Văn Nghệ - Sài·gòn·eer https://saigoneer.com/vn/arts-culture Mon, 27 Apr 2026 05:48:19 +0700 Joomla! - Open Source Content Management vi-vn 'Loin du Vietnam' (1967): Bản tuyên ngôn phản chiến đầy trăn trở của điện ảnh Pháp https://saigoneer.com/vn/film-tv/18110-loin-du-vietnam-1967-bảnn-tuyên-ngôn-phản-chiến-đầy-mâu-thuẫn-của-điện-ảnh-pháp https://saigoneer.com/vn/film-tv/18110-loin-du-vietnam-1967-bảnn-tuyên-ngôn-phản-chiến-đầy-mâu-thuẫn-của-điện-ảnh-pháp

Thập niên 1960, nước Pháp chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Làn sóng Mới (French New Wave), phong trào điện ảnh được xem là có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất lịch sử phim ảnh nước này. Những trí thức dẫn dắt phong trào luôn khao khát tìm kiếm phương thức kể chuyện mới lạ, phá vỡ những khuôn khổ trước đó. Hầu hết họ đều theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và kịch liệt phản đối việc can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam.

Dù thường xuyên bất đồng với công chúng trong nhiều vấn đề, các nhà làm phim thời bấy giờ lại tìm thấy tiếng nói chung với dư luận khi nhắc đến Việt Nam. Xã hội Pháp coi sự hiện diện của Mỹ là hành vi xâm lược, chà đạp lên quyền tự quyết của nhân dân. Khi chiến sự leo thang vào năm 1965, làn sóng ủng hộ Việt Nam càng trở nên mạnh mẽ. Thế nhưng, giữa bầu không khí sục sôi ấy, giới làm phim bản địa lại im hơi lặng tiếng một cách lạ thường. Sự im lặng này khiến Robert Bozzi, một chủ phòng tranh đang kêu gọi quyên góp thuốc men cho Việt Nam, không khỏi ngạc nhiên.

Khi nghe người bạn thân Robert Bozzi kể lại câu chuyện, đạo diễn Chris Marker đã lập tức quyết định thực hiện một dự án điện ảnh dành riêng cho Việt Nam. Vốn bị xem là “kẻ ngoại đạo” vì phong cách làm phim mang tính tiểu luận hơn là điện ảnh thuần túy, Marker có phần kín tiếng hơn các đạo diễn cùng thời. Xuyên suốt sự nghiệp, ông luôn kiên trì khai thác mối liên hệ mật thiết giữa nghệ thuật và chính trị. Bộ phim Loin du Vietnam (Xa Việt Nam), thành quả ra đời từ nỗ lực này, cũng không phải là ngoại lệ.

Áp phích phim. 

Rất khó để xếp Loin du Vietnam vào bất kỳ khuôn mẫu điện ảnh nào sẵn có. Marker đã tập hợp hơn 150 nhà làm phim, trí thức và sử gia cùng tình nguyện tham gia, trong đó có cả những cái tên gạo cội như Joris IvensWilliam KleinClaude LelouchAgnès VardaJean-Luc Godard và Alain Resnais. Ban đầu, nhóm dự định tạo ra một tác phẩm thống nhất, nhưng sau đó, dự án đã phát triển thành một bộ tiểu luận gồm 11 chương ra mắt vào năm 1967. Tác phẩm không dừng lại ở việc phê phán sự can thiệp của Mỹ mà còn khéo léo đan cài giữa hư cấu và tài liệu, mở ra nhiều lăng kính khác nhau, từ những ghi chép lịch sử đến những tự sự đầy riêng tư.

Cuộc chiến của kẻ giàu chống lại kẻ nghèo 

Góc nhìn của bộ phim về toàn bộ cuộc chiến được thiết lập ngay từ đoạn thuyết minh mở đầu bằng tiếng Pháp:

“Một bên là Hoa Kỳ, cường quốc quân sự mạnh nhất mọi thời đại. Từ năm 1965, khi chiến tranh bắt đầu leo thang, người Mỹ đã ném hơn một triệu tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam, vượt xa lượng bom rơi xuống nước Đức trong Thế chiến thứ hai. Một quốc gia với 200 triệu dân, chi tiền cho giấy gói quà còn nhiều hơn 500 triệu người Ấn Độ chi cho thực phẩm, dĩ nhiên chẳng thiếu nguồn lực cho quân đội. Mỗi sáng trên vịnh Bắc Bộ, các tàu sân bay của Hạm đội 7 lại chất đầy bom đạn. Đó là cuộc chiến của kẻ giàu. Ở phía bên kia chiến tuyến là cuộc chiến của kẻ nghèo, của 17 triệu người dân miền Bắc cùng đồng bào miền Nam đang chiến đấu vì độc lập. Họ nghèo nhất nhưng không hề yếu nhất. Họ ít người nhất, nhưng chẳng hề cô độc nhất.”
 

Phân cảnh từ phim.

Những thước phim đã lột tả sự tương phản này một cách trần trụi: nước Mỹ với những con tàu ăm ắp khí tài, phô diễn sức mạnh cơ giới áp đảo để làm chủ biển khơi; và ngay ở khung hình kế tiếp, bóng dáng người Việt hiện lên giữa những cánh đồng, mình khoác lá ngụy trang để hòa vào thiên nhiên, biến chính mảnh đất quê hương thành tấm khiên che chở. Thông điệp hiện ra rất rõ ràng: đây là một cuộc chiến không cân sức. Thế nhưng, cái bất công nghiệt ngã nhất lại nằm ở mục đích của cuộc chiến, như lời thuyết minh diễn tả: miền Bắc Việt Nam chiến đấu để giành lấy “quyền được kiến tạo của người nghèo, vì sự tiến bộ, vì một xã hội không dựa trên lợi ích của kẻ giàu,” còn Mỹ chiến đấu chỉ để “chứng minh cho thế giới thấy rằng mọi cuộc cách mạng chỉ dẫn đến ngõ cụt.”

Sự chênh lệch quá lớn về nguồn lực đã bóc trần tính chất tàn khốc của cuộc xâm lược. Điều này được thể hiện rõ qua góc nhìn của Joris Ivens, vị đạo diễn vừa ra mắt một bộ phim tài liệu tiếng tăm về miền Bắc bấy giờ. Trong chương đầu mang tên ‘Bomb Hanoi’ (Đánh bom Hà Nội), ông ghi lại cảnh những hầm trú ẩn mà người dân thủ đô dựng lên để đối phó với các đợt oanh tạc triền miên. Đó là những chiếc hầm bê tông đúc sẵn, chôn dọc đường để người dân có thể ẩn nấp nhanh chóng ngay khi tiếng còi báo động vang lên.

Ivens bắt trọn vẻ bình thản đến kinh ngạc trên đường phố Hà Nội: “Khi sống cùng họ, ta cũng trở nên bình thản như họ và tin chắc vào thắng lợi.” Vẻ thản nhiên ấy khiến người xem không khỏi xót xa, bởi nó chỉ là khoảng lặng ngắn ngủi trước cơn bão tố hiện hình ngay khung hình kế tiếp. Tiếng còi hú bất thần xé toạc bầu không khí, khiến dòng người vội vã tìm nơi trú ẩn. Thế nhưng, ngay trong cảnh hỗn loạn đó, vẫn có những bóng người thong dong bước đi trên phố.

Trẻ em chơi đùa bên hầm trú bom ở Phố Cổ, tháng 5/1968. Ảnh chụp bởi Sommer Mark.

Thước phim của Ivens phác họa một cuộc đối đầu không cân sức. Nước Mỹ với những con tàu đầy ắp vũ khí, phô diễn sức mạnh của một đế quốc công nghiệp. Và ở phía ngược lại, dù đối phương có sức mạnh áp đảo, tinh thần kiên cường của con người vẫn là chìa khóa để giành chiến thắng. Phần thuyết minh nhấn mạnh thông điệp này: “Phía Mỹ hoàn toàn mù tịt về đối thủ của mình. Xã hội Mỹ vận hành theo nguyên tắc: kẻ nghèo nhất luôn là kẻ kém cỏi nhất. Họ không hiểu rằng chính sự nghèo khó có thể tạo nên một sức mạnh tinh thần vượt trội so với kẻ xâm lược giàu có.”

Muôn sắc thái phản ứng

Để thể hiện sức ảnh hưởng của cuộc chiến với công dân toàn cầu, Loin du Vietnam còn lồng ghép những thước phim bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. William Klein đã đem đến một góc nhìn về cuộc chiến thông qua cảm xúc của con người. William Klein chọn lột tả cuộc chiến qua những rung cảm trần trụi của con người. Vốn là một tay máy đường phố lừng danh, ông vận dụng phong cách direct cinema (điện ảnh trực tiếp), dùng máy quay cầm tay và thiết bị thu âm linh động để bắt trọn những cảm xúc nguyên bản trong các cuộc biểu tình.

William Klein.

Vì là công dân Mỹ duy nhất trong nhóm lúc đó, Klein có thể tự do đi lại và quay phim mà không bị quấy rầy. Những thước phim ông ghi lại tại Phố Wall ngày 1/5 trong chương ‘A Parade is a Parade’ (Diễu hành là diễu hành) đã mang đến những lát cắt đa diện cho bộ phim. Giữa khu tài chính New York sầm uất, dòng người tuần hành chống chiến tranh giương cao biểu ngữ: “Kẻ giàu cứ giàu thêm, còn bạn thì phải đi lính.” Klein tiến xa hơn khi len lỏi vào giữa hai phe: một bên là người biểu tình, một bên là đám đông môi giới chứng khoán đang la ó, gào thét đòi “đánh bom Hà Nội.”

Không dừng lại ở việc quan sát, Klein còn trực tiếp khơi mào cho những cuộc tranh luận nảy lửa. Chương cuối mang tên ‘Vertigo’ (Chao đảo) đã khắc họa rõ vai trò này khi xoáy vào cuộc tuần hành khổng lồ do Martin Luther King dẫn dắt vào tháng 4/1967. Quy tụ hơn nửa triệu người từ đủ mọi tầng lớp đổ về Liên Hợp Quốc, đây là cơ hội để vị đạo diễn châm ngòi cho những cuộc đối thoại gay gắt. Klein lên án chiến tranh bằng cách kích thích tranh luận, với niềm tin rằng vì cuộc chiến này quá phi lý và bất công, lý tưởng của ông cuối cùng sẽ chiến thắng.

Ảnh được chiếu trong phim, chụp trong cuộc biểu tình phản chiến ngày 15/4/1967 tại New York.

Cuộc chiến phân cực trong một thế giới đa cực 

Dù nhìn nhận đây là một cuộc can thiệp phi nghĩa của Mỹ, Loin du Vietnam không hề đơn giản hóa vấn đề mà đặt chiến tranh Việt Nam vào một bối cảnh địa chính trị lắt léo.

Những lớp cắt lịch sử được bộ phim tái hiện trong chương năm mang tính diễn giải với tiêu đề ‘Flash Back’ (Hồi ức). Bắt đầu từ cuộc kháng chiến chống Pháp, chương phim không ngần ngại chỉ ra chính chủ nghĩa thực dân đã tạo tiền đề, là bàn đạp dẫn đến sự can thiệp của đế quốc Mỹ sau này. Mối liên hệ giữa hai thời kỳ xâm lược hiện lên qua các tư liệu lịch sử, nhưng lại kết thúc đầy bất ngờ bằng cảnh các nhân vật truyện tranh lao vào đánh đấm.

Lối dàn dựng này chịu ảnh hưởng rõ rệt từ phong trào Situationist International (Tình huống quốc tế), một phong cách đang rất thịnh hành lúc bấy giờ. Nhóm nghệ sĩ tiên phong và những người cánh tả này có thủ pháp đặc trưng là le détournement: họ mượn hình ảnh từ truyện tranh, quảng cáo hay phim ảnh rồi đặt vào những ngữ cảnh hoàn toàn khác để giễu nhại xã hội tư bản và chủ nghĩa tiêu dùng vô độ.

Ấn phẩm thuộc phong trào Situationist International (Tình huống quốc tế) vận dụng thủ pháp détournement. Nội dung của Raoul Vaneigem, minh họa bởi André Bertrand, 1967. Một trang truyện tranh trào phúng phê phán việc biến văn hóa thành món hàng trong xã hội tư bản.

Sử dụng một trào lưu chính trị ngách như vậy, bộ phim cho thấy nhãn quan của nhóm trí thức Pháp theo khuynh hướng Marxist, những người vốn có tiếng nói khá tách biệt với công chúng. Góc nhìn của họ là một phần không thể thiếu trong dư luận phương Tây thời bấy giờ, dù chưa thể đại diện cho toàn bộ tư tưởng xã hội. Đa số nhóm này đã phản đối chủ nghĩa đế quốc ngay từ thời thực dân Pháp; trong khi với đa số người dân Pháp, làn sóng chống chiến tranh chỉ thực sự lan rộng khi Mỹ đổ quân trực tiếp vào Việt Nam.

Chuyển biến trong nhận thức xã hội hiện rõ qua các con số. Trong một cuộc khảo sát vào tháng 1/1948, khi được hỏi về những sự kiện tiêu biểu của năm cũ, người dân Pháp dửng dưng với chiến tranh Đông Dương đến mức nó bị xếp vào mục “khác” với vỏn vẹn 6%. Thế nhưng đến năm 1966, cục diện đã đảo ngược hoàn toàn khi có tới 41% người được hỏi phản đối sự can thiệp của Mỹ, cao gấp bốn lần so với tỷ lệ 10% đồng thuận.

Mạch phim chuyển sang những sắc thái trừu tượng trong chương ‘Claude Ridder’ của đạo diễn Alain Resnais. Thay vì những thước phim tài liệu trực diện, Resnais khắc họa một trí thức tư sản Pháp hư cấu và nỗi giằng xé khi ủng hộ cuộc chiến của người Việt. Nhân vật này, vốn được xây dựng để gây khó chịu, đã bộc bạch những mâu thuẫn nội tâm đầy nghiệt ngã. Anh ta khao khát ủng hộ người Việt Nam hết lòng, nhưng lại bất lực trong việc thấu cảm hoàn toàn với họ. Sự bế tắc ấy được anh lý giải bằng chính trải nghiệm trong hàng ngũ Kháng chiến chống phát xít ở Thế chiến thứ hai:

“Người Đức là những con quái vật, điều đó không có gì phải bàn cãi. Tôi vẫn thấy sợ hãi mỗi khi nghe tiếng Đức. Rồi tôi nhớ lại những ngày cuối cùng, khi chúng tôi gặp một sư đoàn thiết giáp Mỹ gần một ngôi làng nhỏ. Những chiếc Jeep, pháo hạng nặng, xe tăng và cả kẹo cao su của năm 1944. Khi ấy chúng tôi đã rất hạnh phúc khi thấy họ đến. Suy cho cùng, chúng tôi không có đạn dược, và tôi nợ người Mỹ mạng sống này. Tôi sẽ luôn yêu quý họ. Cho đến tận cuối đời, tôi vẫn sẽ căm thù người Đức và yêu quý người Mỹ. Chỉ có điều, giờ đây người Mỹ lại chính là ‘người Đức’ của người Việt Nam. Mọi thứ trở nên thật phức tạp.”

Một khung hình trong chương ‘Claude Ridder’ của Alain Resnais. Nhân vật hư cấu này cũng xuất hiện trong bộ phim Je t’aime, je t’aime (1968) của cùng đạo diễn.

Trong mắt nhân vật này, việc một người Pháp xuống đường biểu tình sau một lịch sử thực dân dài đằng đẵng là hành động cận kề đạo đức giả. Anh thấy những lời phản kháng từ bên kia đại dương trở nên vô nghĩa trước máu xương đang đổ xuống nơi chiến trường. Thậm chí, anh còn tự vấn vì sao chỉ tập trung vào Việt Nam mà bỏ quên bao dân tộc khác cũng đang gánh chịu bạo lực. Những trăn trở đó dồn nén thành một cảm giác bất lực, lương tâm không cho phép anh lờ đi, nhưng bản thân lại thấy mình hoàn toàn thiếu hụt tư cách lẫn công cụ để đối diện với vấn đề.

‘Claude Ridder’ vì thế trở thành chiếc gương phản chiếu thế lưỡng nan của những người làm phim. Qua nhân vật này, các đạo diễn bộc bạch nỗi lòng của chính mình. Họ khao khát ghi lại cuộc chiến một cách chân thực nhất, nhưng muốn vậy, trước hết họ buộc phải lùi lại để tự vấn về cách bản thân đang quan sát và hình dung về cuộc chiến đó.

Để cuộc chiến ‘xâm chiếm’ tâm trí

Sự hiện diện của nhân vật Claude Ridder đã khơi lên những trăn trở về vai trò của người ngoài cuộc giữa tâm bão chiến tranh. Nghệ thuật phải làm sao để chạm tới một đề tài phức tạp đến thế? Chính nhu cầu duy trì một khoảng cách tỉnh táo để soi xét vị thế cá nhân đã dẫn dắt bộ phim tới tầng sâu nhất. Jean-Luc Godard nỗ lực tìm lời giải cho câu hỏi này trong chương ‘Camera Eye’ — khán giả chỉ còn nghe thấy tiếng ông độc thoại. Những khung hình đầu tiên có phần lạ lẫm: ông đứng sau một chiếc máy quay khổng lồ che khuất gần hết gương mặt. Nhưng thông điệp lại hiện lên rõ ràng: với tư cách một đạo diễn Pháp, vì sao việc lên tiếng phản đối cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam lại quan trọng đến thế?

Jean-Luc Godard

Godard mở đầu bằng cách liệt kê những gì ông dự định ghi lại nếu có cơ hội đặt chân đến Việt Nam: từ sức công phá của bom bi lên cơ thể con người cho đến sự tàn khốc của chất độc màu da cam. Thế nhưng, những dự định đó mãi nằm trên trang giấy. Godard kể rằng ông từng xin phép chính quyền Hà Nội để đến tác nghiệp nhưng bị từ chối. Ông nhắc lại chuyện này với thái độ khiêm nhường, nhưng đâu đó vẫn phảng phất nỗi tiếc nuối, thừa nhận rằng mình hoàn toàn đồng tình với sự khước từ ấy. Bởi lẽ, với ông khi đó, lòng trắc ẩn mà thiếu đi trải nghiệm thực tế chỉ là một sự “hào phóng giả tạo.” Lời nói chẳng thể có sức nặng khi người ta đứng ngoài cuộc: “Thật khó để nói về những quả bom khi chúng chẳng hề rơi xuống đầu mình.”

Từ chiêm nghiệm ấy, ông chọn cách “để Việt Nam xâm chiếm tâm trí.” Ở đây, Việt Nam không còn là một quốc gia xa xôi trên bản đồ, mà đã hóa thành biểu tượng cho tinh thần phản kháng. Ông hiểu rằng cuộc chiến này không phải là một sự kiện tách biệt, mà là một phần của dòng chảy chung trên toàn thế giới. Khi nhiều quốc gia cũng đang phải đối mặt với chủ nghĩa đế quốc, Việt Nam trở thành hiện thân của lòng kiên cường, đúng lời Fidel Castro được đạo diễn trích dẫn, rằng chúng ta phải “tạo ra hai, ba, thật nhiều Việt Nam.”

Tâm thế ấy chính là nỗ lực tự tạo ra một “Việt Nam” bên trong mỗi người, và học cách kháng cự những áp bức bủa vây mình. Với riêng Godard, đó là cuộc chiến chống lại sức ảnh hưởng của nền kinh tế và thẩm mỹ điện ảnh Mỹ, thứ mà ông cho là đã làm tha hóa diện mạo điện ảnh toàn cầu. Là một nhà làm phim, ông quan niệm việc “để Việt Nam xâm chiếm” còn là không ngừng nhắc về Việt Nam trong các tác phẩm khác, như một cách lan tỏa biểu tượng của tinh thần bất khuất.

Một đoạn phỏng vấn Fidel Castro xuất hiện trong phim.

Dài 11 chương với vô vàn góc nhìn về một trong những cuộc chiến lớn nhất thế kỷ, Loin du Vietnam từng có một số phận đầy thăng trầm. Những buổi công chiếu ít ỏi đã sớm bị dập tắt bởi các cuộc biểu tình của phe cực hữu và những lời đe dọa đánh bom. Dù đã được phục chế cách đây khoảng 10 năm, bộ phim vẫn nằm ngoài vùng nhận thức của số đông và rất khó để tìm xem. Giờ đây, 6 thập kỷ sau ngày ra mắt, dù cuộc chiến đã được mổ xẻ qua vô số sản phẩm truyền thông, tiếng chuông cảnh tỉnh chống lại sự bạo tàn trong Loin du Vietnam vẫn vẹn nguyên giá trị. Không chỉ là một bộ phim tài liệu, tác phẩm còn là những suy ngẫm sâu sắc về sự áp bức toàn cầu và cách nó tác động đến toàn xã hội của chúng ta.

Loin du Vietnam hiện đang được đăng tải toàn bộ trên YouTube.

]]>
info@saigoneer.com (Tom Phạm. ) Màn Ảnh Fri, 24 Apr 2026 13:00:00 +0700
Tết Thanh Minh, người Dao Chàm Quản Bạ xuống suối bắt cá dâng lên tổ tiên https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17518-tết-thanh-minh,-người-dao-chàm-quản-bạ-xuống-suối-bắt-cá-dâng-lên-tổ-tiên https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17518-tết-thanh-minh,-người-dao-chàm-quản-bạ-xuống-suối-bắt-cá-dâng-lên-tổ-tiên

Hàng năm, vào dịp Tết Thanh Minh, người Dao Chàm ở Nặm Đăm, Quản Bạ lại tổ chức hội bắt cá. Cá sau khi bắt được chia đều cho các hộ trong làng làm mâm cơm dâng lên tổ tiên và thần linh để cảm tạ, đồng thời cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ.

Nặm Đăm là một thôn thuộc xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, cách thành phố Hà Giang khoảng 50 km. Nằm nép mình trong thung lũng yên bình dưới chân núi, Nặm Đăm là nơi sinh sống của người Dao Chàm, dân tộc có dân số đông thứ hai tại huyện Quản Bạ.

Trước khi lễ hội bắt cá diễn ra, một đoàn rước lễ từ đầu làng lên miếu Đội 1 để thực hiện nghi thức cúng.

Người Dao quan niệm, khi con người sống hòa hợp, tôn trọng tự nhiên, các vị thần cai quản tự nhiên sẽ bao bọc, che chở, mang đến cho họ cuộc sống bình an, no đủ. Vì vậy, trong đời sống tín ngưỡng, người Dao ở Hà Giang ngoài thờ cúng tổ tiên còn thờ thần như thần thổ công, thần bếp, thần gia súc gia cầm; các vị thần cai quản tự nhiên (thần mưa, thần nước, thần đất, thần gió); và các vị thần nông nghiệp (thần rừng, thần nương).

Tọa lạc ở cửa ngõ của cao nguyên đá, Nặm Đăm được thiên nhiên ưu ái ban tặng cảnh sắc yên bình với những cánh rừng già bao bọc xung quanh, khí hậu mát mẻ quanh năm. Làng cũng có nhiều dòng suối chảy qua, nhiều hồ nước xanh mát. Người dân nơi đây xem hồ Nặm Đăm là "hồ thiêng" mang đến nguồn nước tưới mát ruộng nương, giúp cho vạn vật sinh sôi, tươi tốt.

Nghi thức cúng do ông Lý Đại Thông, một người có uy tín trong làng, thực hiện.

Người lớn tuổi trong làng nói rằng, người Dao nơi đây có truyền thống nuôi cá ở hồ Nặm Đăm trong suốt một năm và chờ đến Tết Thanh Minh (mùng 3 tháng 3 âm lịch) để mở hội bắt cá dâng lên tổ tiên, cảm tạ trời đất, thần linh đã phù hộ, giúp mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Vì là sản vật để dâng lên tiền nhân nên bầy cá được chăm sóc và bảo vệ rất cẩn thận. Làng quy định trong suốt 12 tháng đó, không ai được câu cá trong hồ, nếu vi phạm bị phát hiện sẽ chịu phạt rất nặng.

Không biết tục lệ bắt cá đã hình thành từ khi nào, nhưng cho đến ngày nay, cứ vào dịp Tết Thanh Minh, trong mâm cơm cúng ông bà của người Dao Chàm Quản Bạ luôn có món cá. Truyền thống này được duy trì như một nét đẹp trong tín ngưỡng, thể hiện lối suy nghĩ, tinh thần nhân văn của người Dao. Đó là lòng biết ơn tổ tiên, là sự tôn kính đối với các vị thần tự nhiên đã luôn phù hộ, chở che họ.

Mâm lễ có rượu, trái cây, xôi ngũ sắc, gà, thịt…

Lễ hội bắt cá được tổ chức hàng năm ở Nặm Đăm, ngoài ý nghĩa tâm linh sâu sắc, còn là dịp để người dân trong làng có dịp vui chơi tăng cường gắn kết. Trước khi các đội bắt đầu xuống suối bắt cá, từ 8 giờ sáng, một đoàn rước lễ đi từ đầu làng đến miếu Đội 1 để cúng. Miếu đội 1 nằm trên một gò đất cao, gần một hồ nước. Mâm lễ gồm xôi ngũ sắc, thịt, gà, rượu, v.v. Nghi thức cúng do ông Lý Đại Thông, một người có uy tín trong bản, thực hiện.

Năm nay, lễ hội bắt cá của người Dao Chàm Quản Bạ là cuộc so tài giữa hai đội Nặm Đăm và Chúc Sơn. Buổi sáng hôm đó, thời tiết ủng hộ, trời ấm áp, nắng không gắt và nước suối không quá lạnh nên gương mặt ai cũng rạng rỡ.

Sau nghi thức cúng, hội thi chính thức diễn ra ở suối Nặm Đăm.

Mỗi đội thi gồm 10 người đã được ban tổ chức chia trước đó. Cá, chủ yếu là cá rô, cũng được mang từ hồ thả vào suối ngày hôm trước. Người tham gia mặc trang phục truyền thống màu chàm. Phụ nữ đội nguyên khăn vấn đầu với những sợi chỉ thêu nhiều màu sắc. Hai đội phân biệt bằng màu ruy-băng quấn trên đầu. Đội Nặm Đăm màu đỏ, đội Chúc Sơn màu xanh. Theo luật, người tham gia bắt cá bằng tay và bỏ vào thùng của mỗi đội đặt trên bờ suối. Trong 30 phút, đội nào bắt được nhiều cá hơn là đội chiến thắng. Những người bắt được cá to nhất, đẹp nhất cũng được cho là sẽ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

Người dân hai thôn tập trung rất đông dọc bên đường để cổ vũ.

Hiệu lệnh từ trọng tài báo hiệu cuộc tranh tài bắt đầu. Tiếng hò reo cổ vũ từ bờ suối vang vọng từ tứ phía. Nhanh nhất có thể, những người tham gia khẩn trương lao xuống nước. Những tia nước bắn lên tung tóe, lung linh như pha lê. Thoắt một cái, ai nấy đều đã ướt hết từ đầu đến chân. Họ ngụp lặn, tay liên tục mò mẫm, mắt láo liên quan sát. Chỉ trong khoảng 3 phút đầu tiên của cuộc tranh tài, anh Lý Tà Sàng (thôn Nặm Đăm) đã tìm thấy con cá đầu tiên trong tiếng vỗ tay tán dương của cả làng. Theo luật chơi, người bắt được cá đầu tiên sẽ có phần thưởng riêng.

Người tham gia mặc trang phục truyền thống, áo quần tông chàm đen, khăn vấn đầu của phụ nữ có dây thêu nhiều màu sắc. Hai đội phân biệt bằng màu ruy-băng quấn trên đầu. Theo đó, đội Nặm Đăm màu đỏ, đội Chúc Sơn màu xanh.

Mực nước suối ngang người nên việc di chuyển của người chơi tương đối khó khăn. Ngoài ra, vì suối nhiều nước, nhiều đá, không như ở hồ, lại bắt cá bằng tay không nên cá dễ luồn lách. Đây là một thách thức lớn với hầu hết những người chơi. Thế nhưng, với sự khéo léo, hầu như ai cũng bắt được cá. Cứ chốc chốc lại có tiếng hô to lên khiến mọi người đồng loạt ngoái lại nhìn. Cá được nắm chặt trong lòng bàn tay giơ lên cao như một động tác khoe kết quả trong niềm vui sướng và tự hào khôn xiết.

Anh Lý Tà Sàng là người bắt được con cá đầu tiên tại hội thi.

Sau 30 phút cực kỳ sôi nổi, kim đồng hồ điểm hết giờ, trọng tài đếm ngược 10 giây cuối cùng, người chơi tiến về bờ trong bộ áo quần ướt sũng. Cá trong thùng của hai đội được tiến hành cân để xác định đội chiến thắng. Chung cuộc, đội Nặm Đăm với khối lượng cá lớn hơn giành giải nhất.

Sau hội thi, cũng như những ngày sau đó, người làng cũng xuống ao bắt cá. Cá bắt lên được chia cho tất cả các hộ trong làng. Những con cá to nhất, đẹp nhất được bà con làm cơm cúng tổ tiên vào Tết Thanh Minh và rằm tháng 3 âm lịch.

Mực nước suối ngang nửa người. Thời tiết buổi sáng diễn ra hội thi khá ấm áp tạo thuận lợi cho người chơi. Tuy nhiên, suối nhiều nước, cá dễ luồn lách. Người thi phải ngụp lặn và chú ý quan sát để bắt được cá.

Niềm vui sướng của người tham gia khi bắt được cá.

Cá được bắt trong hội thi chủ yếu là cá rô, được nuôi ở hồ Nặm Đăm 1 năm.

Người bắt được cá phải cho cá vào thùng của mỗi đội đặt trên bờ suối.

Sau 30 phút tranh tài, hai đội tiến hành cân cá để xác định đội thắng cuộc.

Ghi lại kết quả cân cá. 

Bài viết đăng tải lần đầu vào năm 2023.

]]>
info@saigoneer.com (Xuân Phương. Ảnh: Xuân Phương.) Văn Hóa Wed, 22 Apr 2026 11:00:00 +0700
Saigoneer’s Pick: Nhà Saigoneer đọc gì vào Ngày Sách Việt Nam? https://saigoneer.com/vn/literature/18109-saigoneer’s-pick-nhà-saigoneer-đọc-gì-vào-ngày-sách-việt-nam https://saigoneer.com/vn/literature/18109-saigoneer’s-pick-nhà-saigoneer-đọc-gì-vào-ngày-sách-việt-nam

Cứ đến trung tuần tháng 4 mỗi năm, chúng ta lại bắt gặp nhiều cuộc thảo luận sôi nổi về sách trên các diễn đàn và không gian cộng đồng.

Điều này không phải ngẫu nhiên, bởi ở Việt Nam, ngày 21/4 được chọn làm Ngày Sách và Văn hóa đọc để kỷ niệm cột mốc xuất bản cuốn Đường Kách mệnh năm 1927, đồng thời cũng nhằm hưởng ứng Ngày Sách và Bản quyền Thế giới ngay sau đó (23/4). Tại vùng Catalonia (Tây Ban Nha), nơi khởi nguồn của ngày lễ này, người dân thường tặng nhau sách và hoa hồng.

Tại Saigoneer, thay cho hoa, các thành viên của đội ngũ muốn chia sẻ với bạn vài tựa sách mà chúng tôi tâm đắc. Từ thơ đến tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, đây là những tác phẩm đã ít nhiều để lại dấu ấn trong cách chúng tôi nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như trong thực hành chuyên môn. Hy vọng qua những chia sẻ này, bạn đọc cũng sẽ tìm thấy một gợi ý phù hợp để làm đầy thêm kệ sách cá nhân.

Những miền quê trong thơ Việt | Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ tuyển chọn

Gợi ý bởi: Khôi Phạm | Tổng biên tập

Thể loại: Thơ

Mô tả nhanh: Những miền quê trong thơ Việt là tuyển tập thơ gồm 36 bài do 34 tác giả viết, được hai nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ lựa chọn kỹ lưỡng và viết lời bình. Ở đây, độc giả có thể bắt gặp những cái tên quen thuộc trong làng thi ca Việt Nam, như Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, bên cạnh một vài cây bút trẻ. Sự đa dạng, cả về chủ đề, thể loại, và địa danh, đem đến một bức tranh thiên nhiên, con người nước ta kỳ diệu, giàu cảm xúc, vừa quen lại vừa lạ.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Là đứa con Việt Nam, nhiều lúc tôi bất giác cảm thấy xấu hổ, vì còn quá nhiều ngóc ngách trên khắp đất nước mà mình vẫn chưa đặt chân tới, hay thậm chí biết đến. Quanh đi quẩn lại, những Đà Lạt, Hà Nội, Nha Trang, Đà Nẵng vẫn hiện lên thường trực trên tấm vé máy bay cầm trên tay qua mỗi năm. Tôi đến Huế lần đầu tiên năm… 32 tuổi, choáng ngợp bởi cảnh trí, con người, bề dày lịch sử nơi đây, và tự vấn rằng sao mình đã không đến đây sớm hơn. Tuyển tập thơ này có lẽ đã được gọt đẽo qua bàn tay của Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ vừa vặn cho những ai như tôi, luôn loay hoay tìm cách đắm mình vào những cảnh đẹp bị bó buộc trong màn hình điện thoại chật hẹp.

Từng thước phim, ảnh chụp đẹp luôn cũng là một cách trực quan để thưởng thức một địa danh, nhưng thơ ca lại có một khả năng độc đáo giúp ta kết nối với những nơi chốn ấy qua chính tình cảm và nhân sinh quan của tác giả. ‘Giời mưa ở Huế’ (Nguyễn Bính) khiến tôi trở lại phút giây đi bộ một mình qua cầu Trường Tiền, hay chênh vênh qua Đập Đá. ‘Có một phố vừa đi qua phố’ (Đinh Vũ Hoàng Nguyên) là áng thơ tự do đem lại một Hà Nội thổn thức nhịp điệu phố thị-làng quê. Trong xã hội ngày càng gấp gáp, phân mảnh sự chú ý của chúng ta, có lẽ một tuyển tập thơ sẽ là trạm nghỉ rất thiết thực. Nếu không có thời gian cho cả tiểu thuyết, dành dăm phút mỗi ngày để đọc một bài thơ, ta đã được du ngoạn khắp Việt Nam trong tâm trí chỉ trong 36 ngày.

Sống | Hải Anh, Pauline Guitton

Gợi ý bởi: Dương Trương | Thiết kế đồ họa

Thể loại: Tiểu thuyết đồ họa

Mô tả nhanh: Sống là cuộc trò chuyện xuyên thời gian giữa một người mẹ và cô con gái. Qua những lời kể, ký ức về quãng thời gian bà sống tại chiến khu từ năm 1969 đến 1975 dần hiện lên. Hai tuyến thời gian đan cài vào nhau: một bên là người mẹ ngày trẻ cố gắng thích nghi với cuộc sống kháng chiến khắc nghiệt, một bên là cô con gái hiện đại đang nỗ lực kết nối để hiểu về mẹ và nguồn cội của mình.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Tôi tình cờ thấy cuốn này khi đi dạo ở Reading Cabin. Thứ đầu tiên khiến tôi chú ý chính là phần bìa và nét vẽ. Lúc đầu, tôi khá ngạc nhiên vì phong cách minh họa trông rất “Tây” nhưng bối cảnh và nhân vật lại thuần Việt.

Cách kể chuyện của sách khá liền mạch, có thể đọc một lèo theo mạch cảm xúc của nhân vật chứ không bị cảm giác ngắt quãng giữa các chương. Dưới góc độ của một họa sĩ, tôi thích cách kể chuyện bằng hình ảnh này vì nó giúp tôi hình dung về lịch sử một cách trực quan và sống động hơn.

Cuốn sách khiến tôi thêm trân trọng những người đã đi qua gian truân của thời kỳ kháng chiến. Họ phải đối mặt với những khó khăn ngày nay ít ai nhắc đến, như chuyện vệ sinh kinh nguyệt của phụ nữ trong rừng hay việc học cách nấu ăn dù thiếu thốn đủ thứ dụng cụ. Đặc biệt, tôi thấy rất gần gũi mấy lúc cô con gái hỏi ngược lại mẹ: “Tại sao lúc đó mẹ không làm thế này hay thế kia?” Đó cũng là cách những người trẻ như tôi vẫn thường trò chuyện với ba mẹ mình bây giờ.

Thơ | Trần Dần

Gợi ý bởi: Phương Quỳnh | Thực tập sinh biên tập

Thể loại: Thơ, đoản văn

Mô tả nhanh: Như tựa đề, Thơ của Trần Dần là tổng hợp những bản di cảo của ông trong một đời sáng tạo. Thơ hay đoản văn của Trần Dần đều trao đổi được cho nhau, nghĩa là trong văn có thơ và thơ dàn được thành văn. Độc giả cũng có thể bắt gặp những câu ngắn riêng lẻ trong tuyển tập, không biết nên xếp vào thơ hay văn, nhưng thực ra với tác giả cũng không quan trọng lắm. Toàn bộ di cảo chỉ là một cuộc dạo chơi với chữ và nghĩa. Tác giả là người chơi với thời cuộc, với đời.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Học thơ trong chương trình giáo dục công, chúng ta đều biết tới luật bằng trắc và các thể thơ Đường nghiêm khắc. Đến thời thơ mới, thơ đã rũ bỏ luật lệ mà thỏa thích cho mình muốn viết thế nào cũng được miễn nói lên được tư tưởng tình cảm độc đáo. Sau đấy nữa, văn thi nhân chuyển hướng sang thơ cách mạng, chuyển cái niềm “tôi” mới chớm nở ấy thành cái “ta.” Giữa thời cuộc đạn lửa, Trần Dần một mình một hướng xoáy sâu vào cái “tôi.” Ông viết về những mảnh gương trong nội tâm con người, riêng lẻ như thể trong ông có cả triệu cái tôi mà không mảy may dính líu tới chút cái ta nào. Phạm Thị Hoài cho rằng ông như “vật lộn với thời đại.”

Sở dĩ tôi chọn tác phẩm này là để không chỉ giới thiệu một tập thơ mới, mà là giới thiệu một cách tiếp cận thơ mới. Thơ có thể tự do đến mức nào, liệu ta có thể chế cháo một từ chưa ai dùng không, ta có thể nhặt chữ từ văn bản để xếp thành thơ không? Ở đây, tác giả làm tất cả. Ông dùng những chữ không có trong bảng chữ cái tiếng Việt như “J,” những vần như “oạcx,” những từ không biết nghĩa là gì như “kilomơr,” “nghĩa qoèn.” Tóm lại, đây là một ngõ cụt cho những người luôn cố giải thích ý đồ tác giả, và là một miền vô tận cho những ai chọn lắng nghe cảm nhận của mình.

Cuộc chiến với hành tinh Fantom | Nguyễn Bình

Gợi ý bởi: Jimmy | Nhà sản xuất

Thể loại: Khoa học viễn tưởng

Mô tả nhanh: Đây là một cuốn tiểu thuyết viễn tưởng đặc biệt của Việt Nam, được viết bởi tác giả Nguyễn Bình khi bạn ấy mới chỉ 10 tuổi. Câu chuyện kể về một nhóm bạn nhỏ tình cờ phát hiện ra những người ngoài hành tinh có liên quan mật thiết đến các sự kiện lớn trong lịch sử thế giới. Bằng trí tưởng tượng phong phú, tác giả nhí đã lý giải những cột mốc lịch sử theo một cách mới lạ và đầy kịch tính.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Tôi đọc cuốn này từ hồi còn nhỏ. Lúc đó, tôi luôn nghĩ tiểu thuyết phải là thứ gì đó do những người rất giàu kinh nghiệm viết ra, nên khi biết tác giả chỉ lớn hơn mình đúng 1 tuổi, tôi đã thấy rất nể và tò mò. Cuốn sách đã thỏa mãn trí tưởng tượng của tôi lúc nhỏ về cách thế giới này vận hành thông qua những yếu tố viễn tưởng.

Văn phong của sách rất gần gũi, đúng kiểu một đứa trẻ viết nên dễ cảm, nhưng dù người lớn đọc thì vẫn sẽ thấy có những góc nhìn thú vị.

Trong công việc làm phim hay xây dựng kịch bản, tôi thấy cuốn sách này gợi mở một cách tư duy hay, là dùng sự viễn tưởng để lấp đầy những khoảng trống mà thực tế chưa giải thích được. Nó cho tôi thấy rằng có rất nhiều cách để giải quyết một vấn đề, và đôi khi câu trả lời lại đến từ những nơi mình không ngờ tới. Đôi khi mình phải bứt phá ra khỏi những khuôn mẫu cũ để tìm thấy những ý tưởng mới.

Tiếng Việt giàu đẹp | Nhiều tác giả

Gợi ý bởi: Uyên Đỗ | Biên tập viên

Thể loại: Biên khảo

Mô tả nhanh: Tiếng Việt giàu đẹp là tuyển tập những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học, dẫn dắt bạn đọc khám phá những địa hạt quen thuộc nhưng không phải lúc nào cũng được thấu hiểu ngọn nguồn của tiếng Việt.

Qua góc nhìn của các bậc trí giả cùng những cây bút nặng lòng với chữ nghĩa, bộ sách mở ra một thế giới ngôn từ đầy biến hóa và giàu bản sắc. Đó là hành trình đi tìm lời giải cho những thắc mắc về nếp nói, nếp nghĩ của người Việt trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Là người làm công việc viết lách, tôi xem Tiếng Việt giàu đẹp là nguồn tư liệu quý để soi chiếu lại cách bản thân dùng tiếng mẹ đẻ. Điều tôi trân trọng nhất là dù mang tính hàn lâm, bộ sách này vẫn tương đối dễ tiếp cận nhờ lối diễn giải dí dóm, không hề đóng khuôn ngôn ngữ vào những quy tắc khô khan.

Tôi thích cách Giáo sư Nguyễn Đức Dân “minh oan” cho những từ vốn bị coi là thừa thãi trong Nỗi oan thì, là, mà, hay cách cố Giáo sư Hoàng Tuệ đưa ngôn ngữ học ra khỏi giảng đường trong Cuộc sống ở trong ngôn ngữ, từ việc phân tích cái hay của lời nói thường ngày đến những đóng góp di sản của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du.

Thay vì sa vào lối diễn đạt khiên cưỡng hay những từ ngữ hoa mỹ quá đà, tôi tìm thấy ở đây sự tinh tế và nhạy cảm cần thiết để làm nghề. Nếu không có nhiều thời gian để nghiền ngẫm trọn vẹn tất cả ấn phẩm, việc đọc các chương ngắn cũng đủ để bạn nhặt nhạnh được nhiều kiến thức thú vị và làm giàu cho vốn từ của mình.

]]>
info@saigoneer.com (Saigoneer. Ảnh bìa: Ngàn Mai.) Văn Chương Tue, 21 Apr 2026 20:38:33 +0700
Nghệ sĩ ký họa ghi lại một thập kỷ chuyển mình của Sài Gòn https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18095-nghệ-sĩ-ký-họa-ghi-lại-một-thập-kỷ-chuyển-mình-của-sài-gòn https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18095-nghệ-sĩ-ký-họa-ghi-lại-một-thập-kỷ-chuyển-mình-của-sài-gòn

Ngay giữa lòng Sài Gòn, có một góc nhỏ đã ẩn mình suốt hơn nửa thập kỷ.

Một bên là giàn hoa sử quân tử phủ kín khoảng sân, khéo léo ngăn cách và khiến người ta tạm quên đi những tiếng ồn ào từ các công trình xây dựng đang bủa vây thành phố.

Phía còn lại là một lối đi mở, chỉ cách vài bậc cầu thang từ bãi xe không biển hiệu. Bác bảo vệ lớn tuổi trông có vẻ vẫn còn ngái ngủ khi tôi ghé thăm vào cuối buổi sáng.

 Cánh cửa dẫn vào xưởng vẽ phủ kín những chữ ký lưu niệm.

“Có Richie đây không ạ?” tôi nói.

“À, Richie hả, ok, ok,” bác gật đầu rồi ra hiệu cho tôi dựng xe ngoài vỉa hè.

Ngay góc đường Pasteur và Lý Tự Trọng, bạn sẽ tìm thấy The Studio Saigon, không gian kết hợp giữa xưởng nghệ thuật và hidden bar. Đây cũng là nơi Richie Fawcett thường ngồi trên chiếc thùng đựng thiết bị DJ cũ kỹ, khom mình bên bàn vẽ với đôi găng tay đen hở ngón. Anh cầm dao trổ, tỉ mẩn chăm chút cho những bản vẽ đường chân trời Sài Gòn vốn thay đổi từng ngày. Thấy tôi xuất hiện trước cửa, anh đứng bật dậy chào đón tôi bằng nụ cười và cái bắt tay nồng hậu.

Richie Fawcett đã dành trọn một thập kỷ để vẽ về Sài Gòn.

Tôi hẹn gặp Richie để trò chuyện về tựa sách mới nhất của anh, HCMC Decacity Project, dự án nghệ thuật kéo dài một thập kỷ ghi lại diện mạo Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2023.

Lưu giữ lịch sử qua những nét vẽ phố phường

Muốn hiểu thấu cuốn sách, hãy nhìn vào hành trình của Richie qua bốn “chương” sự nghiệp. Đầu tiên là sinh viên ngành Khảo cổ học Ai Cập tại UCL, chuyên chụp ảnh xác tàu cổ dưới nước. Kế đến là nhiếp ảnh gia tại các câu lạc bộ nhạc điện tử ở London và quay phim thể thao mạo hiểm trên du thuyền. Sau đó, anh làm nhân viên pha chế phục vụ cho những người nổi tiếng tại London và Edinburgh. Năm 2011, sau một thời gian ở Hồng Kông, Richie chuyển tới Sài Gòn. Ban đầu, anh chỉ định đến để phát triển mảng nhà hàng và quán bar, nhưng duyên số đã giữ anh lại với hội họa.

Kỷ vật của “chương thứ ba” được bày trí giữa những món đồ Việt Nam.

Trong xưởng vẽ, nghệ sĩ 50 tuổi đến từ Norfolk ngồi bên phải tôi trên chiếc sofa da màu nâu, tay mở cuốn sách mới nhất đặt trên đùi. Dòng thời gian trong sách chảy xuôi, còn câu chuyện giữa chúng tôi lại tuôn ra đầy ngẫu hứng, chẳng theo trật tự nào.

Tác phẩm mở đầu và khép lại ngay tại điểm xuất phát, nơi anh bén duyên với hội họa hơn mười năm trước là khung cửa sổ tầng cao nhất của Bảo tàng Mỹ thuật nhìn xuống vòng xoay Quách Thị Trang và chợ Bến Thành. Vào những năm 2012, 2013, Richie bắt đầu với bộ ba ký họa Nhà thờ Đức Bà bằng bút chì trên giấy A5, giống hệt cách ông nội anh, cũng là một nghệ sĩ tự học, từng vẽ bằng than củi từ những năm 1930.

Richie kể về hành trình đến với nghệ thuật của mình.

Linh cảm về những cuộc đại trùng tu sắp tới đã thôi thúc Richie cầm bút. Anh dành trọn 10 năm dấn thân vào cuộc chuyển mình của Sài Gòn, miệt mài thu lượm từng mảnh ký ức để rồi gói gọn vào 150 trang sách. Ở đó hiện lên đủ mọi lát cắt, từ quan cảnh phố phường, đường chân trời, cho đến những gương mặt thân thuộc.

Bút và giấy, bạn thân của nghệ sĩ.

Dụng cụ của Richie cũng có những câu chuyện riêng. Anh dùng giấy Pháp thủ công hiệu Daler and Rowney với vân Aquafine mua tại một tiệm họa cụ địa phương. Mực Tàu được anh pha loãng từ đen tuyền sang xám nhạt, giống loại mực các thầy đồ thường dùng mỗi dịp Tết. Đây cũng là khoảng thời gian Richie cảm thấy tâm hồn nhẹ nhõm nhất. Bầu trời thành phố trong trẻo mang lại cảm giác kỳ diệu mỗi khi anh đặt bút. Anh ưu tiên dùng bút Nhật Mitsubishi với ngòi từ 0.1 đến 0.5. Richie còn có một quy ước riêng: cây bút nào quấn băng keo xanh nghĩa là còn mới, còn quấn băng vàng tức là đã dùng lâu.

Con dấu ở góc phải mỗi bức ký họa là món quà vợ anh, chị Duyên, tặng từ 3 năm trước. Cậu con trai Harry của anh cực kỳ thích món đồ này. Richie cười nói: “Thằng bé cứ thích đóng dấu ngày tháng lên khắp mọi nơi.” Logo của xưởng vẽ, thứ hiện diện khắp không gian studio, chính là biểu tượng mô phỏng hình dáng thành Bát Quái, tòa thành đầu tiên của Sài Gòn từ thế kỷ 18.

Đưa đường chân trời Sài Gòn lên mặt giấy

Hiếm ai ở Sài Gòn lại chọn cách “bộ hành” mọi nơi như Richie. Thế nhưng, chính những chuyến tản bộ dằng dặc giữa hai ca trực bar năm xưa đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho anh. Mải miết rảo bước trên cùng một con đường ngày này qua tháng nọ, Richie đủ tinh tế để thu vào tầm mắt không chỉ những tòa nhà đang vươn cao, mà cả những bóng hình già cỗi vẫn lặng lẽ bám trụ nơi vỉa hè.

Những khung cảnh thoáng qua.

“Vẽ là cách ghi chép chính xác nhất,” Richie nói. “Viết nhật ký dễ khiến ngôn từ trở nên mơ hồ, còn bức vẽ lại như một lát cắt tức thời. Tôi chọn cách khắc họa mọi thứ thật chuẩn xác để kể lại câu chuyện về những gì đang diễn ra theo đúng trình tự thời gian.”

Qua dần năm tháng, từ những bản phác bằng bút chì, anh chuyển sang kết hợp chì và mực, rồi cuối cùng là dùng bút mực hoàn toàn. Richie dần ưu tiên những ngòi bút siêu mảnh trên các tấm toan khổng lồ, mỗi tác phẩm tiêu tốn hơn trăm giờ lao động. Có thể kể đến bức vẽ tại nhà hàng Brasserie VietNam ở New York hay bức bích họa phía ngoài Lãnh sự quán Anh trên đường Lê Duẩn. Richie kể rằng bức bích họa đó từng có bảo vệ canh gác nghiêm ngặt suốt gần 1 năm trời. 

Hiện tại, tác phẩm đồ sộ nhất của anh là bức vẽ ngược sáng bằng đèn LED rộng 5 mét đặt tại Anan Saigon trên đường Tôn Thất Đạm. Chủ nhà hàng, Peter Cường Franklin, vốn là một người bạn thân thiết luôn ủng hộ Richie từ những ngày đầu gặp gỡ.

Nếu các tác phẩm trong sách vừa vặn để trưng bày trên bàn trà, thì ngoài đời, không ít bức ký họa của Richie đủ sức phủ kín cả những mảng tường lớn.

Peter Ryder, CEO của Indochina Capital, đã chọn Richie trở thành nghệ sĩ đồng hành cùng Wink Hotels. Ông đưa các tác phẩm của anh lên rèm cửa của mọi phòng nghỉ trong hệ thống khách sạn và chia sẻ: “Đây là một sự kết hợp hoàn hảo. Wink muốn phản chiếu một Việt Nam hiện đại, còn Richie lại gửi gắm cách anh cảm thụ về đất nước này lên từng mặt giấy.”

Trân trọng từng điều nhỏ bé

Xuyên suốt 10 năm Richie sống và làm việc, tôi mải miết đi tìm một bước ngoặt trong hành trình ấy. Trong quá trình ghi lại một thập kỷ mà anh miêu tả là “tàn phai và hỗn độn rực rỡ,” đâu là thời điểm quỹ đạo sự nghiệp của nghệ sĩ này bắt đầu xoay chuyển?

Đó là sau 2 năm cầm bút, khi anh đủ tự tin để rũ bỏ bút chì và chuyển hẳn sang dùng bút mực? Hay giai đoạn 2015, 2016 khi khối lượng tác phẩm tăng vọt? Có lẽ là vào năm 2018, khi anh rời bỏ công việc văn phòng để kết hôn và trở thành nghệ sĩ toàn thời gian, từ đó thu hút hàng loạt đơn đặt hàng riêng? Hay chính những đợt giãn cách vì đại dịch là lúc anh bắt đầu thử nghiệm những chủ đề mới như các thành phố châu Âu, hoặc vẽ chân dung con trai, những tác phẩm anh chỉ giữ cho riêng mình?

Một nụ cười luôn hé.

Sau khi gặp gỡ Richie và trò chuyện với những người bạn của anh, tôi nhận ra bấy lâu nay mình đã lầm. HCMC Decacity Project không đơn thuần là một dự án nghệ thuật kéo dài 10 năm như tiêu đề của nó. Đây là một tuyển tập, một tập hợp những câu chuyện tình mà Richie đã kiên nhẫn viết nên.

Anh phải lòng những mái nhà Sài Gòn, nơi phơi bày trọn vẹn mọi mảnh đối lập của đô thị. Anh say mê vòng xoay Quách Thị Trang đến mức từng ngồi bệt xuống vỉa hè dưới ánh đèn đường để kịp ghi lại khoảnh khắc người ta di dời bức tượng giữa đêm khuya. Anh yêu cả những sớm mùng một Tết được vợ chở đến Chợ Bình Tây trên chiếc xe máy, nơi anh tâm niệm rằng nếu không tìm thấy thứ mình cần ở đó thì món đồ ấy hẳn không tồn tại trên đời.

Một nét vẽ vội ngày Tết.

Và sau cùng là niềm hạnh phúc khi được làm cha. Tại xưởng vẽ, anh dựng một bàn làm việc riêng cho con, giống hệt cách người cha vốn là một thợ sửa súng của anh từng làm ngày trước. Nhờ vậy, Harry có thể ngồi ngay cạnh và chứng kiến cha mình say mê sáng tạo mỗi ngày.

“Đó chính là tuổi thơ mà tôi hằng mong muốn dành cho con mình,” Richie chia sẻ.

Hướng về tương lai

Anh chạy đua với thời gian để sáng tạo.

Sắp tới Richie sẽ làm gì? Liệu có một “chương thứ năm” với những dự định như lấn sân sang thời trang, ra mắt bộ sưu tập NFT, hay tiếp tục cuộc đua với thời gian để lưu giữ vẻ đẹp mong manh của Sài Gòn? Dù là gì, kim đồng hồ vẫn chưa bao giờ ngừng thúc giục anh sống hết mình. “Không có thời điểm nào tốt hơn hiện tại cả,” anh nhắn cho tôi.

Ngồi lại trên chiếc thùng thiết bị DJ có in logo thành Bát Quái và dòng chữ “Keep Calm and Make a Sketch” (Bình tĩnh và vẽ thôi) Richie xích lại gần bàn vẽ nơi đặt bức phác thảo của con trai. Anh mỉm cười chia sẻ về triết lý sống và những dự định sắp tới. Mọi thứ rất đơn giản: “Kế hoạch tốt nhất chính là chẳng có kế hoạch nào cả.”

Bài viết đăng tải lần đầu năm 2023.

]]>
info@saigoneer.com (Garrett MacLean. Ảnh: Alberto Prieto.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Fri, 10 Apr 2026 12:57:38 +0700
Cẩm nang 'quẹo lựa' đồ si đẹp cho mọi túi tiền https://saigoneer.com/vn/fashion/18088-cẩm-nang-quẹo-lựa-đồ-si-đẹp-cho-mọi-túi-tiền https://saigoneer.com/vn/fashion/18088-cẩm-nang-quẹo-lựa-đồ-si-đẹp-cho-mọi-túi-tiền

Săn đồ cũ, đồ si từ lâu đã trở thành một mốt khó lỗi thời, nhưng cuộc săn lùng này cũng không kém phần khó khăn. Có những buổi ra về tay trắng, hay tiếc nuối với những món đồ đẹp độc xịn mà không về tay mình. Vậy nên, sau đây là những ghi chú nho nhỏ của một “đồng si” sau nhiều năm lăn xả để giúp bạn “nhắm mục tiêu” nhanh hơn.

Không phải đồ cũ nào cũng như nhau

Đã bao giờ bạn đi mua đồ cũ mà không thể hiểu nổi mức giá của nó? Hay bạn không biết nên đến nơi nào để tìm được quần áo theo phong cách của mình với mức giá vừa túi tiền?

Thị trường đồ cũ ngày nay rất đa dạng, nhiều mẫu mã, mức giá, phục vụ từ người trẻ đến già, đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau. Có những cái áo ở chợ chỉ vài chục nghìn lại còn lành lặn hơn cái áo vài triệu ở tiệm. Thế nhưng, vẫn không ít người chọn chi mạnh tay cho những món đồ có vẻ khó mặc.

Xin mách bạn vài điểm khác biệt mấu chốt để tối ưu ngân sách của mình cho những món đồ đẹp nhất, phù hợp nhất.

Vintage/archive: những kiện hàng nước một

Đồ vintage là đồ đã trải qua ít nhất 20 năm, có giá trị sưu tầm bởi nó gắn với thời đại, văn hóa đương thời. Những món này gọi là đồ nước nhất, sẽ được chuyển thẳng đến các cửa hàng vintage bởi đã có liên kết từ trước. Mỗi cửa hàng sẽ có phong cách riêng của mình, có thể là hip-hop, rock, hippie, hay thời trang thập niên 2000.

Do được tuyển chọn kỹ lưỡng và có thẩm mỹ thống nhất, quần áo từ các cửa hàng này thường có giá dao động từ trên 500.000VND đến vài triệu, thậm chí có những mẫu hiếm lên đến vài chục triệu. Giá thành cao nhưng những món hàng này không chỉ được xem là quần áo, mà còn là một mẫu lưu trữ — archive piece, do có thương hiệu và dấu vết lịch sử. Với vài trăm nghìn, bạn có thể sở hữu một chiếc quần của người lao động Nhật Bản những năm 2000, với chất liệu bền và đường may chắc chắn. Bỏ ra vài triệu trở lên, bạn có thể sở hữu một chiếc áo Carhartt bị rách đâu đó — dấu vết thời gian cho thấy nó đã trải qua bao cuộc vận động từ những năm 1980.

Với tôi, mua đồ vintage cứ như sưu tầm đồ cổ, khi thứ bạn cầm trong tay là minh chứng cho một thời đại đã qua, thứ bạn mặc trên mình là một tuyên ngôn cổ điển. Nếu chỉ có nhu cầu mua đồ chất lượng để mặc và thời trang không phải một thú chơi, đồ vintage sẽ không giúp bạn tối ưu túi tiền.

Một số địa chỉ mà bạn có thể tìm những mẫu đồ vintage là Antsea Clothing, House of Nhã (Sài Gòn), Heartless Vintage Clothing (Đà Nẵng), Giày: Deerus (Sài Gòn)

Đồ “si tuyển”: những kiện hàng nước hai

Những món đồ dễ dùng, không hư hỏng nhưng không nhất thiết đến từ thương hiệu xịn, hiếm, và có thể dễ dàng tìm ngoài thị trường được gọi là đồ nước hai, được bán ở các cửa hàng si tuyển — thrift shop. Đồ thrift toàn tâm toàn ý phục vụ cho nhu cầu mua đồ tiết kiệm, dành cho những khách hàng quan tâm đến giá trị thực dụng của sản phẩm

Chúng cũng được phân loại theo phong cách riêng giúp người mua tìm đến chính xác thứ họ cần, có thể là jeans, áo phao, sơ mi, cả trang sức và giày dép. Bạn có thể lựa được một chiếc áo nguyên vẹn, có màu yêu thích, chất liệu tốt, với giá rẻ hơn rất nhiều lần so với một chiếc áo mới.

Tuy nhiên, thrift shop không đảm bảo tính lâu đời của sản phẩm. Nếu bạn chỉ muốn mua một món hời thì đây vẫn là một lựa chọn thông minh. Nhưng nếu may mắn và có đôi mắt tinh tường, bạn vẫn có thể nhặt được một chiếc vintage ẩn nấp.

Cái hay của thrift shop chính là những thương hiệu ngách từ các nước khác nhau. Vì không thường đến từ thương hiệu lớn, chúng ta vẫn sẽ lạ lẫm với kiểu dáng hay giá trị văn hóa chúng mang lại. Đến khi nhìn thấy, tìm hiểu và cảm thấy kết nối, ta lại vô tình có thêm một món đồ để gắn bó dù chúng đến từ hàng dặm xa.

Bạn có thể tìm đồ cũ chất lượng ở: Goût tui (Sài Gòn), Áo em si (Sài Gòn), Cúc Cúc Planet (Đà Nẵng), Lazy Angel Thrift (Đà Lạt), Angelxx Thrift, Moon Thrift Shop (Hà Nội)

Đồ bành (đồ bãi, chợ): những kiện hàng nước cuối

Đồ bành, còn gọi là đồ bãi, đồ sida, là những kiện hàng dạt, có khả năng đã hỏng hóc, hết thời. Chúng được chất thành từng đống trong các chợ đồ si chờ người mua tự khám phá, và thường rẻ đến khó tin.

Lăn xả trong những núi đồ này, bạn có thể tìm được áo, quần, đầm, khăn có giá từ 10.000VND, áo lạnh dày và túi thường khoảng 100.000VND. Với chút may mắn, bạn còn có thể tìm được một món hàng ở tình trạng hoàn hảo không sứt mẻ. Có những mẫu dù không có thương hiệu nhưng lại mang phong cách đặc trưng mà bạn có thể đã phải trả gấp 10 nếu mua trong cửa hàng si tuyển.

Với tôi, săn đồ bành là một trò chơi thử vận may, thử sức sáng tạo thực thụ. Giữa một núi đồ không ăn nhập với nhau, chưa được sửa sang hay phân loại, thì việc chọn được một món đồ hợp bản thân chính là một phần thưởng không gì sánh được.

Bạn có thể đào tìm kho báu ở: chợ Hoàng Hoa Thám, chợ Bà Chiểu (Sài Gòn), chợ Đông Tác (Hà Nội), chợ Cồn (Đà Nẵng), Chợ Đồ Cũ (Đà Lạt)

Tóm lại là: Về cơ bản, sự khác biệt giữa đồ nước nhất và hai là độ lâu đời, giữa đồ nước hai và ba là độ lành lặn và sự phân loại sẵn.

Mua sao cho đúng điệu?

Đi cửa hàng archive/si tuyển

Các cửa hàng đồ cũ được phân loại theo nhiều phong cách, bạn nên xem trước hình ảnh cửa hàng trên mạng để đến nơi có thứ bạn cần. Ngoài ra, hãy canh và tham gia những sự kiện pop-up nếu không muốn phải di chuyển giữa nhiều cửa hàng. Đây là các buổi “chợ phiên” kéo dài khoảng 1 tuần của các cửa hàng si tuyển/vintage trong thành phố, cho bạn rất nhiều lựa chọn và rất tiết kiệm thời gian.

Đi chợ đồ bành

Để có nhiều lựa chọn hơn, hãy đến chợ lúc mới khui hàng. Các chợ đồ si ở Việt Nam thường khui kiện hàng mới lúc hai đến ba giờ chiều, đây là thời điểm vàng để chọn được những món đặc biệt. Đến sớm, bạn cũng có thời gian xem kỹ chất vải, kiểu dáng, thương hiệu để không bỏ sót một viên ngọc ẩn. Nếu không thích đông đúc, bạn nên tránh ghé chợ vào cuối tuần.

Để tránh mua dư thừa, hãy định hình trước phong cách trong đầu. Mua đồ cũ phần lớn vẫn rẻ hơn mua mới, khiến ta có tâm lý mua nhiều hơn cần thiết. Do đó, bạn nên xác định trước phong cách, dáng người của bản thân để chọn những thứ phù hợp nhất. Để chắc chắn đúng kích cỡ, bạn có thể thủ sẵn một cây thước dây.

Một số mẹo để nhìn nhanh chất lượng sản phẩm

Dễ nhận biết nhất là hàng vintage thường không dùng vải acrylic. Bạn có thể bỏ qua loại vải này nếu muốn tìm những mẩu có giá trị lịch sử. Ngoài ra, đồ vintage thường có nhãn dày, may tỉ mỉ, font chữ sáng tạo, màu sắc, có thẩm mỹ riêng, trong khi đồ mới thường được in nhiệt hẳn lên ót áo. Nếu thấy một cái nhãn như thế, bạn nên kiểm tra nhanh bằng Google Lens để không bỏ lỡ một viên ngọc ẩn. 

Đa số mọi người xem việc săn đồ si cũng như mua đồ, nhưng để tận dụng chúng tốt hơn, bạn nên xem nó như mua chất liệu. Thay vì tưởng tượng bản thân mặc chúng đơn lẻ, bạn có thể nhìn kỹ chi tiết tay áo, cổ áo, độ phồng hay rũ của váy, dáng quần, để tìm cách phối chúng. Có những món đồ trông không hề đặc biệt, nhưng lại hợp rơ với một món nào đó trong tủ đồ bạn thì sao.

Đương nhiên, bạn nên xem xét chất lượng thực tế, rằng nó có rách, bạc màu, bung chỉ, dính bẩn khó giặt không, cả về độ mỏng và độ hầm bí. Nếu sửa được bằng cách may vá, nhuộm lại, giặt kỹ, bạn có thể cân nhắc về tiềm năng của chúng, xem có đáng mua không.

Giữ tinh thần bảo vệ môi trường

Tuyên ngôn đầu tiên của việc mua đồ cũ chính là hạn chế mua mới, giảm lượng sản xuất và bảo vệ môi trường. Do đó các đồng si nên cố gắng chỉ mua những thứ chắc chắn sẽ mặc, phù hợp phong cách của mình, tránh chạy theo xu hướng.

Nếu chưa biết phối thế nào, hay nghĩ rằng tương lai xa nào đó sẽ mặc, hãy cứ tự tin để lại chúng. Đến đúng thời điểm bạn tìm nó, nó sẽ có cách xuất hiện cho mà xem. Hãy tuân theo “quy luật 6 tháng” — chỉ mua những thứ bạn nghĩ 6 tháng sau bạn vẫn sẽ yêu thích để mặc.

Giữ an toàn vệ sinh cho mình nữa nhé!

Các núi đồ si đã trải qua nhiều chuyến vận chuyển từ nước ngoài, quần áo không tránh khỏi việc bị đóng bụi, dính chất dơ, có thể gây dị ứng da hay đường hô hấp. Khi bơi trong núi đồ si ở các chợ, bạn nên mặc áo dài tay, quần dài và mang vớ. Nếu bị viêm mũi dị ứng, hãy nhớ mang thêm khẩu trang. Và đương nhiên, việc đầu tiên khi mang thành quả về chính là giặt giũ rất-thật sự-cực kỳ sạch trước khi mặc bạn nhé!

Chúc các thợ săn đồ cũ luôn có chiến lợi phẩm về tay!

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. Đồ họa: Phương Quỳnh. Ảnh: Saigoneer.) Thời Trang Thu, 02 Apr 2026 11:49:38 +0700
Nước như một ẩn dụ của tổn thương, ký ức và lịch sử bị lãng quên qua nghệ thuật của Quế https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18086-nước-như-một-ẩn-dụ-của-tổn-thương,-ký-ức-và-lịch-sử-bị-lãng-quên-qua-nghệ-thuật-của-quế https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18086-nước-như-một-ẩn-dụ-của-tổn-thương,-ký-ức-và-lịch-sử-bị-lãng-quên-qua-nghệ-thuật-của-quế

Quế lần theo dòng chảy của nước qua ký ức cá nhân và lịch sử chung, theo cả những tổn thương liên thế hệ giữa quá trình đô thị hóa và thảm họa thiên nhiên.

Nước hiện hữu ở khắp mọi nơi: trong cơ thể chúng ta, trong dòng sông và đại dương bao quanh đất liền; và từ lâu luôn được xem như nguồn gốc thiết yếu của sự sống. Nhưng một khi nước không còn lặng trong, ngấm vào trong mọi ngóc ngách của tồn tại, thì sự sống sẽ còn lại những gì?

Xuất thân từ Đà Nẵng, nghệ sĩ và người sản xuất nghệ thuật Quế (Nguyễn Đức Hùng) từng sinh sống gần bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè ở quận Bình Thạnh sau khi chuyển đến Sài Gòn làm việc. Quan sát và tiếp nhận môi trường xung quanh, anh bắt đầu tự hỏi bằng cách nào mà người dân địa phương có thể sống được bên cạnh con kênh vốn dĩ đã bị ô nhiễm trầm trọng. Mối quan tâm đối với “nước và những gì tồn tại trong nước” dẫn đến thực hành nghệ thuật xoay quanh lịch sử và ký ức cá nhân và tập thể, điều kiện môi trường lao động và quá trình đô thị hóa. Kết hợp nhiếp ảnh, hoạt hình chuyển động, hoạt hình và sắp đặt, các tác phẩm của anh đã được phát triển và trình bày tại Á Space (Hà Nội), Leipzig International Art Program (Leipzig, Đức), A.Farm International Art Residency (Sài Gòn), Artist-in-Residence Vietnam Network (Hà Nội), và nhiều triển lãm và chương trình chiếu phim khác.

Chân dung Quế (Nguyễn Đức Hùng).

Một bể cá mang tên ‘Nước ngấm vào người’ (2024) được đặt trong không gian tối, chứa nước lưng lưng một nửa và phát sáng. Được phát triển từ thời gian lưu trú tại A.Farm International Art Residency (Sài Gòn), tác phẩm sắp đặt, theo lời nghệ sĩ, là “một pixel của bùn, nước và tất cả những gì thuộc về dòng sông,” với bùn được thu thập từ kênh Nhiêu Lộc–Thị Nghè. Bên trong bể, những hạt cát và bùn từ từ trôi và tách ra mọi phía dưới ánh sáng xanh liên tưởng đến cực quang, nơi mọi thứ dường như trở nên trong suốt và rời rạc bất chấp tình trạng ô nhiễm của nước. Tác phẩm phơi bày một nghịch lý: đẹp, nhưng lại độc. Một bể cá riêng biệt nhưng không có cá, nơi sự sống không thể được duy trì.

‘‘Nước ngấm vào người,’ 2024. Bể kính, bùn, nước sông và những gì thuộc về nó, video một kênh.

Đối lập với tác phẩm trên, ‘Đến vùng nước lọc’ (2025) được phát triển trong đợt mở xưởng của chương trình lưu trú tại Leipzig International Art Program (Leipzig, Đức). Lần này, nước trong bể đủ trong để người xem có thể thấy được tác phẩm video về đàn kiến hoạt hình được chiếu xuyên qua nước lên tường — một điều khả dĩ nhờ vào hệ thống lọc nước đáng tin cậy tại Đức. Qua việc nghiên cứu về lịch sử di cư và lao động của người Việt tại Đức, kèm theo quan sát của nghệ sĩ trong giai đoạn chủ nghĩa bài ngoại và phân biệt chủng tộc đang gia tăng của Đức, tác phẩm cũng gợi lên câu hỏi: một cá nhân hoặc tập thể thật sự phải sẵn sàng đánh đổi điều gì để đến với một vùng đất hứa xa lạ để có được nguồn nước đã được lọc?

‘Đến vùng nước lọc,’ 2025. Video một kênh, bể kính, nước. Thời lượng: 3 phút 30 giây.

Mối quan tâm của Quế đối với nguồn nước không chỉ dừng lại ở điều kiện môi trường, mà còn hướng đến cơ thể như một nơi lưu trữ của sự truyền dẫn. Việc sống ở gần bờ kênh cũng khiến anh tự hỏi làm sao trẻ con ở khu vực này có thể lớn lên trong môi trường bị ô nhiễm ở đây, khi mà ngày nay chúng ta dễ dàng mắc bệnh hơn, kể cả sức khỏe tinh thần. Từ đó anh quay về chính trải nghiệm lớn lên của mình, xem nước trong cơ thể con người như một ẩn dụ cho sự truyền dẫn và thừa kế: mang đến sự sống và những ký ức gia đình. Những “di sản” mà chúng ta để lại cho đời sau, đáng tiếc thay, lại không thể tách rời khỏi những đặc tính và tổn thương tinh thần liên thế hệ.

‘Thị’ (2024) bao gồm chuỗi tác phẩm đối diện với ký ức cá nhân và những tổn thương. Trong tác phẩm video sắp đặt, Quế đặt mình nằm xuống, để từng giọt nước nhỏ giọt lên đầu, đến khi những giọt nước càng lúc càng nặng dần đến khi anh không chịu được nữa. Tác phẩm gợi nhắc hình ảnh người mẹ trong giấc ngủ trưa trong cơn đau đầu và áp lực dồn nén, thể hiện được nỗi đau thể chất lẫn tinh thần mà một người phụ nữ phải trải qua trong nhiều năm. Theo lời chia sẻ của Quế, “dòng nước chính là sự tác động đầy bạo lực của người đàn ông trong gia đình,” và bằng cách đặt bản thân vào vị trí này, anh muốn “để cho ký ức được ngầm cất tiếng.” Với cơ thể con người vốn được cấu thành từ nước, chất liệu trong tác phẩm của Quế hiện lên theo nghĩa trực tiếp và ẩn dụ: một phương tiện chứa đựng những đặc tính được truyền từ người mẹ sang con và qua nhiều thế hệ, như một đường dẫn vô hình nơi mà ký ức và tổn thương tồn tại.

(Phải) ‘Thị,’ 2024. Sắp đặt video hai kênh, sắp đặt âm thanh và mùi hương
(Trái) ‘Thị,’ 2017 - 2022. Hình ảnh kỹ thuật số.

Một điểm đáng chú ý khác trong thực hành của Quế là tác phẩm phim hoạt họa, và anh có mối quan tâm lớn đến phim hoạt hình Việt Nam và áp phích cổ động tuyên truyền. Thay vì đặt con người làm trọng tâm, anh chọn yếu tố phi con người thông qua góc nhìn của muỗi và kiến. Trong quá trình tìm hiểu lịch sử của ngôi nhà số 23 Châu Long (Hà Nội), một nơi đã từng trải qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, Quế đi phỏng vấn người dân sống ở khu này nhưng chưa thể tìm được câu trả lời mà anh mong muốn, và trớ trêu thay lại bị vây quanh bởi đàn muỗi trong căn nhà cũ ngay bờ kênh.

‘Nước lành mang bệnh’ (2024) lần theo một con muỗi và một hồn ma độc thoại bằng tiếng Pháp, với một lời thoại phim nói rằng: “Ta quên thảy tất cả mọi thứ rồi, chiến tranh biến ta thành phụ huynh của những đứa trẻ mà ta không bao giờ nhớ nổi. Có khi chúng nó còn chẳng tồn tại để kịp nhìn thấy mặt trời.” Câu thoại này nói lên một nỗi ám ảnh cực độ và lịch sử dường như không còn tồn tại — một điều gì đó không thể cất thành lời, có lẽ quá sức tưởng tượng để được hiểu một cách trọn vẹn.

 ‘Nước lành mang bệnh,’ 2024. Phim hoạt hình. Thời lượng: 7 phút.

Trong lúc đó, ‘Con kiến và hạt gạo’ (2026) lấy cảm hứng trực tiếp từ phim hoạt hình ngắn cùng tên bởi Nguyễn Thế Hội từ năm 1976. Phim theo chân một chú kiến nhỏ đang làm nhiệm vụ thường trực và đi báo cho cả tổ về một cơn bão sắp đến, đồng thời đảm bảo rằng cả đàn đã di tản trước khi về tổ mang hạt gạo của mình đi. Tuy nhiên, khác với đoạn kết có hậu ở bản phim gốc, cơn bão lại ập đến và cuốn đi hết mọi thứ. Trong lời diễn giải tác phẩm, Quế chia sẻ: “Trong quá trình làm tác phẩm, sự ám ảnh với nước, bão và lũ, đập thủy điện, và xác của những con kiến trôi lềnh bềnh trong bồn rửa chén và bồn chứa nước như một lời nhắc nhở về những tai họa mà người Việt phải chịu đựng vì thiên tai.”

‘Con kiến và hạt gạo,’ 2026. Phim hoạt hình. Thời lượng: 10 phút.

Không gian sắp đặt của ‘Nước, con kiến và hạt gạo’ (2026), hợp tác cùng Huế trong khuôn khổ chương trình Solo Marathon 2025 tại Á Space (Hà Nội).

Muỗi được xem như động vật trung gian truyền bệnh trong môi trường nước đọng, và hình ảnh muỗi “nổ tung” và gục ngã ở đoạn cuối phim như một trạng thái bất lực trước sức nặng của sự tổn thương quá lớn mà nó phải mang theo qua bao thăng trầm lịch sử. Trong khi đó, kiến được biết đến với sự chăm chỉ dù mặc cho điều kiện nguy hiểm, nhưng vẫn có thể bị cuốn đi bởi dòng nước lũ, trong hoàn cảnh mà việc di tản khỏi nước lũ hầu như bất khả thi. Tác phẩm phim gợi nhớ đến đợt lũ lụt miền Trung và miền Bắc cuối năm 2025 và vấn đề được ứng phó, cùng thời điểm Quế đang làm tác phẩm này.

Cả hai phim đều sử dụng yếu tố phi con người làm nhân vật chính, điển hình là muỗi và kiến; nói lên được những hiện tượng tưởng chừng tự nhiên nhưng thật ra bị ảnh hưởng bởi tác động con người. Một bên đào sâu vào lịch sử (bị lãng quên) của một ngôi nhà sống sót qua các cuộc chiến, và bên còn lại phản ánh sự mỏng manh và sự chật vật của tập thể khi đối diện với thảm họa môi trường.

Không gian open studio ‘Nature on the roof’ (2024) in Hà Nội, hợp tác cùng Saya Nguyễn. Được tổ chức bởi Artist-in-Residence Vietnam Network (AiRViNe)​.

Nước mang tính thích nghi, bền bỉ và linh hoạt, nhưng cũng không kém phần tàn bạo và có thể cuốn trôi đi tất cả mọi thứ. Trong thực hành của Quế, những gì tưởng như ký ức cá nhân hoặc tập thể, của những tổn thương liên thế hệ và môi trường đô thị hóa, thực chất được liên kết với những điều kiện cấu trúc lớn hơn, được định hình bởi sự bất bình đẳng và dịch chuyển xã hội: ai có quyền được di cư để có được “nguồn nước được tinh lọc” và ai là những người bị bỏ lại giữa thảm họa thiên tai. Không còn chỉ là “nguồn thiết yếu của sự sống,” nước liên kết sức khỏe toàn diện của con người với sự bất ổn định của môi trường, hé lộ cấu trúc phân bổ quyền lực và bạo lực chậm; từ đó đặt ra câu hỏi rằng, liệu chúng ta có thể tiếp tục duy trì những mảnh đời mỏng manh, khi phải cân bằng cả những chuẩn mực văn hóa giữa sự diễn biến không ngừng của thế giới.

]]>
info@saigoneer.com (An Tran. Ảnh: Quế (Nguyễn Đức Hùng).) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Tue, 31 Mar 2026 16:59:09 +0700
Nhìn lại lịch sử jazz Việt hiện đại: Từ thuở lập thân đến kỳ nổi loạn https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18085-nhìn-lại-lịch-sử-jazz-việt-hiện-đại-từ-thuở-lập-thân-đến-kỳ-nổi-loạn https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18085-nhìn-lại-lịch-sử-jazz-việt-hiện-đại-từ-thuở-lập-thân-đến-kỳ-nổi-loạn

Đôi khi lướt linh tinh trên mạng xã hội, tôi vẫn thấy những phàn nàn của thính giả về việc âm nhạc nước nhà ít đa dạng.

Là người đã bước một chân vào việc sáng tạo âm nhạc, tôi vừa đồng tình với những nhận xét ấy, vừa hiểu rằng để thay đổi nó thật khó khăn. Thứ nhất là vấn đề cơm áo, vì nghệ sĩ cũng phải tìm cách chiều lòng nhiều người nhất có thể để được đón nhận, mà điểm thỏa mãn một cộng đồng lớn thường không nằm ở “ngách.” Thứ hai, cũng vì ít người xem, nên cũng ít người làm, ít tấm gương để noi theo, thành ra ít đa dạng.

Thế nhưng, đâu đó vẫn có những tấm gương đại tài, và những người hưởng ứng nhiệt thành, cùng nhau xây đắp nên một cộng đồng ngày càng vững mạnh. Tôi muốn giới thiệu với bạn đọc một trong những cộng đồng âm nhạc đầy đam mê đã liên tục đổi mới bản thân và điểm những sắc màu rất lạ cho dải âm thanh dân tộc, miệt mài từ những năm 1950.

Đó chính là nhạc jazz Việt Nam.

Jazz là gì?

Hẳn bạn đã từng nghe đến jazz và ấn tượng bởi sự lộn xộn hợp lý của nó. Điểm mấu chốt của jazz là sự ngẫu hứng, cấu trúc hòa âm phức tạp và những hợp âm màu hơn so với các bậc trưởng thứ thông thường. Sự “lệch chuẩn” này mang đến cảm giác vừa đúng vừa không đúng, cứ lâng lâng mơ màng nhưng cũng có lý do để mơ màng. Ta cũng thường nghe những điệu swing (nhấn phách 2 và 4 thay vì 1 và 3 như pop), tiếng kèn, tiếng chũm chọe, chổi chơi trống hay upright bass; chúng đều là những đặc trưng của jazz.

Jazz bắt nguồn từ cộng đồng người da đen ở Mỹ vào cuối thế kỷ 19, và theo ảnh hưởng của văn hóa phương Tây tràn vào miền Nam Việt Nam vào những năm 1950, thế nhưng không được lan truyền rộng rãi bởi tình hình đất nước lúc bấy giờ. Sau thống nhất, mãi đến cuối thập niên 1980, buổi biểu diễn jazz đầu tiên trước công chúng mới diễn ra tại Hà Nội.

Jazz Việt chào đời (với saxophone)

Người đầu tiên đưa jazz ra ánh sáng ở Việt Nam là Nghệ sĩ Ưu tú Quyền Văn Minh, hay được mọi người gọi vui là “cha jàzz” đất Việt. Thuở nước nhà chưa thống nhất, thông tin về âm nhạc ngoại quốc hay nghệ thuật nói chung đều hết sức khan hiếm. “Sách vở” của ông là chiếc radio mà ông chắt hết tiền túi để mua và vài băng cassette phải tìm mỏi mắt mới có.

Màn biểu diễn jazz đầu tiên trên sóng truyền hình Việt Nam do Quyền Văn Minh và band trình bày.

Sau hơn 20 năm tự mình dùi mài kinh sử, ông quyết định phải mang jazz đến cho cộng đồng. Năm 1988, Chương trình “Quyền Văn Minh với ba dòng nhạc: Cổ điển, dân gian và jazz” được biểu diễn tại Phòng hòa nhạc của Hội nhạc sĩ. Đây là cột mốc quan trọng khi lần đầu có một ban nhạc đủ đầy để chơi jazz, đương nhiên là dưới sự dẫn dắt của Quyền Văn Minh.

Buổi biểu diễn gây tiếng vang lớn, đưa jazz đến với đại chúng và đồng thời là báo hiệu cho một làn sóng sắp đổ bộ. Năm 1989, saxophone chính thức trở thành một ngành học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia do chính ông giảng dạy. Hai năm sau, ông bắt tay vào sáng tác những tác phẩm độc quyền đầu tiên.

“Birth 99” do Quyền Văn Minh biên soạn và thể hiện là album jazz đầu tiên của Việt Nam và hiện vẫn đang là tượng đài cho các nghệ sĩ thế hệ sau. Các tác phẩm trong album đều phức tạp, nhiều phần, sử dụng nhiều kỹ thuật tinh tế mà người nghe nhạc đơn thuần như tôi chưa thể gọi tên hay miêu tả bằng lời. Chất lượng của những tác phẩm này thật vượt quá sức tưởng tượng dù đã hơn 30 năm từ khi nó được phát hành, chưa kể đến việc ông đã không có người chỉ dạy và cũng không có nhiều thông tin trong những năm Đổi mới.

Ca khúc ‘Ngẫu hứng Tây Nguyên’ từ album “Birth 99.” 

Album mang nhiều dáng vẻ Việt Nam như bolero, âm nhạc Tây Nguyên, những điệu hò miền biển, khiến jazz Việt trở thành một địa hạt riêng biệt không lẫn vào những âm thanh ở địa cầu đối diện. Ông cũng đưa vào những triết lý của riêng mình về sự sống, sự chết, trọn vẹn từ hồn dân tộc đến bản sắc cá nhân trên âm thanh viễn xứ.

Sau thời của ông và các chiến hữu như TS Nguyễn Tiến Mạnh, PGS TS Lưu Quang Minh, ThS Hoàng Tùng, thế hệ nghệ sĩ saxophone tiếp bước mang đến những sắc màu âm nhạc mới mẻ hơn với những Quyền Thiện Đắc, Trần Mạnh Tuấn, Hồng Kiên.

Jazz cất những lời ca đầu tiên

Những năm 2000, đất nước bắt đầu mở cửa cho những làn sóng nhạc ngoại tràn vào. Pop, rock chiếm lĩnh thị trường, chúng ta yêu những Đan Trường, Hồ Quỳnh Hương, Ưng Hoàng Phúc với những bản ballad tình yêu.

Lúc ấy jazz hãy còn lẩn nấp trong chốn riêng của nó. Câu lạc bộ jazz Bình Minh của Quyền Văn Minh vẫn hoạt động hằng tối, vẫn tiếng saxophone cầu kỳ, nhưng đã có chút trở mình khi những câu hát đầu tiên trên nền jazz bắt đầu vang lên.

Những bản nhạc bất hủ của thế giới được cover lại tại các câu lạc bộ jazz.

Những bản jazz bất hủ của thế giới như ‘Fly me to the moon’ được cover tại một góc nhỏ Hà Thành, rồi nhạc Trịnh, nhạc Trần Tiến cũng được phối jazz. Giọng hát trầm lắng tự sự của cô ca sĩ trong không gian vàng vọt nơi quán nhạc năm ấy vẫn làm thính giả nhớ mãi về sau.

Kỷ nguyên của những bản tình ca nguyên bản

Với tinh thần cống hiến không ngơi nghỉ, những nghệ sĩ của chúng ta không chỉ dừng lại ở việc làm mới âm nhạc cũ, họ muốn tạo cả những cái mới, những cái chưa từng đến với đời.

Năm 2004, nữ nghệ sĩ Jazzy Dạ Lam sáng tác, phối khí và tự mình truyền tải album “Trăng và Em” đến khán giả, một cây đa cây đề đã trở thành nguồn cảm hứng cho các ca sĩ chuyên nghiệp đương đại.

Album “Trăng và Em” của Jazzy Dạ Lam.

Trong giai đoạn tiếp theo, những nghệ sĩ nổi tiếng của làng nhạc Việt cũng bước chân vào thế giới của jazz. Hai tác phẩm ‘Thời gian để yêu’ và ‘Những khung trời khác’ (2008) của nhạc sĩ Đỗ Bảo do Nguyên Thảo thể hiện nhận được nhiều ngợi khen từ báo chí. Bộ ba Hà Trần, Tùng Dương và nhạc sĩ Giáng Sol cũng cho ra mắt album “Bóng Tối jazz” vào năm 2015, gây tiếng vang với bản nhạc ‘Thu cạn.’ Ca khúc đã trở thành một chuẩn mực “nhạc diva” với những nốt nhạc rất lỡ, một cá tính đau đớn và bướng bỉnh, mang đến nỗi buồn xơ xác như “chiếc lá khô rơi.”

Vocal jazz Việt đạt độ chín muồi ở “SAIGON FEEL” (2018), được sáng tác và sản xuất bởi nhạc sĩ Võ Thiện Thanh, thể hiện bởi giọng ca Hồ Trung Dũng. Theo tác giả, album là thành quả lao động của 6 năm ròng rã. Có những bản hit cũ được làm mới, cũng có thêm những bài hát mới. Điển hình như ‘Xích lô,’ được Mỹ Tâm thể hiện vào năm 2001 mà tôi vẫn thường nghe mẹ ngân nga trên đường chở tôi đến trường tiểu học. Hay ‘Tình 2000’ mà Phương Thanh hát vào 1999 nay lại được ngân vang bởi một giọng nam trầm ấm.

Ca khúc ‘Sài Gòn có mùa thu’ từ album “SAIGON FEEL.”

Trong album, jazz đã đậm đặc hơn với âm thanh bộ kèn khò khè như người hút xì gà, tầng tầng lớp lớp nhạc cụ đan xen cầu kỳ nhưng vẫn hòa hợp với giọng hát. Ca khúc ‘Sài Gòn có mùa thu’ là hòa quyện của những nhịp trống và trombone, trumpet, hoặc có tiếng kèn khác mà tôi chưa nghe ra.

Tất cả hào hùng và ngập tràn như một đoàn người thành thị chờ giọt phin cuối rơi xuống rồi cùng lúc diễu hành đòi cho bằng được mùa thu. Giọng hát bẻ dẹt của Hồ Trung Dũng khiến tôi tưởng tượng vẻ mặt của một người đàn ông thèm khát đang lăm le xâm chiếm lấy mùa thu, anh ta đã nấp trong những tòa nhà cao tầng để chờ đợi từ lâu lắm rồi. Chỉ để cảm nhận cái mùa thu rất hời hợt mà Sài Gòn nhả cho.

Khi những giai điệu cũ tìm thấy tần số hiện đại

Nghệ sĩ hiện đại thừa hưởng gia tài sáng tác của các nhạc sĩ gạo cội và mang sắc màu mới đến những giai điệu, ca từ cũ. Album nhạc “Thanh Tùng” (2023) do Quỳnh Anh thể hiện là một đại diện tiêu biểu, gồm các ca khúc bất hủ như ‘Giọt nắng bên thềm,’ ‘Hoa tím ngoài sân,’ ‘Trái tim không ngủ yên.’ Thay vì hát trên nền nhạc cụ như tiền bối Quỳnh Phạm hơn 20 năm trước, album sử dụng kết hợp cả nhạc cụ và âm thanh điện tử một cách hòa hợp, giọng ca được xử lý trong trẻo, gọn gàng như phát âm của nghệ sĩ pop hiện nay.

Ngoài Thanh Tùng, Quỳnh Anh còn hát năm bản ‘Bức thư tình’ của Đỗ Bảo, và những khúc tình ca mùa xuân của các Văn Cao, Đoàn Chuẩn-Từ Linh, Dương Thụ trong album 19XX. Có lẽ vì bản thân tôi rất yêu câu từ của những cây bút cũ, nhưng lại không mấy mặn mà với phiên bản “Paris by night” của nó, nên khi bắt gặp cùng những câu từ ấy trong một âm thanh mới mẻ với giọng hát hiện đại, tôi như tìm được tần số của mình.

Bản làm mới ‘Trái tim không ngủ yên’ từ album “Thanh Tùng.”

Nếu Quỳnh Anh làm mới các bản tình ca, thì kèn saxophone của Quyền Thiện Đắc lại dẫn dắt người nghe vào một không gian trừu tượng hơn qua album “Ký ức” (2024). Đây là một công trình thú vị, nơi những bài hát nằm lòng của trẻ em như ‘Chú ếch con,’ ‘Cả nhà thương nhau’ hay ‘Bắc Kim Thang’ được biến tấu đến mức khó nhận diện.

Quyền Thiện Đắc có thể thay đổi tiết tấu, biến tấu nốt nhạc, lặp đi lặp lại một câu, thêm luyến láy cuối câu. Đấy chỉ mới là phần chế biến giai điệu của bài hát gốc, chưa kể đến những trường đoạn độc tấu saxophone dài mấy phút liền.

‘Chú ếch con' từ album “Ký ức.”

Trống chơi theo nhịp lẻ, nhịp giữa, một thứ nhịp khó gọi tên gì đó mà nếu bạn dựa vào nhịp trống để tìm thăng bằng, bạn sẽ ngã nhào ngay và không biết sắp xếp những thanh âm vào phách nào. Những tiếng cymbal sẽ đột nhiên xuất hiện vào lúc bạn ít ngờ tới nhất. Nhưng nó hợp lý và vững chắc; nó là một trò chơi giữ nhịp cho những đôi tai thính và là một ngọn núi thiêng cho những kẻ tìm xáo động.

Jazz tới tuổi nổi loạn và những nghệ sĩ indie

Giai đoạn năm 2016–2018, âm nhạc độc lập rục rịch lên ngôi. Nghệ sĩ tự do từng bước tìm được cho mình những sự công nhận nhất định, và khán giả yêu thích những màu sắc mới lạ và những cá tính không cần giống ai. Âm nhạc được quyền lệch chuẩn, được xáo trộn, được kỳ cục mà vẫn có cách len lỏi vào trái tim thính giả. Thế là nhạc fusion ra đời.

Album “Trong” của TRANG.

Với cô nghệ sĩ TRANG, cool jazz thường được kết hợp với bossa nova, điển hình như album “Trong” ra mắt năm 2025 gồm những ca khúc ‘Em chỉ nhìn thấy anh,’ ‘Làm bạn với em,’ ‘Hoang đảo,’ và ‘Ăn chay.’ Trong khi đó, Minh Tốc & Lam lại chọn khai thác modern jazz thông qua việc kết hợp các yếu tố điện tử và chất liệu swing hiện đại; người nghe có thể nhận thấy sự dịch chuyển này từ ‘Ngọc Lam’ đến ‘Một giấc mơ hoang đường.’

Sự biến tấu còn hiện diện trong ‘Thành phố đung đưa’ của ban nhạc Mèow Lạc. Họ vận dụng tiết tấu và lối chơi nhạc cụ đặc trưng của jazz nhưng được tinh chỉnh để gần gũi hơn với đại chúng bằng cách tiết chế các nốt biến âm (blue notes). Ở một góc độ khác, ‘Em và Jazz’ của Hali lại đưa tinh thần jazz vào funk với những tuyến giai điệu phức tạp đậm tính ứng biến và những câu scat đầy tận hưởng ở gần cuối bài.

Ca khúc ‘Em và Jazz’ của Hali.

Nghệ sĩ indie chơi jazz với rock, jazz với funk, jazz với rap, bất cứ thứ gì họ có thể nghĩ ra. Thành công của họ là những khám phá mới và những âm thanh lạ lùng ngon tai. Tôi vẫn luôn thích thú khi thấy muôn vàn cách biến tấu sáng tạo, và thấy jazz vẫn sống khỏe mạnh ở những nơi dành cho nó.

Jazz điểm hẹn

Viết tới đây, chân tôi đã nhịp theo những điệu jazz nhẹ nhàng, và đầu óc đã đuổi theo những câu bebop không điểm dừng. Có thể tối nay tôi lại lóc cóc đến một quán jazz bar để sống tiếp cho đầy những cảm giác lửng lơ. Nếu bạn cũng cảm thấy tương tự, xin mời bạn đến với những hội quán đã bao năm say mê với dòng nhạc này.

Hà Nội

Bình Minh Jazz Club: với những người yêu Jazz, mến mộ hai cha con Quyền Văn Minh và Quyền Thiện Đắc, thì đây chính là trái tim của jazz Việt. Nằm ngay góc đường Tràng Tiền, Hà Nội, quán nhạc có gần 30 năm lịch sử này sẽ mang đến những hương vị đậm đà nhất được chắt lọc từ một hành trình nhiều gian nan.

Long Waits Jazz Club: là một dự án của những người học trò ưu tú của huyền thoại Quyền Văn Minh, đã chơi hơn 100 album jazz khắp thế giới, và đã trở thành một phần không thể thiếu của Hà Nội.

Sài Gòn

Sax ‘n Art Jazz Club: tọa lạc giữa Thảo Điền lãng mạn nhiều cây xanh, hội quán jazz của nghệ sĩ saxophone Trần Mạnh Tuấn là một không gian để những người yêu nhạc được chìm đắm sau ban ngày ồn ã của Sài Gòn.

Cội: là một quán nhạc chuyên jazz, funk với các nghệ sĩ, ca sĩ, ban nhạc chuyên nghiệp. Nữ hoàng hát jazz Tuyết Loan và những cái tên quen thuộc trong giới yêu nhạc như Minh Nghĩa, Dattie Do, Tăng Tuệ Vĩ, Bút Chì Màu đều đã từng xuất hiện ở đây.

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. Ảnh bìa: Phương Quỳnh.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Sun, 29 Mar 2026 19:17:58 +0700
Kramahan.Clothing: Thế giới đa sắc của những tạo tác thủ công 'không biên giới' https://saigoneer.com/vn/ton-sur-ton/18072-kramahan-clothing-thế-giới-đa-sắc-của-những-tạo-tác-thủ-công-không-biên-giới https://saigoneer.com/vn/ton-sur-ton/18072-kramahan-clothing-thế-giới-đa-sắc-của-những-tạo-tác-thủ-công-không-biên-giới

Saigoneer ghé thăm Nhật, người đứng sau thương hiệu Kramahan.Clothing vào một ngày Sài Gòn lộng gió. Căn phòng giữa trung tâm thành phố vừa là nơi sinh hoạt, vừa là góc làm việc, đón khách và trưng bày những món đồ rực rỡ sắc màu. Nếu bạn đang tìm kiếm những thiết kế độc bản với vẻ ngoài lạ mắt, không gian này chắc chắn sẽ là một trạm dừng chân mang đến nhiều sự thích thú.

Tại Kramahan.Clothing, phụ kiện và trang phục đều được Nguyễn Minh Nhật tự mình sáng tạo. Trên chiếc bàn làm việc, những mẩu gỗ, sợi dây, viên đá và móc khóa nằm đan xen, chờ đợi để được thổi hồn.

Ít ai biết trước khi gắn bó với thủ công, Nhật từng tốt nghiệp chuyên ngành Hóa học tại Đại học Khoa học Tự nhiên và có 3 năm làm công việc điều chế dược, hóa mỹ phẩm. Bước ngoặt đến sau những lần tản bộ qua các hội chợ cuối tuần, nơi anh nhận ra tiềm năng của những món đồ nhỏ bé nhưng giàu sức hút. Nghĩ là làm, Nhật “khăn gói” về lại Campuchia, nơi anh chào đời năm 1988, để tìm mua quần áo và khăn rằn về kinh doanh.

“Chỉ định làm cho vui, ai ngờ đâu mình bán đắt hàng quá. Xách một túi đồ đi xong xách cái túi không về. ‘Lòng tham’ nổi lên, mình bắt đầu đi bày sạp vào mỗi cuối tuần. Tầm 6 tháng sau đó, mình nghỉ hẳn công ty để chuyển sang bán hội chợ,” Nhật cười tươi kể.

Khi tuổi thơ tỉnh giấc và nuôi dưỡng tuổi trưởng thành

Sau một thời gian mua đi bán lại, Nhật quan sát rằng doanh thu có chiều hướng giảm và đã đến lúc mình nên tự tay nhào nặn nên sản phẩm mang dấu ấn cá nhân.

Đây không phải là một quyết định ngẫu hứng. Thực tế, Nhật từng có ý định thi vào trường Đại học Kiến trúc và từ thuở nhỏ đã bộc lộ năng khiếu nghệ thuật rõ nét. “Hồi nhỏ, mình nghịch lắm! Lúc đó không có đất sét màu mè đẹp đẽ gì đâu nên mình toàn đào đất mềm lên nặn hình này kia và được mẹ khen ngợi.”

Suốt những năm tháng vùi mình trong phòng thí nghiệm ngành Hóa, niềm yêu thích nghệ thuật ấy dường như chỉ tạm thời “ngủ quên.” Nhật kể, lúc đó anh chỉ thỉnh thoảng vẽ thiệp tặng bạn bè, chưa bao giờ nghĩ những nét vẽ ấy lại có ngày trở thành “cần câu cơm.”

Sự thức tỉnh của đam mê cũ, kết hợp với sợi dây liên kết từ quê hương thứ hai, xứ sở Chùa Tháp, đã khai sinh ra cái tên Kramahan. Nhật giải thích: “krama” là khăn rằn trong tiếng Khmer, còn “han” là cách anh ẩn dụ cho “hand” hay “handmade.” Với tính cách có phần bí ẩn và một chút duy tâm, Nhật thay chữ “d” bằng một dấu chấm để tên thương hiệu vừa tròn 9 ký tự cho may mắn, vừa gợi sự tò mò cho người xem.

Trên bàn làm việc, Nhật một mình cặm cụi tô, vẽ, khắc, khoan, đục, đẽo, mài giũa, xỏ dây, thắt nút, v.v. thậm chí anh còn biết làm gốm, đan móc len để tạo ra đủ loại phụ kiện. Riêng với mảng trang phục, anh tự tay thiết kế mẫu trên các chất liệu chủ đạo như linen và thổ cẩm, sau đó mới đặt thợ may gia công theo số lượng giới hạn.

Đẹp mắt - Độc bản - Lạ kỳ

Lướt qua gian hàng của Kramahan.Clothing, bạn sẽ nhận thấy một thế giới đa sắc được dệt nên từ những mảnh ký ức của Nhật tại Campuchia và Thái Lan. Đó không chỉ là sự kết hợp của phong cách Bohemian tự do, mà còn là lòng tôn kính đối với những họa tiết bản địa được Nhật tinh tuyển và tiết chế lại theo tư duy thẩm mỹ riêng.

Nếu dừng lại ngắm nhìn lâu hơn, khách hàng có thể cảm được tâm huyết mà Nhật dành cho từng đứa con tinh thần của mình. Anh tỉ mỉ với những chi tiết siêu nhỏ và dành nhiều thời gian để cân chỉnh sắc độ sao cho thật thuận mắt. Bên cạnh con mắt thẩm mỹ và tư duy hình ảnh sẵn có, Nhật vẫn vận dụng được khối kiến thức từ môn Hóa học vào công đoạn pha màu, chuyển màu, v.v.

Hoạ tiết do Nhật thiết kế.

Với chủ trương “đẹp - độc - lạ,” mọi sản phẩm của Kramahan.Clothing trước hết phải thỏa mãn được sự khắt khe về thị giác của chính người làm ra nó. Những món chưa ưng ý, Nhật nhất quyết không đem bán. Gu thẩm mỹ của anh có chút khác biệt, thậm chí hơi “quái,” tạo nên nét riêng không lẫn vào đâu. Vì được chế tác hoàn toàn thủ công, mỗi món phụ kiện đều là duy nhất; ngay cả một đôi hoa tai cũng mang những khác biệt li ti, khẳng định tính độc bản cho người sở hữu.

Mọi thứ đều có thể tan biến vào tự nhiên

Đây chính là kim chỉ nam mà Nhật theo đuổi ngay từ những ngày đầu khởi sự. Anh kể: “Mình hay đi nhặt mấy khúc gỗ mà bên cảnh quan đô thị chặt hạ để về đẽo và khắc hình. Sau này, mình còn mua thêm các loại gỗ tốt khác như gỗ hương, gỗ lim và giá phụ kiện sẽ cao hơn một chút. Khi khách hỏi, mình cũng ‘khai’ rõ đây là gỗ gì hoặc đây là gỗ mình nhặt ngoài đường về.”

Vạn vật trong mắt một người nghệ sĩ đều có thể trở thành cảm hứng. Vì thế, mỗi chuyến đi chơi với Nhật cũng là dịp để lượm lặt vỏ sò, vỏ ốc hay những viên đá sỏi tình cờ thu hút ánh nhìn. Tất cả đều có cơ hội trở thành một món trang sức có hồn.

“Khi chọn dây để làm dây chuyền hay móc khóa, mình thường thử bằng cách đốt lên. Nếu không phải 100% cotton, mình sẽ không mua. Mình muốn mọi thứ mình làm đều có thể rơi xuống đất, tan biến vào tự nhiên. Chỉ trừ trường hợp bất khả kháng, mình mới dùng đến những chất liệu khó phân hủy,” Nhật khẳng định.

Hiện tại, Nhật chủ yếu tập trung vào những thiết kế có tính ứng dụng cao và mức giá dễ tiếp cận. Nhưng giữa những lo toan thường nhật, anh vẫn âm thầm ấp ủ những dự án nghệ thuật trừu tượng và công phu hơn. Trên hành trình 10 năm tiếp theo, Kramahan.Clothing sẽ đi xa tới đâu, chưa ai có thể khẳng định. Nhưng có lẽ, Nhật sẽ còn làm được nhiều điều bất ngờ, giống như cái cách mà những ký ức thủ công và sợi dây liên kết với đất nước Campuchia đã trỗi dậy mạnh mẽ trong anh sau hàng chục năm ròng rã. 

]]>
info@saigoneer.com (Mầm. Ảnh bìa: Khanh Mai.) Ton-sur-Ton Sun, 08 Mar 2026 12:00:00 +0700
Review phim tài liệu 'New Wave': Hành trình đi tìm danh tính qua âm nhạc của thế hệ người Việt hải ngoại trẻ https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18071-review-phim-tài-liệu-new-wave-hành-trình-đi-tìm-danh-tính-qua-âm-nhạc-của-thế-hệ-người-việt-hải-ngoại-trẻ https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18071-review-phim-tài-liệu-new-wave-hành-trình-đi-tìm-danh-tính-qua-âm-nhạc-của-thế-hệ-người-việt-hải-ngoại-trẻ

Tiếng synth lả lướt quyện cùng tiếng trống điện tử mạnh mẽ. Những thanh âm đặc trưng của New Wave giờ chỉ còn là dư âm của một thời đã qua. Nhưng ngược dòng về những năm 1980, chính những giai điệu ấy đã từng là biểu tượng của sự tân tiến, và là tiếng nói đầy kiêu hãnh của tương lai.

New Wave là một biến thể của dòng nhạc Eurodisco (disco châu Âu) được cộng đồng người Việt hải ngoại “nhào nặn.” Mang âm hưởng pha trộn giữa synth-pop và disco sôi động, thể loại này thường mượn giai điệu từ những bản hit quốc tế rồi viết lại lời bằng tiếng Việt. Cái tên “New Wave” vốn là một sự nhầm lẫn về thuật ngữ, bắt nguồn từ việc các tiệm đĩa ở Little Saigon hay xếp chung các đĩa nhạc Eurodisco vào phân loại “New Wave Anh Quốc.” Dần dần, nó trở thành “định danh” chính thức và gắn bó cùng dòng nhạc này suốt nhiều thập kỷ.

Trong tựa sách ra mắt cùng phim tài liệu, đạo diễn Elizabeth Ai ví làn sóng New Wave như một cú hích làm bùng nổ sức sống của cả một thế hệ thanh thiếu niên gốc Việt. Đó là "thế hệ 1.5" — những người sinh ra ở Việt Nam nhưng lớn lên và trưởng thành trên đất Mỹ. Loay hoay giữa những lằn ranh văn hóa và không thấy mình thực sự thuộc về nơi nào, họ tìm đến New Wave như một danh tính mới để tự định vị bản thân, thay vì gò mình vào những khuôn mẫu về người nhập cư. ” Âm nhạc trở thành chốn dung thân giúp họ tạm quên đi bóng ma quá khứ và rũ bỏ cái mác tị nạn vốn luôn bủa vây lấy cuộc đời mình.

New Wave chính là hiện thân cho tinh thần tự do, có phần mơ mộng và cái tôi đầy bản sắc của giới trẻ.

Thời hoàng kim của làn sóng New Wave đã lùi xa từ lâu, thế nhưng, với những ai từng sống vào những năm tháng rực rỡ ấy, thật khó để quên đi sự phấn khích và ngọn lửa nhiệt huyết mà dòng nhạc này từng thắp lên với cộng đồng người Việt hải ngoại.

Về bộ phim

Phim tài liệu New Wave là tác phẩm của Elizabeth Ai, nhà làm phim gốc Việt từng đoạt giải Emmy. Sau một thời gian dài chỉ xuất hiện tại các buổi công chiếu riêng, bộ phim đang chuẩn bị được phát hành rộng rãi để ra mắt công chúng.

Dự án là một hành trình dài hơi, bắt đầu từ những ngày đầu tìm kiếm tư liệu và kết nối cộng đồng. Dù quá trình ghi hình từng gặp nhiều gián đoạn, ê-kíp đã biến khó khăn thành cơ hội khi thu thập được kho tư liệu khổng lồ từ chính khán giả qua mạng xã hội. Những thước phim đời thường và câu chuyện của thế hệ thanh niên gốc Việt thập niên 1980 được dự án lưu giữ như một cuốn album sống động.

Poster phim tài liệu New Wave.

Xuyên suốt bộ phim, Elizabeth Ai cùng khán giả khám phá dòng chảy lịch sử New Wave: từ những bước sơ khởi đầy ngẫu hứng cho đến khi trở thành cơn sốt trong cộng đồng hải ngoại. Phim tái hiện lại thời kỳ rực rỡ của "nữ hoàng" Lynda Trang Đài cùng một tiểu văn hóa đầy phá cách với những bộ cánh gai góc, mái tóc đánh xù đặc trưng và những đêm vũ hội bất tận. Đạo diễn đã khắc họa trọn tinh thần của dòng nhạc này qua những mảnh ký ức tuổi thơ:

“Đó là một kiểu thẩm mỹ tự thân (DIY) đầy phóng khoáng. Tôi thấy cái hay nằm ở chỗ giới trẻ thời đó đã tự tạo ra một nền văn hóa lai cho riêng mình. Những người trẻ lạc mất quê hương khi ấy thấy mình không còn thuần là người Việt, nhưng cũng chưa thực sự được xã hội Mỹ đón nhận. Thế là họ tự nhào nặn nên một bản sắc mới. Thứ âm nhạc đó không hẳn là Mỹ, cũng chẳng hoàn toàn là Việt, nó vang lên như một lời tiên đoán về tương lai qua những nhạc cụ điện tử tân thời.”

Thay vì kể chuyện theo trình tự thời gian khô khan, bộ phim đan cài cuộc đời của những nhân vật tiêu biểu để vẽ nên bức tranh nội tâm của cả một dòng nhạc. Đó là Ian Nguyen (DJ BPM), người bất chấp sự ngăn cấm của gia đình để theo đuổi thứ âm thanh vị lai và khát khao khẳng định cái tôi sành điệu. Đó là Lynda Trang Đài, “Madonna phiên bản Việt,” người tiên phong đưa New Wave đến với công chúng và trở thành thần tượng của bao thế hệ qua những bản hit Eurodisco trên sân khấu Paris by Night. Và cuối cùng là chính Elizabeth Ai cùng người dì Myra — người đã thay mẹ chăm sóc cô trong những năm tháng bà tất bật ngược xuôi lo toan cho cả gia đình.

Lynda Trang Đài là gương mặt của trào lưu New Wave.

So với Ian hay Lynda, những người có cuộc đời gắn liền với New Wave, mối liên hệ của Elizabeth Ai với dòng nhạc này có phần mờ nhạt hơn. Với cô, New Wave chỉ là những mẩu ký ức vụn vặt về tiếng nhạc phát ra từ chiếc xe của dì Myra thời cô còn nhỏ. Vậy tại sao câu chuyện của chính Elizabeth lại xuất hiện xuyên suốt bộ phim? Ngay cả cô cũng không ngờ rằng dự án này lại đưa mình đi xa đến vậy: "Lúc đầu, tôi chỉ định thực hiện một bộ phim tư liệu về bối cảnh New Wave những năm 80. Nhưng càng đi sâu vào những câu chuyện và kho tư liệu, những góc khuất xưa cũ bỗng hiện về, làm thay đổi hoàn toàn hướng đi và cảm xúc chủ đạo của bộ phim.”

“Trong quá trình làm phim, mối quan hệ giữa tôi và các nhân vật thay đổi rất nhiều. Ban đầu, tôi đứng ở vị trí đạo diễn còn họ là đối tượng nghiên cứu. Nhưng dần dần, khoảng cách đó biến mất. Những người đi trước đã mở lòng kể về những mất mát, ly tán và cách họ vượt qua nghịch cảnh. Lúc đó tôi nhận ra rằng, dù thuộc thế hệ sau, tôi cũng mang trong mình những gánh nặng tương tự. Tôi thấy mình không thể chỉ đứng ngoài kể chuyện người khác mà trốn tránh sự thật của chính mình. Thật không công bằng khi bảo họ phơi bày mọi thứ, còn mình lại giữ kín những tổn thương riêng.”

Ở một phân đoạn cao trào, Elizabeth quyết định thôi trốn tránh sự thật về việc mẹ vắng mặt trong suốt tuổi thơ của mình. Cô chủ động kết nối lại với bà sau nhiều năm cắt đứt liên lạc vì những oán trách chất chồng. Để rồi khi đối diện, cô mới nhận ra mình đã hiểu lầm mẹ bấy lâu, và rằng đằng sau những lựa chọn của bà là những lý do mà cô chưa từng thấu cảm hết. Từ một tác phẩm khảo cứu về âm nhạc, New Wave đã khép lại như một lời tự sự đầy riêng tư.

Lời thú nhận

Thú thật, tôi chưa từng nghe về New Wave trước khi xem phim của Elizabeth Ai. Vì chẳng có chút gắn bó nào với chủ đề này, tôi từng nghĩ mình sẽ khó mà cảm được bộ phim. Thế nhưng, tác phẩm lại mang đến một sự thích thú bất ngờ, không chỉ vì những câu chuyện cá nhân đã vượt ra ngoài khuôn khổ âm nhạc, mà còn bởi những suy ngẫm mà nó để lại.

Cụ thể là gì? Thật kỳ lạ, bộ phim gợi tôi nhớ đến một câu nói của Ta-Nehisi Coates trong cuốn The Message: "Chúng ta có quyền tin vào những truyền thống hay những vùng đất mà ta tự vẽ ra trong tâm trí, và chúng chỉ thực sự mạnh mẽ khi ta dám thừa nhận rằng đó là sản phẩm của trí tưởng tượng."

Ảnh cung cấp bởi Elizabeth Ai.

Trong phim, có lúc Ian Nguyen mô tả sự say mê của mình với New Wave thời niên thiếu: “Âm nhạc thì thuần khiết, nhưng môi trường xung quanh nó thì không.” Môi trường đó không thuần khiết vì nó đầy rẫy rượu, chất kích thích và sự buông thả. Còn âm nhạc thì có, vì suy cho cùng, âm nhạc chỉ đơn giản là âm nhạc. Cách nhìn về sự đối lập này của New Wave tuy thú vị, nhưng tôi cho rằng câu chuyện còn nhiều tầng nghĩa phức tạp hơn thế.

Hãy nhìn vào cách bộ phim khắc họa Lynda Trang Đài. Với thế hệ 1.5, Lynda hiện thân cho vẻ lộng lẫy, sự tự do và những khả năng vô hạn. Như dì Myra của Ai từng thốt lên: “Hồi đó dì chỉ mơ được như cô ấy thôi.”

Nếu Lynda là hiện thân của sự hoàn mỹ trong mắt nhiều người, thì bộ phim lại bóc tách những góc khuất trong đời tư của bà. Chúng ta thấy một Lynda tất bật ngược xuôi với đủ nghề (kể cả việc chạy vặt cho tiệm bánh mì) để gánh vác kinh tế cho cả đại gia đình, guồng quay ấy thậm chí đã khiến bà lỡ mất lễ tốt nghiệp của con trai mình.

Nghịch lý này thật khó để phớt lờ. Một ngôi sao từng là lối thoát cho bao đứa trẻ có cha mẹ mải mê mưu sinh, cuối cùng lại kẹt trong chính cái vòng lặp ấy. Tôi nhắc đến điều này không phải để hạ bệ Lynda Trang Đài, mà để đặt ra một câu hỏi: làm sao có thể coi New Wave là một cuộc chơi “vô tư,” khi mà sức sống của dòng nhạc này vốn dĩ không thể tách rời khỏi sức hút cá nhân của Lynda?

New Wave Việt Nam bắt đầu từ những cuốn băng VHS và cassette cover lại các bản hit tiếng Anh bấy giờ.

Cái hay của bộ phim nằm ở chỗ: thay vì tô hồng quá khứ, nó kéo hiện tượng này về với những góc cạnh đời thực. Từ những người hâm mộ cuồng nhiệt cho đến gương mặt đại diện, bộ phim phơi bày tất cả sự lộn xộn và phức tạp đằng sau đó. Bức tranh tổng thể tuy không hoàn hảo, nhưng chính những mảnh khuyết ấy lại khiến ta thấy trân trọng nó hơn. Nếu có điều gì đó thực sự đáng quý ở làn sóng New Wave, thì đó chính là sự trân trọng dành cho những gì không trọn vẹn.

Trở lại với câu nói của Coates: “Chúng ta có quyền tin vào những truyền thống hay vùng đất do mình tự phác họa, và những điều đó chỉ thực sự có sức nặng khi ta dám thừa nhận chúng vốn được dựng xây từ tâm trí.” New Wave gợi nhắc tôi về những lời này, bởi bộ phim giống như một lời thú nhận về những thực tại tự tạo như thế. “Sự thật của tôi chỉ là một câu chuyện tôi tự viết ra để bảo vệ chính mình,” Ai chiêm nghiệm về cách cô tự khỏa lấp những khoảng trống về mẹ.

Điều này cũng đúng với văn hóa New Wave nói chung. Nếu tiểu văn hóa này từng ra đời từ sự nổi loạn và nỗ lực làm mới bản thân, thì nỗ lực đó cũng chính là một cách ta tự định nghĩa lại chính mình. New Wave cho thấy rằng, việc tự định nghĩa đó chỉ thực sự giá trị khi ta dám đối diện với nó. Bởi chỉ khi thành thật, chúng ta mới có thể sống đúng với bản thân mà không cần chối bỏ những gì mình đã dày công xây dựng.

]]>
info@saigoneer.com (San Kwon. Ảnh bìa: Ngọc Tạ.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Sat, 07 Mar 2026 15:35:09 +0700
Trí Dũng, nhà thơ và nghệ sĩ tung hứng con chữ https://saigoneer.com/vn/arts-culture/18067-trí-dũng,-nhà-thơ-và-nghệ-sĩ-tung-hứng-con-chữ https://saigoneer.com/vn/arts-culture/18067-trí-dũng,-nhà-thơ-và-nghệ-sĩ-tung-hứng-con-chữ

Nếu bạn từng bắt gặp những đôi tất thêu chữ "Cả" (để người mang có thể tự hào rằng mình "có tất cả") hay những món đồ hóm hỉnh khác từ Đồ Chơi Chữ, bạn đã chạm ngõ vào thế giới của Trí Dũng. Qua lăng kính của anh, chơi chữ không còn là những trò bông đùa vô thưởng vô phạt, mà là một kỹ thuật sắc sảo để tạc nên bản sắc giữa dòng chảy văn hóa đương đại.

 

 

Mỗi ngày đều sáng tạo

Trí Dũng hiện đang thực hành nghệ thuật với con chữ tại Hà Nội. Anh sáng tác đoản văn, thơ, mở rộng sang ứng dụng chơi chữ với đồ vật hữu hình, mang chơi chữ vào đời sống.

Ngoài những sáng tác cá nhân ấp ủ để xuất bản sách, anh cũng là người sáng lập, điều hành, sáng tạo nội dung, nghiên cứu và phát triển các sản phẩm của thương hiệu Đồ Chơi Chữ. Anh tự đặt mục tiêu mỗi ngày phải sáng tác ít nhất hai câu để rèn tính kỷ luật và bắt mình phải luyện tập.

Trí Dũng.

Xuân Diệu vẫn nói, “Cơm áo không đùa với khách thơ.” Trí Dũng hiện làm nhiều công việc khác để kiếm sống bên cạnh sáng tác để thỏa mãn cái tôi. Đôi khi, anh cũng nhận sáng tác các câu nhận diện thương hiệu, bài đăng chơi chữ cho các nhãn hàng.

Sống một cuộc đời hoàn toàn sáng tạo, anh có một sự nhanh nhạy kỳ lạ, và nhiều khi tôi cảm tưởng như anh luôn nghĩ cái gì đó trong đầu. Anh vẫn hay dùng câu “thích nói chuyện với người nói một tiếng là hiểu, thay vì nói một tiếng mới hiểu” để thử xem người đối diện là ai giữa hai trường hợp đấy. May mà tôi vẫn đủ sáng dạ để làm bạn với một cái đầu nhạy bén như anh.

Từ “nết ăn nói” của người bố đến bản sắc cá nhân

Cái nhạy bén trong cách dùng từ của Trí Dũng được tưới tắm ngay trong không khí gia đình. Anh có một ông bố “miền Bắc điển hình,” thích nói kháy, vòng vo để thể hiện sự bất mãn một cách tinh tế. Khi ấy, chơi chữ được dùng như cách nói ẩn ý, từ ngữ được biến tấu để người nghe không nhận ra ý phê bình ngay.

Thơ Trí Dũng.

Từ “di sản” giao tiếp tượng trưng ấy, kết hợp cùng tư duy duy mỹ của thơ ca, nơi vốn kỵ sự huỵch toẹt và luôn mượn cảnh ngụ tình, Trí Dũng đã định hình nên một lối viết giàu sức gợi, dí dỏm và khéo léo.

Trí Dũng luôn tin rằng người cầm bút phải chân thực với chính mình, và tác giả không thể viết về những trải nghiệm mình chưa từng đi qua, cũng chẳng thể đóng vai bất cứ ai khác ngoài bản thân. Việc anh chọn chơi chữ không phải một sự tình cờ, mà là kết quả tất yếu từ quá trình sống và tiếp nhận văn hóa.

Thơ trên postcard.

Từ sự chân thực đó, anh xem chơi chữ như một công cụ để xây dựng bản sắc cá nhân. Tuy nhiên, anh cũng tếu táo rằng nghệ sĩ không nên tự giới hạn mình vào một công cụ duy nhất: “Chơi chữ xong anh lại nhảy qua chơi rap.” Với Trí Dũng, chơi chữ giống như một cách giới thiệu bản thân, để người ta nhìn vào mà ngầm hiểu về một cá tính thông minh, nhạy bén. Anh chọn nó làm đặc trưng sáng tác của mình, như cách Vũ Trọng Phụng dùng văn trào phúng hay LowG dùng ngôn ngữ hiphop.

Một cái tôi cao luôn mong cầu duy mỹ và khác biệt

Hồi mới bắt đầu, những sáng tác của Trí Dũng thường xuyên bị các trang truyền thông "mượn" không xin phép, điển hình như câu: "Ôm thì có ấm không? Ấm rồi thì có chén không?" Từ đó, anh nhận ra mình cần một giọng văn cá nhân độc bản, khiến sáng tác chỉ có thể “vừa vặn" khi đặt trong không gian của chính mình.

Thơ Trí Dũng

Tận dụng thế mạnh thơ ca, Trí Dũng nâng tầm những câu đùa trôi nổi thành những đoản văn, bài thơ giàu thanh điệu và hình ảnh. Anh duy trì một tiêu chuẩn nội tại khắt khe: tinh giản và chặt chẽ. Một câu chơi chữ chỉ được ở lại nếu cả nghĩa ẩn và nghĩa hiện đều trọn vẹn, và từng từ ngữ đều có nghĩa vụ trong câu. Sự cầu toàn này không chỉ nằm trên trang giấy mà lặp lại trong cả cách anh pha cà phê, ăn mặc hay sắp đặt không gian. Một lối sống ngăn nắp, không dư thừa.

Khao khát đẩy đến tận cùng mọi khả năng

Tôi nghĩ, nhiều khi Trí Dũng cứ muốn gọt giũa đến cùng những tác phẩm của mình cũng bởi anh rất khó chịu với sự nửa chừng. Một khi đã trải nghiệm tiêu chuẩn cao, anh khao khát phải đẩy mọi dự án đi đến giới hạn cuối cùng của nó. Anh kể về một dự án ẩm thực trải nghiệm, mà xuất phát điểm là một cái ly.

Ban đầu anh làm một ly vang ghi chữ love, gọi là love(ly). Rồi anh lại nghĩ đến những từ gồm bốn chữ khác có thể đi cùng (ly), như lively, lonely, simply, và anh nhận ra chúng có thể xếp thành một chuỗi cảm xúc có câu chuyện. Mỗi dáng ly khác nhau lại dành cho một loại đồ uống, mỗi đồ uống có thể tượng trưng cho một giai đoạn cảm xúc trong cuộc đời.

Thế là anh lại làm những cái ly đủ kiểu dáng với các trạng từ và cảm xúc tương ứng, biến bộ ly thành một chuỗi trải nghiệm ẩm thực. Rồi anh liên hệ với đầu bếp để sáng tạo thực đơn, liên hệ nhà hàng để hiện thực hóa ý tưởng, từng bước ứng dụng những cái ly chứa đựng cảm xúc vào một hành trình vị giác chân thực. “Nếu biết mình có thể làm tốt hơn mà vẫn làm dở, anh không chịu được”

Tình Phai Phải Lòng.

Hay như bộ Tình Phai Phải Lòng, không chỉ là một bộ dụng cụ hút thuốc, mà là một sự sắp đặt nghệ thuật chặt chẽ đáng kinh ngạc. Một chiếc bật lửa Tình, một chiếc (hộp) quẹt Phải Lòng, và đến gạt tàn Phai.

Gạt tàn Phai thực chất là một một tập tùy bút (vừa thơ vừa đoản văn) có thể xé ra gấp thành thuyền, trên mạn thuyền có chữ Phai, dùng để gạt tàn nên gọi là gạt tàn Phai. Dưới đáy thuyền là một câu chơi chữ ngẫu nhiên, trong lòng thuyền lại có thêm dòng chữ:

“đặt một tờ giấy
ướt ở đây”.

Trí Dũng cắt nghĩa rằng, không nhất thiết là loại giấy ướt, miễn giấy bị ướt là được, có thể từ nước vòi, từ nước mắt, tùy ý người dùng. Sự tinh quái của anh nằm ở chỗ, ngay cả phần giấy xé dư tưởng chừng bỏ đi, cũng có thể dùng làm đầu lọc. Cả bộ sản phẩm vận hành một cách vừa vặn, không một mẩu giấy thừa, không một nét mực dư, và nét mực nào cũng mang một trò chơi chữ. Hết sức trung thành với nỗi ám ảnh của mình, như một nghệ sĩ.

Bật lửa Tình, hộp quẹt Phải Lòng, và gạt tàn Phai.

Kiên định với tiêu chuẩn, nhưng không khước từ thực tại

Trí Dũng có mong cầu hoàn hảo, nhưng không mang màu sắc cực đoan. Khi tôi tự sự về cảm giác “chưa đủ,” khi năng lực và kinh tế không thể đáp ứng được tiêu chuẩn của mình, anh điềm tĩnh bảo: “Thế thì phải làm từng bước em ạ.”

Anh chọn cách hoàn thành xuất sắc bước một, để rồi chính sự chỉn chu đó sẽ tự dẫn dắt những bước tiếp theo. Thiếu kỹ năng thì học, thiếu nguồn lực thì kết nối, nhưng phải thực sự trải nghiệm. Đôi khi ta làm mọi thứ có thể nhưng kết quả không như mong đợi, thay vì lo lắng hay dừng lại, anh xem đó là cảm giác thường trực trên hành trình tiến hóa của người làm sáng tạo.

Tuyển tập Như chiếc lá gần rơi.

Như kỷ niệm với tác phẩm đầu tay Như chiếc lá gần rơi, Trí Dũng phải chỉnh sửa kha khá để được xuất bản. Anh chọn đánh đổi cái tôi nghệ sĩ để cả tác phẩm được đến với độc giả, thay vì để cả công trình nằm im trong ngăn tủ. Anh tin rằng sau này, khi thời đại thay đổi và chấp nhận những sáng tác có phần nhạy cảm, anh hoàn toàn có thể thêm vào trong những lần tái bản sau. Dù sao thì, vẫn phải đánh đổi cái tôi cho lần xuất bản đầu tiên để những cơ hội khác dần mở ra.

Hơn cả chơi chữ, là lan tỏa chơi chữ

Nói về hướng đi tiếp theo, Trí Dũng và Đồ Chơi Chữ đang mong muốn xây dựng không gian chơi chữ cho cộng đồng, một buổi “trao đổi chiêu thức” chẳng hạn. Đây sẽ là nơi các ngành nghề sáng tạo khác nhau như nhà sáng tạo nội dung, nhà văn thơ, biên kịch, đạo diễn, có thể chia sẻ về chơi chữ trong lĩnh vực của mình, mở rộng góc nhìn và trải nghiệm cho nhau.

"Tình ca" và "bình yên" của Đồ Chơi Chữ.

Trong các buổi gặp gỡ, các sản phẩm Đồ Chơi Chữ được tỏa sáng một cách tự nhiên. Mọi người uống nước ép trong bình An, uống trà trong Tình ca, mua tote Lành, mang về tất Cả. Mục tiêu lớn nhất vẫn là tạo một hệ sinh thái kết nối tự nhiên giữa sáng tạo, tiêu dùng và cộng đồng.

Tôi vẫn hay khen anh làm cái gì cũng “tới.” Đã một thập kỷ chơi đùa cùng chữ, anh vẫn cảm thấy có nhiều thứ phải làm để thật sự “tới” theo cái tham vọng của anh. Giờ thì anh sắp mua đồ nghề về làm nhạc, như một người sáng tạo có thể làm bất cứ thứ gì họ muốn. Chơi hết trò này lại nhảy sang trò khác, cứ đủng đỉnh mà chơi hết mọi thú trên đời.

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. Ảnh bìa: Ngọc Tạ.) Văn Nghệ Sat, 28 Feb 2026 19:49:04 +0700
Giải mã 'mùi Việt Kiều' bí ẩn trong ký ức tuổi thơ tôi https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18069-giải-mã-mùi-việt-kiều-bí-ẩn-trong-ký-ức-tuổi-thơ-tôi https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18069-giải-mã-mùi-việt-kiều-bí-ẩn-trong-ký-ức-tuổi-thơ-tôi

Hồi nhỏ, thứ bánh kẹo tôi ưa nhất là Kisses của Hershey. Cục kẹo sô-cô-la nhỏ xinh, đầu teo đít to, bọc trong lớp giấy bạc đủ màu sắc làm tôi mê mẩn, không chỉ vì hương vị ngọt ngào, mà còn vì, ngày ấy, đứa nào có người thân đi nước ngoài mới có diễm phúc được ăn Kisses. Gói theo bịch Kisses đem vào lớp chia cho chúng bạn, tôi nhỏ nít cảm thấy mình đặc biệt và vinh dự hơn hẳn.

Những năm tháng chiến tranh với Mỹ đã giày xéo nước ta cả về kinh tế lẫn xã hội, khiến nhiều gia đình phải ly tán và khiến cộng động người Việt lưu vong trở thành một trong những nhóm cư dân đông nhất nhiều nước phương Tây. Người ta vẫn gọi họ là Việt Kiều. Ngày còn con nít, tôi không hiểu được hết những lớp lang lịch sử phức tạp đằng sau cái danh xưng “Việt Kiều,” tôi chỉ biết rằng cô ruột mình là một Việt Kiều, và mỗi lần cô bay về thăm gia đình, tôi lại có sô-cô-la Kisses ăn, nên hằng năm tôi vẫn mong ngóng đến ngày cô về Việt Nam để có kẹo nhấm nháp.

Thông thường, vào tối ngay ngày cô từ phi trường về, sau bữa cơm tối đầy món ăn, trái cây nhiệt đới như măng cụt, vú sữa, chúng tôi lại quây quần bên cái va-li to kềnh của cô để nhận từng túi quà được cô cẩn thận viết tên mỗi người. Qua nhiều năm, tôi không còn nhớ chính xác mình đã từng nhận được quà gì. Đương nhiên, tôi vẫn nhớ loạt kẹo Kisses đủ màu sắc, hương vị, nhưng thứ vẫn hằn sâu trong ký ức thuở thiếu thời ấy là một mùi thơm đặc trưng tỏa ra từ va-li — thứ mùi, hay thậm chí hỗn hợp các mùi khác nhau, vừa đặc trưng lại vừa thiên biến vạn hóa, khó tả thành lời, một mùi Việt Kiều bí ẩn.

Kisses của Hershey đã từng là thứ kẹo “độc quyền” của con nít Việt có người thân đi nước ngoài. Ảnh: Tasting Table.

Trong trí nhớ của tôi, mùi Việt Kiều không giống nước hoa, cũng chẳng thuộc những nhóm mùi hương nhân tạo thường gặp như hoa cỏ, trái cây, hay thảo dược. Không phải xà bông hay đồ ăn, mùi Việt Kiều dễ nhận ra nhưng khó nhận diện. Lớn lên, tôi dần quên đi thứ mùi đặc trưng ấy, cho đến cách đây vài tuần, khi vô tình lướt qua một video TikTok quảng cáo “tinh dầu giặt sấy hương Việt Kiều.” Đoạn quảng cáo khiến tôi giật mình, vì nào giờ tôi vẫn cho rằng chỉ mình mình ngửi được mùi Việt Kiều, nhưng hóa ra người ta không những đã xác định được danh tính nó, mà còn sản xuất đem bán?

Khi tôi kể cho bạn bè, đồng nghiệp nghe về mùi Việt Kiều, ai cũng gật gù tặc lưỡi rằng đây là hiện tượng có thật, nhưng không ai có thể đưa ra câu trả lời rằng nó ở đâu ra ngoài vài nhận xét chung chung như “ngửi là biết liền.” Phần bình luận dưới video quảng cáo có vẻ khả quan hơn, với đủ mọi giả thuyết mọi người đưa ra về nguồn gốc mùi Việt Kiều: có bạn quả quyết đó là từ giấy thơm máy sấy hiệu Bounce, còn ý kiến khác lại cho rằng đó là mùi xà bông cục Irish Spring hay kem đánh răng Aquafresh. Quyết tâm tìm được mùi hương tuổi thơ quen thuộc, tôi đã ra quyết định táo bạo: đặt hết tất cả những sản phẩm trong các giả thuyết về… hửi thử.

Hình quảng cáo “mùi Việt Kiều” trên Shopee.

Tới đây, tôi cũng phải thú thật rằng đây không phải là cuộc điều tra có hồi kết, vì không thứ nào có mùi thật sự giống mùi va-li của cô tôi ngày xưa, dù rằng xuyên suốt bao năm, có nhiều lần trong đó cũng đã từng có mặt xà bông Irish Spring và tuýp kem Aquafresh. Cũng có thể nhà sản xuất đã thay đổi công thức tạo mùi sau nhiều năm, hay kí ức thuở nhỏ trong tôi đã phai nhạt nhiều, nhưng lý do khả thi nhất có lẽ là không có một mùi Việt Kiều nhất định nào cả. Với mỗi chuyến đi, hành trang về thăm nhà sẽ thay áo đôi chút, và mùi hương va-li cũng thế: một ít Hershey, chút mùi nam việt quất khô thoang thoảng, hòa quyện với mùi quần áo mới, v.v. — tất cả quyện thành một bức tranh khứu giác sinh động của nước Mỹ lạ lẫm, nhuốm màu huyền hoặc trong thâm tâm một đứa nhỏ.

Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa, trao đổi văn hóa, và cả những bước tiến vượt bậc trong ngành vận chuyển đã thay đổi quan niệm cố hữu nhiều năm của người Việt rằng “đồ Mỹ hiếm có, cứ xài là tốt.” Chính cách tôi có thể dễ dàng đặt mua nhanh gọn tất cả những sản phẩm để làm “thí nghiệm” là minh chứng cho cục diện khác biệt ấy. Ngay cả Hershey giờ cũng đã dễ mua hơn rất nhiều, nhưng sự phát triển của nông sản Việt đã cho ra đời nhiều nhãn hàng sô-cô-la nội địa còn ngon hơn thế nhiều, nên đã nhiều năm tôi chưa ăn lại Kisses. Phải chăng những lúc thiếu thốn thì thức quà dù nhỏ nhoi đến đâu người ta cũng trân quý hơn?

Nguồn gốc mùi Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Ảnh: Hoàng Vũ/Thanh Niên.

Ngày trước, khi gần đến ngày về Mỹ, va-li của cô tôi cũng đầy lên dần dần, nhưng lần này lại chứa đầy đồ Việt Nam để trữ trong tủ hay làm quà cho các cô các chú họ hàng bên đó: tôm khô, hạt cà phê, tranh sơn mài, áo dài lụa tơ tằm, trà Thái Nguyên, tâm sen, và nguyên bộ sưu tập mắm đủ mùi, đủ vị. Nhiều lúc tôi cũng thắc mắc rằng, khi cô trở lại nhà mình sau chuyến bay nửa vòng trái đất, đặt va-li xuống nền nhà và từ từ kéo khóa ra, liệu có một mùi hương khó tả nào bay ra không? Một mùi Việt Nam bí ẩn.

]]>
info@saigoneer.com (Khôi Phạm. Minh họa: Ngọc Tạ.) Văn Hóa Fri, 27 Feb 2026 16:00:00 +0700
Bên trong tháng Ramadan của cộng đồng Hồi giáo Châu Đốc https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17272-bên-trong-tháng-ramadan-của-cộng-đồng-hồi-giáo-châu-đốc https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17272-bên-trong-tháng-ramadan-của-cộng-đồng-hồi-giáo-châu-đốc

Cùng lúc Việt Nam bước vào chuỗi ngày lễ quốc gia dài hơi, cộng đồng người Hồi giáo trong nước cũng bắt đầu sự kiện quan trọng nhất năm với mình: tháng Ramadan.

Tôi đã đến thăm thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang để tìm hiểu những truyền thống được các cư dân nơi đây thực hành vào tháng Ramadan. Cách trung tâm thành phố chỉ 3km là làng Châu Phong, nơi tập trung sinh sống của hơn 5.000 tín đồ Hồi giáo người Chăm. Dù là kẻ ngoại đạo, tôi đã được ngôi làng giang tay chào đón, và từ đó hiểu thêm về phong tục kiêng cữ, cầu nguyện, cũng như những sinh hoạt tôn giáo khác được thực hiện cho "tháng thứ 9."

Tôi di chuyển đến đến ngôi làng bằng một chiếc phà, lúc cập bến đã là 10 giờ sáng. Không khí lúc ấy được bao trùm bởi một cảm giác bình yên, có lẽ vì các tín đồ đều đã dành giấc sáng và trưa để nghỉ ngơi. Đến 4 giờ chiều, phố xá nơi đây dần trở nên bận rộn hơn, ai nấy đều tấp nập sửa soạn. Có người đang chỉnh lại y trang để đến thánh đường, người lại đang chuẩn bị sẵn thức ăn cho buổi "xả chay" — tức khi mặt trời lặn vào gần 6 giờ chiều.

Một cậu bé lấy tay che mặt khi thấy tôi chụp ảnh. Cha em đứng sau em, anh đang mua thức ăn để dùng khi "xả chay." Ở phía đằng xa, sau cả hai, là một lá cờ Việt Nam giương cao nhân kỉ niệm ngày thống nhất đất nước

Một tín đồ đang đứng trước thánh đường. Không khí trong làng lúc này vẫn tĩnh lặng vì mặt trời còn treo cao, người dân đang nhịn ăn và nghỉ ngơi trong nhà.

Một thiếu nữ (cùng mèo của mình) đang trên đường đi gặp bạn bè sau khi mặt trời đã khuất.

Thánh đường Jamiul Azhar, một trong 15 thánh đường Hồi giáo ở Châu Đốc, thu hút đến 250 tín đồ đến tham dự vào tháng Ramadan.

Theo truyền thống, khi mặt trời lặn, cánh đàn ông sẽ chuẩn bị một món ăn gần giống súp làm từ nước cốt dừa để mọi người dùng bữa "xả chay."

Làng Châu Phong có nhiều thánh đường, trong đó có cả thánh đường dành cho phụ nữ, nhưng nhiều người vẫn có thói quen cầu nguyện tại nhà.

Cánh cổng của thánh đường được xây từ năm 1730 là nhân chứng cho lịch sử và di sản Hồi giáo lâu đời tại làng Châu Phong.

Vì lý do sức khỏe, không hiếm khi các cụ già phải "xả chay" trước giờ chính thức.

Một bé gái cùng các cô dì tại thánh đường dành cho phụ nữ.

Một số tín đồ sống ở những nơi khác cũng bắt phà đến làng Châu Phong để tham gia cầu nguyện.

Trẻ em không cần phải nhịn ăn, nên các em vẫn được nô đùa trước nhà thay vì đến thánh đường như cha mẹ và anh chị.

Cô bé này đang mua hàng từ một tiệm tạp hóa. Có lẽ là món quà vặt mà em sẽ "đánh chén" ngay khi đến giờ "xả chay."

Hôm nay, chú Mohamad sẽ đảm nhiệm việc nấu bữa "xả chay" cho mọi người. Bữa tối lần này sẽ là món cháo mặn.

Vị Imam (người lãnh đạo) của thánh đường Jamiul Azhar xem đồng hồ để báo giờ "xả chay."

"Xả chay" không chỉ đơn thuần là ăn. Đó có thể là ngồi nhâm nhi ly cà phê, tận hưởng gió chiều cùng bạn bè bên vỉa hè.

Các em bé thắp nến vào một đêm khi tháng Ramadan gần kết thúc. Tôi được dân làng cho hay đây là truyền thống chỉ có ở Châu Phong, nến được thắp vì đẹp chứ không mang ý nghĩa sâu xa nào khác.

Theo quy tắc của Hồi giáo, các tín đồ phải làm sạch bản thân bằng nước trước khi bước vào thánh đường.

Giày của các tín đồ cũng phải được để bên ngoài.

Một cậu bé trên đường đến thánh đường vào ngày đầu tiên sau tháng Ramadan. Những chuyển động thường ngày của ngôi làng lại bừng dậy — mọi người có thể ăn, uống và trao nhau những thức quà một cách tự do.

Joanik Bellalou là một nhiếp ảnh gia tại Việt Nam. Độc giả có thể theo dõi các tác phẩm của anh tại đây.

Bài viết đăng tải lần đầu vào năm 2022.

]]>
info@saigoneer.com (Joanik Bellalou. Ảnh: Joanik Bellalou.) Văn Hóa Mon, 23 Feb 2026 12:00:00 +0700
Tản mạn về ông đồ và tục cổ truyền xin chữ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18060-tản-mạn-về-ông-đồ-và-tục-cổ-truyền-xin-chữ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18060-tản-mạn-về-ông-đồ-và-tục-cổ-truyền-xin-chữ

Nói Tết quy tụ những gì đẹp đẽ nhất của văn hóa Việt cũng không sai, bởi hơn cả một thời khắc chuyển giao giữa cũ và mới, đây cũng là lúc con người ta được “sống lại” với những giá trị truyền thống lúc bấy giờ. 

Đó là những phiên chợ rộn ràng để tìm thấy hương vị quê nhà; chiếc bánh chưng vuông vắn như đất, đòn bánh tét tròn tượng trưng cho trời là chút lòng thành nhưng cao quý dâng lên tổ tiên; rồi chiều 30, ai nấy dựng trước nhà một cây nêu cao treo chuông con rung rinh với ý niệm xua đuổi những điều không lành.

Hay khi những nếp giấy đỏ bắt đầu được treo dọc khắp phố Hàng Mã, tôi lại ngẫm nghĩ về những ông đồ cho chữ trên giấy dó. Người xin xin gì nhiều hơn một câu chữ thư pháp? Còn người cho, cho gì nhiều hơn một nét mực tàu bay?

Áo dài, khăn đóng… ông đồ túc nho

Trong khoa cử Nho học, những sĩ tử đã thi qua ba kỳ thi đỗ Tú Tài sẽ được người đời gọi là ông Đồ. Họ có thể đậu những kỳ thi cấp thấp, không đỗ đạt hay chưa đủ để được nhà nước cho làm quan thì họ phải học thêm để thi những kỳ thi cao hơn sau đó như thi Hội, thi Đình… hoặc tạm kiếm sống bằng những nghề dạy học (gọi là “thầy đồ”), viết thuê.

Thầy đồ ngồi đọc sách, 1915. Ảnh: Léon Busy.

Ấn phẩm Nếp Cũ Con Người Việt Nam do tác giả Toan Ánh biên soạn có đoạn viết: “Học khai-tâm không có trường của nhà nước, nhưng tại làng xã nào cũng có một vài ông đồ dạy trẻ. Học trò thường học sách viết, sách in rất đắt, ông đồ nào cũng có một tủ sách, các học trò chép lại bài học qua những sách của ông đồ…” 

Thế nhưng để được gọi là ông đồ, không phải chỉ cần mặc áo dài khăn đóng biết viết. Đây là một danh xưng để gọi những người vừa giỏi chữ vừa có đạo đức và hiểu biết sâu rộng. Dù có thể chưa đỗ đạt, nhưng họ vẫn giữ phẩm hạnh, sống ngay thẳng, giữ lễ nghĩa, bởi người xưa vốn đã quan niệm việc học là không chỉ học chữ, mà phải học cả đạo làm người. Ông đồ xưa chính là biểu tượng của trí thức, đạo đức, nhân cách trong xã hội truyền thống. Người ta trọng vọng ông đồ không chỉ vì chữ đẹp, mà vì ông có tâm sáng, lòng ngay, đạo nghĩa vững.

Tấm tắc ngợi thiên tài:
"Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay"
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)

Người xưa thường tìm đến ông đồ khi cần “xin chữ,” hoặc cần người có chữ nghĩa và hiểu biết giúp việc văn tự. Tục xin chữ, cho chữ cũng đã ra đời từ đây, mỗi dịp hội hè lễ Tết, sĩ tử, người hiếu học xin chữ ông đồ như một cách “lấy vía” may mắn, giỏi giang. Song để xin chữ khi ấy không đơn giản mà như một nghi thức không thành văn. Để xin chữ thầy đồ, người xin phải sắm một phần lễ vật nhỏ gồm cau trầu, chè thuốc… nhưng thành tâm đến nhà. Người cho chữ cũng luôn phải nghiêm chỉnh, tôn kính, cho đúng người trọng chữ nghĩa chứ không kiểu “học giả thích làm sang.”

Ông đồ viết chữ trên phố Hà Nội, 1913-1917. Ảnh: Léon Busy.

Chữ được viết theo kiểu thư pháp, thường là chữ Nho và có thể viết theo nhiều cách trên nền giấy đỏ, bởi màu đỏ vốn là màu sắc đem lại sự may mắn theo quan niệm của người phương Đông. Người cho chữ tùy tâm trạng, tùy hoa tay mà tạo ra những hình thái con chữ lạ mắt, độc đáo. Mỗi chữ hiện ra dưới tay các thầy đồ không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật thư pháp, mà còn bộc lộ tấm lòng, tính cách, tâm hồn và cả sự sáng tạo của mỗi cá nhân.

Mực tàu, nghiên bút, “nhất tự thiên kim”

Người xưa có câu “nhất tự thiên kim” tức “một chữ đáng nghìn vàng,” ảnh hưởng từ Lã Bất Vi theo Sử ký Tư Mã Thiên (Trung Quốc). Vị Thừa tướng cho treo sách ở quốc môn và thưởng vàng cho ai có thể thêm bớt chữ. Chính bởi quyền thế nghiêng trời lệch đất, chẳng ai dám bước ra sửa sách. Từ đó, câu nói trên trở thành điển cổ để chỉ văn tự, chữ nghĩa có giá trị rất cao.

Hơn cả sự hiện hữu về mặt hình, con chữ là cách để nhân loại lưu giữ, khai mở và kết nối. Do vậy người ta mới so sánh chữ quý như vàng. Thư pháp gia - TS Cung Khắc Lược giải thích: “Trong tư tưởng, trong tình cảm và trong tâm hồn bao giờ cũng được biểu hiện bằng lời, bằng từ vựng, bằng văn bản… Vậy thì một chữ trên văn bản, một chữ của tim, của óc nêu ra cho nhau, tặng nhau đáng nghìn vàng là vô cùng xứng đáng, quý hơn tiền của nhiều.”

Ông đồ viết chữ trước Chùa Hương, Hà Nội, 1995. Nguồn ảnh: tài khoản Flickr @lonqueta.

Việc xin chữ ngày một trở nên thịnh hành và trở thành phong tục đẹp của người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về. Bất kể là ai, từ miền ngược đến miền xuôi và cũng chẳng phân biệt sang nghèo, chỉ cần có sự thành tâm thì đều có thể xin chữ.

Mỗi nét mực trên giấy của ông đồ chất chứa một nỗi niềm, một tâm tư hay một ý niệm nhất định. Xin chữ Cát Tường, Như Ý... để cầu mong sự bình an cho gia đình. Xin chữ Phát, Lộc, Tài… hy vọng việc làm ăn thành công, thuận buồm xuôi gió. Những người trẻ thì xin chữ Chí, chữ Đắc… để vững lòng trước những khó khăn.

Cũng không còn nặng nghi lễ như xưa, không phải cứ “áo the, khăn xếp,” áo nâu, râu tóc bạc phơ mới là người cho chữ mà người viết, “ông đồ Tây,” “bà đồ"... đều có. Không chỉ đóng khung trong “mực tàu, giấy đỏ” mà đã đủ các chất liệu gỗ, đá, trúc, tre, lụa, gấm. Rồi Triện, Lệ, Khải, Thảo, Hành… cách viết nào cũng có. Người người xếp hàng và chờ đợi dọc phố, dưới các đền chùa để xin những con chữ “phượng múa, rồng bay” như một tục lệ đẹp không thể thiếu của ngày đầu năm mới.

Muôn hình vạn trạng ông đồ, bà đồ ngày nay. Ảnh: Alberto Prieto.

Các “phố ông đồ” cũng ra đời nhằm tôn vinh phong tục truyền thống này. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được biết đến như “Làng sĩ tử” phía Bắc. Tục xin chữ ở Nam bộ bắt nguồn từ thế kỷ thứ 17, thời chúa Nguyễn vào khai phá vùng đất phương Nam cùng với các đợt người miền Bắc, miền Trung di cư vào theo. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ 17 khi người Hoa bắt đầu định cư và khai phá ở Biên Hoà - Đồng Nai thì tục xin chữ mới nở rộ. Chính quá trình cộng cư lâu dài của các nền văn hóa cũng ảnh hưởng ít nhiều đến nét đặc trưng riêng của tục xin chữ vùng này.

Và tại các con phố này ngày nay, quá nửa “ông đồ” là sinh viên khoa Hán-Nôm hay người yêu nghệ thuật; người xin chữ thì đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp, ngành nghề. Nhưng không phải là trào lưu nhất thời, tôi coi đây là sự trao truyền văn hoá, bởi ai thì ai, nhưng cốt lõi của phong tục vẫn được giữ trọn. Người cho thì thả theo nét bút cái tâm, cái tài. Người xin thì tôn trọng đạo nghĩa và nét đẹp truyền thống của dân tộc.

Ảnh: Alberto Prieto.

[Ảnh bìa: Léon Busy.]

]]>
info@saigoneer.com (Văn Tân.) Văn Hóa Mon, 16 Feb 2026 12:38:59 +0700
Nghía mâm ngũ quả Bắc, Trung, Nam để thấy Tết mỗi miền một vẻ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18063-nghía-mâm-ngũ-quả-bắc,-trung,-nam-để-thấy-tết-mỗi-miền-một-vẻ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18063-nghía-mâm-ngũ-quả-bắc,-trung,-nam-để-thấy-tết-mỗi-miền-một-vẻ

Ngày cuối năm, lớp bụi mỏng trên bàn thờ được thổi bay sau mấy lượt mẹ huơ cây chổi lông gà lia lịa. Những sợi lông mềm quét qua từng thớ gỗ, từng chân lư hương, khe kẽ bát nhang, nhẹ như một cái chạm đánh thức căn nhà sau giấc ngủ dài.

Trong bếp, mùi mứt dừa thơm phức còn ươm hơi nóng trên bếp, bọn trẻ con chúng tôi tỉ mỉ lau từng trái cây mẹ mua trong buổi chợ sớm, có trái vừa được cha cắt ngoài vườn, mong ngóng mẹ mau mau xuống bếp sắp quả vào chiếc đĩa tròn thật to. Tôi sẽ ngó thật kỹ xem trái dừa được đặt ở đâu cho vững, trái xoài vàng ươm được kê thế nào cho vừa mắt.

“Cầu-dừa-đủ-xoài-sung” — đó là mâm ngũ quả truyền thống nhà tôi vẫn dâng lên bàn thờ gia tiên mỗi độ Tết đến xuân về. Từ thuở nhỏ, tôi đã quen với những câu chuyện về ý nghĩa của từng loại quả, được bà ngoại và mẹ chậm rãi kể lại trong những buổi chiều cuối năm, khi căn nhà thơm mùi mứt Tết và gió xuân khe khẽ lùa qua hiên.

Ngoại tôi nói, mâm ngũ quả là lời cầu chúc không thành tiếng. “Cầu” lấy ý từ quả mãng cầu là cầu mong, là ước vọng; “dừa” đọc trại thành “vừa,” mong cuộc sống vừa đủ, không thiếu thốn; “đu đủ” là đủ đầy, no ấm quanh năm; “xoài” gần âm với “xài. ”ước mong có của để chi tiêu, không chật vật; “sung” là sung túc, viên mãn, là niềm hy vọng cho một năm mới hanh thông, phát đạt.

Mâm ngũ quả miền Nam. Minh họa: Dương Trương.

Từ lời ngoại, tôi nhận ra người xưa không mơ những điều quá xa xôi. Mâm ngũ quả của bà không mang tham vọng giàu sang, mà chất chứa ước mơ về cuộc sống vừa vặn với mình, biết đủ, biết ơn và còn chỗ cho hy vọng nảy nở. Mỗi lần nghe ngoại kể, tôi lại thấy những trái cây trên mâm không còn là vật vô tri. Chúng trở thành những lời chúc được gói ghém bằng tất cả sự chân thành gửi đến tổ tiên, một cuộc đối thoại giữa các thế hệ.

Với mẹ, câu chuyện mâm ngũ quả được nối dài bằng những kinh nghiệm đời thường, chắt lọc từ tháng ngày tảo tần. Mẹ dặn phải chọn trái dừa thật tròn để làm trụ, lựa xoài chín vàng ươm rồi đặt ra phía trước cho sáng mâm, tìm quả đu đủ vừa tay để kê cho chắc, mãng cầu cũng được chọn kỹ, da còn xanh, cuống tươi rồi xếp khéo vào giữa, sung điểm xuyết để mâm quả thêm đầy đặn. Mỗi thứ một vị trí, không chỉ khoe sắc quả mà còn giữ sự hài hoà, cân đối và vững chãi.

Khi lớn lên, rời xa mái nhà quen thuộc, có cơ hội đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, tôi mới nhận ra: mâm ngũ quả không chỉ có một cách trình bày và ý nghĩa.

Nhóm bạn tôi, mỗi đứa một miền quê, hay ngồi lại với nhau vào những ngày cuối năm, rôm rả từ việc sắm sửa, dọn dẹp, gói ghém Tết sao cho đúng kiểu nhà mình. Và chính từ những khác biệt rất đỗi quen thương ấy, tôi bất ngờ trước sự đa dạng trong cách bày biện mâm ngũ quả của ba miền đất nước. Mỗi nơi lại có cách lựa chọn và sắp đặt rất riêng, phản ánh điều kiện tự nhiên, tập quán và cả tính cách con người nơi ấy.

Mâm ngũ quả miền Bắc. Minh họa: Ngọc Tạ.

Với miền Bắc, mâm ngũ quả mang vẻ trang nghiêm, cân đối và hài hòa. Chuối xanh gần như không thể thiếu, thường được đặt ở dưới cùng, xòe rộng như bàn tay nâng đỡ, che chở. Trên nền chuối là bưởi hoặc phật thủ, biểu tượng cho sự tròn đầy, phúc lộc. Xen kẽ là cam, quýt, táo, hồng… tạo nên sắc màu rực rỡ nhưng vẫn giữ được nét nền nã.

Người Bắc không quá câu nệ số lượng đúng năm loại, mà chú trọng ý nghĩa và sự hài hòa âm dương, màu sắc. Nhìn mâm ngũ quả miền Bắc, tôi thấy thấp thoáng tính cách của con người nơi đây: chừng mực, chỉn chu và hướng nhiều về truyền thống.

Miền Trung lại mang một câu chuyện khác. Đất đai khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên khiến trái cây không phong phú như hai miền còn lại. Bởi vậy, mâm ngũ quả miền Trung không quá đặt nặng hình thức hay tên gọi mang tính cầu chúc. Người miền Trung quan niệm “có gì dâng nấy,” quan trọng là sự thành kính.

Trên mâm có thể là thanh long, dứa, cam, chuối, dưa hấu… những loại quả sẵn có theo mùa. Bên cạnh đó, với sự giao thoa văn hóa giữa Bắc và Nam, mâm ngũ quả của người miền Trung thường vẫn được bày đủ chuối, mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài. Cách bày biện giản dị, mộc mạc, không cầu kỳ, nhưng lại toát lên sự chân chất, bền bỉ và niềm tin rằng dù cuộc sống còn nhiều gian nan, chỉ cần lòng người ngay thẳng, điều tốt đẹp rồi sẽ đến cùng năm mới.

Mâm ngũ quả miền Trung. Minh họa: Khanh Mai.

Và khi được kể về mâm ngũ quả miền Nam tôi đã luôn rất hào hứng nói về cách “chơi chữ” đầy thú vị: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, ghép lại thành ước mong “cầu vừa đủ xài sung” cùng những câu chuyện mà bà và mẹ đã kể. Chuối thường không xuất hiện vì phát âm gần với “chúi nhủi,” không may mắn theo quan niệm dân gian. Bên cạnh đó còn có nhiều loại quả cũng không được phép xuất hiện trên mâm ngũ quả với ý nghĩa kiêng kỵ tương tự. Ví dụ như lê và táo bị tránh vì liên tưởng đến “lê lết”, “đổ bể”, báo hiệu sự thất bại. Cam, quýt cũng ít được chọn do gắn với câu “quýt làm cam chịu”, hàm ý vất vả, lam lũ.

Những loại quả có gai nhọn như mít, sầu riêng,.. bị xem là mang ý nghĩa chông gai, trắc trở hay các loại quả có vị đắng, cay, chua như khổ qua, ớt, me không đem lại năng lượng tích cực cho năm mới. Ngoài ra, những quả có mùi quá nồng thì bị cho là gây khó chịu, thiếu sự thanh tịnh nơi ban thờ. Thay vào đó là dừa, đu đủ, xoài với dáng tròn đầy, màu sắc tươi tắn. Mâm ngũ quả miền Nam nhìn vào đã thấy Tết: sung túc, vui vẻ và tràn đầy hy vọng cho năm mới no đủ, làm ăn khấm khá.

Khi nhóm bạn tôi mỗi đứa kể về mâm ngũ quả quê mình, tôi chợt nhận ra: sự khác nhau ấy không tạo nên khoảng cách, mà ngược lại, khiến câu chuyện Tết thêm phong phú. Mỗi mâm ngũ quả là một lát cắt văn hóa, là cách người Việt đối thoại với thiên nhiên và gửi gắm ước mơ cho tương lai. Đặc biệt khi tìm hiểu kỹ hơn, tôi dần hiểu rằng những điều bà và mẹ gìn giữ trong mâm ngũ quả không chỉ là kinh nghiệm truyền đời, mà còn ẩn chứa một quan niệm văn hóa lâu đời của người Việt: thuyết ngũ hành. “Ngũ quả” — năm loại trái cây không đơn thuần là con số tượng trưng, mà là cách con người gửi gắm ước mong về sự hài hòa của đất trời trong năm mới.

Theo quan niệm dân gian, mâm ngũ quả là sự hội tụ của năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, thể hiện qua màu sắc, hình dáng và hương vị của từng loại quả. Trái xanh tượng trưng cho Mộc, mang ý nghĩa sinh sôi, khởi đầu; sắc vàng, nâu của quả chín gợi Thổ là sự bền vững, chở che; màu đỏ, cam đại diện cho Hỏa là ấm áp, may mắn; những quả có sắc trắng, ánh sáng nhạt gợi Kim là sự tinh khiết, đủ đầy; còn Thủy hiện diện qua độ mọng nước, tươi mới, biểu trưng cho dòng chảy hanh thông của cuộc sống. Khi năm yếu tố ấy cùng hiện diện trên bàn thờ, người xưa tin rằng gia đạo sẽ được cân bằng, năm mới sẽ thuận hòa, yên ấm.

Mâm ngũ quã đại diện cho triết lý ngũ hành.

Có lẽ vì thế mà dù mỗi miền quê có cách chọn quả và bày biện khác nhau, tinh thần chung của mâm ngũ quả vẫn không đổi. Từ nải chuối xanh miền Bắc nâng đỡ cả mâm quả, đến mâm quả mộc mạc của miền Trung hay cách chơi chữ đầy lạc quan của miền Nam, tất cả đều hướng đến sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Ngũ hành trong mâm ngũ quả, suy cho cùng, không nằm ở việc đủ hay thiếu một loại quả nào, mà ở tấm lòng gửi gắm vào đó.

Theo nhịp chảy của thời gian, của sự hiện đại và tiến bộ, mâm ngũ quả cũng chẳng thể nằm ngoài quy luật vận hành ấy. Khi mà trái cây ngoại nhập xuất hiện nhiều hơn, cách bày biện trở nên sáng tạo, thậm chí có những mâm quả được tạo hình công phu, chạm khắc độc đáo. Khi đứng trước những mâm quả ấy, tôi thấy lạ mà quen: lạ vì màu sắc rực rỡ, hình dáng mới lạ, nhưng quen vì trong từng trái quả, vẫn chất chứa sự thành tâm, vẫn hiện lên sự tỉ mỉ của những người cẩn thận chọn từng quả, xếp từng vị trí. Dẫu thời gian và hoàn cảnh đổi thay, tấm lòng con cháu gửi về tổ tiên vẫn nguyên vẹn.

Và chừng nào, trong những ngày đầu năm, trên bàn thờ mỗi gia đình Việt còn mâm ngũ quả được bày lên bằng sự thành tâm, chừng đó Tết vẫn còn nguyên vẹn hồn cốt. Dáng Tết có thể đổi thay theo thời gian, nhưng mâm ngũ quả với tất cả ký ức, ý nghĩa và yêu thương vẫn lặng lẽ ở đó như một mùa xuân bất tận, không bao giờ cũ hay xa lạ.

]]>
info@saigoneer.com (Thảo Nguyên. Minh họa: Dương Trương, Mai Khanh và Ngọc Tạ.) Văn Hóa Sat, 14 Feb 2026 16:37:17 +0700
Bảo vật quốc gia bị hư hại và câu chuyện bảo tồn di sản giữa thời hiện đại https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18061-bảo-vật-quốc-gia-bị-hư-hại-và-câu-chuyện-bảo-tồn-di-sản-giữa-thời-hiện-đại https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18061-bảo-vật-quốc-gia-bị-hư-hại-và-câu-chuyện-bảo-tồn-di-sản-giữa-thời-hiện-đại

Một bảo vật quốc gia từng bị hư hại được trưng bày như thể chưa có chuyện gì xảy ra, trong khi nhiều tác phẩm khác được trưng bày với rất ít thông tin. Điều này cho chúng ta thấy gì về cách bảo tàng mỹ thuật đang bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam và định hình câu chuyện lịch sử nghệ thuật của nước ta ngày nay?

Trong những tuần cận Tết, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh lại trở nên nhộn nhịp hơn thường lệ, như vẫn diễn ra mọi năm. Từ cổng chính bảo tàng đến cầu thang xoắn của tòa nhà di sản gần trăm năm tuổi, nhiều khách tham quan trẻ diện áo dài tạo dáng chụp ảnh Tết, trong khi du khách nước ngoài cũng tranh thủ chụp ảnh trong mọi ngóc ngách. Chỉ một số ít khách trong số đông nán lại để xem các tác phẩm được trưng bày rải rác trong những gian phòng khác nhau của tòa nhà chính – nơi lưu giữ bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật hiện đại, chủ yếu của các họa sĩ miền Nam trước và sau năm 1975.

Bảo quản kiệt tác sơn mài bằng nước rửa chén

Bước qua khỏi gian phòng trung tâm trưng bày các tác phẩm điêu khắc trên tầng hai, khách tham quan rẽ trái và lần theo đường hành lang tối, dẫn đến một trong những bảo vật quốc gia của bảo tàng: kiệt tác sơn mài ‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’ (1989) – hiện diện trên bức tường lớn trong một căn phòng đặc biệt có máy lạnh, dành riêng cho danh họa Nguyễn Gia Trí (1908–1993).

Nguyễn Gia Trí (1908–1993). Vườn Xuân Trung Nam Bắc, 1989. Sơn mài trên vóc. 200 x 540 cm. Bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngay đối diện tác phẩm, dụng cụ và chất liệu sáng tác của Nguyễn Gia Trí được trưng bày sau lớp kính, bên tường bên cạnh là một số bản ký họa chì và màu nước. Tuy nhiên, không thông tin nào giải thích về sự quan trọng của chất liệu sơn mài và kỹ thuật vẽ làm nên giá trị của tác phẩm. Trong tranh, 20 thiếu nữ trong trang phục truyền thống và áo dài từ ba miền đất nước mừng hội xuân, bao quanh bởi chùa chiền và khung cảnh thiên nhiên trong không khí rộn ràng. Màu đỏ đặc trưng của sơn mài chiếm vị trí làm chủ đạo; kỹ thuật khảm vỏ trứng mềm và dát vàng đóng vai trò quan trọng cho cả bố cục tranh. Nguyễn Gia Trí đã dành gần 20 năm để hoàn thành tác phẩm này với sự hỗ trợ của các học trò: từ năm 1969 khi đất nước còn trong giai đoạn khốc liệt của chiến tranh, đến năm 1989 trong giai đoạn chuyển mình của thời kỳ Đổi mới.

Vật dụng cá nhân và dụng cụ vẽ của Nguyễn Gia Trí tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Ấn tượng đầu tiên của phần lớn khách tham quan khi bước vào gian phòng là sự trầm trồ. Có người dừng lại hỏi: “Nguyễn Gia Trí… phải đường D2 cũ hong?” rồi tiếp tục tạo dáng chụp ảnh ở nhiều góc khác nhau. Những người khác, đặc biệt là khách nước ngoài, bước qua lại trước tác phẩm, nheo mắt đọc những dòng chữ trên tường, chỉ để tìm được vỏn vẹn vài dòng về thông tin tác phẩm và tiểu sử họa sĩ. Sau sự ngưỡng mộ ban đầu, một số bắt đầu bày tỏ sự khó hiểu khi cảm nhận được có điều gì hơi lạ về bảo vật quốc gia này. Một vài chỗ trên bức tranh có mảng sơn đen như bị tróc, phần dát vàng bị đen đi hoặc mòn, mảng khảm vỏ trứng như bị đứt gãy làm mất đi sự uyển chuyển của chi tiết đường nét. Đáng chú ý, dù màu đỏ tươi chủ đạo vẫn nổi bật, phần lớn những mảng màu khác đã bị phai nhạt một cách khó phủ nhận.

“Bức này chắc chắn bị hỏng rồi. Lớp sơn bên kia tróc ra rồi kìa, màu cũng bị phai bị tối đi,” một khách người Việt nói với nhóm bạn của mình sau khi quan sát tác phẩm. Kiệt tác sơn mài vẫn nằm yên trên tường như một lời nguyện cầu mùa xuân cho đất nước qua khỏi chiến tranh đến thống nhất, nhưng với cảm giác mâu thuẫn âm thầm. Có gì đó không ổn lắm, và dường như không ai còn biết, hoặc còn nhớ đến, sự cố đã thay đổi diện mạo của bức tranh mãi mãi.

Chi tiết tác phẩm Vườn Xuân Trung Nam Bắc tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’ trở thành tâm điểm của các tựa đề báo vào đầu năm 2019 khi bị phát hiện hư hại nghiêm trọng sau khi được tháo dỡ xuống vệ sinh tranh vào tháng 12 năm 2018. Sau đó, nhiều thông tin cho biết bức tranh đã được xử lý bằng giấy nhám, bột chu, và thậm chí… nước rửa chén – có lẽ đây là vật liệu cuối cùng mà ai đó có thể nghĩ đến trong công tác bảo quản. Sự việc làm dậy lên phản ứng kịch liệt từ cộng đồng nghệ thuật và cơ quan quản lý, kèm theo hàng loạt bài viết chỉ trích sự bất cẩn và thiếu trách nhiệm trong công tác bảo quản, cùng với sự kêu gọi cấp bách phục hồi bảo vật quốc gia với kỹ thuật đặc biệt.

Theo họa sĩ Nguyễn Xuân Việt một trong số ít học trò am hiểu kỹ thuật sơn mài của Nguyễn Gia Trí, quá trình khôi phục lại bức tranh chỉ có thể đến 80%, do chất liệu trên bề mặt tranh đã bị hư hại nặng và không thể quay lại trạng thái ban đầu. Nói theo cách khác, bức tranh vẫn còn “sống sót” về mặt vật chất, nhưng phần hồn đã không còn. Gần 7 năm sau, vào năm 2026, tác phẩm được khôi phục lại một phần và trở lại trưng bày trước công chúng như thể chưa có sự cố gì xảy ra. Người xem không có lựa chọn nào khác ngoài việc im lặng chấp nhận thực tế là trước mắt mình là tác phẩm từng bị hư hại, hầu như không có sự ghi nhận nào về những gì đã mất, với thông tin gần như tối thiểu khó vượt ra khỏi câu chuyện quen thuộc về niềm tự hào quốc gia và biểu tượng mang tính lịch sử.

Khách tham quan chụp hình cùng tác phẩm.

Vượt ra khỏi câu chuyện của một kiệt tác bị hư hại

Rời khỏi căn phòng trưng bày bảo vật và quay lại hành lang, khung cảnh tương phản hiện ra khá thú vị: trong khi 20 thiếu nữ đang lặng lẽ mừng xuân trước kiệt tác ‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’, khách tham quan bên ngoài tất bật chụp ảnh Tết với đầy đủ đồ nghề chụp ảnh, chân máy, cả tấm hắt sáng đủ kích cỡ chiếm kín ban công và cầu thang. Có người quay TikTok ở ban công, có người ngồi ngủ gật trên ghế, trong khi khách nước ngoài tìm đường len lỏi giữa dòng người, cố gắng tiếp cận các tác phẩm với dòng thông tin ít ỏi.

Câu chuyện bảo vật quốc gia đã bị mất đi phần hồn sau hư hại từ sự thiếu trách nhiệm trong công tác bảo quản, cũng như vai trò của bảo tàng đang dần mờ nhạt. Phần lớn bộ sưu tập đã vô tình trở thành phông nền cho khách tham quan, khi cách trưng bày thiếu liên kết và bối cảnh chưa đầy đủ đã vô tình hạn chế khả năng tiếp cận sâu hơn, hoặc thậm chí cả sự chú ý tối thiểu, đến tác phẩm và ý nghĩa lịch sử của chúng. Dù đáng tiếc là nhiều khách tham quan chỉ tương tác với bảo tàng trên mức độ bề mặt, hành vi này có thể được nhìn nhận không chỉ từ sự thờ ơ cá nhân với tác phẩm nghệ thuật, mà còn từ điều kiện vận hành hiện tại của một bảo tàng mang tầm cỡ quốc gia, khi việc bảo tồn còn đang bị xem nhẹ, và các tác phẩm được sắp xếp theo khung diễn giải một chiều và thiếu lời giải thích cần thiết.

Khung cảnh trong bảo tàng và khách tham quan chụp ảnh Tết.

Những điều trên đồng thời gợi mở thêm nhiều câu hỏi về thực trạng chung của nhiều tác phẩm khác trong bảo tàng: do kinh phí hạn chế từ nhà nước cho việc sưu tầm, bảo tồn và vận hành hằng ngày; điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam; cũng như những khó khăn về kiến trúc cổ với giới hạn không gian của tòa nhà. Chưa kể, khu đất nơi bảo tàng tọa lạc đã từng đối mặt với nguy cơ bị lún do ảnh hưởng từ công trình cao tầng được xây dựng ngay bên cạnh.

Tại thời điểm này, mối bận tâm không chỉ xoay quanh việc một tác phẩm đã bị hư hại ra sao hay vì sao. Sự việc mở ra bức tranh lớn hơn về thực trạng bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam, cũng như những khó khăn trong việc xây dựng nhận thức và kiến tạo những diễn giải có chiều sâu, phản ánh lịch sử mỹ thuật và di sản văn hóa tại Sài Gòn một cách đầy đủ và chính xác. Việc thoát ra khỏi “chiếc hộp thời gian” đọng lại của quá khứ nhiều biến động trong bối cảnh chuyển mình mới này không hề đơn giản. Tính cấp thiết của vấn đề càng trở nên rõ ràng hơn trong thời đại du lịch văn hóa và mạng xã hội, khi nhu cầu tiếp cận và tiêu thụ nghệ thuật của thế hệ trẻ ngày càng gia tăng, cũng như lượng du khách quốc tế đến Việt Nam cũng không ngừng tăng trong những năm gần đây.

Dự án xây dựng tòa nhà cao tầng bên cạnh từng gây ra tình trạng sụt lún, dẫn đến sự cố sập cổng phía bắc của bảo tàng.

Một bảo tàng mỹ thuật thuộc sở hữu không chỉ đơn thuần lưu giữ những gì còn sót lại từ quá khứ, mà còn đảm nhiệm vai trò nghiên cứu, bảo tồn và trưng bày những tác phẩm phản ánh di sản văn hóa và ký ức chung của một quốc gia, đồng thời thể hiện sự phát triển của kỹ thuật, thẩm mỹ, và cả giáo dục nghệ thuật qua từng giai đoạn. Trong bối cảnh hậu thuộc địa và độc lập của Việt Nam, bảo tàng giữ vị trí trọng tâm trong câu chuyện xây dựng quốc gia, thông qua lịch sử (mỹ thuật) được kiến tạo và đề cao thế hệ họa sĩ cách mạng. Tuy nhiên, quyết định để định hình những câu chuyện này lại không nằm trong tay công chúng, mà nằm ở các cơ quan quản lý. Điều còn lại trong khả năng của chúng ta là cách nhận diện và phản hồi trước những giới hạn trong cách mà lịch sử và nghệ thuật đang được đối xử và trình bày, cách chúng ta tiếp cận lịch sử với tinh thần phản biện, và tiếp tục tự viết nên câu chuyện của chính mình trong hiện tại và tương lai, vượt ra khỏi không gian của bảo tàng và lan tỏa trên nhiều nền tảng khác nhau.

Ủng hộ một bảo tàng mỹ thuật không chỉ dừng lại ở việc mua một tấm vé tham quan trong ngày rồi để lướt ngang tác phẩm và tiếp tục chụp ảnh. Điều đó còn đồng nghĩa với việc hiện diện một cách có ý thức: đặt câu hỏi vì sao các thiết chế và hệ sinh thái nghệ thuật của nước ta vẫn còn phát triển chưa tương xứng, và liệu chúng ta có thật sự hài lòng với việc những câu chuyện hiện tại được định hình, và cách ta trân trọng lịch sử cùng những kiệt tác mà thế hệ trước để lại. Bài học đắt giá từ bảo vật quốc gia từng bị xâm hại, và không phải là trường hợp duy nhất, cho thấy những vấn đề mang tính hệ thống chưa được khắc phục triệt để. Tuy nhiên, sự hứng thú của thế hệ trẻ đối với truyền thống, văn hóa nghệ thuật đang gia tăng ngày nay cũng đã mở ra hy vọng cho sự tương tác và những cuộc đối thoại mang tính tích cực hơn.

Ẩn mình trong những dòng chữ đối diện trước ‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’ là một câu nói của Nguyễn Gia Trí được ghi lại từ năm 1979: “Sáng tác ví như một bát nước, ta đổ tràn đầy, rồi những gì còn lại, ta giữ và phát triển.”

Những gì còn lại sau những hư hại và quá trình phục hồi chưa được trọn vẹn không chỉ là một bức tranh vật lý còn tồn tại, mà còn là trách nhiệm của những người liên quan, và cách chúng ta ghi nhớ, chất vấn, và gìn giữ những gì còn ở lại.

Được công nhận là bảo vật quốc gia vào năm 2013, ‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’ hiện đang được trưng bày trong bộ sưu tập thuộc Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Thông tin về tác phẩm và tham quan bảo tàng có thể được tìm thấy tại đây.

]]>
info@saigoneer.com (An Trần. Ảnh: An Trần.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Fri, 13 Feb 2026 15:47:52 +0700
Họa sĩ Lê Chân Như: Góp nhặt ký ức đời thường để vẽ nên Việt Nam màu sắc https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18054-họa-sĩ-lê-chân-như-góp-nhặt-ký-ức-đời-thường-để-vẽ-nên-việt-nam-màu-sắc https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18054-họa-sĩ-lê-chân-như-góp-nhặt-ký-ức-đời-thường-để-vẽ-nên-việt-nam-màu-sắc

“Mình nhớ lúc đó. Hồi còn trẻ, đang chạy xe máy với đám bạn, chỉ cần kiểu ‘ê, rảnh 15 phút không?’ là cả lũ gặp nhau [...], ăn vài món vỉa hè rồi chẳng làm gì cả; chỉ ngồi nhìn phố xá thôi. Vui lắm,” Lê Chân Như chia sẻ với Saigoneer về nguồn cảm hứng cho những bức minh họa của mình.

Như lọt vào “mắt xanh” của Saigoneer nhờ cách tái hiện nhịp sống Việt Nam vừa hóm hỉnh, vừa gần gũi. Định cư và sống tại California từ năm 23 tuổi, Như tìm đến hội họa như một cách ôn lại những ký ức tại nơi mình sinh ra và lớn lên, đồng thời giới thiệu văn hóa quê nhà ra thế giới. Chữ “vui” mà Như dùng để kể về thời trẻ cũng rất đúng với phong cách vẽ của cô nói chung, nhờ cách dùng màu rực rỡ, những khung cảnh vui tươi và sự náo nhiệt nhẹ nhàng.

Sinh ra ở Huế, có ba ở Hà Nội và từng làm việc tại Sài Gòn, Chân Như có một sự am hiểu tinh tế về đặc trưng của từng vùng đất. Sự am hiểu này giúp cô khéo léo nhào nặn những chất liệu văn hóa khác nhau thành một bức tranh toàn cảnh về Việt Nam, nhất là trong mắt những người đang ở xa xứ. Chẳng hạn như bức tranh vẽ Tết của Như có đủ bia Sài Gòn, bia Hà Nội, bia Huda, đi kèm với mâm ngũ quả miền Nam và những nhành hoa miền Bắc.

Con đường đến với nghệ thuật của Như có rất nhiều ngã rẽ. Sau khi tốt nghiệp, cô theo đuổi công việc công tác xã hội vì muốn giúp đỡ mọi người, nhưng rồi sớm thấy nản lòng trước những thủ tục giấy tờ và áp lực tìm tài trợ. Nhận thấy một cơ hội mới, cô đăng ký vào trường nghệ thuật tại Mỹ, bắt đầu với chuyên ngành nhiếp ảnh. Tuy nhiên, trong một tiết học, cô vô tình thấy tác phẩm của họa sĩ minh họa Victo Ngai người Hong Kong. “Nét vẽ gì mà hay thế này?” Như nhớ lại. ”Đây chính xác là những gì mình muốn làm, và mình đổi ngành ngay ngày hôm sau.”

Việc đào tạo bài bản giúp Như định hình rõ lại phong cách và mục tiêu của mình. “Mình biết mình muốn vẽ cái gì, chỉ là lúc mới chuyển qua thì tay nghề chưa tới để vẽ ra cho đúng ý.” Qua thời gian rèn luyện và nhìn lại các tác phẩm cũ, giờ Như đã có thể tạo ra những bức vẽ mà cô gọi là “dễ hiểu” và “có chuyện để kể.”

Hâm mộ Julia Rothman (họa sĩ của tờ New York Times), Chân Như luôn muốn tranh mình mang một thông điệp hay câu chuyện cụ thể. Tranh của cô nhìn qua cứ ngỡ được vẽ từ một bức ảnh có thật, nhưng thực chất đó là sự lồng ghép từ nhiều tư liệu, ký ức và cả trí tưởng tượng. Như bức tranh vẽ đám cưới chẳng hạn: ai nhìn vào cũng thấy quen với cảnh khách khứa lảo đảo cầm mic, trẻ con ngơ ngác nhìn người lớn, hay đôi uyên ương cùng rót tháp ly... Nhưng nếu nhìn kỹ vào số người đang cùng hát một lúc, người xem sẽ dễ dàng nhận ra đây chỉ là một khung cảnh có phần hư cấu và trào phúng.

Với những bức tranh khổ lớn, Chân Như tỉ mỉ chăm chút từng chi tiết nhỏ để gợi lên một bầu không khí hay một dòng cảm xúc chủ đạo. Ngược lại, những bức vẽ về một nhân vật hay đồ vật đơn lẻ lại mang đến cảm giác thân thuộc như những gì ta vẫn thấy hàng ngày. Nhiều tác phẩm bắt nguồn từ những mẩu ký ức đời thường, như bóng dáng anh công an ngồi sau xe Grab, hay cô bán cá từng quở Như vì tội đi nắng mà không chịu che chắn gì. Cô nhớ lại: “Nghĩ lại thấy mắc cười thiệt, đang chặt cá mà cũng ráng la mình sao không lo giữ da. Mà vậy mới là Việt Nam mình, lộn xộn bát nháo đủ thứ chuyện trên trời dưới đất”

Cầm tấm bằng nghệ thuật trên tay, Chân Như cũng phải xoay xở đủ cách để vừa thỏa đam mê, vừa lo toan chuyện cơm áo gạo tiền. Để tìm hiểu thực tế nghề họa sĩ minh họa tại Việt Nam, năm 2017, cô về Sài Gòn làm việc cho một đơn vị xuất bản, chuyên vẽ tranh biếm họa theo dòng thời sự. Dù đây là trải nghiệm hay, Như thú thật rằng mình không mấy phù hợp vì không thực sự thấy kết nối với những nội dung được giao.

Trong thời gian ở Sài Gòn, Như có dạy vẽ miễn phí tại Vin-Space Art Studio, chính điều này đã thôi thúc cô theo đuổi ngành sư phạm khi quay lại Mỹ. Sau khi vượt qua những tiêu chuẩn khắt khe để trở thành giáo viên mỹ thuật tại California, đến nay cô đã dạy ở một trường cấp hai được bốn năm. Công việc của cô là giúp các em học sinh làm quen với mọi phong cách, chất liệu, lịch sử và các ý tưởng nghệ thuật. Dù yêu nghề, cô tâm sự rằng công việc này bào mòn cả sức lực lẫn tâm trí, khiến cô không còn nhiều thời gian và năng lượng để chăm chút cho các tác phẩm của riêng mình.

Khi quay về Việt Nam, Chân Như kết nối với những người bạn cùng chí hướng trong giới sáng tạo, như nhóm ở Collective Memory hay OH QUAO, cũng là những nơi đang bày bán tranh của cô. Còn lại là những người bạn phương xa vẫn luôn cổ vũ cô trên mạng, chẳng nề hà chuyện ngôn ngữ hay khoảng cách địa lý. Cô vẫn thường xuyên về thăm nhà, và những chuyến đi này luôn mang lại cảm hứng cho các dự án mới. Như vẫn mơ một ngày tác phẩm của mình xuất hiện trên một tờ báo lớn như New York Times, hay được in lên áo thun Uniqlo. Còn hiện tại, tranh của cô vẫn đang đem lại niềm vui cho những ai vô tình bắt gặp, khi họ được thấy chính mình trong những lúc thảnh thơi “chẳng làm gì cả.”

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Minh họa: Chan-Nu Le.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Fri, 06 Feb 2026 11:39:07 +0700
Trăm năm rối cạn Tế Tiêu nuôi dưỡng tinh thần cộng đồng https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18051-trăm-năm-rối-cạn-tế-tiêu-nuôi-dưỡng-tinh-thần-cộng-đồng https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18051-trăm-năm-rối-cạn-tế-tiêu-nuôi-dưỡng-tinh-thần-cộng-đồng

Rời trung tâm Hà Nội, tôi men theo quốc lộ 21B để đến tổ dân phố Tế Tiêu, thị trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức (Hà Nội). Mảnh đất trù phú ven sông Đáy này là cái nôi của một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo: rối cạn.

Hôm ấy, phường rối có lịch diễn cho một đoàn khách vào buổi chiều. Nhưng từ sáng, sân đình đã rộn ràng. Người dựng phông, người kê ghế, người thử âm thanh. Những con rối gỗ treo lủng lẳng trong gian nhà bên chờ đến lượt lên sân khấu.

Phường rối cạn Tế Tiêu có khoảng 20 thành viên, trong đó có các cô chú đã ngoài 60.

Các thành viên phường rối, có người đã ngoài 60 tuổi, vừa trở về từ đồng ruộng. Xe đạp dựng ngoài sân, họ nhanh chóng thay áo dài, áo tứ thân rực rỡ màu sắc, vấn khăn. Từ những nông dân quen vốn “bán mặt cho đất bán lưng cho trời,” đến lúc biểu diễn, họ hóa thành những nghệ sĩ điêu luyện, nhịp nhàng với từng chuyển động và biểu cảm của quân rối.

Lão Trượng, nhân vật mở màn của rối cạn Tế Tiêu.

“Lão ra đây có cần xưng danh không nhỉ?” một giọng trầm, gằn, khỏe khoắn vang lên từ phía sau cánh gà. Trên sân khấu, Lão Trượng xuất hiện, áo đỏ, râu bạc, dáng đi khoan thai. Nếu rối nước có chú Tễu dẫn chuyện, thì rối cạn Tế Tiêu gửi gắm vai trò ấy vào hình ảnh một bậc cao niên phúc hậu, đại diện cho lớp người được kính trọng trong làng. Mọi ánh nhìn hướng về sân khấu để dõi theo những trò diễn.

Nghệ nhân Phạm Công Bằng, trưởng phường rối cạn Tế Tiêu.

Sau buổi diễn, nghệ nhân Phạm Công Bằng ngồi cùng tôi, kể lại câu chuyện hàng thế kỷ của rối cạn Tế Tiêu. Những lát cắt không chỉ gói gọn ở khía cạnh nghệ thuật, mà còn là ký ức và linh hồn của cả cộng đồng.

Rối cạn, mạch ngầm văn hóa của làng cổ Tế Tiêu

Múa rối ở Việt Nam gắn liền với đời sống sản xuất nông nghiệp, là nơi người nông dân gửi gắm tình yêu cuộc sống, đất nước, con người, thể hiện khát vọng no ấm và niềm tin vào điều thiện. Trong khi rối nước đã quen thuộc với nhiều người, rối cạn, dù ít được biết đến, vẫn âm thầm tồn tại hàng trăm năm.

Nghệ nhân chuẩn bị trước giờ diễn.

Mảnh đất Tế Tiêu có lịch sử lâu đời, là nơi cư dân Việt cổ sớm tụ cư, khai phá ruộng đồng và hình thành những sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú. Theo các bậc cao niên, rối cạn đã có mặt ở Tế Tiêu từ hơn 400 năm trước. Người dân kể với nhau rằng, vào năm 1573 (niên hiệu Hưng Phúc), ông Trần Triều Đông về đây khai hoang, lập làng, dạy dân trồng lúa, đồng thời sáng tạo múa rối cạn và truyền lại cho cộng đồng. Từ đó, nghệ rối bám rễ nơi này, trở thành thú vui tinh thần của người dân.

Rối cạn Tế Tiêu từng trải qua nhiều thăng trầm. Chiến tranh và ly tán từng khiến rối cạn tưởng như lụi tàn, nhưng từ giai đoạn 1956–1960, nghệ thuật này được khôi phục, phát triển mạnh nhờ các nghệ nhân tiền bối như Lê Năng Nhượng, Phạm Văn Bể. Từ những nhóm diễn rải rác, năm 1956, phường rối cạn Tế Tiêu chính thức ra đời. Đến nay, phường lưu giữ hơn 100 tích trò và hàng nghìn con rối, với khoảng 20 thành viên.

Nghệ nhân giao lưu với khán giả.

Nghệ nhân Phạm Công Bằng kể, ngày xưa, múa rối tồn tại một cách tự nhiên, gắn với nhịp điệu của mùa vụ. Diễn rối không cần sân khấu cầu kỳ. Hết mùa gặt, khi nông nhàn, người làng tụ họp ở sân đình những đêm trăng sáng. Khi chưa có điện, ánh đèn dầu đủ để mọi người quần tụ lại với nhau, chăm chú dõi theo những câu chuyện được kể trên sân khấu. Nghệ nhân không sống bằng nghề biểu diễn, họ chủ yếu là nông dân. Ban ngày cày cấy, tối lại đứng trong buồng trò, sau phông vải. Vì thế, rối cạn Tế Tiêu mang đậm tính cộng đồng.

Qua trăm năm, rối vẫn là hình thức giải trí mang tính cộng đồng cao.

Trải qua hàng trăm năm, hình thức xem rối đã thay đổi, khán giả ngày nay có thể là du khách thập phương, địa điểm diễn có thể là khu du lịch, nhưng tinh thần cộng đồng ấy vẫn còn nguyên vẹn.

Tổng hòa của nhiều loại hình nghệ thuật

Rối cạn Tế Tiêu là sự tổng hòa của nghệ thuật chế tác quân rối, sân khấu, điều khiển rối, hát, lời thoại và âm nhạc. Chưa kể, nhiều tích trò được chuyển thể từ chèo, tuồng, quan họ, hát văn, tạo nên sân khấu đa dạng nhưng vô cùng gần gũi.

Công việc chế tác con rối gồm nhiều bước.

Theo anh Bằng, quy trình chế tác quân rối trải qua nhiều công đoạn nối tiếp nhau, đòi hỏi sự tỉ mỉ. Trước hết là khâu chuẩn bị nguyên liệu, lựa chọn chất liệu phù hợp, chủ yếu là gỗ sung, gỗ mít. Tiếp đó, các nghệ nhân tạo hình, chạm khắc các bộ phận của con rối theo từng nhân vật cụ thể. Sau khi hoàn thiện phần tạo hình, các bộ phận cùng hệ thống que điều khiển được lắp ráp sao cho linh hoạt, thuận tiện việc biểu diễn. Công đoạn tiếp theo là sơn, vẽ và trang trí mỹ thuật, nhằm hoàn thiện diện mạo, thần thái và đặc điểm riêng của từng nhân vật. Khi phần tạo hình đã hoàn chỉnh, con rối được may mặc trang phục, chỉnh sửa lần cuối trước khi đưa vào sử dụng trên sân khấu.

Buồng trò là nơi cánh gà sân khấu.

Trò diễn của rối cạn Tế Tiêu khai thác chất liệu từ chính hiện thực đời sống, nhân vật lịch sử, và phong tục tập quán, tín ngưỡng. Đó là khung cảnh lao động nông nghiệp như cày bừa, cấy lúa, xay lúa giã gạo, hái cau, với những công cụ quen thuộc như cày, cuốc, con trâu, con gà. Bên cạnh đó là những câu chuyện lịch sử như Thánh Gióng đánh giặc Ân, Lý Công Uẩn dời đô. Các cảnh sinh hoạt lễ hội, tín ngưỡng, phong tục như thi hái quả, đánh đu, rước kiệu, đấu vật được thể hiện bằng ngôn ngữ rối vô cùng sinh động, dí dỏm. Các trò rối lồng ghép bài học đạo đức, lên án tệ nạn, thói hư tật xấu trong cộng đồng cũng để lại nhiều suy ngẫm cho người xem.

Cảnh đấu vật trong một trò rối.

Làm sao thể hiện được hồn cốt, thông điệp của tích trò đòi hỏi người biểu diễn phải hiểu từng quân rối, cốt truyện để sử dụng động tác phù hợp. Các động tác thông dụng của các quân rối bao gồm đi, đứng, giơ tay, cúi đầu, ngồi, cầm nắm đạo cụ… Khó hơn cả là các động tác bộc lộ cảm xúc nội tâm như sợ hãi, vui mừng, buồn bã. Chính những chuyển động này tạo nên “hồn” cho con rối. Điều này không chỉ yêu cầu sự linh hoạt về tay chân, mà còn là sự thấu cảm từng tích trò, từng tính cách nhân vật.

Một yếu tố không kém phần quan trọng là âm nhạc và lời thoại, giúp dẫn dắt cảm xúc, nhịp độ vở diễn — có lúc gấp gáp, giục giã, khi nhẹ nhàng, linh thiêng. Ban nhạc chơi cho phường rối gồm các nhạc cụ gõ như trống cái, trống con, não bạt, và các nhạc cụ dây gồm nhị, đàn tam. Tùy theo trò diễn, nghệ nhân sẽ phải biểu diễn những lời hát ở các thể loại khác nhau, từ dân ca, hát nói, hát ngâm đến tuồng, chèo, hát văn, quan họ.

Ông Nguyễn Văn Thuyết, người chơi đàn nhị trong ban nhạc.

Người giữ hồn rối cạn Tế Tiêu

Nhắc đến rối cạn, ai cũng nhớ đến cụ Phạm Văn Bể, người được xem là “cuốn từ điển sống” về rối cạn và là linh hồn của phường rối. Từ 8 tuổi, cụ Bể đã bộc lộ niềm yêu thích đặc biệt với những quân rối. Cụ đã dành cả một đời gắn bó với bộ môn này. Cụ làm mọi việc từ chế tác, viết kịch bản, dàn dựng, hướng dẫn và biểu diễn.

Con trai cụ Bể, nghệ nhân Phạm Công Bằng, lớn lên trong tiếng đục gỗ, trong âm thanh của tiếng đàn nhị, tiếng trống. “Chính cuộc đời của bố đã truyền cảm hứng, truyền nghề cho tôi,” anh nói. Anh Bằng vẫn còn nhớ cảm giác vui sướng khi tự tay làm con rối đầu tiên trong đời. Đó là nhân vật Thạch Sanh. Buổi diễn đầu tiên đến khi anh mới 12 tuổi.

 “Đứng trong buồng trò, nghệ nhân nghe rõ từng tiếng cười, từng tràng vỗ tay.”

Ngày đó, dù thấp bé nhất đoàn, anh vẫn muốn tham gia. Chính những trải nghiệm đầu tiên ấy đã nuôi dưỡng một tình yêu trong anh đối với di sản cha ông để lại. Khi cụ Bể qua đời, phường rối mất trụ cột, nhưng anh Bằng hiểu rằng giữ rối cạn là giữ ký ức của cả cộng đồng. “Đứng trong buồng trò, nghệ nhân nghe rõ từng tiếng cười, từng tràng vỗ tay, mình càng có động lực khi di sản của quê hương được nhiều người biết đến,” anh nói.

Là người dẫn dắt phường rối cạn Tế Tiêu ngày nay, nỗi trăn trở lớn nhất của anh Bằng là làm sao giữ di sản không bị mai một, để rối cạn Tế Tiêu luôn giữ được đời sống của nó trong cộng đồng dân làng, và xa hơn là trở thành sản phẩm du lịch độc đáo tiếp cận đến du khách gần xa.

]]>
info@saigoneer.com (Xuân Phương. Ảnh: Xuân Phương.) Văn Hóa Fri, 30 Jan 2026 17:02:25 +0700
'Gia đình bé mọn' của Dạ Ngân, bức tranh sống động về xã hội Việt Nam sau khi chiến tranh qua đi https://saigoneer.com/vn/loạt-soạt-bookshelf/18046-gia-đình-bé-mọn-của-dạ-ngân,-bức-tranh-sống-động-về-xã-hội-việt-nam-sau-khi-chiến-tranh-qua-đi https://saigoneer.com/vn/loạt-soạt-bookshelf/18046-gia-đình-bé-mọn-của-dạ-ngân,-bức-tranh-sống-động-về-xã-hội-việt-nam-sau-khi-chiến-tranh-qua-đi

Mỗi khi có đợt gió lồng lộng quật vào cửa sổ ngôi nhà của nhà văn Dạ Ngân, những trái me ngoài cửa rung lắc lộp cộp, tưởng như vỏ đạn rơi. Cây me này do người Mỹ trồng vài chục năm trước. Khu cư xá nơi Dạ Ngân ở cũng là họ xây, một sự thật ngẫm ra khá trớ trêu, vì chính bà đã từng tham gia kháng chiến chống Mỹ tại miền Nam ngày xưa.

Đây chỉ là một lát cắt nhỏ trong hằng hà sa số những khía cạnh trong cuộc đời đầy biến động của nhà văn, nhà báo Dạ Ngân. Sinh ra vào năm 1952, bà đã trải qua nhiều khó khăn, mất mát, sự chịu đựng và cả phản kháng như bao người Việt thuộc thế hệ mình, những trải nghiệm ai cũng ngầm hiểu, nhưng ít khi nói thành lời. Đây cũng chính là chất liệu để Dạ Ngân nhào nặn thành những truyện ngắn và bài viết của mình, bao gồm cả Gia đình bé mọn, tiểu thuyết mà theo tôi là nổi bật nhất trong sự nghiệp của bà.

Từng vạt tường trong ngôi nhà nhỏ của Dạ Ngân đều chi chít khung ảnh gia đình lớn nhỏ, cũ mới. Chúng tôi rảo quanh căn phòng. Đứng trước mỗi bức hình, Dạ Ngân chỉ vào từng gương mặt, kể cho tôi nghe rằng ai là khuôn mẫu của nhân vật nào trong Gia đình bé mọn. Kia là cô Ràng, người phụ nữ đứng đầu gia đình, đầy quyền lực, có thể “chẻ sợi tóc làm tư”; cô bé Thu Thi, cô con gái đi mót xơ dừa trước quán nước ở chợ về làm chất đốt; Đính, tác giả của “những con chữ buồn, run rẩy, và vẫn rất là lãng mạn,” người sẽ trở thành bạn đời của Tiệp; và đương nhiên không thể thiếu Tiệp, nhân vật chính của tiểu thuyết và phiên bản trong sách của Dạ Ngân.

Ảnh chụp ba của Dạ Ngân cùng gia đình chồng của bà. Ảnh: Kevin Lee.

Sau khi cho tôi xem loạt ảnh cũ, Dạ Ngân đem ra một chồng vở, từng trang phủ đầy nét chữ viết tay chân phương: đó chính là bản thảo gốc của Gia đình bé mọn. Phải mất hơn 5 năm, bà mới hoàn thành được bản thảo này, qua nhiều bận viết rồi lại ngưng, hay thậm chí có lần nguyên bản nháp cũng bị bỏ ngang. Cuối cùng, bên bờ hồ Đại Lải ở ngoại thành Hà Nội, Dạ Ngân tập trung suốt một tháng trời để nắn nót viết xong. Dòng nước đục ngầu phù sa cứ chậm rãi luồn quanh từng ngọn núi đầy sương, còn bà cứ viết, suốt 20 ngày liên tục, mỗi ngày một chương sách.

Ảnh: Paul Christiansen.

Chúng tôi trò chuyện qua từng câu phiên dịch của cháu trai Dạ Ngân. Bà chia sẻ rằng các chi tiết trong truyện cũng ít nhiều đến 80% là có thật. Biết được điều này càng khiến tôi bất ngờ về tác phẩm này. Gia đình bé mọn được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Việt năm 2005, còn bản dịch tiếng Anh được trình làng vào 2009. Mạch văn xoay quanh chuyện đời của Tiệp, người phụ nữ quê Điệp Vàng, một thị trấn nhỏ ở miền Nam. Tiệp tham gia kháng chiến ngay thuở thiếu thời sau khi ba cô mất trong chốn ngục tù Côn Đảo.

Tiểu thuyết theo cấu trúc phi tuyến tính, dịch chuyển giữa khắp các mốc thời gian trong quá khứ và hiện tại, cho người đọc trải nghiệm nhiều lát cắt quan trọng trong cuộc đời nhân vật chính: khi bồi hồi phát hiện ra cái đẹp của văn chương bên ánh đèn cầy le lói trong căn cứ kháng chiến, cuộc hôn nhân đọa đày bên người chồng công chức, những khó khăn chồng chất khi phải nuôi con bằng đồng lương ít ỏi của một nhà văn. Nổi bật nhất trong cốt truyện là mối tình Bắc-Nam cách trở của bà và người đàn ông đã có gia đình, và đương nhiên, kéo theo định kiến xã hội và gia đình đối với hôn nhân đổ vỡ và vấn đề ngoại tình, đặc biệt trong bối cảnh cái nghèo và tham nhũng bủa vây. Như văn sĩ Wayne Karlin đã viết trong lời tựa sách, sau chiến tranh, Việt Nam trải qua ba giai đoạn biệt lập, và “câu chuyện của Tiệp diễn ra, đại diện cho ba thời đại: khai phóng, tước bỏ, và cách tân.”

Trên văn đàn, hầu hết những tựa sách phổ biến nhất về Việt Nam bằng tiếng Anh gần như đều có tác giả là nam giới da trắng. Dẫu rất nhiều tác phẩm có thông điệp đáng đọc, chúng chỉ được viết từ góc nhìn ngoài cuộc, và, vô tình hay cố ý, thường vẽ nên hình tượng người Việt là những nhân vật phụ đơn điệu, hay tệ hơn là theo khuôn mẫu đầy tính kỳ thị chủng tộc. Ngay cả khi ta tính cả sách do tác giả Việt viết, được biên dịch sang tiếng nước ngoài, thì cũng chỉ toàn những câu chuyện về chiến trường, về những người lính, người đàn ông. Hiếm khi độc giả thực sự quan tâm đến Việt Nam thời hậu chiến được đọc tiểu thuyết ngoài những chủ đề vượt biên, và hiếm khi người đọc được trải nghiệm vai trò và chuyện đời phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn thống nhất đất nước.

Đây đều là những chủ đề trọng tâm trong Gia đình bé mọn, nên thật thất vọng khi thấy tiểu thuyết hầu như rất ít được biết đến trong văn đàn Anh Ngữ. An Insignificant Family, bản dịch của dịch giả Rosemary Nguyen, được trình làng qua Northwestern University Press, một nhà xuất bản nhỏ nhưng rất được tôn trọng, nhất là qua bộ sách “Voices from Vietnam” (Tiếng nói Việt Nam). Khi sách mới được xuất bản, Dạ Ngân đã được mời tham gia chuỗi hoạt động quảng bá sách khắp nước Mỹ, nhưng rủi thay, biên tập viên đã qua đời trước khi các hoạt động bắt đầu, nên chuyến đi cũng vì vậy mà không thành. Tuy sách vẫn được bày bán trực tuyến và nhiều giáo sư cũng biết đến sách để cho vào danh sách tác phẩm cần đọc trong khuôn khổ môn học của mình, tác phẩm hầu như không phổ biến trong bối cảnh văn học Việt hiện đại bằng tiếng Anh. Ngay cả Dạ Ngân cũng hiếm khi được cầm trên tay bản dịch, vì bà hay tặng sách làm quà cho người thân yêu.

Ảnh: Kevin Lee.

Tuy vậy, thật đáng mừng rằng các tác phẩm của Dạ Ngân rất được nhìn nhận và yêu mến ở Việt Nam. Rảo qua quầy văn học Việt Nam trong bất cứ nhà sách lớn nào trong thành phố, bạn chắc chắn sẽ tìm được vài tựa với cái tên Dạ Ngân. Gia đình bé mọn cũng được nhiều cơ quan báo chí đưa tin, và giành được nhiều giải thưởng, như Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Việt Nam.

Nói đi thì phải nói lại, ngay cả khi đã đoạt giải và được lên báo, Gia đình bé mọn vẫn ít được biết đến trong mắt bạn đọc Việt Nam. Tất nhiên, chuyện trung bình người Việt đọc rất ít sách nói chung là vấn đề muôn thuở, nhưng ngay cả trong vòng những “mọt sách” tôi hỏi, không ai biết đến Dạ Ngân và tác phẩm đỉnh cao của bà. Sách không được trích dẫn trong sách giáo khoa, và lần cuối cùng sách được in là năm 2010, dù độc giả hứng thú có thể tìm đọc sách trên website của bà.

Những giai thoại Dạ Ngân lấy cảm hứng viết sách chắc chắn cũng là trải nghiệm thân thuộc của nhiều người lớn trong cuộc đời chúng ta, nhưng có mấy khi chúng được chia sẻ một cách sâu sắc và chi tiết như trong văn chương. Cho nên, đọc Gia đình bé mọn là cử chỉ đẹp để người Việt hiểu hơn lịch sử nước mình và trau dồi khả năng thấu cảm đối với đồng bào mình qua những giai đoạn truân chuyên nhất.

Dạ Ngân (chính giữa, đứng) cùng hai con (đứng), mẹ và cô (ngồi). Ảnh: Website của tác giả.

Nói thẳng ra, Tiệp là một biểu tượng nữ quyền, và rộng hơn, Dạ Ngân cũng vậy. Tuy cuộc đời của bà rất tương đồng với nhân vật, để bạn đọc dễ theo dõi, tôi sẽ chỉ dùng tên Tiệp trong khuôn khổ bài viết này. Tiệp thường xuyên hành động trái ngược với mẫu hình phụ nữ cam chịu trong văn học. Xung quanh cô là rất nhiều những phụ nữ can trường khác — nhiều người là phận góa bụa, phải bươn chải nuôi con, chăm lo cho ba mẹ già, kiếm tiền nuôi gia đình — nhưng Tiệp vẫn nổi bật nhất nhờ tính cách bộc trực và độc lập.

Ngay từ lựa chọn theo đuổi văn chương và báo chí cũng đã tách biệt cô khỏi lối mòn truyền thống “nữ công gia chánh,” nhưng chính đời sống cá nhân của Tiệp mới là khía cạnh phơi bày tính nữ nổi loạn của mình. Gia đình Tiệp không ép được cô hàn gắn lại với người chồng cũ và từ mặt cô vì vẫn kiên quyết đi tìm hạnh phúc, nhưng cô vẫn để ngoài tai để tìm kiếm tình yêu đích thực.

Dù người chồng của Tiệp và vợ của Đính đều ngầm biết mối quan hệ của hai người, sự đánh giá của xã hội lại là chuyện khác. Chưa kể, trong giai đoạn đó, ngoại tình là một tội danh có thể dẫn đến tù tội, và thậm chí chỉ cần bị tình nghi ngoại tình đã có thể mất việc. Tiệp không nhụt chí vì rủi ro, hay khúm núm lạy lục người có địa vị để được châm chước. Một hôm, cấp trên gọi cô vào để bắt cô thú nhận, nhưng cô trả lời đanh thép, không ngại phơi bày đạo đức thối nát của chính những kẻ đang cáo buộc mình, mặc kệ hệ quả ra sao.

Đôi lúc, nội lực không chỉ bao hàm việc chống lại chông gai và đạp lên gông cùm khuôn mẫu, mà còn thể hiện qua khả năng biết hạ thấp cái tôi của mình. Quyết định của Tiệp cũng đồng nghĩa với chuyện phải nhìn con mình sống trong khó khăn, mặc áo rách, ăn “rau muống dành cho heo và cá ươn chợ chiều.” Trong phần lớn mạch sách, Tiệp rất kham khổ. Để gặp được Đính, cô phải lây lất nằm co ro trên giấy báo trên xe lửa ghế cứng suốt 60 tiếng đến Hà Nội, xung quanh toàn những tên yêu râu xanh chực chờ gạ gẫm, cảm thấy như “một con vật bị trói thúc và đang chờ bị chở sá đi đâu đó.” Khi đến nơi, chuyến thăm tưởng mặn nồng nhưng lại phải lén lút, cậy nhờ vào bạn bè đủ tốt cho hai người mượn phòng và lý do để gặp nhau. Mọi sự đều trầy trật, và sau cùng, khi Tiệp được minh oan, đó chính là bằng chứng hùng hồn nhất cho quyền tự chủ của phụ nữ.

Ảnh chụp Dạ Ngân thời trẻ.

Bên cạnh khắc họa hình tượng phụ nữ kiên định, Gia đình bé mọn cũng là bức tranh thể hiện sống động cảnh nghèo đầy rẫy khắp xã hội Việt Nam thời hậu chiến. Rất nhiều sách nước ngoài về Kháng chiến chống Mỹ kết thúc vào thời điểm Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1975; ngay cả khi tác giả nói về sau giải phóng, ít khi nào nội dung đi vào chi tiết tình cảnh nghèo đói của Việt Nam. Dạ Ngân chọn miêu tả tất cả những khó khăn ấy bằng ngôn từ xác đáng, không câu nệ. Nói về khu tập thể Hà Nội, tiểu thuyết đặc tả: “Những ngôi nhà tầng lắp ghép đơn điệu, sơ sài, những cái lồng sắt vô trật tự và xấu xí, những sợi dây phơi không cần thẩm mỹ và lịch sự. Càng đi luồn vào trong khu chung cư của bạn Đính, Tiệp càng nghe rõ mùi than đá bếp lò, mùi chuột gián, mùi mốc meo lưu cữu và mùi của những cái nhà vệ sinh công cộng thiếu nước.”

Tương tự, khi Tiệp vào ăn tại một tiệm phở quốc doanh, cô kể “những cái muỗng gọi là thìa ấy bị đục một cái lỗ tròn nhỏ ở chỗ đáng ra nó phải rất nguyên rất lành để làm một cách trọn vẹn và tốt đẹp chức năng giúp cho người ta húp được nước phở.” Người ta đục thìa để chống trộm cắp, và mỗi tiệm đều đếm kỹ bát đũa sau mỗi ngày nấu ăn, vì đôi lúc khách quá túng quẫn có thể “thó” vài chiếc. Dĩ nhiên, cái thìa lỗ chỗ thế thì ăn làm sao ngon miệng, nhưng đối với Tiệp, tô phở nước lèo lõng bõng vài mảnh thịt thừa cũng đã khó nuốt rồi. Cảnh khốn khó như thế có lẽ sẽ gây ấn tượng với bất kì ai sinh ra vào thời bình, với hàng quán sung túc, bún chả đầy ắp thịt, pizza ngoại béo ngậy phô mai và tôm to kềnh.

Sau giải phóng, tệ nạn xã hội cũng tràn lan khắp mọi nơi. Trong tiểu thuyết, các chị điều dưỡng làm việc tại cơ sở nạo phá thai hay giấu lọ nước giải đem bán, phần nước cho nông dân bón rau, còn phần lọ cho dân nấu rượu lậu làm đồ đựng. Chưa hết, có một “bí mật không cần bật mí” rằng vợ một cán bộ chuyên buôn lậu kim cương, thuốc lá. Gia đình bé mọn hoàn toàn không giấu giếm tất cả những hiện thực xấu xí ấy, và còn giúp phơi bày cách chúng ảnh hưởng trực tiếp lên người dân, nhiều tệ nạn vẫn có hệ lụy âm ỉ tồn tại đến ngày nay.

Tiệp vẫn rất tỉnh táo trước những lời đường mật của giới chức về tương lai giàu sang của đất nước, nhưng chính cô cũng không lường trước được rằng tình hình đấu đá nội bộ và phân biệt đối xử đã tệ lậu đến mức này. Thay vì tập trung hàn gắn cách biệt, người ta chỉ chăm chăm mưu lợi cá nhân và trả đũa thù trước. Chẳng hạn, trong truyện, con gái của một cựu đại tá bị ép ở trong chòi dựng tạm bợ trong căn biệt thự của chính gia đình họ, giờ đã bị tịch biên. Cô phải mưu sinh bằng nghề làm móng cho gái làng chơi.

Dạ Ngân rất thẳng thắn lột trần tất cả những chi tiết nhơ nhớp trong tình trạng tha hóa của xã hội ngày ấy, ví dụ như những đau đớn cả về thể xác và tâm hồn của việc phá thai. Bên cạnh đó, bà cũng bày tỏ quan điểm về giai tầng xã hội, đặc biệt những vấn đề về giới mà ngày ấy rất khó có thể nói ra ngoài. Tương tự, tiểu thuyết cũng đem đến rất nhiều suy nghĩ sâu sắc về vấn đề ngoại tình, yêu đương, gian khổ một cách thẳng thắn đến mức dễ gây ngượng. Văn sĩ khác có lẽ đã chọn lược bỏ, nhưng Dạ Ngân thì không, và phần miêu tả của bà đem đến những lát cắt rất chân thực về một giai đoạn lịch sử có lẽ sẽ không được các thế hệ sau biết đến nếu không có người ghi chép lại.

Đối chiếu cuộc đời của chính tác giả với sách có lẽ là một cách độc giả có thể tìm cho mình câu trả lời về số phận của từng nhân vật. Cũng như Tiệp, sau khi chính thức chấm dứt hôn nhân với chồng trước và hơn 11 năm yêu xa, Dạ Ngân chuyển ra Hà Nội sống năm 1993 và kết hôn với Nguyễn Quang Thân. Ông cũng là một văn sĩ có tiếng và là hình mẫu ngoài đời cho Đính trong Gia đình bé mọn. Hai người ở trong căn hộ chỉ 25 mét vuông và phải dùng nhà vệ sinh chung với hàng xóm. Dù đời sống túng thiếu, ông bà vẫn viết rất chắc tay, trở thành cây đa cây đề trong làng văn học Việt Nam. Dạ Ngân vẫn nhắc đến các bạn văn với ánh mắt trìu mến, nhớ đến thời cùng nhau ngồi lại thưởng trà, trò chuyện. Có cùng nhau phê bình, tán thưởng và quảng bá tác phẩm của nhau, họ mới cùng nhau xây dựng, định hình nền văn học, báo chí Việt Nam sau giải phóng.

Dạ Ngân và Nguyễn Quang Thân. Ảnh: Kevin Lee.

Năm 2017, Nguyễn Quang Thân từ trần khi ông vừa 82 tuổi. Dạ Ngân để tang chồng bằng cách chăm sóc bàn thờ ông kĩ lưỡng. Trên đó, bên cạnh bình bông tươi mới, đĩa chuối xoài, là tập sách ông đã xuất bản. Cháu Dạ Ngân kể với tôi rằng chính em cũng đọc sách khi còn nhỏ và thậm chí thích sách ông viết hơn bà viết. Em rất tự hào và tin rằng độc giả vẫn sẽ ngày ngày quay lại với những con chữ ấy trong tương lai.

Bên cạnh những sự kiện trong sách, cuộc đời của Dạ Ngân cũng không chỉ toàn màu hồng. Chồng mất, tuyên bố từ bỏ hội tịch Hội nhà văn, và sống xa hội bạn viết lách — sẽ không có gì để bàn tán nếu Dạ Ngân quyết định về an hưởng tuổi già trong yên bình. Nhưng ngược lại, bà hoàn toàn không có ý định đó. Với sự ủng hộ của gia đình, bà vẫn mời bạn bè, các nhà văn đến thăm nhà mình, đi quảng bá sách của chồng mình, và du lịch khắp Việt Nam. Cả tính bộc trực của Dạ Ngân cũng vẫn chưa có dấu hiệu phai mờ. Sau khi chúng tôi ngồi nói chuyện về một số thứ hơi chính trị, tôi trấn an bà rằng sẽ không viết phần này vào bài. “À không sao, bạn muốn in gì thì in,” Dạ Ngân vừa cười láu lỉnh vừa trả lời. “Bạn cứ in bất cứ gì bạn muốn, nếu tạp chí của bạn không vì vậy mà bị đóng cửa.”

Tôi hỏi Dạ Ngân nếu bà đã từng bao giờ nghĩ đến chuyện ra nước ngoài định cư chưa, như Dương Thu Hương hay Phạm Thị Hoài, vì tình hình xuất bản phát triển hơn và dễ tiếp cận độc giả quốc tế. Dạ Ngân gạt đi liền. “Nhà văn phải ở với bên người dân của mình, trong thế giới tha nhân lầm than này,” bà nói. Bà là văn sĩ viết về người Việt, cho người Việt. Dẫu việc đem tác phẩm ra cho thế giới cũng quan trọng, cái quan trọng nhất đối với bà vẫn là công cuộc thể hiện quá khứ, hiện tại, và tương lai nước mình, cho người mình. Như Dạ Ngân viết trong một bút ký chưa xuất bản: “Ở bất cứ đâu trên thế giới, nhà văn luôn luôn là những người tiên phong thầm lặng, nhưng cũng vô cùng quan trọng, thấu cảm được tâm hồn và bày tỏ sâu sắc được cảm xúc.”

Sự chính xác của trích dẫn ấy càng làm tôi cảm thấy tiếc rằng rất ít bạn đọc, dù là người Việt hay ngoại quốc, đã thưởng thức Gia đình bé mọn, một tuyệt phẩm đã lưu giữ các giai thoại và chi tiết quan trọng mà, một khi bị mai một, sẽ chôn vùi cùng chúng tiềm năng giúp chúng ta hàn gắn, thấu hiểu nhau hơn.

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Ảnh: Kevin Lee.) Loạt Soạt Thu, 22 Jan 2026 15:00:00 +0700
Tới Sa Pa học nhuộm chàm qua từng nhành cây, chum thuốc và nét vẽ sáp ong https://saigoneer.com/vn/fashion/18043-tới-sa-pa,-học-nhuộm-chàm-qua-từng-nhành-cây,-chum-thuốc-và-nét-vẽ-sáp-ong https://saigoneer.com/vn/fashion/18043-tới-sa-pa,-học-nhuộm-chàm-qua-từng-nhành-cây,-chum-thuốc-và-nét-vẽ-sáp-ong

Bữa cơm đầu tiên của tôi tại Sa Pa đến như một cái duyên. Sau vài giờ gà gật trên xe giường nằm và một quãng ngắn di chuyển từ trung tâm thị xã vào bản, tôi cùng hai người bạn cùng đam mê sắc chàm đã đặt chân đến một ngọn đồi nhỏ ở bản Cát Cát. Giữa khoảng sân tĩnh lặng bao quanh bởi vài nếp nhà mộc mạc, những chum thuốc chàm nằm lặng lẽ bên cạnh dãy vải đang phơi mình trên sào tre trong không khí buổi sớm.

Khung cảnh xanh mướt của bản Cát Cát.

Vừa đến nơi, chúng tôi đã thấy em Mì đứng giữa sân. Em dẫn cả nhóm vào nhà bà nội, bà đang nhóm bếp còn em thì mải mê tẻ ngô. Mỗi người chúng tôi kéo một chiếc ghế đẩu và ngồi quây quần bên bếp lửa. Dù mới đến và chẳng giúp được gì nhiều, chúng tôi vẫn được bà và bé trao tận tay bát đũa. Măng xào, thịt kho và những bát cơm đầy ắp, mọi thứ đơn sơ nhưng đủ đầy và ấm cúng vô cùng. Bữa cơm ấy như “lời chào sân” cho những ngày sắp tới: làm việc thong thả, tay chân vận động vừa đủ, và quan trọng nhất là bụng dạ luôn được vỗ về bằng những món ngon chu đáo.

Kỹ nghệ nhuộm chàm bằng sáp ong của người H'Mông.

Sau bữa sáng, chúng tôi gặp gỡ những học viên còn lại cùng vợ chồng Nhái và Nủ, những người trực tiếp đứng lớp khóa học nhuộm chàm mà chúng tôi đã lặn lội tìm đến. Khóa học kéo dài bốn ngày, bao quát các giai đoạn chính từ thu hoạch cây, ủ men theo phương pháp yếm khí truyền thống của người H’Mông địa phương, làm cao chàm cho đến thực hành các kỹ thuật nhuộm.

Tôi quyết định tham gia sau khi tình cờ thấy những hình ảnh về các lớp học trước đó trên mạng. Trong ảnh, mọi người ngồi quây quần bên chậu than đỏ rực để nung chảy sáp ong vẽ hoa văn, lúc khác lại thấy cả nhóm trong rừng sâu nghe Nủ giảng giải, hay rạng rỡ cầm trên tay thành phẩm trong tấm hình tốt nghiệp. Trên nền xanh đại ngàn và những nếp nhà gỗ mộc mạc, chương trình di trú Nhặt Lá, Đá Ống Bơ hiện lên thật khiêm nhường nhưng lại có sức hút kỳ lạ bởi sự gần gũi và chân thành.

Nhái (góc dưới bên phải) giới thiệu với học viên về đặc tính các loại vải.

Khi được hỏi vì sao không mở những lớp ngắn hạn kiểu workshop, Nhái chia sẻ rằng cô muốn học viên thực sự cảm nhận được sức sống của chàm. Những chum nhuộm ở đây cần sự chăm sóc rất cầu kỳ. Trong suốt thời gian lưu trú tại bản, chúng tôi thay phiên nhau khuấy để sục không khí vào, giúp bột chàm không bị lắng xuống đáy. Mỗi khi trời mưa, cả nhóm lại tất tả che chắn cho chum, rồi định kỳ kiểm tra độ kiềm và độ đậm nhạt của thuốc nhuộm, nhất là sau mỗi lần dùng. Chàm rất cần hơi ấm và thời gian để lên men. Nhờ vậy mà chúng tôi dần biết cách “bắt mạch” để nhận ra khi nào một chum thuốc đang “khỏe,” hay khi nào thì nó bắt đầu “xuống sức.”

Chum thuốc nhuộm nổi bọt từ quá trình lên men.

Nhặt Lá, Đá Ống Bơ 

Nhái vốn là người Hải Phòng lên Hà Nội học đại học. Với niềm đam mê đặc biệt dành cho đồ thủ công, cô tự mày mò học may vá, thêu thùa, làm bánh và đóng sách. Nhận thấy bản thân không phù hợp với cuộc sống văn phòng, Nhái bắt đầu làm và bán đồ thủ công ngay từ những ngày còn trên ghế nhà trường.

Thuở ban đầu, Nhái thử sức với kỹ thuật nhuộm nóng bằng những nguyên liệu tự nhiên như lá bàng, vỏ hành hay hạt bơ. Mãi sau này, cô mới dần bén duyên với sắc xanh của chàm. Trong giai đoạn đó, Nhái cùng một người bạn thân thiết đã cùng nhau nghiên cứu, vừa học vừa làm để gây dựng một thương hiệu chung. Đến năm 2016, khi định hướng và mục tiêu của mỗi người bắt đầu có sự khác biệt, cả hai quyết định chọn cho mình những lối rẽ riêng. Nhái tiếp tục hành trình với Nhặt Lá, Đá Ống Bơ, còn người bạn kia thì thành lập Đu đủ, thương hiệu ứng dụng nhuộm chàm trong các thiết kế nội thất.

Càng gắn bó với sắc chàm, Nhái lại càng muốn tìm hiểu sâu hơn về chính loài cây này. Sự tò mò đó dẫn lối cô đến với việc trồng trọt và làm vườn. Nhái bắt đầu để ý hơn đến những gì mình ăn, đến từng nhành cây ngọn cỏ xung quanh, và rồi cô nhận ra mình cần một không gian rộng mở hơn để vừa có thể đặt chum nhuộm, vừa có thể tự tay gieo trồng, một điều mà phố thị Hà Nội khó lòng đáp ứng được.

Học viên cùng nhau chuẩn bị những bữa cơm giản dị.

Năm 2018, Nhái chuyển đến một trang trại nhỏ ở Lạng Sơn. Cô ở đó một năm trước khi dự định cùng người bạn đồng hành lên vùng núi Ngọc Linh xây dựng xưởng làm việc mới. Trong lúc chờ đợi, Nhái ghé Cát Cát giúp Nủ, khi ấy mới là một người bạn mới quen, xây dựng ngôi nhà giờ đây chính là tổ ấm của cặp đôi. Suốt thời gian đó, cô vẫn miệt mài học hỏi thêm về nghề nhuộm từ các phong tục địa phương. Cuối cùng, khi dự định ở Ngọc Linh không thành như mong đợi, Nhái quyết định dừng chân hẳn tại Cát Cát. Cô và Nủ kết hôn, rồi chào đón em Mì ra đời vào năm 2023.

Bắt tay pha một mẻ nhuộm mới.

Sau khi ổn định cuộc sống tại bản, Nhái bắt đầu mở lớp và phát triển dự án Nhặt Lá, Đá Ống Bơ, đồng thời vẫn gửi bán các sản phẩm tại cửa hàng của bạn bè ở Hà Nội. Từ khi Nhái mang bầu em Mì, Nủ bắt đầu xắn tay vào hỗ trợ vợ công việc kinh doanh. Dù xuất thân từ hai văn hóa khác nhau, cả hai vẫn kết hợp vô cùng ăn ý, cân bằng khéo léo giữa công việc và gia đình. Trong khóa học, Nủ là người dẫn cả nhóm lội rừng thu hoạch chàm, còn Nhái phụ trách hướng dẫn cách chọn vải, kỹ thuật nhuộm và chăm lo cho em Mì ngủ đúng giờ mỗi ngày.

Trước khi lớp học bắt đầu, chúng tôi được nhắc nhở nên ý thức về lượng rác thải vô cơ mang theo và phải tự mang rác về khi kết thúc chuyến đi. Đến nơi rồi mới thấy, nếp sống ở đây tuy chưa thể hoàn toàn vắng bóng rác, nhưng mọi thứ đều được gói ghém rất thiết thực và thuận theo điều kiện bản địa. Túi nilon được giữ lại để dùng nhiều lần; vỏ hộp sữa được rửa sạch, cắt gọn để mang về Hà Nội tái chế; xà phòng thì mua theo ký để dùng cho mọi mục đích. Trong bếp luôn có một thùng nhỏ thu gom rác hữu cơ để ủ phân bón vườn. Quan trọng nhất là tuyệt đối không có sự xuất hiện của hóa chất, từ vườn rau ăn hằng ngày đến đồi chàm phía sau nhà.

(Trái) Quy trình nhuộm vải. (Phải) Nủ nung chảy sáp ong để lộ ra hoa văn hoàn thiện.

Hiện tại, lượng chàm tự trồng vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất, nên Nhái và Nủ phải mua thêm cao chàm từ các hộ dân khác. Tuy nhiên, việc thuyết phục người nông dân từ bỏ thuốc trừ sâu không hề đơn giản, dù họ đưa ra mức giá cao hơn. Cuộc sống vùng cao vốn khắc nghiệt; việc lạm dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học đã trở thành thói quen vì giúp cây lớn nhanh, lại đỡ tốn công chăm sóc. Những hóa chất này vốn được quảng bá như một “giải pháp thần kỳ” mà lờ đi những độc tính gây hại cho đất, làm suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm nguồn nước, không khí. Bởi vậy, việc kiên trì vận động bà con giảm bớt hoặc nói không với hóa chất vẫn là một hành trình đầy gian nan của cả hai.

Thành quả sau một buổi cùng nhau thu hoạch chàm.

Bên cạnh đó, cơn sốt nhuộm chàm tại Việt Nam cũng kéo theo sự ra đời của nhiều cơ sở tương tự. Nhái phải đấu tranh nội tâm để làm sao vừa giữ đúng những tiêu chuẩn khắt khe của mình, vừa tạo ra được những sản phẩm có sức hút và gần gũi với mọi người. Nhặt Lá, Đá Ống Bơ chủ yếu hợp tác với các thương hiệu bản địa nhỏ, những người tìm đến cô để đặt hàng các loại vải nhuộm thủ công với hoa văn đặc trưng. Chẳng hạn như chiếc Áo Tấc của thương hiệu Đông Phong này, được may từ chính những thước vải do một tay Nhái nhuộm.

Mọi lợi nhuận từ lớp học đều được vợ chồng Nhái tái đầu tư để cải thiện hạ tầng, từ không gian ở đến khu vực nấu nướng chung cho học viên. Do địa hình vùng cao Sa Pa khiến chi phí vận chuyển vật liệu rất đắt đỏ, nên mọi thứ chỉ có thể nâng cấp dần dần. Về lâu dài, Nhái cũng mong muốn dành thời gian để học hỏi thêm về kỹ nghệ chàm và những kỹ thuật mới từ nhiều nơi trên thế giới.

Buổi sáng bình yên nhìn qua cửa sổ phòng nghỉ.

Ngoài công việc chuyên môn, Nhái và Nủ còn ấp ủ những dự án cộng đồng cho thanh thiếu niên tại bản. Nhái trân trọng giá trị thủ công của nghề nhuộm chàm, nhưng lớp trẻ địa phương dường như ngày càng ít mặn mà. Hiện nay, nhiều em sau khi học xong lớp 9 thường được hướng đi học nghề hoặc làm dịch vụ, vì ngành du lịch vùng cao đang phát triển và cần nhiều nhân lực. Vợ chồng cô hy vọng có thể vừa bảo tồn được nét văn hóa truyền thống, vừa giúp thế hệ trẻ tiếp cận với những hướng đi sáng tạo hơn.

Khi được hỏi về thành tựu khiến mình tự hào nhất, Nhái thành thật chia sẻ: “Thực ra là mình hơi kiểu bị tự ti, vì mình không có xuất thân từ ngành sáng tạo. Nên là mình luôn luôn cảm thấy là mình chưa đủ giỏi, và những thứ mình làm ra có thể tốt hơn nữa. Tất nhiên là sau một thời gian như thế, và nhìn lại, thì mình cũng thấy là thực ra là mình làm tốt rồi, mình đã cố gắng làm tốt nhất ở thời điểm đấy, nên cũng sẽ ok thôi.”

Bốn ngày trải nghiệm Cát Cát

Ngâm mình dưới dòng suối mát lành sau ngày đầu tiên học về chàm.

Cuộc sống ở Cát Cát mang một dấp dáng khác với những gì chúng tôi đã tưởng tượng. Chúng tôi sống chậm lại, nương theo tiến độ của lớp học một cách linh hoạt mà không thấy một giây phút nào bị lãng phí. Sau ngày đầu tiên, cả nhóm đã có một chuyến đi bộ ngẫu hứng ra suối cùng các cháu của Nhái và Nủ, cùng nhau vục làn nước mát lạnh dưới chân thác.

Đến ngày thứ ba, chúng tôi dành hàng giờ bên bếp lửa nhỏ để giữ cho sáp ong luôn nóng chảy. Cả nhóm vừa vẽ, vừa khâu vá, vừa hỗ trợ nhau hoàn thành những dự án cá nhân đôi khi tiêu tốn nhiều thời gian hơn dự kiến. Các bạn học của tôi hầu hết đều chọn khổ vải dệt tay hình chữ nhật cỡ lớn để làm khăn quàng, khăn trải bàn hoặc đồ trang trí. Riêng tôi chọn một tấm vải lanh vuông để làm khăn trùm đầu hoặc thắt nơ cổ. Trước đó, chúng tôi đã được chiêm ngưỡng bộ sưu tập của Nhái và Nủ, từ những món đồ đang làm dở đến những trang phục do chính gia đình Nủ tự may để mặc hằng ngày.

Một mẫu hoa văn nhuộm chàm truyền thống của người H’Mông.

Vợ chồng Nhái còn nhượng lại cho tôi một chiếc áo khoác cũ của Nủ, món đồ mà chính tay mẹ anh đã khâu và nhuộm từ ngày anh còn bé. Áo ở đây có phom vai rất lạ, trễ xuống tận khuỷu tay, khiến đường nét trông mềm mại chứ không hề cứng nhắc. Qua bao năm tháng lăn lộn trong các chum thuốc nhuộm, thớ vải vẫn giữ được sắc xanh chàm đậm đà, rực rỡ. Chiếc áo điểm xuyết những chiếc cúc kim loại nhỏ hình quả chuông và có vài vệt sơn trắng trên tay áo trái, vết tích từ những lần Nủ mặc chiếc áo “vía” này để sửa sang nhà cửa. Lúc bán cho tôi, họ cũng tinh ý tìm cách tẩy những vệt bẩn đó đi. Tôi từng định thêu đè lên, nhưng rồi lại thôi, vì đó là một cái cớ tuyệt vời để mỗi khi mặc áo, tôi lại được kể cho bạn bè nghe về những ngày ở Cát Cát và về những người bạn ở Nhặt Lá, Đá Ống Bơ.

Thông qua bộ sưu tập của họ, chúng tôi hiểu rõ hơn về hiệu ứng của từng kỹ thuật nhuộm. Bài thực hành của tôi là sự kết hợp giữa vẽ sáp ong (để tạo khoảng trắng), nhuộm chồng nhiều lớp để tạo các sắc độ xanh khác nhau và kỹ thuật khâu shibori. Kết quả là một tấm vải có bố cục như những mảnh ghép đầy ngẫu hứng. Các bạn học của tôi thì có tầm nhìn rõ ràng hơn, ứng dụng chỉ một kỹ thuật để tạo nên thiết kế đồng nhất về mặt thị giác. 

Cả nhóm mải mê thiết kế trong khi Nủ đang nướng gà phía sau.

Nủ cứ thế tất bật ngược xuôi, vừa hướng dẫn chúng tôi, vừa tranh thủ nướng gà trên chính bếp lửa đun sáp ong. Nhiều bữa ăn trong những ngày đầu đều khá lúng túng vì mọi người vẫn còn lạ lẫm với nhau. Nhưng rồi, mọi khoảng cách đều tan biến mỗi khi Nhái bưng ra những mẻ bánh tự làm, từ bánh mì shokupan cho bữa sáng, bánh su kem mừng ngày tốt nghiệp, đến những ổ bánh mì sữa vốn định để dành nhưng đã bị chúng tôi “xử lý” sạch bách trong chuyến đi bộ sang Tả Vân vào ngày thứ tư.

Mẻ bánh su kem tốt nghiệp mà em Mì háo hức mong chờ.

Tôi rời Cát Cát với lòng trân trọng sâu sắc dành cho kỹ nghệ nhuộm chàm và cội nguồn văn hóa H’Mông. Kể từ đó, tôi luôn cố gắng duy trì sự tập trung và lòng hiếu kỳ trong cuộc sống thường nhật, những điều vốn dĩ đến rất tự nhiên trong suốt thời gian ở bản. Trên điện thoại tôi giờ đây là bức ảnh tốt nghiệp rạng rỡ và một nhóm chat vẫn nảy tin nhắn mỗi ngày, nơi mọi người tiếp tục chia sẻ cho nhau những mẹo nhỏ, những khám phá và suy ngẫm về sắc xanh huyền hoặc của chàm.

Nhái (thứ ba từ phía trái) cùng học viên ngày tốt nghiệp.

]]>
info@saigoneer.com (Nguyệt. Ảnh: Nguyệt. Đồ họa: Mai Khanh.) Thời Trang Tue, 20 Jan 2026 16:22:14 +0700
Học cách yêu hơn cái ngổn ngang của Sài Gòn trong thời đại rác AI tràn ngập https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18040-học-cách-yêu-hơn-cái-ngổn-ngang-của-sài-gòn-trong-thời-đại-rác-ai-tràn-ngập https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18040-học-cách-yêu-hơn-cái-ngổn-ngang-của-sài-gòn-trong-thời-đại-rác-ai-tràn-ngập

Sống ở Sài Gòn, người ta phải làm quen với hàng tá thứ ngổn ngang. Suy cho cùng, sự xô bồ là cái giá phải trả đối với những ai trót phải lòng một siêu đô thị hơn 10 triệu dân, vừa đông, vừa rộng lại vừa hẹp, vừa chen chúc lại vừa cô đơn. Nhưng cá nhân tôi chưa đi qua thành phố nào ngổn ngang như Sài Gòn.

Ngay trên mặt đất, mỗi ngày chân ta phải loay hoay né sự bề bộn về mặt vật lý, như xe máy đậu hú họa, thùng xốp, giày dép đứt cũ, vỏ sầu riêng nhọn hoắt, đủ thứ loại ghế, và cả mạng lưới dây nhợ giăng đầy như tơ nhện. Trong bầu khí quyển, tai ta lãnh đủ “bản giao hưởng” của bề bộn âm thanh, ngày đêm kẽo kẹt, lảnh lót, chát chúa, inh ỏi, rì rầm bên lề cuộc sống.

Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, tôi dần tập làm quen với những ngổn ngang đô thị, nhưng tuyệt nhiên, không biết tại sao tôi vẫn không tài nào chịu nổi khung cảnh thành phố đầy ô nhiễm thị giác: các biển hiệu, áp-phích, bảng quảng cáo nhốn nháo, màu sắc phối lòe loẹt nhức mắt, phông chữ thô kệch. Tôi ghét cay ghét đắng biển quảng cáo — đồ văn bản béo ú, đơn điệu, lúc nào cũng lao nhao đòi sự chú ý của mắt người.

Kiểu biển hiệu vừa rối vừa đơn điệu ấy bắt đầu xuất hiện vào thập niên 2000, và từ từ lây lan khắp Sài Gòn, đặc biệt quanh những con đường buôn bán sầm uất, như loại nấm mốc ăn mòn kiến trúc bản địa và thải ra bào tử gây nhức đầu, nhức mắt. Cá nhân tôi tin rằng sự phát triển của công nghệ in ấn vừa nhanh vừa rẻ là nguyên nhân dẫn đến một Sài Gòn đầy ô nhiễm thị giác như hiện nay. Đã từng có thời từng biển hiệu là một tờ giấy trắng để họa sĩ tung hoành tô vẽ, chứ không chỉ đơn thuần là công cụ cho có như bây giờ. Từng kiểu chữ, từng gam màu, từng nét cọ đều được chăm chút qua bàn tay người thợ vẽ.

Nghệ thuật quảng cáo ra đời trước sự trỗi dậy của ô nhiễm biển hiệu cả vài thập kỉ, vì ngày đó, khi không có sự hỗ trợ của kỹ thuật in lấy liền, thế hệ ông bà ta phải nhờ vào kỹ năng và con mắt nghệ thuật của các họa sĩ để trang hoàng cửa hiệu của mình. Tôi luôn tự hỏi vì sao các bảng hiệu vẽ tay ngày xưa luôn thu hút mình đến vậy, và nhận ra rằng tôi yêu nét vẽ ấy không phải chỉ vì nó cũ, mà vì nó mang đậm tính người. Con người ta khác với máy móc vi tính ở sự không hoàn hảo, và những lỗi nho nhỏ ấy đều có mặt trên bảng hiệu vẽ tay xưa nếu bạn để ý kĩ: những khoảng cách không đều, nét này hơi đầy đặn hơn nét kia chút xíu, hay chiếc móc câu đầy cảm tính ngay cuối chữ “Y dài.” Chính cái không hoàn hảo khiến tranh vẽ thú vị và chân phương hơn.

Hoài niệm là một vòng lặp luân hồi. Hồi những năm 2000 và 2010, tôi hay mơ về những nét vẽ đầy trau chuốt của thập niên 1970. Còn bây giờ, tôi thấy mình lại đang nhìn lại thập niên 2000 với ánh mắt khác. Mệt mỏi thay đôi mắt loài người ngày nay khi sống trong giai đoạn rác AI đang hiện hữu trên khắp mọi xó xỉnh internet. Nhiều lúc tôi cảm thấy kiệt quệ vì phải cảnh giác 24/7, lúc nào cũng phải căng mắt soi từng bàn tay người, từng đốm lông mèo, từng diễn tiến của video xem có logic không, để phát hiện xem video đang có phải là sản phẩm AI. Và sẽ đến một lúc, khi công nghệ tiến xa đến mức trí thông minh con người của chúng ta không còn đủ khả năng phân biệt hiện thực và rác AI nữa. Gần đây, sau khi Google trình làng Nano Banana Pro, tôi sợ rằng ngày ấy đã tới.

Vài bữa trước, tôi đi chạy bộ và dừng lại ở vạch kẻ lúc đèn đỏ. Tôi bất giác ngước lên, và ngay trước mắt tôi là một biển hiệu tiệm sửa xe, ví dụ điển hình cho phong cách phối màu thập niên 2000 với chữ đỏ nền vàng. Tuy vậy, vài chữ cái trong tên tiệm khá sứt sẹo, và bốn góc biển ố xanh màu rêu phong. Nhưng thứ đặc biệt nhất với tôi, là tấm biển ghi “sữa xe” thay vì “sửa xe.” Và tôi bật cười.

Đó, nhìn đi, AI ạ. Đúng là những ngổn ngang đô thị ở Sài Gòn nhiều khi “xấu đau xấu đớn,” nhưng cũng lại rất con người. Như một nỗ lực phản kháng cuối cùng để chống lại cuộc xâm lăng của AI, tôi sẽ tập yêu tất cả các loại hình nghệ thuật đến từ tất cả thập niên, từ “thấy ghê” đến kiệt tác, miễn đó là một tác phẩm người sáng tạo. Có xấu đến mấy, thì đó cũng là đứa con tinh thần chính ta tạo ra — không ai có quyền lấy nó để làm mồi cho trí tuệ nhân tạo.

]]>
info@saigoneer.com (Khôi Phạm. Minh họa: Dương Trương. Ảnh: Jimmy Art Devier.) Văn Hóa Thu, 08 Jan 2026 12:00:00 +0700