng thu, cô hỗ trợ đặt tên chi tiết cho các tệp âm thanh, chẳng hạn như ghi rõ đâu là tiếng cửa lùa đâu là tiếng cửa cuốn. Thủy còn cẩn thận bổ sung các chú thích như địa điểm, ngày và thời điểm cụ thể.. những thông tin văn hóa mà dân làm phim đôi khi bỏ qua vì với họ, một ghi chú chung chung là đã đủ.

Dự án cũng thay đổi cách Khoa và Thủy nhìn nhận thế giới xung quanh. Thủy chia sẻ: “Trước khi tham gia dự án, mình hiếm khi chú ý đến tiếng động xung quanh và thường coi đó là điều hiển nhiên. Mình nghe nhưng không thực sự lắng nghe. Giờ đây, mình học được cách sống chậm lại, lắng nghe kỹ hơn và để tâm đến những âm thanh nhỏ bé từng bị bỏ qua. Nhờ vậy, mình nhận ra âm thanh chứa đựng nhiều điều hơn chúng ta nghĩ. Nó lưu giữ những câu chuyện về môi trường, văn hóa và ký ức con người. Thư viện dạy mình cách thấu hiểu không gian xung quanh qua việc lắng nghe.”

Về phần Khoa, dù làm nghề lâu năm, anh chưa từng nghĩ những chuyến đi thực tế có thể mang đến cảm giác bình yên như vậy. “Một điều làm mình bất ngờ khi đi thu là lúc mình hoàn toàn tập trung lắng nghe. Mình thấy kết nối với hiện tại hơn. Mọi thứ tự nhiên sống động hẳn lên. Lúc đó mình mới nhận ra, trước giờ mình hay chìm trong suy nghĩ riêng mà quên mất việc cảm nhận những gì đang diễn ra trước mắt.”

Tình yêu dành cho việc thu âm giúp hai người tác nghiệp mượt mà hơn. Thấy họ làm việc vừa vui vẻ vừa chân thành, người dân trong chợ, ở sân trường hay quán ăn cũng bớt e ngại. Theo Thủy, sự cởi mở ấy là điều quý giá, bởi suy cho cùng, tiếng nói của con người mới là thứ thể hiện bản sắc văn hóa rõ nét nhất. Những tiếng rao hàng (mà Khoa ví như tiếng hát) chính là điều Thủy thích nhất: “Chỉ cần nghe qua vài tiếng rao là cảm nhận được ngay bầu không khí đặc trưng của chợ Việt. Mỗi người bán lại có một cách rao, một nhịp điệu và chất giọng riêng, tất cả hòa quyện để tạo nên linh hồn của khu chợ.”

"Mình ước gì có thể thu lại được tiếng của mấy trò chơi dân gian," Khoa nói. "Mỗi thế hệ đều có một âm thanh riêng. Ví dụ, các cụ già nói chuyện bây giờ rất khác so với thế hệ các cụ 30 năm trước; từ cách nói, chủ đề, cho đến cả âm lượng cũng khác."

Không chỉ mang giá trị lưu trữ, những âm thanh từ quá khứ vẫn có sức lay động mạnh mẽ ở hiện tại. Khoa kể lại: “Có hôm, tụi mình nhận được tin nhắn từ một bạn du học sinh: ‘Em đang đi học xa, nghe mấy âm thanh này nhớ nhà quá. Cảm ơn anh nha.’ Tin nhắn đó làm tụi mình xúc động lắm, vì lúc ấy nhận ra dự án không chỉ cất giữ âm thanh mà còn giúp mọi người tìm lại ký ức và cảm xúc của chính mình.”

Nhưng dù có giá trị lớn đến đâu, công việc này cũng vấp phải giới hạn về nguồn lực. Chưa kể đến các vùng miền khác trên cả nước, chỉ riêng Sài Gòn thôi là đã có quá nhiều tiếng động mà hai người không tài nào thu hết. Khoa cho biết: “Một người là không bao giờ đủ, bởi vấn đề không nằm ở kỹ thuật mà ở trải nghiệm sống. Người sinh ra ở miền Bắc hay người lớn lên ở vùng biển, miền núi sẽ thấu hiểu quê hương họ hơn mình và biết chính xác những gì cần ghi lại.”

Hiện tại, Khoa và Thủy không đặt nặng câu chuyện làm truyền thông hay xây dựng thương hiệu để thu hút thêm người tham gia, lại càng không nghĩ đến việc thương mại hóa thư viện. Thay vào đó, họ tìm thấy niềm vui trong việc theo đuổi và bảo tồn những âm thanh quan trọng của thành phố. Nếu những nỗ lực ấy giúp một người con xa xứ tìm lại ký ức tuổi thơ hay mang lại tính chân thực cho một tác phẩm điện ảnh, thì điều đó đã là phần thưởng xứng đáng. Và trong hành trình ấy, hy vọng họ cũng kịp ghi lại những tiếng cười khúc khích của chính mình, bởi đó nay cũng đã trở thành một phần trong lịch sử âm thanh của Sài Gòn.

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Ảnh: Jimmy Art Devier.) Văn Hóa Thu, 23 Jul 2026 21:37:51 +0700
Gái Nhảy và một hình dung về Sài Gòn từ những thân phận bên lề https://saigoneer.com/vn/arts-culture/286-rewind/18169-gái-nhảy-và-một-hình-dung-về-sài-gòn-từ-những-thân-phận-bên-lề https://saigoneer.com/vn/arts-culture/286-rewind/18169-gái-nhảy-và-một-hình-dung-về-sài-gòn-từ-những-thân-phận-bên-lề

Tôi tình cờ gặp lại Gái Nhảy vào một đêm mất ngủ. Từ bản phim VHS giật nhiễu trên YouTube, tôi rơi thẳng vào hố sâu của dòng phim thương mại Việt đầu những năm 2000, đặc biệt là thế giới điện ảnh của Lê Hoàng.

Ra mắt năm 2003, Gái Nhảy là một nồi lẩu thập cẩm của tất cả những gì câu khách nhất thời bấy giờ: mại dâm, ma túy, tình dục và một dàn diễn viên trẻ đẹp. Từ đường Đồng Khởi dưới ánh ban mai và hội nghị phòng chống HIV/AIDS, bộ phim ném tôi thẳng vào thế giới của những con beat techno dồn dập, ánh đèn hồng tím chói lóa và những thân thể co giật trên sàn nhảy. Ngay từ những phút đầu tiên, Gái Nhảy đã khiến tôi cảm giác như đang xem hai bộ phim khác nhau: nửa muốn dạy đời, nửa muốn níu giữ sự chú ý của khán giả.

Từ đường Đồng Khởi dưới ánh ban mai, bộ phim ném người xem thẳng vào thế giới chói lóa trên sàn nhảy. Nguồn ảnh: Gái Nhảy (2003), đạo diễn Lê Hoàng. Hãng phim Giải Phóng.

Câu chuyện của Gái Nhảy bắt đầu với một nữ nhà báo đang thực hiện phóng sự về đời sống vũ trường Sài Gòn. Tôi tưởng sắp được xem một cuộc điều tra nghiêm túc lắm. Thế rồi cô ấy biến mất khỏi tâm trí tôi sau vài cảnh phim, nhường spotlight cho hai cô gái làng chơi xinh đẹp: Hạnh (Minh Thư) và Hoa (NSƯT Mỹ Duyên). Một người thực dụng nhưng yếu mềm, một người nổi loạn đến mức tự hủy. Tuy tính cách trái ngược, cả hai đều đi đến kết cục tang thương. Dù sao thì đây vốn là phim tuyên truyền về HIV/AIDS và hậu quả của lối sống “chơi bời” mà.

Thế nhưng, tôi vẫn đau đáu muốn viết về bộ phim. Vì đằng sau lớp vỏ hào nhoáng và hỗn độn ấy, tôi thấy một bộ phim rất queer, mà sau hơn hai mươi năm, hiếm ai gọi thẳng nó là queer. Dĩ nhiên, tôi không dùng từ này theo nghĩa hẹp để chỉ sự hiện diện của các nhân vật LGBTQ+ trên màn ảnh. Theo một cách hiểu rộng hơn, queer bao gồm tất cả những cách tồn tại nằm ngoài các chuẩn mực xã hội, dùng để chỉ những con người luôn phải tự định nghĩa mình giữa vô vàn áp lực về giới, dục tính, đạo đức và giai cấp. Và với tôi, thế giới của Gái Nhảy cũng được tạo nên từ những thân phận như thế.

Bài học đầu tiên của Má Mì

Phân cảnh tôi nhớ nhất trong Gái Nhảy là lúc hai nữ chính Hạnh và Hoa, cùng một cô gái khác không rõ tên, tập diễn bài ‘Anh thì không,’ phiên bản Việt hóa của tình khúc Pháp kinh điển ‘Toi Jamais.’ Ba vũ nữ mặc jupe ngắn, đội mũ rộng vành, tay cầm những chiếc mặt nạ lấp lánh, hiện lên như ba nàng lính ngự lâm. Máy quay chậm rãi lướt qua những đôi chân dài trong giày cao gót, rồi ngước lên từ những góc thấp, khiến vẻ đẹp thân thể của các cô gái được phóng đại, biến họ trở thành những tượng đài của một dạng nữ tính xa hoa, cường điệu.

Hạnh (phải) và Hoa (trái) trong phân cảnh tập biểu diễn ‘Anh thì không.’ Nguồn ảnh: Gái Nhảy (2003), đạo diễn Lê Hoàng. Hãng phim Giải Phóng.

Rồi Má Mì (Anh Vũ) bước vào, chỉnh đốn từng động tác của các vũ nữ và bắt đầu “thị phạm” những cú lắc hông điệu nghệ. Có một nghịch lý thú vị trong phân cảnh này: người thành thạo nhất trong nghệ thuật quyến rũ đàn ông không phải là Hạnh hay Hoa, mà chính là Má Mì, một người đàn ông đồng tính.

Thoạt tiên, tôi nghĩ đây chỉ là một màn nhạc kịch ngẫu hứng được chèn vào cho vui. Nhưng khi quan sát đủ lâu, tôi cảm giác Gái Nhảy đang chạm tới một thứ rất gần với một màn trình diễn drag đương đại. Dưới ánh đèn, các cô gái là những ngôi sao sân khấu, còn Má Mì là biên đạo của những khát khao. Chẳng ai bận tâm rằng ngoài kia, xã hội vẫn nhìn họ bằng ánh mắt dè bỉu và khinh miệt. Vì thế, những chiếc mặt nạ trên tay các cô gái mang một sức nặng kỳ lạ, như nhắc nhở rằng mọi thứ đều là trình diễn.

Cũng chính ở đây, tính queer của Gái Nhảy không chỉ nằm ở sự có mặt của một nhân vật đồng tính, mà còn thấm vào chính ngôn ngữ thẩm mỹ của bộ phim. Nhà phê bình văn hóa Susan Sontag từng gọi đó là camp: gu thẩm mỹ của những gì giả tạo, cường điệu và “quá đà.” Với nhiều người trong cộng đồng queer, sự thái quá ấy cũng là cách làm bản thân trở nên hữu hình trong một thế giới luôn muốn họ biến mất.

Hạnh và Hoa đại diện cho hai kiểu nữ tính ngoài chuẩn mực truyền thống. Nguồn ảnh: Gái Nhảy (2003), đạo diễn Lê Hoàng. Hãng phim Giải Phóng.

Nếu thế giới của Gái Nhảy là một sàn diễn lớn, thì mỗi nhân vật đều quay cuồng trong những cuộc nhập vai và thoát vai liên tục, như những con tắc kè hoa giữa vườn đêm Sài Gòn, đang cố tìm một diện mạo đủ lấp lánh để chống chọi với thực tại.

Hạnh mang dáng dấp của một cô gái miền sông nước đã phiêu bạt quá lâu để còn tin vào chồng con hay một mái nhà cố định. Nhưng trong khoảnh khắc cô ngỡ mình đã tìm thấy một bến đỗ, lớp vỏ bất cần ấy bỗng rạn nứt, để lộ một bản ngã mong manh và khao khát được yêu thương. Trong khi đó, Hoa chống trả lại mọi kỳ vọng của gia đình bằng thuốc lá, rượu mạnh, ma túy và những cuộc vui thâu đêm. Cô luôn xuất hiện với vẻ ngông nghênh của một kẻ bất khả chiến bại. Nhưng đến khi cơn thèm thuốc kéo tới, sự ngang tàng ấy bỗng tan biến, để lộ một đứa trẻ đáng thương đang vòi vĩnh thứ kẹo mà nó biết rõ sẽ làm mình đau.

Hạnh và Hoa cho thấy hai kiểu nữ tính nằm ngoài chuẩn mực truyền thống về sự đoan trang và thuần khiết của người phụ nữ. Họ dựa vào phấn mắt, nước hoa rẻ tiền, váy áo lồng lộn và sự hào nhoáng của đời sống về đêm để chắp vá nên một cuộc đời có vẻ cao sang hơn và đáng sống hơn.

Má Mì là một trong những nhân vật queer đầu tiên xuất hiện trên màn ảnh Việt. Nguồn ảnh: Gái Nhảy (2003), đạo diễn Lê Hoàng. Hãng phim Giải Phóng.

Nhưng nhân vật queer rõ ràng nhất trong Gái Nhảy chính là Má Mì. Dĩ nhiên, nhìn từ hôm nay, đây không phải một hình tượng hoàn hảo. Là một trong những nhân vật LGBTQ+ xuất hiện sớm nhất trên màn ảnh Việt, Má Mì vẫn được xây dựng theo những khuôn mẫu quen thuộc dành cho người đồng tính: đanh đá, lả lơi, hiện lên như một mảng miếng gây cười cho khán giả dị tính. Nhưng điều đó không khiến Má Mì trở nên kém thú vị hơn trong mắt tôi. Ngược lại, chính một nhân vật bị nhào nặn bởi định kiến lại vẫn có thể lưu giữ những dấu vết rất thật của đời sống queer trong một giai đoạn lịch sử cụ thể.

Trong cuộc phỏng vấn với VnExpress, Lê Hoàng cho biết đã xây dựng Má Mì dựa trên thực tế đời sống của những người quản lý là đồng tính nam tại các tụ điểm ăn chơi Sài Gòn đầu thập niên 2000. Họ được những người chủ tin tưởng vì khéo léo, biết điều và ít thiên vị các cô gái hơn đàn ông dị tính. Chi tiết này đã mở ra cho tôi một góc nhìn khác: trước khi được xã hội đón nhận hơn như hiện nay, rất nhiều người thuộc cộng đồng LGBTQ+ đã phải vật lộn mưu sinh ở những nơi nhộn nhạo và lắm cạm bẫy. Vì thế ở Má Mì, đằng sau những màn tung hứng và nét tính cách có phần rập khuôn, tôi thấy một “cựu binh” queer Sài Gòn, mang những vết sẹo của một thế hệ đã quá quen với việc sống trong bóng tối.

Nút thắt trong mối quan hệ “cộng sinh” giữa Má Mì và các vũ nữ là bạo lực và lạm dụng. Nguồn ảnh: Gái Nhảy (2003), đạo diễn Lê Hoàng. Hãng phim Giải Phóng.

Điều khiến tôi chú ý hơn cả là cách Gái Nhảy đặt người đồng tính nam và những cô gái mại dâm cạnh nhau như những đồng minh bất đắc dĩ. Họ khác nhau về giới tính và xuất thân, nhưng đều phải cố sinh tồn trong một thế giới về đêm khắc nghiệt, cùng đối mặt với hiểm họa mà bộ phim nhắc đi nhắc lại từ đầu đến cuối: HIV/AIDS. Có lẽ chính vì vậy mà giữa họ tồn tại một điều gì đó rất gần với tình thân, được hình thành từ sự nương tựa lẫn nhau giữa hai cộng đồng bên lề.

Thế nhưng, cái hay của Gái Nhảy là nó không tái hiện mối quan hệ đó mà thiếu đi những phần gai góc. Nếu họ có thể dựa vào nhau để sinh tồn, thì họ cũng có thể tự vùi nhau trong vòng xoáy nghiện ngập và bạo lực. Hoa luôn gọi người quản lý của mình bằng hai tiếng “Má ơi” rất tự nhiên. Nhưng cũng chính Má Mì là người nuôi dưỡng sự lệ thuộc của cô vào ma túy. Ngược lại, Hạnh luôn giữ một khoảng cách dè chừng hơn. Cô đủ từng trải để nhận ra sự thao túng và kiểm soát đằng sau những cử chỉ chăm sóc của Má Mì, và sự ngờ vực ấy cuối cùng bùng nổ thành một trận cãi vã kịch tính.

Vốn là phim tuyên truyền về HIV/AIDS và hậu quả của lối sống “chơi bời,” Gái Nhảy không cho ai cái kết có hậu. Nguồn ảnh: Gái Nhảy (2003), đạo diễn Lê Hoàng. Hãng phim Giải Phóng.

Đỉnh điểm xung đột là lúc Má Mì thốt lên: “Nếu không có tao, tụi bây chỉ đứng dưới gốc cây, chứ không phải nơi sang trọng thế này.” Nghe có vẻ chỉ là lời nói hợm hĩnh của kẻ nắm thế thượng phong, nhưng tôi nghĩ câu nói ấy đã gột tả được hiện thực đắng cay. Chẳng lâu sau tuyên bố ấy, phim chuyển sang cảnh Hạnh trèo lên một con thuyền trôi dạt trong đêm sau khi tự ý rời khỏi vòng tay bảo hộ của Má Mì. Thế rồi, ảo tưởng về sự tự chủ nhanh chóng tan rã; cuộc hẹn với hai ông khách Tây biến thành một vụ cưỡng bức tập thể. Hạnh không còn lựa chọn nào khác ngoài nhảy xuống sông để tự cứu lấy mình.

Điều ám ảnh tôi sau khi bộ phim kết thúc là hình ảnh Hạnh bơi trên sông Sài Gòn. Son phấn và ánh nhũ đã rửa trôi, chỉ còn thân thể nhỏ bé, trần trụi đang ngụp lặn giữa dòng nước xiết. Xa xa, ánh đèn thành phố vẫn phản chiếu trên mặt nước. Những con tàu du lịch sang trọng hờ hững lướt qua như thể cô chỉ là một phần của màn đêm. Có bao nhiêu đời sống queer ngoài kia cũng là một phận “gái nhảy,” mãi lênh đênh bên bờ mép của sự hiện diện và biến mất?

Một hình dung khác về Sài Gòn

Sau nhiều lần xem lại và viết về Gái Nhảy, điều khiến tôi xúc động hơn là bộ phim đã cho tôi thấy một lịch sử queer của Sài Gòn mà tôi không biết mình đã đánh mất. Đó không chỉ là câu chuyện của bi kịch và những cuộc lưu đày, mà còn là niềm vui được hóa thân và sống rực rỡ, dù chỉ trong khoảnh khắc.

Chính từ ấy, một Sài Gòn khác dần hiện ra trong hình dung của tôi. Một thành phố vừa bước vào thời kỳ hội nhập, nơi những công trình thời Pháp thuộc đứng cạnh các vũ trường mới mở, nơi lối sống toàn cầu va chạm với những lề thói cũ kỹ, nơi cái sang trọng và nhếch nhác cùng tồn tại trong một khoảng cách rất ngắn. Ở đó, những thân phận bên lề — gái làng chơi, người đồng tính, những mảnh đời không vừa khít với các chuẩn mực xã hội — vẫn âm thầm tìm chỗ đứng trong những khoảng giao tranh giữa bóng tối và ánh sáng. Họ đã luôn là một phần linh hồn của thành phố, trước khi điện ảnh và văn hóa đại chúng học cách đón nhận và gọi tên họ.

“Một thoáng queer rực rỡ ở nhân gian.” Nguồn ảnh: Gái Nhảy (2003), đạo diễn Lê Hoàng. Hãng phim Giải Phóng

Tôi đã cố đi tìm lại một Sài Gòn sống động như thế trong những bộ phim được coi là hậu duệ của Gái Nhảy. Lọ Lem Hè Phố giữ lại vẻ hào nhoáng nhưng đánh mất khía cạnh hiện thực. Trai Nhảy tiếp cận tình yêu đồng giới trực diện hơn, nhưng lại thiếu đi năng lượng hỗn độn đặc biệt của Gái Nhảy. Chính vì thế, tôi nhận ra Gái Nhảy có một sức sống rất khó lặp lại.

Hơn 20 năm trôi qua, Sài Gòn chắc hẳn đã thay đổi nhiều. Có thể những Má Mì, Hạnh hay Hoa của năm 2003 không còn nữa. Hoặc nếu còn, họ cũng mang một diện mạo khác. Nhưng đời sống về đêm vẫn tiếp diễn. Những dòng chảy văn hóa vẫn đổ về thành phố này, nơi nhiều thế giới khác biệt cùng tồn tại, giao thoa mà không triệt tiêu nhau. Và từ đó, một phả hệ queer rất riêng của Sài Gòn dần hiện ra: từ những vũ nữ trôi dạt trên sông nước, đoàn múa bóng rỗi và gánh lô tô rong ruổi khắp miền Nam, cho đến các drag queen, DJ và những cộng đồng LGBTQ+ đương đại đang tiếp tục viết nên câu chuyện của mình dưới ánh đèn neon.

Poster phim Thế Giới (Boiler Room) với sự tham gia của hai cộng đồng queer rave
Gái Nhảy và Bung Lon. Nguồn: Instagram @gai_nhay.vn.

Theo một cách đầy thi vị, một trong những cộng đồng queer rave sôi động nhất của Sài Gòn hôm nay cũng mang cái tên Gái Nhảy. Tôi không biết liệu cái tên này có thực sự bắt nguồn từ bộ phim của Lê Hoàng hay không. Nhưng sự trùng hợp ấy vẫn khiến tôi mỉm cười. Bởi nó cho thấy hình tượng “gái nhảy” vẫn tiếp tục sống một đời sống khác trong trí tưởng tượng của thành phố, như một biểu tượng của sự biến hóa và khát vọng tự do.

]]>
info@saigoneer.com (Lương Thùy Anh. Ảnh bìa: Mai Khanh.) Rewind Wed, 15 Jul 2026 16:24:19 +0700
Chuyện con người qua lăng kính huyền kỳ trong 'Những ngọn gió Hua Tát' https://saigoneer.com/vn/loạt-soạt-bookshelf/18165-chuyện-con-người-qua-lăng-kính-huyền-kỳ-trong-những-ngọn-gió-hua-tát https://saigoneer.com/vn/loạt-soạt-bookshelf/18165-chuyện-con-người-qua-lăng-kính-huyền-kỳ-trong-những-ngọn-gió-hua-tát

Tôi đến với thế giới văn chương của cố nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nhờ cô giáo dạy văn trong đội tuyển trường cấp ba. “‘Muối của rừng,’” cô nói, “hãy đọc và phân tích diễn biến tâm lý nhân vật, các con sẽ thấy tâm hồn con người phức tạp thế nào.”

Tôi đọc và giữ cho mình một niềm tin khó lung lay về bản chất bất phân cực của vạn vật, nhưng cũng chẳng thiết tha gì những tác phẩm khác của tác giả. Cho đến gần đây, nghĩa là 3 năm sau, tôi tìm đọc Những ngọn gió Hua Tát và ngộ ra được đôi điều.

Nguyễn Huy Thiệp và Những ngọn gió Hua Tát

Nửa cuối thế kỷ 20, Nguyễn Huy Thiệp như một làn gió mới bước vào văn đàn. Ngòi bút của ông vừa huyền hoặc, kì bí, vừa trần trụi. Gọi là cổ tích cũng không đúng, mà hiện thực xã hội cũng không xong. Đến với nghiệp viết khi tuổi đã đầu ba, các tác phẩm của ông đều lần lượt được dịch ra nhiều thứ tiếng, nhận các giải thưởng trong và ngoài nước. Tác phẩm ‘Tướng về hưu’ được chuyển thể thành phim điện ảnh và gây nhiều tiếng vang. Người ta sớm gọi ông là bước ngoặt của đổi mới văn học. Văn chương của ông kiệm lời, vô hình trung làm liên tưởng đến vẻ tối giản của thẩm mỹ hiện đại. Ông đặt một tinh thần tự nghiệm, phản tỉnh vào trong bút pháp truyền kỳ.

Chân dung Nguyễn Huy Thiệp. Nguồn ảnh: Báo Phụ Nữ Online.

Những ngọn gió Hua Tát in lần đầu năm 1989, giữa cao trào của đổi mới văn chương sau 1986. Tác phẩm là kết quả của một thập kỷ Nguyễn Huy Thiệp đến làm ông giáo vùng cao bản ở bản Hua Tát, Sơn La.

Là một tập gồm 10 truyện ngắn, Những ngọn gió Hua Tát vẽ ra từng mảnh ghép của một ngôi làng khuất sâu thung lũng. Không như bộ Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, không có nào “dân công,” “du kích,” Hua Tát tách biệt hoàn toàn với thời thế chiến tranh còn đang ăn mòn vào từng tấc đất. Họ cũng không hiện lên như những vị anh hùng, hừng hực tinh thần kháng chiến như trong Chim trời bay về sau cơn mưa của Ma Văn Kháng. Họ, sống giữa núi rừng linh thiêng của họ, làm người từ bản chất.

Bức tranh mang màu thần thoại của Tây Bắc

Dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp, bản Hua Tát hiện ra trong mắt tôi như những bức tranh trường phái ấn tượng của Monet. Mờ nhòa và rực rỡ. Cứ như núi rừng đã mọc lên và sương mù đã phủ kín để bọc lấy loài hoa ban khờ dại, con suối mỏng, hay để làm chốn yên thân cho những vị thần.

Hua Tát là địa bàn của các loài cây dại, chúng mọc um tùm khắp các tập truyện. Ở lời mở đầu, hoa cúc dại đã “nở vàng đến nhức mắt” cả mùa thu. Có mùa, củ mài lại chen chúc khắp rừng, “người ta đào được những củ mài to tướng dễ như bỡn” (Nàng Bua). Cây cối ở Hua Tát mang những cái tên như bước ra từ huyền thoại, nào “mè loi, vầu, bứa, muỗm,” cả những loài dây leo không tên (Nàng Sinh). Cũng có những tháng ngày khô hạn, cả loài cây to nhất cũng phải xác xơ, và muông thú cũng trốn đi biệt (Con thú lớn nhất).

Dù ngập tràn những điểm màu li ti, Hua Tát vẫn mờ ảo bởi một màn sương trắng. Hoa ban trắng xóa bầu trời, sương muối trắng những ngọn cây khô. Đến đàn cá cũng trắng (Sạ) và con người cũng trắng những bạc (Nàng Bua, Tiệc xòe vui nhất, Đất quên, Chiếc tù và bị bỏ quên, Sạ, Nạn dịch). Nói về “thứ sương mù bàng bạc” quanh năm ở nơi này, tác giả gọi đó là “thứ không khí huyền thoại.”

Hua Tát. Nguồn ảnh: VnEconomy.

Những ngọn gió Hua Tát còn thổi vào văn đàn lúc bấy giờ một thứ mùi hoang sơ. Con người đến, dựng lên những nhà sàn, mang theo cuốc cày bừa vào đất xốp. Họ mang theo cả rượu và âm nhạc. Giữa thung lũng, tiếng khèn của người Thái Đen như quả còn vọng qua vọng lại. Khèn vang lên trong trời xuân để gọi nhân tình (Trái tim hổ) khèn là cái oai của người trai tráng (Sạ). Và rượu cần nữa. Ôi những vò rượu như suối mát, làm chao đảo một cuộc xòe (Tiệc xòe vui nhất) rượu chữa bách bệnh (Trái tim hổ, Nạn dịch) rượu gột rửa thân người (Tiệc xòe vui nhất, Chiếc tù và bị bỏ quên).

Con người, thời sự

Nếu bối cảnh đảm đương phần “huyền thoại” trong màn sương kín kẽ, các nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp lại trưng ra một hiện thực lõa lồ. Con người của Hua Tát… chỉ là con người, mang trong mình cá tính và niềm tin thoát khỏi những tính từ nhị nguyên. Họ trượng phu, dịu dàng, mê tín, nhân ái, sát khí, ấm áp, lầm lì. Họ hiện diện xuyên chiều không thời gian. Ta dễ nhận ra dáng dấp của họ trong một số câu chuyện ngày nay.

Trong ‘Nàng Bua,’ tác giả đặt ngay vấn đề về quyền tự do của đàn bà mà mãi bây giờ dân chúng mới bàn luận sôi nổi. Nàng Bua bị cả làng dèm pha vì “chửa hoang,” cái chửa mà những người đàn ông uy tín cũng không dám đứng ra chịu trách nhiệm. Vượt qua những điều tiếng, nàng yêu thương và chăm sóc các con, biết tự vui với cuộc sống của mình, biết mình muốn gì và chỉ cho phép người mà nàng thực sự yêu được cùng xây tổ ấm. Từ lâu trên các diễn đàn, tôi gặp không biết bao nhiêu màn tranh luận của người đời về lựa chọn cuộc sống của một người phụ nữ. Cặp đại gia hay trai trẻ cũng soi, ly hôn cũng nói, cãi nhau ỏm tỏi chuyện người ta phá thai hay nuôi con đơn thân. Thế mà nửa thế kỷ trước, Nguyễn Huy Thiệp có một câu trả lời gọn lỏn: kệ.

Minh họa ‘Nàng Sinh’ bởi Lê Thiết Cương.

Đến với ‘Sói trả thù,’ ta bắt gặp câu chuyện về một phụ huynh tham vọng, kéo con cái khỏi khung trời ngây thơ bằng những bài học vượt sức. Ta bắt gặp câu chuyện thế này nhiều lần khắp cõi mạng, nào cô bé mười một tuổi được 8.0 IELTS, nào những buổi học toán giàn giụa nước mắt, những lịch học thêm chi chít từ sáng đến khuya. Ẩn dụ cho một tuổi thơ bị đánh cắp, nhân vật San bị chính thành quả mình săn được giết chết ở tuổi 13, độ tuổi chớm dậy thì.

Truyện cuối của tập, ‘Nàng Sinh’ lại mang dáng vẻ của thực trạng chảy máu chất xám và sự trao quyền bất cân trong xã hội. Trong đó, nàng Sinh là một nhân vật thấp cổ bé họng, “người ta quên bẵng mất nàng.” Làng có cục đá thiêng, tượng trưng cho việc khó, trùng hợp nó nằm trong miếu thờ chàng Khó, nhiều người chạm vào nhưng không ai nhấc được, tượng trưng cho giải quyết công việc. Người ta cũng không “giao việc” cho nàng, đến khi một người ngoài mời đến. Nàng giải quyết nó “dễ như bỡn,” nàng đẹp lên — hay là người ta bỗng thấy nàng có giá trị. Cuối cùng nàng đi theo ông khách lạ, người duy nhất trao quyền cho nàng, để sống một cuộc đời được trân trọng.

“Tôi căm ghét sâu sắc những kết thúc có hậu”

Nguyễn Huy Thiệp từng quả quyết như thế. Trong cả 10 truyện, hết 7 truyện kết thúc bằng cái chết chưng hửng. Trong ‘Trái tim hổ,’ chàng Khó chết ngay khi bị cướp công lúc lấy tim hổ cho nàng Pùa, rồi Pùa cũng chết. Trong ‘Con thú lớn nhất,’ lão thợ săn tự sát khi bắn oan vợ mình. Nàng Bua chết sau khi chưa hưởng trọn hạnh phúc muộn màng trong truyện cùng tên. Ông Nhân mất đứa con duy nhất trong ‘Sói trả thù,’ ông Pành chết trên đường tìm tình yêu trong ‘Đất quên,’ chiếc tù và thần cũng thành xấu xí trong ‘Chiếc tù và bị bỏ quên.’ Còn ở ‘Nạn dịch,’ con bạc Lù sống một kiếp đỏ đen chỉ để kiếm tiền trả cho cái chết.

Dù “Sạ” cũng chết trong câu chuyện cùng tên, tôi không cho nó là cái chết chưng hửng thứ tám. Sạ đã sống một cuộc đời du mục trọn vẹn, đã làm tất cả những gì mình muốn thay vì răm rắp theo nề nếp làng. Ngày về, Sạ mang theo đôi chân cụt, đôi mắt đục và những câu chuyện ly kỳ. Khi chết đi, ông tin rằng những ngày tháng bình dị ở Hua Tát mới chính là quãng đời phi thường nhất. Điều này khiến tôi nhớ đến Nhà giả kim, người ta cứ mải miết đi tìm kho báu ở tận đẩu tận đâu, để rồi thấy kho báu ngay trước hiên nhà.

Minh họa 'Sạ.' Tác giả: Lê Thiết Cương.

Quay lại với hai kẻ lạc loài có hậu, tôi tin rằng tác giả hẳn có những ẩn ý đằng sau, mà thực tế nó cũng chẳng có hậu mấy. Nếu ‘Nàng Sinh’ hé lộ vấn đề rất thời sự nêu trên, thì ‘Tiệc xòe vui nhất’ mang những dấu hiệu ngầm khó nhận biết. Lý do nó khó nhận biết chính bởi vấn đề nằm trong tiềm thức của mỗi người, mà chúng ta thường phớt lờ những thứ thuộc về tiềm thức.

‘Tiệc xòe vui nhất’ trêu ngươi chính định kiến trong mỗi chúng ta. Truyện kể về một cuộc kén rể cho con gái trưởng làng, nàng E. Chàng đầu tiên đã chứng minh được tính dũng cảm của mình, nhưng bị bỏ qua bởi “người dũng cảm sẽ mải mê với sự nghiệp.” Chàng thứ hai chứng minh được sự khôn ngoan, cũng bị bỏ qua bởi “những người khôn ngoan bao giờ cũng sẽ đau khổ, (vì) họ biết quá nhiều.” Chàng thứ ba rủng rỉnh bạc vàng, sự giàu có trông thấy được bằng mắt, cũng bị bỏ qua vì “không thể giàu có mà không giả dối.” Chàng cuối cho rằng mình trung thực, và dù không cần chứng minh, E như cũng tin con người này. Chàng còn cầu mưa để chứng minh tính trung thực, thế mà mưa xuống thật.

Tôi vắt tay lên trán cả tối mà không nghĩ ra vì sao trời đổ mưa vào đúng lúc chàng cần, vì sao E biết chàng trung thực mà tin trong khi đã có những định kiến vô xác thực dành cho ba chàng trai trước? Phỏng chừng, E đã mến Hặc trong một lần gặp gỡ vô tình nào đó giữa rừng. Hay nhỡ như chàng đã xem dự báo thời tiết rồi lòe cả thiên hạ rằng mình gọi được mưa. Và phỏng chừng, đã có một kẻ dối trá lấy được vợ hiền chỉ bởi hắn may mắn thuyết phục được rằng hắn trung thực?

Nguyễn Huy Thiệp cao tay như thế, mang chính người đọc tham gia vào tác phẩm, rồi thách thức những giá trị như đã đóng đinh trong đầu người ta.

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. ) Loạt Soạt Mon, 06 Jul 2026 09:59:54 +0700
Từ Cộng hòa Séc, ‘Trường Hè, 2001’ hàn gắn những rạn nứt gia đình trên màn ảnh lẫn ngoài đời thực https://saigoneer.com/vn/film-tv/18162-từ-cộng-hòa-séc,-‘trường-hè,-2001’-hàn-gắn-những-rạn-nứt-gia-đình-trên-màn-ảnh-lẫn-ngoài-đời-thực https://saigoneer.com/vn/film-tv/18162-từ-cộng-hòa-séc,-‘trường-hè,-2001’-hàn-gắn-những-rạn-nứt-gia-đình-trên-màn-ảnh-lẫn-ngoài-đời-thực

Bộ phim Trường Hè, 2001, do đạo diễn kiêm nhà văn người Séc gốc Việt Dužan Dương thực hiện, ra mắt lần đầu vào năm ngoái và đã nhận được vô số lời khen ngợi từ giới phê bình tại Cộng hòa Séc cũng như khắp châu Âu. Giờ đây, tác phẩm này đã chính thức cập bến Việt Nam và đang được công chiếu tại các hệ thống rạp trên toàn quốc.

Trường Hè, 2001 (Letní škola, 2001) lấy bối cảnh mùa hè năm 2001 tại Cheb, một thị trấn nhỏ ở Cộng hòa Séc giáp biên giới nước Đức. Chuyện phim xoay quanh một gia đình người Việt nhập cư mưu sinh bằng nghề bán hàng trôi nổi ngoài chợ. Sau 10 năm sống cùng ông bà tại Việt Nam, cậu thanh niên 17 tuổi tên Kiên cuối cùng cũng sang Séc để đoàn tụ cùng gia đình. Cậu không còn là đứa trẻ bé bỏng trong ký ức của bố mẹ nữa, mà đã trở thành một chàng thanh niên với đôi tai xỏ khuyên và mái tóc đỏ rực bốc đồng. Mùa hè năm ấy, Kiên cùng cậu em trai 10 tuổi, Tài, được gửi vào một lớp học hè để trau dồi tiếng Séc.

Poster phim.

Bộ phim mở ra một bức tranh gia đình đầy kịch tính, được khắc họa qua những xung đột gay gắt giữa những người đàn ông trong nhà. Kiên mang lòng oán giận bố vì đã bắt cậu sống một mình ở Việt Nam. Ngược lại, người bố ngày càng thu mình và cảm thấy bị cô lập khỏi cộng đồng người Việt. Mâu thuẫn không chỉ xuất phát từ những lời đồn thổi về việc ông nhúng tay vào kế hoạch phá dỡ khu chợ, mà còn vì ngoại hình lập dị và phong cách nổi loạn của cậu con trai cả. Nỗi mặc cảm ấy càng lớn khi ông vô tình nghe người quen buông lời miệt thị việc Kiên đồng tính. Bầu không khí ngột ngạt giữa hai cha con dần dà làm sứt mẻ luôn cả tình anh em. Kiên đâm ra hằn học với em út, đinh ninh rằng khoản nợ để mua máy trợ thính cho cậu bé chính là lý do khiến mình bị tống khứ về nước.

Từ trái sang phải: Dũng (Doãn Hoàng Anh), Kiên (Bùi Thế Dương), Tài (Tô Tiến Tài) và Lan (Lê Quỳnh Lan).

Bộ phim được chia thành ba hồi riêng biệt, mỗi hồi lại mang lăng kính của một nhân vật chính: ông Dũng, bố của Kiên; cậu em trai Tài; và cuối cùng là Kiên. Cấu trúc kể chuyện này là chìa khóa tạo nên sức hút mạnh mẽ cho tác phẩm, liên tục đẩy mạch phim lên cao trào rồi lại bất ngờ buông lơi, khiến khán giả đi từ ngỡ ngàng này đến bàng hoàng khác. Những góc nhìn đan xen nhau từng bước hé lộ những góc khuất chưa từng được phơi bày và những nỗi niềm sâu kín nhất. Xung đột gia đình chủ yếu bắt nguồn từ những hiểu lầm chồng chất, hay nói đúng hơn là sự trốn tránh giao tiếp với nhau. Nhưng suy cho cùng, làm sao có thể dễ dàng hàn gắn khoảng cách lòng người sau trọn một thập kỷ xa cách?

Saigoneer đã có dịp trò chuyện cùng Bùi Thế Dương, diễn viên thủ vai Kiên, và lắng nghe những chia sẻ thú vị về câu chuyện hậu trường. Khi giao vai Kiên cho Dương, đạo diễn cũng không hề biết hoàn cảnh ngoài đời của anh lại có nhiều nét tương đồng với nhân vật đến vậy.

Dương chia sẻ: “Tôi sinh ra ở Việt Nam và sống cùng bố mẹ cho đến năm 4 tuổi, sau đó họ sang Cộng hòa Séc lập nghiệp. Thực ra, bố mẹ cũng từng tìm cách đón tôi sang lúc 5-6 tuổi, nhưng vì khủng hoảng kinh tế năm 2008 nên mọi dự định đều dở dang. Mãi đến năm 12 tuổi, tôi mới chính thức được đoàn tụ cùng gia đình. Bởi vậy mà câu chuyện của tôi có những nét tương đồng rất lớn với nhân vật chính trong phim. Tất nhiên là không thể giống hoàn toàn, nhất là vì tôi sang Séc muộn hơn, tầm năm 2015, nhưng những lớp học hè như thế thì vẫn tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau. Đôi khi không hẳn là một trường học chính quy, mà chỉ là một nhóm nhỏ cùng nhau học tiếng Séc. Tôi thấy cuộc đời mình tuy không quá nhiều kịch tính như nhân vật Kiên, nhưng về cơ bản thì rất giống.”

Lớn lên ở Việt Nam, Kiên chật vật tìm cách thích nghi với cuộc sống hoàn toàn mới lạ tại châu Âu.

Ban đầu, Dương chỉ tham gia một đoạn phim ngắn để hỗ trợ đoàn phim gọi vốn, vì ở thời điểm đó, không ai dám chắc dự án này sẽ được bấm máy. Thật bất ngờ là trước Trường Hè, 2001, chàng trai này chưa từng có kinh nghiệm diễn xuất, cũng chẳng bao giờ nghĩ mình sẽ đi theo con đường điện ảnh. Anh đến với buổi thử vai một cách hoàn toàn ngẫu hứng sau khi vô tình lướt thấy một bài đăng tuyển diễn viên trên Facebook.

Không chỉ riêng Dương, khán giả hẳn sẽ ngạc nhiên khi biết hầu hết gương mặt xuất hiện trong phim đều là tay ngang. Ngoại trừ hai nhân vật là người bố và ông chủ, toàn bộ dàn diễn viên còn lại đều chưa một lần đứng trước ống kính. Theo lời kể của Dương, đạo diễn Dužan thích gọi họ là “những tài năng bẩm sinh” thay vì “diễn viên không chuyên.” Đây quả thực là một kỳ tích, bởi suốt thời lượng phim, người xem không hề cảm thấy một chút gượng gạo hay nét diễn nghiệp dư nào, mà hoàn toàn bị cuốn vào mạch cảm xúc của câu chuyện. Minh chứng rõ nét nhất chính là màn hóa thân đầy ấn tượng của diễn viên nhí Tô Tiến Tài trong vai người em trai. Cậu bé đã hoàn thành xuất sắc thử thách tréo ngoe: diễn tả sự ngây thơ, một nét ngây thơ chân chất, nhưng chứa đựng cả những giằng xé thầm lặng lẫn niềm hân hoan vỡ òa.

Diễn xuất của Tài chính là điểm sáng bất ngờ của bộ phim.

Một điều khá thú vị là dù phần lớn thoại trên phim là tiếng Việt, toàn bộ kịch bản gốc lại được chấp bút bằng tiếng Séc. Do vốn tiếng Việt của đạo diễn có phần hạn chế, các diễn viên được tự do ứng biến và tự sáng tạo lời thoại sao cho tự nhiên nhất dựa trên sườn cốt truyện sẵn có. Riêng Dương thậm chí còn chẳng buồn đọc qua kịch bản: “Nhìn cuốn kịch bản xong, tôi kiểu, thôi thôi chịu luôn. Chắc tại tôi thích đứng trước máy quay. Tôi cứ thế mà diễn thôi, thấy cũng tự nhiên lắm, tôi cũng chẳng biết tại sao nữa. Với lại lúc quay, anh Dužan cũng giúp tôi nhiều.”

Bộ phim cũng khai thác những rung động đầu đời của Kiên.

Tại Cộng hòa Séc, đứa con tinh thần của đạo diễn Dužan Dương đã tạo được tiếng vang lớn. Tác phẩm xuất sắc nhận 8 đề cử tại giải Sư tử Séc (Czech Lion Awards) 2025 và tiếp tục được gọi tên ở 2 đề cử tại giải thưởng của Hiệp hội Phê bình Điện ảnh Séc năm 2026. Đạo diễn Dužan tin rằng tác phẩm được công chúng Séc đón nhận nồng nhiệt bởi nó đã hé mở một “khung cửa,” cho phép họ bước vào thế giới nội tâm của cộng đồng người Séc gốc Việt. Qua đó, họ không còn là những bóng hình rập khuôn mở các tiệm tạp hóa mở cửa xuyên đêm hay bán các món ăn Việt Nam đường phố ngày càng phổ biến trong ẩm thực Séc nữa. Lịch sử của cộng đồng người Việt tại Séc bắt đầu từ những chương trình hợp tác trao đổi lao động và du học sinh giữa Việt Nam và Tiệp Khắc cũ. Trường Hè, 2001 đánh dấu một cột mốc quan trọng khi là bộ phim Séc-Việt đầu tiên được công chiếu thương mại rộng rãi tại Séc, mang đến góc nhìn chân thực và gợi mở về người Việt nhập cư.

Dương cho biết: “Lúc phim công chiếu ở Séc, nhiều người bảo chúng tôi là: ‘Đây là lần đầu tiên tôi dẫn bố mẹ đi xem phim.’ Ngày xưa bố mẹ không biết tiếng Séc, nên không có thói quen xem phim ngoài rạp.” Đáng nói, đây cũng chính là trải nghiệm của gia đình Dương với bộ phim này. “Xem xong, cả nhà ai cũng khóc. Mọi người đến ôm tôi, và tôi thấy thật biết ơn vì đã góp mặt trong dự án. Tôi nghĩ chúng tôi đã tháo gỡ được rào cản mong manh giữa hai thế hệ. Như tôi có kể, tôi không ở cùng bố mẹ hồi bé, nên có vài giai đoạn chúng tôi không hợp tính nhau lắm. Nhờ bộ phim mà cả gia đình mới có dịp ngồi lại và nói chuyện với nhau."

Tuổi thơ và quan hệ gia đình là hai chủ đề chính của Trường Hè, 2011.

Hiển nhiên, bộ phim sẽ mang lại những chiêm nghiệm khác nhau cho khán giả ở Việt Nam và ở Séc. Nhưng với Dương, thông điệp cốt lõi vẫn không đổi. “Suy cho cùng, đây là câu chuyện về một gia đình đang chật vật tìm tiếng nói chung và cuối cùng, họ đã tìm được đường về bên nhau. Đó cũng là điều tôi từng chia sẻ ở Séc, vì nhiều phụ huynh bên đó không dành đủ thời gian cho con cái. Tôi nghĩ ở Việt Nam cũng vậy. Thường thì bố mẹ đi làm, còn con cái đi học hoặc ở nhà một mình. Dù không đến mức làm rạn nứt mối quan hệ, nhưng nó khiến việc gắn kết khó khăn hơn... Cách thể hiện tình thương của người lớn thường là ‘Bố mẹ lo cho con mà.’ Nhưng bọn trẻ cũng cần kết nối cảm xúc và tình cảm gia đình. Tôi mong mọi người có thể xích lại gần nhau hơn, hoặc có thể là trò chuyện nhiều hơn sau khi xem phim. Đó chính là tinh thần của toàn bộ tác phẩm.”

Ảnh cung cấp bởi Spring Auteurs.

]]>
info@saigoneer.com (San Kwon. ) Màn Ảnh Wed, 01 Jul 2026 17:51:06 +0700
Th.ink Room: 'Tổ đội' tái sinh những tác phẩm nghệ thuật cũ thành hình xăm https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18155-th-ink-room-tổ-đội-tái-sinh-những-tác-phẩm-nghệ-thuật-cũ-thành-hình-xăm https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18155-th-ink-room-tổ-đội-tái-sinh-những-tác-phẩm-nghệ-thuật-cũ-thành-hình-xăm

Tattoo Therapist, dr.99hz, cd.cadao, goc.viet, Solarist và Baby Nepotism — điểm danh một lượt dàn nghệ sĩ đang tụ hội dưới mái nhà Th.ink Room mà cứ ngỡ tôi đang xướng tên một tổ đội rap nào đó. Quả thực, so với những bộ môn nghệ thuật thị giác khác, giới xăm hình có lẽ mang nhiều nét tương đồng với các rapper nhất ở văn hóa sử dụng nghệ danh. Vậy nên, mượn tạm một câu cửa miệng quen thuộc của giới hip-hop, sự quan tâm mà Saigoneer dành cho Th.ink Room cũng xuất phát từ quy luật “game recognize game” — ai có gu tự khắc sẽ nhận ra nhau.

Giống như Saigoneer, không gian này, hay như cách họ tự gọi là “bến đỗ cho những người yêu nghệ thuật từ khắp nơi trên thế giới,” luôn cất công chắt lọc cảm hứng từ kiến trúc, hoa văn, cỏ cây hoa lá và lịch sử Việt Nam. Họ bảo tồn nghệ thuật truyền thống, mượn những thú chơi ngách để kể chuyện và luôn ưu tiên sự tự do bứt phá trong sáng tạo. Tất cả những yếu tố đó, theo Phi (@tattoo.therapist) chia sẻ, được gắn kết bởi “tinh thần không ngừng tò mò của một người quan sát, và tính cần mẫn của một người thợ.”

Hình xăm là thứ sẽ lưu lại mãi mãi trên cơ thể, thế nhưng trải nghiệm đi xăm lại thường diễn ra một cách bốc đồng hoặc đầy xuề xòa. Phi đã thành lập Th.ink Room vào năm 2023 để thay đổi thực trạng đó: “Bọn mình quan tâm đến toàn bộ trải nghiệm của khách hàng, để tâm xem bạn đã hiểu ngọn nguồn hình xăm đó chưa, thợ và khách tương tác có ăn ý không, rồi lúc xăm xong ra về bạn mang theo cảm xúc gì.”

Phi (@tattoo.therapist) và tác phẩm của mình.

Năm ngoái, khi tìm đến Phi để xăm một mẫu nét đen chi tiết, tôi đã được trải nghiệm trực tiếp cách tiếp cận sâu sát ở đây. Lớn lên ở Nga, Phi vốn say mê những tác phẩm thuộc thời hoàng kim của nghệ thuật minh họa châu Âu những năm 1880–1930. Phong cách đặc trưng của Phi cũng được định hình bởi chính nguồn cảm hứng này trong thời gian học nghệ thuật tại Anh. Tuy nhiên, lúc ra trường, phong cách vẽ ấy lại khó tìm được chỗ đứng khi thị trường bắt đầu dịch chuyển sang các nền tảng số. Khách hàng không còn mặn mà với sách in truyền thống mà chuộng những thiết kế đồ họa trên website. Họ cần những bức tranh đầy đủ màu sắc, hình vẽ tách nền hoặc ảnh động để bắt kịp xu hướng công nghệ. Giữa lúc bế tắc ấy, vài lời nhờ vả thiết kế hình xăm từ bạn bè đã vô tình mở ra một ngã rẽ mới đưa Phi đến với nghề xăm.

Tranh minh họa từ thời kỳ hoàng kim: ‘Then There Came a Wind So Strong that it Blew Off Curdken's Hat’ của Jennie Harbour (trái) và ‘Reigning Death’ của Robert Montenegro (phải).

Hôm đó, Phi kể cho tôi nghe về dụng ý thiết kế của không gian nằm tại Quận 1 này. Ẩn mình trong một khu chung cư cũ thấp tầng, sảnh chờ của Th.ink Room mang màu đất nung nguyên bản, khiến người ta nghĩ ngay đến nghề gốm và quá trình nhào nặn cảm hứng thành những ý tưởng có thể chạm vào được. Khách sau đó sẽ bước vào phòng xăm mang tông đỏ rực, một chiếc lò nung nơi những ý tưởng ấy được tôi chín và nằm lại vĩnh viễn trên da. Khu vườn phía sau, nơi các thợ xăm và khách ngồi chơi trước, trong và sau mỗi ca xăm, lại mang đến cảm giác bình yên và dễ chịu bao trùm. Dù nghệ thuật xăm mình ngày càng được đón nhận, nó vẫn mang chút gì đó nổi loạn hay gai góc, khiến những người thợ tài năng đôi khi trông có vẻ khó gần. Nhưng ở Th.ink Room, ai cũng thân thiện, giúp không gian ở đây lúc nào cũng thoải mái, nhẹ nhàng.

Sảnh và không gian studio xăm.

Việt Nam muôn màu muôn vẻ

Một người bắt chuồn chuồn trên cây, một thầy lang đang bắt mạch, một đám rước dâu bằng xe kéo tay, một tấm bảng cáo thị ngoài làng cấm phóng uế bừa bãi và 15 kiểu giày dép. Đây chỉ là vài ví dụ trong hàng ngàn bức tranh khắc gỗ do nhà dân tộc học người Pháp thế kỷ 19 Henri Oger cùng đội ngũ thợ người Việt tạo ra. Saigoneer từng viết về công trình này vài năm trước, và gần đây chúng tôi phát hiện một số bức trong đó đã trở thành mẫu hình xăm trên Instagram của Th.ink Room.

Tranh của Henri Oger (trên) và thiết kế hình xăm của Vũ (@goc.viet) (dưới).

Phi kể lại khoảnh khắc tình cờ thấy hình minh họa của Oger trong một tuyển tập nghệ thuật. “Tất cả bắt đầu từ đây. Mình thấy rất thích và tự hỏi ai đã vẽ ra những bức này?” Tò mò, Phi lùng sục khắp các tiệm sách cũ và tìm được một bản sao sờn rách của bộ sách. “Nói thật là mình mê mẩn cuốn này đến mức quên ăn quên ngủ,” Phi vừa nói vừa lật giở các trang sách. “Nhìn ông chú này nè, hay không!” Phi chỉ vào một bức hình, rồi kể làm thế nào một cuốn sách mỏng lại có thể chứa đến hàng trăm bức vẽ, tương đương với bấy nhiêu nguồn cảm hứng. “Bao nhiêu công sức đổ vào đây, tất cả là về Việt Nam thôi đó.”

Sách tại Th.ink Room.

Ngoài nguồn cảm hứng vô tận từ internet, các tiệm đồ cổ luôn là điểm đến quen thuộc của cả nhóm ngay từ những ngày đầu mỗi khi muốn tìm kiếm chất liệu bản địa. “Tụi mình hay lượn lờ đường Trần Nhân Tôn, khu bán đồ cổ có rất nhiều sách cũ. Tụi mình lật giở từng món, thấy cái nào hợp làm hình xăm thì giữ lại, từ từ nó thành truyền thống luôn,” Phi kể về những chuyến đi “thực địa” thuở ban đầu cùng Trung (@dr.99hz).

Thiết kế và hình bởi Trung (@dr.99hz).

Giờ đây, những cuốn sách ấy được trao lại cho Vũ (@goc.viet), một nghệ sĩ trẻ do chính Phi dẫn dắt tại studio. “Mình có sẵn tư liệu từ sách, rồi chắt lọc các đường nét ra để thiết kế thành hình xăm. Mình cũng phải nghiên cứu bối cảnh xem chúng thuộc thời nào, nhân vật được vẽ ra sao,” Vũ chia sẻ về những tác phẩm anh thực hiện và đăng tải trên trang Instagram @goc.viet. Theo anh, cái tên này mang hai ý nghĩa, chữ ‘goc’ vừa là góc nhìn, vừa là gốc gác cội nguồn, để mọi người biết nhóm là ai, hiểu rằng nhóm sinh ra ở đây và là người Việt Nam. Đa phần các thiết kế Vũ tìm tòi đều lấy cảm hứng từ trong nước, bởi “đôi khi chỉ một góc nhỏ của Việt Nam thôi cũng đã đủ rồi.”

Vũ trong quá trình tác nghiệp.

Tranh của Oger và cộng sự, những bộ sưu tập của nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Hòa, các bức vẽ khuyết danh từ tờ báo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam những năm 1960–1970, hoặc cả dòng tranh Đông Hồ kinh điển... tất cả đều phải qua chỉnh sửa mới có thể hóa thân thành hình xăm.

Vì đã lâu đời và dùng kỹ thuật in cũ, các nét vẽ nguyên bản thường bị đứt đoạn hoặc mờ nhòe. Do đó, Vũ phải tìm hiểu cặn kẽ mục đích, bối cảnh và quy chuẩn hội họa thời bấy giờ để đắp thêm các chi tiết như nét mặt hay tư thế tay, đồng thời canh chỉnh độ dày mỏng của nét vẽ sao cho hợp với kim xăm. Giữa quá trình tính toán chi li xem cần thêm bớt chỗ nào, Vũ vẫn khéo léo lồng ghép dấu ấn cá nhân của mình vào đó. Ví dụ, khi tôi muốn xăm một góc trong bức ‘Thầy đồ cóc’ thuộc dòng tranh Đông Hồ, Vũ đã sửa lại vân da của nhân vật, còn Phi thì góp ý nên vẽ mông ông đồ to hơn và cho thêm làn khói nghi ngút bốc lên từ ấm trà. Cứ thế, tác phẩm cuối cùng không chỉ mang ý nghĩa bảo tồn mà còn giống như một cuộc đối thoại xuyên không gian và thời gian giữa những người làm nghệ thuật.

Tranh Thầy Đồ Cóc nguyên bản và hình xăm phái sinh của Vũ.

Không chỉ để thu hút khách hàng, hành trình làm sống lại di sản của người đi trước còn là niềm tự hào riêng của Vũ. “Là người Việt Nam, những hình ảnh này gợi cho mình nhớ đến lời kể ngày xưa của ông bà, cha mẹ, những câu chuyện trước đây mình vốn chỉ được nghe qua. Giờ đây, khi bắt gặp lại chúng trong những trang sách, mình thấy vô cùng thú vị, nhất là khi nhận ra trước đó chưa từng có ai khai thác chúng làm hình xăm. Những tạo hình này đã có lịch sử lâu đời nhưng lại thiếu đi sự kế thừa, cứ thế dần trôi vào quên lãng. Về lâu dài, mình muốn truyền tải lại các tư liệu này để mọi người hiểu thêm về nếp sinh hoạt của người Việt xưa, bởi đó là những giá trị xứng đáng được lưu giữ và sống mãi.”

Thiết kế hình xăm lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ.

Song song với goc.viet, Vũ còn có một tài khoản khác tên vznary để đăng tải những bức tranh do anh tự sáng tác. Dù các nét vẽ vẫn mang dáng dấp hoài cổ, sân chơi này lại cho phép anh thỏa sức với các tác phẩm ngẫu hứng và bứt phá hơn. Ở Th.ink Room, mọi người phân định rất rạch ròi giữa “nghệ sĩ xăm” (người tự vẽ mẫu nguyên bản) và “thợ xăm” (người thực hiện các mẫu có sẵn). Dẫu vậy, nhóm luôn nhắc nhau rằng không có nghề nào cao quý hơn nghề nào, bởi vai trò nào cũng đòi hỏi sự khổ luyện và những kỹ năng chuyên biệt khó nhằn.

Một số báo của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (Trái) và các mẫu hình xăm của Vũ lấy cảm hứng từ ấn phẩm này (phải).

Khi sử dụng những hình ảnh đã có sẵn, người thợ xăm phải cực kỳ cẩn trọng. Phi nhận thấy ở Việt Nam và cả nước ngoài, nhiều người hay chạy theo trào lưu nên sẵn sàng sao chép thiết kế của những họa sĩ đang làm nghề, cướp đi chén cơm từ chính sáng tạo độc quyền của họ. “Ngoài kia là cả một kho tàng tuyệt đẹp của những họa sĩ và thợ khắc mộc bản ngày xưa. Tranh của họ cực kỳ xuất sắc nhưng lại đang dần mai một. Ta hoàn toàn có thể chuyển thể những tác phẩm này thành hình xăm, xem như một lời tri ân gửi đến những nghệ nhân đi trước, trao cho tác phẩm của họ một cuộc đời thứ hai giữa lúc thế giới ngày càng quay lưng với văn hóa in ấn,” Phi đúc kết.

Mỗi khi làm vậy, nhóm Th.ink Room luôn cố gắng ghi rõ nguồn, ngày tháng và tên tác giả (nếu có) trên Instagram để khách biết, đồng thời cam kết sẽ không xăm lại mẫu đó cho bất kỳ ai khác. Dĩ nhiên, ta không thể xăm kèm luôn cả phần trích dẫn nguồn lên da khách được. Vậy nên, việc kể lại câu chuyện đằng sau nét mực sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào người mang hình xăm đó.

Tìm kiếm nguồn cảm hứng cho những phong cách đa dạng nhưng đầy khác biệt

Ngọc cho dê ăn, cả nhóm dạo chơi trong sở thú, Vũ cầm một bông hoa, còn Trang tạo dáng giống bức tượng tại công viên Tao Đàn.

Sứ mệnh cốt lõi của Th.ink Room là mang lại những trải nghiệm ấm áp và đáng nhớ. Muốn vậy, các thành viên phải thực sự quý mến và trân trọng nhau, sự gắn bó đó thể hiện rất rõ qua những buổi đi chơi chung ngoài giờ làm. 

Những kiểu ảnh mà nhóm hay gửi cho nhau.

“Bọn mình hay dành cả ngày đi cùng nhau,” Phi kể về những chuyến dã ngoại thường nhật của nhóm. “Cùng ngồi chung một chỗ, nhưng mỗi người lại bị thu hút bởi những sự vật và chất liệu khác nhau.” Ngoài những lần dạo công viên, thăm Thảo Cầm Viên, ngắm nghía các tòa nhà thú vị hay len lỏi vào những con phố nhỏ, họ còn hay gửi ảnh và thông tin cho nhau, đóng vai trò như đôi mắt thứ hai của người kia. Ảnh động vật, chó vịt thì gửi cho Trung; hoa văn in trên bình gốm thì về tay Vũ; còn các chi tiết kiến trúc, họa tiết và hoa văn truyền thống Việt Nam thì gửi thẳng cho Trang (@cd.cadao).

Trang trong quá trình xăm.

Trang chia sẻ về phong cách xăm thủ công (handpoke) của mình: “Thoạt đầu, phong cách của mình chỉ đơn giản xuất phát từ việc thích các họa tiết dân tộc. Hồi trước mình hay lên vùng cao, thấy bà con thêu hoa văn lên áo đẹp quá. Càng làm và càng tìm hiểu ý nghĩa đằng sau từng hoa văn hay đặc trưng của các dân tộc, mình lại càng bị thu hút. Qua đó, mình học thêm được rất nhiều về văn hóa cũng như các kỹ thuật đặc thù.” Cách Trang tiếp cận nghệ thuật xưa không thiên về bảo tồn dân tộc học, mà giống một hành trình đi tìm nguồn cảm hứng hơn. Các họa tiết thêu thùa của người dân tộc thiểu số được cô đan xen với những yếu tố tự nhiên, nghệ thuật chữ và kiến trúc để nhào nặn thành những tác phẩm hoàn toàn độc bản. “Mình lấy cảm hứng từ mọi thứ, có thể là khi nghe một bài hát, đọc một bài thơ hay lướt một tờ báo. Những chất liệu đó quyện với ký ức, cảm xúc và suy nghĩ riêng của mình, rồi một cách tự nhiên, chúng trở nên đồng điệu với tất cả mọi người.”

Không chỉ sáng tạo, Trang còn có thể giải thích cặn kẽ và đưa ra các nguồn tham khảo học thuật cho những cảm hứng của mình. Theo Phi, tác phẩm của Trang “được nghiên cứu rất kỹ lưỡng, Trang có thể kể về chúng cực kỳ chi tiết.” Tất nhiên, chẳng ai cần phải biết hết bối cảnh hay câu chuyện đằng sau mới cảm được cái đẹp của một bức hình và xăm nó lên người. Thế nhưng, Th.ink Room tin rằng khi ta cất công tìm hiểu, hình xăm đó sẽ mang một giá trị nguyên bản và sâu sắc hơn. Phi cho biết: “Mình thấy không tò mò cũng chẳng có gì sai, nhưng nếu chịu khó tìm tòi thì mọi thứ sẽ thú vị hơn hẳn, vì kiểu gì bạn cũng học thêm được khối thứ hay ho.”

Các mẫu thiết kế flash của Trang (@cd.cadao) được bao quanh bởi những tác phẩm đã hoàn thiện.

Bản thân một họa sĩ minh họa của Saigoneer cũng có thể ngồi kể vanh vách câu chuyện đằng sau hình xăm cô nhờ Trang thực hiện, bởi cô đã chọn mẫu dựa trên chính chiếc logo mà tòa soạn cất công săn lùng và chọn lọc kỹ lưỡng từ mấy năm trước. Dù hiện tại đội ngũ Saigoneer mới dắt túi 3 hình xăm từ các nghệ sĩ nhà Th.ink Room, khách hàng đến đây lại có xu hướng muốn xăm nhiều hơn. Vy (@babynepotism) kể, có những khách quen đã sưu tập đủ hình xăm của tất cả thợ cứng trong tiệm lẫn các thợ khách mời ghé ngang. Mọi người trong nhóm cũng bắt đầu thử nghiệm hợp tác xăm chung trên cùng một tác phẩm. Ví dụ, tác phẩm đầu tiên Vy thực hiện là sự kết hợp giữa họa tiết cây cỏ của Trang và hình ảnh ong bướm của Trung. Trong khi đó, Vũ và Ngọc lại đang rục rịch triển khai các ý tưởng kết hợp nét vẽ hoài cổ của Vũ với khả năng phối màu của Ngọc.

Hình xăm của Vy, thiết kế hợp tác giữa Trang và Trung (trái) và thiết kế hợp tác giữa Vũ và Ngọc (phải).

Tính kết nối ấy không chỉ nằm ở các mẫu xăm mà còn hiện diện ngay ngoài sảnh chờ của Th.ink Room. Nằm cạnh kệ sách báo lưu trữ là góc bày bán sản phẩm của các nhà sáng tạo địa phương. Nào là vải nhuộm, khuy áo, tranh in, ảnh chụp cho đến dăm ba món đồ nhỏ xinh do chính tay các thành viên làm ra, và cả những tác phẩm bán nhằm gây quỹ cho Palestine. Không gian đa dạng này phản ánh đúng mong muốn của nhóm: không bị đóng khung chỉ là một tiệm xăm. Cái tên Th.ink Room dù chứa chữ “ink” (mực) nhưng không hề nhắc thẳng đến việc xăm hình, đi kèm theo đó là bức tượng ‘Người suy tưởng’ khổng lồ trước cửa tiệm. Không gian ở đây cũng thường xuyên được dùng làm nơi tổ chức các sự kiện nghệ thuật, âm nhạc và cộng đồng.

Đội ngũ Th.ink Room.

Góc nhìn của Th.ink Room về nghệ thuật, tính nguyên bản và sự sáng tạo lại càng mang tính thời sự trong bối cảnh hiện nay, khi AI không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của họa sĩ mà còn định hình lại hoàn toàn cách xã hội nhìn nhận về sự sáng tạo. Tôi có cảm giác rằng quá nhiều người đang sẵn sàng phó thác sự sáng tạo của mình cho những chiếc máy tính, trong khi chính con người lại dần từ bỏ trí tò mò, thứ vốn là động lực ban đầu thôi thúc họ sáng tạo hay trân trọng cái đẹp. Phi có những trăn trở nhất định về AI, nhưng chưa bao giờ lo ngại về tương lai của sự sáng tạo. Phi nói: “Nền văn hóa chung của chúng ta phong phú đến mức không tưởng. Cá nhân mình không tin rằng sự sáng tạo đã chết hay sẽ có ngày lụi tàn; chỉ cần nhìn lại quá khứ, bạn sẽ thấy nó luôn bao la và khác biệt biết bao.”

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Ảnh: Jimmy Art Devier. Ảnh bìa: Dương Trương.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Thu, 25 Jun 2026 22:26:50 +0700
'Quán Kỳ Nam' và ván cược điện ảnh bằng phim nhựa 35mm https://saigoneer.com/vn/film-tv/18144-quán-kỳ-nam-và-ván-cược-điện-ảnh-bằng-phim-nhựa-35mm https://saigoneer.com/vn/film-tv/18144-quán-kỳ-nam-và-ván-cược-điện-ảnh-bằng-phim-nhựa-35mm

“Đến Việt Nam thôi!” Sabrina Baracetti, chủ tịch Far East Film Festival (Liên hoan phim Viễn Đông - FEFF) tại Udine, Ý, hào hứng tuyên bố khi khép lại phần giới thiệu bộ phim Quán Kỳ Nam của đạo diễn Leon Lê. Ngồi trong nhà hát Teatro Nuovo, lần đầu tiên chứng kiến Quán Kỳ Nam mở ra trên màn ảnh rộng, tôi cảm thấy một niềm tự hào trào dâng mãnh liệt.

Quán Kỳ Nam thực sự làm được đúng như lời Baracetti hứa hẹn: tác phẩm không phô bày một Việt Nam siêu hiện đại, đang phát triển nhanh chóng. Trái lại, bộ phim nắm bắt tinh thần Việt Nam một cách chân thực và sống động, được cô đọng qua ánh lửa bập bùng của một ngọn đèn dầu hay tiếng rền rĩ của chiếc quạt điện hoen rỉ. Cùng khán giả quốc tế thưởng thức tác phẩm, tôi xúc động khi hình ảnh con người nước mình hiện lên thật tử tế và tinh tế; họ kiên cường cùng nhau tái thiết đất nước sau chiến tranh.

Điều cốt lõi là Leon đã để cho các nhân vật của mình mang những khiếm khuyết tuyệt đẹp. Họ cư xử có lúc nhỏ nhen, dè dặt, nhưng đồng thời cũng hiền từ một cách dễ mến. Đó là những con người đang thận trọng dò dẫm trên vùng đất mới mẻ của thời bình, sau nhiều năm gồng mình chống chọi với nghịch cảnh. Tất cả những xung đột âm ỉ và tĩnh lặng ấy được đan cài khéo léo qua một mối tình ngang trái giữa một trí thức trẻ và một góa phụ từng dính líu đến chế độ cũ.

Nữ diễn viên Quán Kỳ Nam Ngô Hồng Ngọc (thứ hai từ trái sang), đạo diễn Leon Lê (thứ hai từ phải sang) và chuyên viên tuyển phim Việt Nam của FEFF (ngoài cùng bên phải).

Anh Nguyên Lê, giám tuyển phim Việt Nam của FEFF, chia sẻ anh luôn tìm kiếm những tác phẩm “lấy chất liệu bản địa nhưng mang ngôn ngữ biểu đạt toàn cầu.” Như anh nhận định rất chuẩn xác, Quán Kỳ Nam “làm được chính xác điều này.” Tác phẩm mượn cấu trúc kinh điển của một mối tình tay ba nhưng lại đặt vào bối cảnh đặc thù của Việt Nam những năm 1970. Bộ phim khắc họa những khoảnh khắc tĩnh lặng, đời thường của kiếp nhân sinh một cách tươi mới, thu hút khán giả quốc tế mà không cần dùng đến các khuôn mẫu xa lạ hay bị dị thường hóa.

Thế nhưng, sự đón nhận nồng nhiệt dành cho Quán Kỳ Nam tại Udine không chỉ đến từ chiều sâu của câu chuyện. Tiếng vang mà bộ phim tạo ra còn đến từ thắng lợi vẻ vang về mặt kỹ nghệ làm phim: đây là bộ phim điện ảnh Việt Nam đầu tiên trong suốt 20 năm qua được quay hoàn toàn bằng phim nhựa 35mm.

Gian nan bước đường tiên phong

Với kỹ thuật xử lý liên tục phát triển, phim nhựa 35mm không còn là chất liệu nghệ thuật mỏng manh, khó bảo quản như nhiều thập kỷ trước nữa. Định dạng này vẫn được “tôn thờ” tại các nền điện ảnh lớn như Hollywood hay Châu Âu nhờ chất lượng hình ảnh và hạt phim độc đáo. Thế nhưng tại Việt Nam, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Ở mảng phim điện ảnh chiếu rạp, đã 20 năm nay chưa có một tác phẩm nào được quay trọn vẹn bằng phim 35mm. Với mảng truyền hình, khoảng trống này thậm chí còn rộng hơn. Do ngành phim nội địa đã chuyển hẳn sang kỹ thuật số từ 3 thập kỷ trước, hệ thống máy móc analog giờ đây nếu không lỗi thời, hỏng hóc thì cũng đắp chiếu, không thể dùng được nữa. Thiếu vắng hoàn toàn thiết bị chuyên dụng, Leon Lê cùng ê-kíp phải đối mặt với một thử thách khổng lồ.

Nhớ lại những ngày đầu thai nghén dự án, Leon thừa nhận mình vô cùng may mắn khi nhận được hậu thuẫn vững chắc từ các nhà đầu tư ngay từ vạch xuất phát. “Tôi biết rằng với mức kinh phí đó, mình sẽ quay bằng phim nhựa,” anh giải thích. “Lý do các nhà đầu tư đồng ý ủng hộ dự án phần lớn là vì họ yêu thích bộ phim đầu tay của tôi, Song Lang. Họ hiểu rất rõ rằng một dự án như Quán Kỳ Nam là một bước đi mạo hiểm về mặt doanh thu.”

Tuy nhiên, nguồn kinh phí dồi dào để quay phim nhựa mới chỉ giải quyết được một nửa bài toán. Dù khả thi về mặt tài chính, dự án lại dường như bất khả thi về mặt vận hành. Bài toán này chỉ tìm được lời giải khi giám đốc hình ảnh Bob Nguyễn (Quán Kỳ Nam, Song Lang) chứng minh được điều ngược lại bằng cách tự tay xây dựng mọi thứ từ nền móng.

“Giám đốc hình ảnh phải đứng ra đào tạo cho toàn bộ thành viên còn lại trong đoàn,” Leon nhớ lại. “Những nhà làm phim trẻ chưa từng làm việc hay thực hành với phim nhựa, họ không biết cách lắp phim cũng như cách gắn hộp chứa phim vào máy quay. Giám đốc hình ảnh đã phải cùng họ đi qua một quá trình huấn luyện bài bản.”

Chặng đường học hỏi không chỉ gói gọn trong phạm vi trường quay. Leon chia sẻ: “Chúng tôi phải hợp tác với một phòng lab tráng phim và hướng dẫn họ [...] Họ vốn chỉ quen tráng các cuộn phim ảnh 35 kiểu, nên làm sao biết cách tráng một cuộn phim dài đến 5 phút? Dù vậy, tôi vẫn tin tưởng tuyệt đối vào đội ngũ của mình.”

Nhờ sự kiên định của Leon cùng ê-kíp, Việt Nam cuối cùng đã có một bộ phim điện ảnh 35mm mới, mang lại trải nghiệm điện ảnh chân thực, giàu chiều sâu và phá vỡ thế độc tôn của những khung hình kỹ thuật số sắc nét nhưng khô khan suốt nhiều năm qua.

Một cảnh trong phim Quán Kỳ Nam.

Hồi sinh phim nhựa hay chỉ là ngoại lệ đơn độc?

Leon vẫn kiên định gắn bó với chất liệu này và đặt trọn niềm tin vào ê-kíp cho các dự án 35mm tương lai. “Với tất cả các dự án sắp tới, tôi vẫn dự định quay bằng phim nhựa, đồng thời tiếp tục tráng và quét phim ngay tại Việt Nam,” anh tiết lộ. Niềm tin của anh bắt nguồn từ sự linh hoạt của con người nơi đây: “Nhìn chung, người Việt Nam rất thông minh. Người ta thích mày mò vì tò mò rồi cuối cùng cũng sẽ tìm ra cách. Chỉ là còn ngần ngại nên chưa làm, chứ nếu đã muốn thì đều có thể làm được.”

Dẫu vậy, Leon không hề ảo tưởng rằng khao khát mang tính cá nhân này có thể tạo ra một cuộc cách mạng cho toàn bộ nền điện ảnh Việt Nam. “Sẽ có những kẻ điên rồ như tôi muốn dấn thân vào con đường này, nhưng để gọi đó là sự phục hồi hay hồi sinh của phim nhựa thì chắc là không,” anh thừa nhận. Theo anh, rào cản lớn nhất còn xuất phát từ thực trạng của dòng phim thị trường Việt Nam hiện nay: “Nhìn vào thị trường điện ảnh Việt Nam lúc này, chúng ta thấy mọi thứ vẫn còn đang chật vật. Quy trình sản xuất từ khâu lên ý tưởng, viết kịch bản, tuyển diễn viên, bấm máy, làm hậu kỳ cho đến ngày ra rạp... đều bị đẩy đi quá nhanh và hời hợt. Làm sao họ dám đầu tư [vào phim nhựa] được? Vừa rủi ro lại vừa tốn kém. Người làm phim phải thực sự yêu thành quả lẫn quá trình thực hiện mới có thể kiên trì chịu đựng được.”

Giám tuyển Nguyên Lê cũng chia sẻ nỗi lo ngại về thực trạng ngành phim, khi chỉ ra điểm va chạm giữa cách làm phim nhựa và thị hiếu của người Việt hiện đại. “Thật tiếc khi định dạng này lại ngốn quá nhiều tiền bạc và thời gian giữa một xã hội luôn đong đếm từng đồng, từng phút; chưa kể chúng ta lại đang sống trong một nền văn hóa chuộng tư duy cứ mới nhất là tốt nhất.”

Dẫu vậy, anh vẫn mong tinh thần không thỏa hiệp của Leon Lê sẽ lan tỏa. Anh dự đoán các định dạng này sẽ “tiếp tục sống” ở mảng phim ngắn, lấy tác phẩm Chín (Ripe) làm ví dụ gần đây; hoặc giới làm phim sẽ “nghiên cứu và kế thừa” phương pháp kể chuyện chi tiết của Leon cùng ê-kíp, để từ đó “mở đường cho những tác phẩm chất lượng cao hơn, đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế.”

Lắng nghe những chia sẻ của họ, tôi không khỏi băn khoăn. Ranh giới rạch ròi giữa dòng phim độc lập và phim thương mại tại Việt Nam là điều không thể chối cãi. Hai mảng này khác nhau hoàn toàn từ cách gọi vốn, phương pháp sản xuất cho đến đối tượng khán giả mục tiêu. Để thắng đậm trên sân nhà, các tác phẩm thương mại giải trí thường phụ thuộc nặng nề vào các hình mẫu nhân vật quen thuộc và những chi tiết văn hóa dễ dãi, điều mà Nguyên mô tả là “rập khuôn kiểu ao làng.”

Cách tiếp cận này hoàn toàn đối lập với tiêu chí “chất liệu bản địa, ngôn ngữ toàn cầu” vốn đã giúp Quán Kỳ Nam chạm đến khán giả quốc tế. Nếu không chịu thu hẹp khoảng cách này, điện ảnh Việt Nam chắc chắn vẫn sẽ chật vật tìm kiếm một vị thế xứng đáng trên bản đồ thế giới. Điều đó đòi hỏi ngành phim nội địa phải biết đặt tính khắt khe về nghệ thuật lên trên những xu hướng thương mại vội vã và giới hạn bởi tư duy trong nước.

Hiểm họa rình rập từ AI và kỹ xảo máy tính

Trong Quán Kỳ Nam, những khán giả tinh mắt đôi khi sẽ nhận ra các công trình hiện đại thấp thoáng xa xa trong các cảnh quay trên sân thượng. Khi được hỏi về điều này, Leon trả lời thẳng thắn đến bất ngờ. “Tôi rất ghét kỹ xảo hình ảnh, bởi vì những hiệu ứng vật lý thực hiện ngay trên trường quay trông sắc nét và chân thật hơn hẳn so với vẽ kỹ xảo máy tính (VFX). Nhất là với các phim hành động, võ thuật của Hollywood hiện nay, họ lạm dụng kỹ xảo quá nhiều khiến mọi thứ trông rất giả. Thế nên, không phải cái gì mới cũng tốt, quan trọng là phải phù hợp.”

Triết lý này hoàn toàn phù hợp với thế giới của Quán Kỳ Nam. Khán giả quốc tế vốn dễ dàng bỏ qua những chi tiết hiện đại lạc lõng đó. Ngược lại, nếu cố dùng kỹ thuật số để chắp vá các chi tiết này nhằm tạo ra một không gian hoài cổ hoàn hảo thì sẽ phản tác dụng. Những mảng kỹ xảo thô vụng sẽ lộ rõ mồn một trên chất phim 35mm có độ hạt tự nhiên, phá nát bối cảnh Việt Nam những năm 1970 chân thực mà ê-kíp đã dày công gầy dựng.

Cá nhân tôi cho rằng, kỹ xảo hình ảnh nên đóng vai trò công cụ nâng tầm nhãn quan của đạo diễn, chứ không phải miếng băng gạc nhân tạo dán lên để che đậy lỗi lầm hay cắt xén bớt quy trình sản xuất. Thế nhưng, thói lạm dụng Trí tuệ Nhân tạo (AI) đang len lỏi một cách tinh vi và nguy hiểm hơn nhiều; đó là một sự xâm phạm không thể chấp nhận được vào tiến trình sáng tạo, trực tiếp cướp đi sinh kế của các nghệ sĩ chân chính. Chúng ta đang chứng kiến một thời kỳ đáng báo động khi AI được vội vã đón nhận để trục lợi, trong khi luật pháp vẫn chật vật chạy theo sau để bù đắp những tổn hại mà giới nghệ sĩ đang phải gánh chịu.

Tuy vậy, khi được hỏi về nguy cơ AI thay thế nhà làm phim, Leon vẫn vô cùng tự tin. “Chúng không bao giờ làm được công việc của tôi.” Đối với anh, quá trình sáng tạo mang đậm bản tính con người. Chỉ có anh mới lưu giữ những ký ức sống động, nhức nhối về việc mẹ và các dì đi thăm ông ngoại tại trại cải tạo sau chiến tranh, những ký ức vốn là nguồn cảm hứng trực tiếp nhào nặn nên nhân vật Kỳ Nam. Không một công nghệ nào trên thế giới, dù ở hiện tại hay tương lai, có thể sao chép vô hồn những tổn thương sâu sắc, cảm xúc cá nhân và nhãn quan nghệ thuật như thế.

Ngô Hồng Ngọc (trái) và đạo diễn Leon Lê (phải) tại liên hoan phim.

Ngược lại, giám tuyển Nguyên Lê lại đưa ra góc nhìn bi quan hơn về thực trạng hiện tại của điện ảnh nước nhà. “Tôi không nghĩ các nhà làm phim khác có cùng suy nghĩ với Leon, nhưng tôi mong mình sai. Như tôi đã nêu trong bài luận và báo cáo chuyên ngành tại kỳ FEFF năm nay, AI hiện đã len lỏi vào rất nhiều công đoạn của quy trình sáng tạo điện ảnh tại Việt Nam. Có người coi đó là món quà trời ban, nhưng cũng có người xem đó là một lối tắt ăn xổi.”

Sự phản kháng của điện ảnh “con người”

Nhận định của Leon về ngành làm phim thị trường trong nước hoàn toàn có cơ sở, nhưng có lẽ anh đã bỏ sót một tín hiệu đáng mừng. Cục diện điện ảnh nội địa đang chuyển mình rõ rệt khi một thế hệ nhà làm phim độc lập trẻ tuổi bắt đầu lấn sân sang mảng thương mại và gặt hái thành công vang dội. Ở quy mô quốc tế, việc Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ siết chặt quy chế gần đây, quy định nghiêm ngặt rằng phim tranh giải Oscar phải do con người đứng tên tác giả, chính là lời đáp trả đanh thép từ các tổ chức chính quy nhằm chặn bước làn sóng AI tạo sinh.

Suy cho cùng, điện ảnh là loại hình nghệ thuật được xây dựng hoàn toàn từ những rung cảm mong manh của con người. Tôi hoàn toàn đồng cảm với lời đúc kết cuối cùng của Nguyên Lê: “Cứ cho tôi những bộ phim dù còn khiếm khuyết nhưng giàu linh hồn, tôi luôn sẵn lòng đón nhận, và thực tế là tôi yêu thích không ít tác phẩm như vậy!”

Ảnh cung cấp bởi Far East Film Festival.

]]>
info@saigoneer.com (Irving Ly.) Màn Ảnh Sun, 14 Jun 2026 21:00:00 +0700
Chút tản mạn về cái 'thơm hít hà' và thói quen yêu thương của người Việt https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18145-chút-tản-mạn-về-cái-thơm-hít-hà-và-thói-quen-yêu-thương-của-người-việt https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18145-chút-tản-mạn-về-cái-thơm-hít-hà-và-thói-quen-yêu-thương-của-người-việt

Sau 10 năm đầu đời chỉ quen làm em út, bước sang tuổi thứ 10, tôi bỗng phải học cách làm một người anh lớn. Giữa những lóng ngóng vụng về ban đầu, tôi chợt thấy mình đang áp sát mũi vào chỏm đầu của đứa em sơ sinh rồi vô thức hít một hơi thật sâu. Kiểu “thơm hít hà” này không phải tự nhiên xuất hiện, mà là một phản xạ học được từ người lớn, bởi từ khoảnh khắc đó, tôi nhận ra ba và bà nội xưa nay vẫn thường âu yếm mình y như vậy.

Lớn lên ở xứ người, tôi từng ngẩn ngơ trước bài thơ ‘Kissing in Vietnamese’ (Tạm dịch: Hôn kiểu Việt) của nhà thơ người Mỹ gốc Việt Ocean Vuong vì nó lột tả đúng những gì tôi cảm nhận. Qua những dòng thơ, tôi mới vỡ lẽ rằng thói quen thơm hít hà ngỡ chỉ riêng nhà mình có, hóa ra lại là chuyện rất đỗi bình thường của biết bao gia đình Việt. Ocean Vuong miêu tả những cái thơm ấy, và so sánh chúng với kiểu thể hiện tình cảm có phần “phô diễn” hơn của phương Tây, để thấy rằng cách yêu thương của người Việt, dù kín kẽ và đằm thắm, chẳng vì thế mà bớt đi phần da diết:

When my grandmother kisses, there would be / Khi bà thơm, chẳng hề có
no flashy smooching, no western music / điệu bộ chu môi, hay tiếng chụt ồn ào
of pursed lips, she kisses as if to breathe / như người Tây phương, bà thơm như thể hít
you inside her, nose pressed to cheek / cháu vào trong lồng ngực, mũi tì sát gò má
so that your scent is relearned / để nhớ nằm lòng mùi hương

Tò mò tìm hiểu xem kiểu thơm đó từ đâu ra, tôi mới biết việc thơm hít hà vốn dĩ rất phổ biến ở Việt Nam, nhất là khi người lớn âu yếm con cháu trong nhà. Nhiều nước Đông Nam Á khác cũng có cách thể hiện tình cảm tương tự. Một nghiên cứu ngôn ngữ học đã chỉ ra hiện tượng thú vị rằng, trong nhiều ngôn ngữ bản địa ở khu vực này, từ dùng để chỉ hành động “hôn” và từ “ngửi” thực chất là một. Khi người châu Âu đến Đông Nam Á thời thuộc địa, họ vô cùng ngạc nhiên vì tập tục này và ghi chép lại nhiều lần như một hiện tượng lạ.

Trong cuốn Từ điển tiếng An Nam-Pháp do Jean Bonet biên soạn năm 1899, chữ “hôn” trong tiếng Việt đi kèm với phần giải nghĩa: “nụ hôn bằng mũi” (thực hiện bằng cách hít một hơi thật mạnh qua mũi như cách người An Nam vẫn làm).

Với tôi, cái thơm hít hà ấy đơn giản là cách trao gửi tình thương. Một luồng cảm xúc rất đỗi tự nhiên. Tôi thích hít hà mùi hương người nhà chỉ để thấy họ đang ở ngay bên cạnh. Đồng thời, giống như tâm sự của Ocean Vuong, cái thơm nhẹ nhàng đó cũng có thể mãnh liệt vô cùng. Nó xuất phát từ nỗi lo vô hình dành cho người thân, và ta chỉ thấy nhẹ lòng khi tự mình hít hà hơi ấm của họ để biết rằng họ vẫn bình an.

Trong tâm trí tôi, ranh giới giữa việc thể hiện tình cảm và việc lưu giữ mùi hương cơ thể chỉ mờ mờ ảo ảo. Phải đến tận bây giờ, khi cúi đầu cho bà nội thơm lên trán, tôi mới nhận ra trong mỗi người đều tồn tại một kho tàng thói quen, những lề thói “ngủ quên” — những điều mà sự hiện diện vượt ngoài nhận thức của chúng ta.

Tác phẩm ‘La Maternité’ (Tình mẫu tử) của danh họa Lê Phổ, vẽ khoảng thập niên 1940.

Để ý kỹ một chút, ta sẽ nhận ra những cử chỉ nhỏ nhặt hàng ngày mà mình vốn chẳng để tâm, dù ngấm dần qua năm tháng hay đọng lại sau một biến cố lớn, thực chất đều do thế hệ đi trước để lại. Thật an ủi khi từ chính trải nghiệm của mình, ta hiểu rằng, hóa ra từ bao đời nay, chúng ta vẫn yêu thương nhau theo đúng cách ông bà mình từng làm.

My grandmother kisses as if history / Bà tôi thơm như thể lịch sử
never ended, as if somewhere / chưa từng khép lại, như thể đâu đó
a body is still / vẫn còn một xác thân
falling apart. / đang dần vỡ nát.
]]>
info@saigoneer.com (Tom Phạm. Minh họa: Mai Khanh.) Văn Hóa Thu, 11 Jun 2026 14:39:31 +0700