Văn Nghệ - Sài·gòn·eer https://saigoneer.com/vn/arts-culture Fri, 12 Jun 2026 13:42:04 +0700 Joomla! - Open Source Content Management vi-vn Chút tản mạn về cái 'thơm hít hà' và thói quen yêu thương của người Việt https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18145-chút-tản-mạn-về-cái-thơm-hít-hà-và-thói-quen-yêu-thương-của-người-việt https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18145-chút-tản-mạn-về-cái-thơm-hít-hà-và-thói-quen-yêu-thương-của-người-việt

Sau 10 năm đầu đời chỉ quen làm em út, bước sang tuổi thứ 10, tôi bỗng phải học cách làm một người anh lớn. Giữa những lóng ngóng vụng về ban đầu, tôi chợt thấy mình đang áp sát mũi vào chỏm đầu của đứa em sơ sinh rồi vô thức hít một hơi thật sâu. Kiểu “thơm hít hà” này không phải tự nhiên xuất hiện, mà là một phản xạ học được từ người lớn, bởi từ khoảnh khắc đó, tôi nhận ra ba và bà nội xưa nay vẫn thường âu yếm mình y như vậy.

Lớn lên ở xứ người, tôi từng ngẩn ngơ trước bài thơ ‘Kissing in Vietnamese’ (Tạm dịch: Hôn kiểu Việt) của nhà thơ người Mỹ gốc Việt Ocean Vuong vì nó lột tả đúng những gì tôi cảm nhận. Qua những dòng thơ, tôi mới vỡ lẽ rằng thói quen thơm hít hà ngỡ chỉ riêng nhà mình có, hóa ra lại là chuyện rất đỗi bình thường của biết bao gia đình Việt. Ocean Vuong miêu tả những cái thơm ấy, và so sánh chúng với kiểu thể hiện tình cảm có phần “phô diễn” hơn của phương Tây, để thấy rằng cách yêu thương của người Việt, dù kín kẽ và đằm thắm, chẳng vì thế mà bớt đi phần da diết:

When my grandmother kisses, there would be / Khi bà thơm, chẳng hề có
no flashy smooching, no western music / điệu bộ chu môi, hay tiếng chụt ồn ào
of pursed lips, she kisses as if to breathe / như người Tây phương, bà thơm như thể hít
you inside her, nose pressed to cheek / cháu vào trong lồng ngực, mũi tì sát gò má
so that your scent is relearned / để nhớ nằm lòng mùi hương

Tò mò tìm hiểu xem kiểu thơm đó từ đâu ra, tôi mới biết việc thơm hít hà vốn dĩ rất phổ biến ở Việt Nam, nhất là khi người lớn âu yếm con cháu trong nhà. Nhiều nước Đông Nam Á khác cũng có cách thể hiện tình cảm tương tự. Một nghiên cứu ngôn ngữ học đã chỉ ra hiện tượng thú vị rằng, trong nhiều ngôn ngữ bản địa ở khu vực này, từ dùng để chỉ hành động “hôn” và từ “ngửi” thực chất là một. Khi người châu Âu đến Đông Nam Á thời thuộc địa, họ vô cùng ngạc nhiên vì tập tục này và ghi chép lại nhiều lần như một hiện tượng lạ.

Trong cuốn Từ điển tiếng An Nam-Pháp do Jean Bonet biên soạn năm 1899, chữ “hôn” trong tiếng Việt đi kèm với phần giải nghĩa: “nụ hôn bằng mũi” (thực hiện bằng cách hít một hơi thật mạnh qua mũi như cách người An Nam vẫn làm).

Với tôi, cái thơm hít hà ấy đơn giản là cách trao gửi tình thương. Một luồng cảm xúc rất đỗi tự nhiên. Tôi thích hít hà mùi hương người nhà chỉ để thấy họ đang ở ngay bên cạnh. Đồng thời, giống như tâm sự của Ocean Vuong, cái thơm nhẹ nhàng đó cũng có thể mãnh liệt vô cùng. Nó xuất phát từ nỗi lo vô hình dành cho người thân, và ta chỉ thấy nhẹ lòng khi tự mình hít hà hơi ấm của họ để biết rằng họ vẫn bình an.

Trong tâm trí tôi, ranh giới giữa việc thể hiện tình cảm và việc lưu giữ mùi hương cơ thể chỉ mờ mờ ảo ảo. Phải đến tận bây giờ, khi cúi đầu cho bà nội thơm lên trán, tôi mới nhận ra trong mỗi người đều tồn tại một kho tàng thói quen, những lề thói “ngủ quên” — những điều mà sự hiện diện vượt ngoài nhận thức của chúng ta.

Tác phẩm ‘La Maternité’ (Tình mẫu tử) của danh họa Lê Phổ, vẽ khoảng thập niên 1940.

Để ý kỹ một chút, ta sẽ nhận ra những cử chỉ nhỏ nhặt hàng ngày mà mình vốn chẳng để tâm, dù ngấm dần qua năm tháng hay đọng lại sau một biến cố lớn, thực chất đều do thế hệ đi trước để lại. Thật an ủi khi từ chính trải nghiệm của mình, ta hiểu rằng, hóa ra từ bao đời nay, chúng ta vẫn yêu thương nhau theo đúng cách ông bà mình từng làm.

My grandmother kisses as if history / Bà tôi thơm như thể lịch sử
never ended, as if somewhere / chưa từng khép lại, như thể đâu đó
a body is still / vẫn còn một xác thân
falling apart. / đang dần vỡ nát.
]]>
info@saigoneer.com (Tom Phạm. Minh họa: Mai Khanh.) Văn Hóa Thu, 11 Jun 2026 14:39:31 +0700
'Quán Kỳ Nam' và ván cược điện ảnh bằng phim nhựa 35mm https://saigoneer.com/vn/film-tv/18144-quán-kỳ-nam-và-ván-cược-điện-ảnh-bằng-phim-nhựa-35mm https://saigoneer.com/vn/film-tv/18144-quán-kỳ-nam-và-ván-cược-điện-ảnh-bằng-phim-nhựa-35mm

“Đến Việt Nam thôi!” Sabrina Baracetti, chủ tịch Far East Film Festival (Liên hoan phim Viễn Đông - FEFF) tại Udine, Ý, hào hứng tuyên bố khi khép lại phần giới thiệu bộ phim Quán Kỳ Nam của đạo diễn Leon Lê. Ngồi trong nhà hát Teatro Nuovo, lần đầu tiên chứng kiến Quán Kỳ Nam mở ra trên màn ảnh rộng, tôi cảm thấy một niềm tự hào trào dâng mãnh liệt.

Quán Kỳ Nam thực sự làm được đúng như lời Baracetti hứa hẹn: tác phẩm không phô bày một Việt Nam siêu hiện đại, đang phát triển nhanh chóng. Trái lại, bộ phim nắm bắt tinh thần Việt Nam một cách chân thực và sống động, được cô đọng qua ánh lửa bập bùng của một ngọn đèn dầu hay tiếng rền rĩ của chiếc quạt điện hoen rỉ. Cùng khán giả quốc tế thưởng thức tác phẩm, tôi xúc động khi hình ảnh con người nước mình hiện lên thật tử tế và tinh tế; họ kiên cường cùng nhau tái thiết đất nước sau chiến tranh.

Điều cốt lõi là, Leon đã để cho các nhân vật của mình mang những khiếm khuyết tuyệt đẹp. Họ cư xử có lúc nhỏ nhen, dè dặt, nhưng đồng thời cũng hiền từ một cách dễ mến. Đó là những con người đang thận trọng dò dẫm trên vùng đất mới mẻ của thời bình, sau nhiều năm gồng mình chống chọi với nghịch cảnh. Tất cả những xung đột âm ỉ và tĩnh lặng ấy được đan cài khéo léo qua một mối tình ngang trái giữa một trí thức trẻ và một góa phụ từng dính líu đến chế độ cũ.

Nữ diễn viên Quán Kỳ Nam Ngô Hồng Ngọc (thứ hai từ trái sang), đạo diễn Leon Lê (thứ hai từ phải sang) và chuyên viên tuyển phim Việt Nam của FEFF (ngoài cùng bên phải).

Anh Nguyên Lê, giám tuyển phim Việt Nam của FEFF, chia sẻ anh luôn tìm kiếm những tác phẩm “lấy chất liệu bản địa nhưng mang ngôn ngữ biểu đạt toàn cầu.” Như anh nhận định rất chuẩn xác, Quán Kỳ Nam “làm được chính xác điều này.” Tác phẩm mượn cấu trúc kinh điển của một mối tình tay ba nhưng lại đặt vào bối cảnh đặc thù của Việt Nam những năm 1970. Bộ phim khắc họa những khoảnh khắc tĩnh lặng, đời thường của kiếp nhân sinh một cách tươi mới, thu hút khán giả quốc tế mà không cần dùng đến các khuôn mẫu xa lạ hay bị dị thường hóa.

Thế nhưng, sự đón nhận nồng nhiệt dành cho Quán Kỳ Nam tại Udine không chỉ đến từ chiều sâu của câu chuyện. Tiếng vang mà bộ phim tạo ra còn đến từ thắng lợi vẻ vang về mặt kỹ nghệ làm phim: đây là bộ phim điện ảnh Việt Nam đầu tiên trong suốt 20 năm qua được quay hoàn toàn bằng phim nhựa 35mm.

Gian nan bước đường tiên phong

Với kỹ thuật xử lý liên tục phát triển, phim nhựa 35mm không còn là chất liệu nghệ thuật mỏng manh, khó bảo quản như nhiều thập kỷ trước nữa. Định dạng này vẫn được “tôn thờ” tại các nền điện ảnh lớn như Hollywood hay Châu Âu nhờ chất lượng hình ảnh và hạt phim độc đáo. Thế nhưng tại Việt Nam, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Ở mảng phim điện ảnh chiếu rạp, đã 20 năm nay chưa có một tác phẩm nào được quay trọn vẹn bằng phim 35mm. Với mảng truyền hình, khoảng trống này thậm chí còn rộng hơn. Do ngành phim nội địa đã chuyển hẳn sang kỹ thuật số từ 3 thập kỷ trước, hệ thống máy móc analog giờ đây nếu không lỗi thời, hỏng hóc thì cũng đắp chiếu, không thể dùng được nữa. Thiếu vắng hoàn toàn thiết bị chuyên dụng, Leon Lê cùng ê-kíp phải đối mặt với một thử thách khổng lồ.

Nhớ lại những ngày đầu thai nghén dự án, Leon thừa nhận mình vô cùng may mắn khi nhận được hậu thuẫn vững chắc từ các nhà đầu tư ngay từ vạch xuất phát. “Tôi biết rằng với mức kinh phí đó, mình sẽ quay bằng phim nhựa,” anh giải thích. “Lý do các nhà đầu tư đồng ý ủng hộ dự án phần lớn là vì họ yêu thích bộ phim đầu tay của tôi, Song Lang. Họ hiểu rất rõ rằng một dự án như Quán Kỳ Nam là một bước đi mạo hiểm về mặt doanh thu.”

Tuy nhiên, nguồn kinh phí dồi dào để quay phim nhựa mới chỉ giải quyết được một nửa bài toán. Dù khả thi về mặt tài chính, dự án lại dường như bất khả thi về mặt vận hành. Bài toán này chỉ tìm được lời giải khi giám đốc hình ảnh Bob Nguyễn (Quán Kỳ Nam, Song Lang) chứng minh được điều ngược lại bằng cách tự tay xây dựng mọi thứ từ nền móng.

“Giám đốc hình ảnh phải đứng ra đào tạo cho toàn bộ thành viên còn lại trong đoàn,” Leon nhớ lại. “Những nhà làm phim trẻ chưa từng làm việc hay thực hành với phim nhựa, họ không biết cách lắp phim cũng như cách gắn hộp chứa phim vào máy quay. Giám đốc hình ảnh đã phải cùng họ đi qua một quá trình huấn luyện bài bản.”

Chặng đường học hỏi không chỉ gói gọn trong phạm vi trường quay. Leon chia sẻ: “Chúng tôi phải hợp tác với một phòng lab tráng phim và hướng dẫn họ [...] Họ vốn chỉ quen tráng các cuộn phim ảnh 35 kiểu, nên làm sao biết cách tráng một cuộn phim dài đến 5 phút? Dù vậy, tôi vẫn tin tưởng tuyệt đối vào đội ngũ của mình.”

Nhờ sự kiên định của Leon cùng ê-kíp, Việt Nam cuối cùng đã có một bộ phim điện ảnh 35mm mới, mang lại trải nghiệm điện ảnh chân thực, giàu chiều sâu và phá vỡ thế độc tôn của những khung hình kỹ thuật số sắc nét nhưng khô khan suốt nhiều năm qua.

Một cảnh trong phim Quán Kỳ Nam.

Hồi sinh phim nhựa hay chỉ là ngoại lệ đơn độc?

Leon vẫn kiên định gắn bó với chất liệu này và đặt trọn niềm tin vào ê-kíp cho các dự án 35mm tương lai. “Với tất cả các dự án sắp tới, tôi vẫn dự định quay bằng phim nhựa, đồng thời tiếp tục tráng và quét phim ngay tại Việt Nam,” anh tiết lộ. Niềm tin của anh bắt nguồn từ sự linh hoạt của con người nơi đây: “Nhìn chung, người Việt Nam rất thông minh. Họ thích mày mò vì tò mò rồi cuối cùng cũng sẽ tìm ra cách. Chỉ là họ còn ngần ngại nên chưa làm, chứ nếu đã muốn thì họ đều có thể làm được.”

Dẫu vậy, Leon không hề ảo tưởng rằng khao khát mang tính cá nhân này có thể tạo ra một cuộc cách mạng cho toàn bộ nền điện ảnh Việt Nam. “Sẽ có những kẻ điên rồ như tôi muốn dấn thân vào con đường này, nhưng để gọi đó là sự phục hồi hay hồi sinh của phim nhựa thì chắc là không,” anh thừa nhận. Theo anh, rào cản lớn nhất còn xuất phát từ thực trạng của dòng phim thị trường Việt Nam hiện nay: “Nhìn vào thị trường điện ảnh Việt Nam lúc này, chúng ta thấy mọi thứ vẫn còn đang chật vật. Quy trình sản xuất từ khâu lên ý tưởng, viết kịch bản, tuyển diễn viên, bấm máy, làm hậu kỳ cho đến ngày ra rạp... đều bị đẩy đi quá nhanh và hời hợt. Làm sao họ dám đầu tư [vào phim nhựa] được? Vừa rủi ro lại vừa tốn kém. Người làm phim phải thực sự yêu thành quả lẫn quá trình thực hiện mới có thể kiên trì chịu đựng được.”

Giám tuyển Nguyên Lê cũng chia sẻ nỗi lo ngại về thực trạng ngành phim, khi chỉ ra điểm va chạm giữa cách làm phim nhựa và thị hiếu của người Việt hiện đại. “Thật tiếc khi định dạng này lại ngốn quá nhiều tiền bạc và thời gian giữa một xã hội luôn đong đếm từng đồng, từng phút; chưa kể chúng ta lại đang sống trong một nền văn hóa chuộng tư duy cứ mới nhất là tốt nhất.”

Dẫu vậy, anh vẫn mong tinh thần không thỏa hiệp của Leon Lê sẽ lan tỏa. Anh dự đoán các định dạng này sẽ “tiếp tục sống” ở mảng phim ngắn, lấy tác phẩm Chín (Ripe) làm ví dụ gần đây; hoặc giới làm phim sẽ “nghiên cứu và kế thừa” phương pháp kể chuyện chi tiết của Leon cùng ê-kíp, để từ đó “mở đường cho những tác phẩm chất lượng cao hơn, đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế.”

Lắng nghe những chia sẻ của họ, tôi không khỏi băn khoăn. Ranh giới rạch ròi giữa dòng phim độc lập và phim thương mại tại Việt Nam là điều không thể chối cãi. Hai mảng này khác nhau hoàn toàn từ cách gọi vốn, phương pháp sản xuất cho đến đối tượng khán giả mục tiêu. Để thắng đậm trên sân nhà, các tác phẩm thương mại giải trí thường phụ thuộc nặng nề vào các hình mẫu nhân vật quen thuộc và những chi tiết văn hóa dễ dãi, điều mà Nguyên mô tả là “rập khuôn kiểu ao làng.”

Cách tiếp cận này hoàn toàn đối lập với tiêu chí “chất liệu bản địa, ngôn ngữ toàn cầu” vốn đã giúp Quán Kỳ Nam chạm đến khán giả quốc tế. Nếu không chịu thu hẹp khoảng cách này, điện ảnh Việt Nam chắc chắn vẫn sẽ chật vật tìm kiếm một vị thế xứng đáng trên bản đồ thế giới. Điều đó đòi hỏi ngành phim nội địa phải biết đặt tính khắt khe về nghệ thuật lên trên những xu hướng thương mại vội vã và giới hạn bởi tư duy trong nước.

Hiểm họa rình rập từ AI và kỹ xảo máy tính

Trong Quán Kỳ Nam, những khán giả tinh mắt đôi khi sẽ nhận ra các công trình hiện đại thấp thoáng xa xa trong các cảnh quay trên sân thượng. Khi được hỏi về điều này, Leon trả lời thẳng thắn đến bất ngờ. “Tôi rất ghét kỹ xảo hình ảnh, bởi vì những hiệu ứng vật lý thực hiện ngay trên trường quay trông sắc nét và chân thật hơn hẳn so với vẽ kỹ xảo máy tính (VFX). Nhất là với các phim hành động, võ thuật của Hollywood hiện nay, họ lạm dụng kỹ xảo quá nhiều khiến mọi thứ trông rất giả. Thế nên, không phải cái gì mới cũng tốt, quan trọng là phải phù hợp.”

Triết lý này hoàn toàn phù hợp với thế giới của Quán Kỳ Nam. Khán giả quốc tế vốn dễ dàng bỏ qua những chi tiết hiện đại lạc lõng đó. Ngược lại, nếu cố dùng kỹ thuật số để chắp vá các chi tiết này nhằm tạo ra một không gian hoài cổ hoàn hảo thì sẽ phản tác dụng. Những mảng kỹ xảo thô vụng sẽ lộ rõ mồn một trên chất phim 35mm có độ hạt tự nhiên, phá nát bối cảnh Việt Nam những năm 1970 chân thực mà ê-kíp đã dày công gầy dựng.

Cá nhân tôi cho rằng, kỹ xảo hình ảnh nên đóng vai trò công cụ nâng tầm nhãn quan của đạo diễn, chứ không phải miếng băng gạc nhân tạo dán lên để che đậy lỗi lầm hay cắt xén bớt quy trình sản xuất. Thế nhưng, thói lạm dụng Trí tuệ Nhân tạo (AI) đang len lỏi một cách tinh vi và nguy hiểm hơn nhiều; đó là một sự xâm phạm không thể chấp nhận được vào tiến trình sáng tạo, trực tiếp cướp đi sinh kế của các nghệ sĩ chân chính. Chúng ta đang chứng kiến một thời kỳ đáng báo động khi AI được vội vã đón nhận để trục lợi, trong khi luật pháp vẫn chật vật chạy theo sau để bù đắp những tổn hại mà giới nghệ sĩ đang phải gánh chịu.

Tuy vậy, khi được hỏi về nguy cơ AI thay thế nhà làm phim, Leon vẫn vô cùng tự tin. “Chúng không bao giờ làm được công việc của tôi.” Đối với anh, quá trình sáng tạo mang đậm bản tính con người. Chỉ có anh mới lưu giữ những ký ức sống động, nhức nhối về việc mẹ và các dì đi thăm ông ngoại tại trại cải tạo sau chiến tranh, những ký ức vốn là nguồn cảm hứng trực tiếp nhào nặn nên nhân vật Kỳ Nam. Không một công nghệ nào trên thế giới, dù ở hiện tại hay tương lai, có thể sao chép vô hồn những tổn thương sâu sắc, cảm xúc cá nhân và nhãn quan nghệ thuật như thế.

Ngô Hồng Ngọc (trái) và đạo diễn Leon Lê (phải) tại liên hoan phim.

Ngược lại, giám tuyển Nguyên Lê lại đưa ra góc nhìn bi quan hơn về thực trạng hiện tại của điện ảnh nước nhà. “Tôi không nghĩ các nhà làm phim khác có cùng suy nghĩ với Leon, nhưng tôi mong mình sai. Như tôi đã nêu trong bài luận và báo cáo chuyên ngành tại kỳ FEFF năm nay, AI hiện đã len lỏi vào rất nhiều công đoạn của quy trình sáng tạo điện ảnh tại Việt Nam. Có người coi đó là món quà trời ban, nhưng cũng có người xem đó là một lối tắt ăn xổi.”

Sự phản kháng của điện ảnh “con người”

Nhận định của Leon về ngành làm phim thị trường trong nước hoàn toàn có cơ sở, nhưng có lẽ anh đã bỏ sót một tín hiệu đáng mừng. Cục diện điện ảnh nội địa đang chuyển mình rõ rệt khi một thế hệ nhà làm phim độc lập trẻ tuổi bắt đầu lấn sân sang mảng thương mại và gặt hái thành công vang dội. Ở quy mô quốc tế, việc Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ siết chặt quy chế gần đây, quy định nghiêm ngặt rằng phim tranh giải Oscar phải do con người đứng tên tác giả, chính là lời đáp trả đanh thép từ các tổ chức chính quy nhằm chặn bước làn sóng AI tạo sinh.

Suy cho cùng, điện ảnh là loại hình nghệ thuật được xây dựng hoàn toàn từ những rung cảm mong manh của con người. Tôi hoàn toàn đồng cảm với lời đúc kết cuối cùng của Nguyên Lê: “Cứ cho tôi những bộ phim dù còn khiếm khuyết nhưng giàu linh hồn, tôi luôn sẵn lòng đón nhận, và thực tế là tôi yêu thích không ít tác phẩm như vậy!”

Ảnh cung cấp bởi Far East Film Festival.

]]>
info@saigoneer.com (Irving Ly.) Màn Ảnh Sun, 07 Jun 2026 22:29:29 +0700
Giải mã sức hút của trào lưu remix nhạc trẻ miền Tây https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18137-một-hỗn-hợp-âm-thanh-thiệt-ngộ-mang-tên-nhạc-trẻ-miền-tây https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18137-một-hỗn-hợp-âm-thanh-thiệt-ngộ-mang-tên-nhạc-trẻ-miền-tây

Vật vờ trên chuyến xe đò xuyên tỉnh, bạn đã bao giờ giật mình tỉnh dậy vì tiếng trống điện tử xập xình của ‘Quê em mùa nước lũ’ bản phối Vinahouse? Hay lúc chờ đợi mòn mỏi, tay lướt TikTok lại bắt gặp giai điệu ‘Lấy cây kim may đồ’ đang chễm chệ trên xu hướng.

Thứ âm nhạc này tràn từ quán nhậu vào đám cưới, từ đường phố len lỏi lên mạng xã hội. Tiếng bass đùng đùng song hành cùng chất giọng ngọt như mía lùi kể câu chuyện đời sống dọc sông Cửu Long, khiến người phương xa bất giác nghĩ đến vô số điều ngộ nghĩnh nơi đây. Bằng cách nào, những bản nhạc trẻ miền Tây remix lại chạm đến cả những cộng đồng vốn chẳng mấy bận tâm tới nó?

Nguồn ảnh: Kênh YouTube Miền Tây Remix.

Thuở nhạc miền Tây chưa “giật”

Nhắc đến kho tàng âm nhạc Nam Bộ xưa, đờn ca tài tử có lẽ là mảnh ghép đại diện rõ nét nhất. Thể loại này thu hút người nghe bằng tiếng đàn điêu luyện từ người nghệ sĩ miệt vườn. Đàn kìm, đàn cò, đàn tranh hay đàn bầu cứ thế nương vào nhau tấu lên bộ ngũ cung đặc trưng (Hò Xự Xang Xê Cống).

Đáng chú ý, đờn ca tài tử thuở sơ khai không hề đóng khung trong nhà hát hàn lâm, mà vốn sinh ra bên mâm rượu, trên chòi lá sau giờ lao động. Bản chất của âm nhạc Nam Bộ ngay từ đầu đã mang tính quần chúng, lấy mục tiêu kết nối bè bạn làm cốt lõi. Tinh thần hội hè này chính là bệ phóng giúp âm thanh nơi đây dễ dàng bắt đôi cùng tư duy giải trí hiện đại.

Đờn ca tài tử trong lối sống Nam Bộ. Nguồn ảnh: Thông tấn xã Việt Nam.

Remix nữa, remix mãi

Tánh ưa tụ họp khiến người miền Tây chẳng nề hà chuyện cũ mới. Một khi âm nhạc đã sinh ra để phục vụ bàn tiệc, thì lúc cuộc vui thời nay đòi hỏi thứ âm thanh xập xình hơn, tiếng đờn ca đâu đó cũng nhường chỗ cho những âm thanh mới nổi. Trào lưu khoác áo nhạc sàn cho những giai điệu sông nước từ đó ra đời.

 Theo làn sóng nhạc điện tử, giới DJ miệt vườn bắt đầu nhào nặn lại những giai điệu dân ca thành những bản phối dập dình, vừa quen tai vừa phục vụ nhu cầu giải trí hết mình của người miền. Một vở cải lương bi lụy, sướt mướt như ‘Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà’ cũng dễ dàng dắt túi 3 bản phối giật đùng đùng.

Dòng nhạc này vốn sinh ra cho tiệc tùng say bí tỉ, bùng nổ nhất vào dịp cưới xin hay Tết nhất. Ở miền Tây, đám cưới có thể kéo dài 2 đến 3 ngày đêm, người ta ăn uống hát hò thâu đêm suốt sáng. Khách phương xa ghé chơi trúng dịp này dễ dàng bị cuốn vào cuộc vui. Người miền Tây “cơ địa” hiếu khách, thêm hơi men lâng lâng thì nhìn ai cũng dễ mến, cũng coi như anh em. Khách thành thị hay bè bạn quốc tế ra về đều mang theo kỷ niệm kỳ lạ nhất đời, in hằn trong đầu mớ âm thanh vừa dân dã vừa hiện đại của vùng sông nước.

Mang đặc trưng là tiết tấu dồn dập, lặp đi lặp lại, dòng nhạc này vô cùng dễ thuộc, dễ đoán để cả đám đông hòa chung bầu không khí, tạo nên sức gắn kết lớn. Người nghe luôn thấy thú vị khi đoạn cao trào vang lên, đám đông đồng loạt ngừng vài giây trước lúc bùng nổ cùng nhau dù chẳng ai biết trước bản nhạc biến tấu thế nào. Giới chuyên môn vẫn dè chừng thứ âm nhạc này bởi tính rập khuôn, và rõ ràng người nghe rất khó tìm ra điểm khác biệt giữa 3 phiên bản 'Võ Đông Sơ Bạch' Thu Hà remix kể trên.

Tiết tấu lặp đi lặp lại, giai điệu dễ đoán cùng thông điệp cũ mòn đã khiến dòng nhạc này vướng định kiến thiếu sáng tạo. Thế nhưng, chính yếu tố đó lại giúp các bài hát trở nên dễ hiểu, dễ nhớ, và thu phục được vùng giao thoa rất hẹp của đám đông khổng lồ. Nếu tạm gác lại tiêu chí “vị nghệ thuật,” việc xài chung mô típ để cộng đồng thỏa sức hòa nhịp đã giúp tác phẩm hoàn thành xuất sắc sứ mệnh “vị nhân sinh.”

Định hình căn tính với Cưới và Nhậu

Nắm bắt tâm lý thính giả, nhạc trẻ miền Tây thường xoay quanh chủ đề đám cưới, tiễn người yêu đi dựng vợ gả chồng, hay chuyện anh em lai rai thâu đêm. Đương nhiên, nghệ sĩ phải nhào nặn ca khúc thật sôi động cho đúng gu khán giả, nếu không muốn thợ remix cướp mất hào quang và mang về lượng người nghe áp đảo.

Nhậu và yêu đương, cưới xin là những chủ đề cộm cán của nhạc trẻ miền Tây remix. Nguồn ảnh: Kênh YouTube AC MediaG5R Remix.

Trong ca khúc ‘Muốn cua anh làm bồ’ của Dương Ái Vy, chúng ta có: “Nè gật đầu cho suôn, sang năm mình làm đám cưới luôn.” Nal lại bộc trực trong ‘Rồi tới luôn’: “Em ơi em ở đâu anh mang trầu cau qua anh rước dâu luôn.” Phát Hồ còn gấp gáp hơn khi tính trước chuyện trăm năm bằng lời tuyên bố: “Yêu là cưới trên dưới hai nhà làm sui, rượu bia chơi láng chín tháng mười ngày có cục cưng nuôi” trong bài ‘Yêu là cưới.’

Ở một bối cảnh khác, gái trai cùng nhau say xỉn trong ‘Hết sảy miền Tây’ của Tracy Thảo My: “Anh cứ nhậu thoải mái, có xỉn em vào thay.” Điểm sáng của tác phẩm này nằm ở chỗ ngoài âm thanh xập xình, nghệ sĩ còn tôn vinh giai điệu cải lương truyền thống và ghép vào đó lời nhạc trào phúng đúng tinh thần nhạc trẻ. Qua bài ‘Lại say nữa rồi’ của Võ Lê Mi, khán giả dễ dàng phát hiện điểm nhấn thú vị xuất hiện ở cả hai ca khúc chính là âm thanh đệm ngẫu hứng “hức” tựa như tiếng nấc cụt lúc xỉn.

Loạt bài hát này thu về từ vài triệu đến trăm ngàn lượt xem, minh chứng cho sức hút và sự hưởng ứng nhiệt tình. Thành quả ấy mang đậm dấu ấn từ chủ tiệm cắt tóc mở loa liên tục, buổi trưa vặn nhạc nghêu ngao bên ly trà đường, chủ tiệc ham vui lan tỏa đến khách đường xa, hay người con vùng Cửu Long mang âm thanh quê hương lên Sài Gòn ăn học.

Nhấn mạnh căn tính trên đường hình

Bên cạnh đặc trưng về âm thanh như giai điệu và beat, nhạc trẻ miền Tây điện tử còn tôn vinh đời sống văn hóa của khu vực bằng MV (băng hình âm nhạc). 

Nếu các MV gốc thường mượn một tiểu phẩm hài để kể chuyện, tiêu biểu như ‘Lại say nữa rồi,’ thì bản remix lại rẽ sang một hướng đi hình ảnh hoàn toàn khác biệt.

Trong MV remix, Võ Lê Mi đã mang âm nhạc đến sát với nhu cầu thực tế khi bê nguyên vào hình ảnh một sân khấu đám cưới ngoài đời. Sau khi hoạt náo khán giả bằng những câu đùa duyên như “say thì em chở dề,” cô ca sĩ vừa hát vừa nhún nhảy theo đúng chất “dân chơi” trên nền nhạc remix. Trong buổi vu quy, cô dâu mặc chiếc đầm voan, hai cổ tay đeo vòng kiềng vàng mới coóng cũng lên quẩy remix nhiệt tình, tay nâng cao lon bia mà chân đã xiểng niểng tới nơi. Một không gian tiệc tùng đúng với tinh thần miền Tây hiện lên rất đỗi chân thành.

Khi không lấy bối cảnh tiệc cưới náo nhiệt, nhạc remix miền Tây lại dời sân khấu ra trước những ụ rơm, bụi trúc, những hình ảnh vốn đã định hình bản sắc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong MV “Qua Tết lấy chồng (Remix)” của Tracy Thảo My, khung cảnh đồng quê truyền thống ấy lại trở thành phong nền cho những điệu lắc hông, đánh tay hiện đại.

Tóm lại, không chỉ âm nhạc mà cả phần hình ảnh trong MV nhạc trẻ miền Tây remix cũng nhất quán với văn hóa đời sống của họ. Đó thể là hình ảnh của làng quê miền Tây đã in sâu trong lòng khán giả hay những tiệc cưới nhậu nhẹt linh đình, điểm xuyến bằng điệu đánh hông “nhập khẩu” từ những hộp đêm.

Từ miền Tây ra thế giới

Nhạc trẻ miền Tây không cần khoác lên mình lớp áo phức tạp để tồn tại. Dòng nhạc này nhặt nhạnh những thanh âm quen thuộc từ quá khứ, rồi đặt chúng vào một nhịp điệu đơn giản đến mức ai cũng có thể gật gù nghe theo. Vượt ra khỏi những rạp cưới rình rang hay mấy mâm nhậu bình dân, giai điệu ấy len lỏi vào các nền tảng nhạc số và sinh hoạt thường nhật của cả những người vốn “ngoại đạo.”

Chẳng hạn một nữ DJ chuyên đánh nhạc hiphop, khi muốn làm một set nhạc tri ân văn hóa đám cưới miền Tây, cũng sẵn sàng “hòa tan” bằng cách đầu tư hẳn áo bà ba, khăn rằn và đeo trọn bộ vòng ximen mạ vàng, chà đĩa những bản hit miền Tây xập xình ngay trước cổng rạp cưới xanh đỏ rực rỡ đèn hoa.

Độ phủ sóng của dòng nhạc này thể hiện rõ nhất qua những điệu nhảy thịnh hành trên TikTok, nơi âm nhạc lan truyền với tốc độ chóng mặt. Chỉ cần một đoạn điệp khúc 15 giây lọt vào mắt xanh của một TikToker nổi tiếng để tạo trào lưu, vô số tài khoản khác sẽ lập tức hưởng ứng, đẩy đoạn nhạc tiếp cận hàng trăm triệu người. Với nhịp điệu vô cùng bắt tai, ai cũng có thể nhún nhảy trên nền nhạc trẻ miền Tây. Tôi từng thấy cả những rapper cộm cán trong giới hiphop hay các nghệ sĩ showbiz cũng hào hứng lắc lư trên những giai điệu tưởng chừng chẳng hề liên quan đến bối cảnh của họ.

@thuanzilo Lấy cây kim may đồ ???????????? #thuận_zilo ♬ nhạc nền - Thuận Zilo ????

Trào lưu 'Lấy cây kim may đồ' gây bão TikTok.
Video: Kênh Tiktok của @thuanzilo.

Thế nhưng, một hiện tượng tôi thấy còn thú vị hơn chuyện nhạc miền Tây khuấy đảo chốn đông người, là khoảnh khắc cô bạn tôi thừa nhận nó thực sự “cần” nghe nhạc miền Tây điện tử để... tập trung học bài. Nó nói: "Phải giật giật vậy tao mới tập trung được. Nhạc đập đều đều mà lại căng, làm mình tỉnh táo lắm." Chà, liệu nhạc trẻ miền Tây remix dập dìu có thể trở thành một kiểu “tiếng ồn trắng” kiểu mới cho giới trẻ khắp Việt Nam không ta?

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. Ảnh bìa: Dương Trương.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Sat, 06 Jun 2026 14:39:00 +0700
Chương ký ức đang lặng lẽ khép lại trên những trang báo cũ https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/17891-chương-ký-ức-đang-lặng-lẽ-khép-lại-trên-những-trang-báo-cũ https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/17891-chương-ký-ức-đang-lặng-lẽ-khép-lại-trên-những-trang-báo-cũ

Báo giấy đã là một phần quan trọng của tuổi thơ tôi, là người bạn mở ra ô cửa cho tôi phóng tầm mắt ra một thế giới đầy màu sắc, vốn lạ lẫm trong mắt trẻ thơ. Nhưng lúc này đây, khi bước ra phố, những người bán báo năm xưa dường như đã biến mất, những tờ báo cũng cuốn gói đi đâu trong phố xá ồn ào. Tôi ngỡ như một cuộc từ giã và chuyển mình trong thầm lặng đã và đang bắt đầu.

Đứng trước cơn lốc thời cuộc, báo chí bản giấy ngày càng vắng bóng trong đời sống chúng ta: biến mất khỏi những chiếc cặp táp của học sinh, sinh viên và người đi làm, rời khỏi những chiếc bàn cà phê sáng sớm trong nhà ngoài phố; co lại trong một vài sạp báo nhỏ còn bám trụ lại trên đường phố, tiếp tục đời sống âm thầm của mình với những vị khách quen ít ỏi.

Lược sử báo chí Việt Nam

Báo chí Việt Nam đã trải qua một hành trình dài với nhiều biến động. Trước năm 1975, báo chí chủ yếu phục vụ cho công tác thông tin, tuyên truyền và lan tỏa kiến thức đến cộng đồng, cũng như phần nào xây dựng những diễn đàn thảo luận về nhiều chủ đề khác nhau. Báo chí thời kỳ này còn nhiều hạn chế về số lượng phát hành. Sau năm 1975, báo giấy tiếp tục trở thành một trong những kênh thông tin chính yếu kết nối mọi miền đất nước. Những tờ như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ, Công An Nhân Dân không chỉ là nguồn tin tức, mà còn là diễn đàn văn hóa và xã hội sôi nổi.

Một quầy báo góc Tự Do-Nguyễn Văn Thinh năm 1969. Ảnh: Brian Wickham/Hội Nhà văn Việt Nam.

Báo chí len lỏi vào từng góc phố, theo chân những người bán báo dạo đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Mỗi sáng, người ta đậu xe trước các sạp báo, hoặc ngồi vắt chéo chân trong quán, tay cầm ly cà phê, mắt chăm chú lật từng trang giấy còn thơm mùi mực.

Thế nhưng, bước sang thập niên 2010, với sự bùng nổ của Internet, báo giấy bắt đầu mất dần chỗ đứng, chỉ còn lại một vài sạp báo cũ kỹ và những người bán báo bám trụ với nghề.

Báo chí giấy, tuổi thơ tôi

Tôi lớn lên vào những năm 2000, khi báo giấy vẫn còn là nguồn thông tin chủ đạo, đặc biệt ở những tỉnh xa như Bạc Liêu quê tôi. Ở nơi đời sống diễn ra còn chậm rãi, các phương tiện truyền thông như TV, radio, báo chí và internet cùng tồn tại, nhưng báo giấy vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong việc giúp người cập nhật tin tức hàng ngày.

Những tờ báo mà tôi mua khi ấy sẽ phải băng một hành trình dài gần ba trăm cây số từ Sài Gòn về Bạc Liêu bằng xe đò mỗi sáng sớm. Báo được chở về đại lý, sau đó ruột báo được lồng với trang bìa, trừ các ấn phẩm được đóng cuốn sẵn, rồi mới được phân phối cho những nhân viên phân phát của đại lý hoặc người bán dạo để đi khắp nơi trong thành phố và các huyện lân cận. Vì vậy, có khi đến quá trưa hoặc đầu giờ chiều, báo mới đến được tay người đọc.

Việc phân phối báo chí truyền thống bắt đầu từ trước khi mặt trời mọc, người đưa báo thường phải lồng từng tờ bằng tay. Nguồn ảnh: Báo Lao Động.

Thuở ấy, anh hai tôi thường mua tờ Mực Tím từ một ông cụ. Ông vốn là giáo chức trước năm 1975, sau giải phóng thì chuyển sang làm hành chính cho một hợp tác xã. Khi hợp tác xã giải thể, ông bắt đầu mưu sinh bằng nghề giao báo kiêm bán vé số dạo. Mỗi ngày, ông đeo trước ngực một chiếc túi to, đạp xe gần ba chục cây số để đưa báo và bán vé số cho khách quen.

Lần nọ, khi ông ghé nhà giao báo, tôi vô tình thấy tờ Nhi Đồng nằm lọt thỏm trong túi nhưng nổi bật giữa chồng báo nhờ màu sắc sặc sỡ. Từ hôm đó, trưa thứ Hai nào tôi cũng ngồi ở ngạch cửa, đợi tiếng cụ dừng xe trước nhà, dáng ông chầm chậm bước vào, lục tìm hai tờ báo dành cho anh em tôi.

Những số báo teen được trình bày cách điệu. Nguồn ảnh: Báo Phụ nữ Việt Nam.

Khỏi phải nói tôi đã luôn hồ hởi thế nào, khi đập vào mắt là những người mẫu ảnh nhí trên trang bìa và những tít bài được trình bày cách điệu xung quanh. Phải lật cuốn báo ra, lia nhanh từng trang một để xem tuần này có gì hay, bài gì mới, truyện ngắn nào được đăng, hay đáp án những câu đố của kỳ trước. Cảm giác ấy giống như một bí mật vừa được hé lộ, cảm giác của sự chờ đợi được đền đáp. Và đôi khi, phải len lén úp mặt vào trang báo mà hít một hơi thật sâu cái mùi giấy báo và mực in thơm khó tả, dù má luôn cấm tôi làm điều đó vì sợ bao nhiêu vi khuẩn từ nhà in trú ngụ trên giấy.

Sau này, tôi còn hứng chí xin ba má đặt thêm một loạt tờ, như Tuổi Trẻ nhật báo, Thanh Niên nhật báo, Tuổi Trẻ Cuối Tuần, Tuổi Trẻ Cười, Nhi Đồng đặc biệt, Mực Tím đặc biệt, v.v. Những tạp chí hay ấn phẩm phát hành hằng tuần, hằng tháng thường đi sâu vào một số chủ đề riêng, chủ yếu là tóm tắt hoặc phân tích lại các sự kiện đã qua. Còn với những tờ nhật báo, tin tức trong đó nhiều khi đến tay tôi đã trễ, vì buổi sáng tôi đã nghe hết cả qua chương trình thời sự trên TV. 

Vậy mà tôi vẫn thích mua và đọc. Những buổi chiều rảnh rỗi ở nhà, tôi thường ngồi vào bàn, mở tờ Tuổi Trẻ ra, rồi nhìn vào khoảng không trước mặt mà đọc thành tiếng từng bài một, bắt chước giọng của các phát thanh viên, như thể mình đang dẫn chương trình thời sự vậy.

Một thời gian sau, mối gắn kết giữa tôi và báo giấy bị đứt đoạn khi ông cụ phải ngừng bán báo vì sức khỏe suy yếu. Những người con của ông cũng đi bôn ba tứ tán lo kế sinh nhai. Không ai trong gia đình muốn tiếp nối nghề bán báo này.

Tái ngộ cùng cố nhân

Lên đại học, tôi gần như mất hẳn thói quen tìm mua báo giấy, dù chúng vẫn luôn lẩn khuất đâu đó quanh tôi — trốn trong tay bác bảo vệ trường đại học, hoặc hiện diện công khai trên kệ gỗ ngay cửa thư viện. Lúc nào chúng cũng kéo tôi dừng lại, lưỡng lự vài ba phút, để rồi cúi xuống lấy một tờ lên đọc, ngắm nghía từng bức ảnh, nghiền ngẫm những dòng chữ được sắp đặt cẩn thận trong lòng trang in.

Khi bắt đầu đi làm, tôi tậu được chiếc Wave và có thêm nhiều dịp để tự mình khám phá Sài Gòn. Những lần rong ruổi qua các hẻm hút ở thành phố, tôi tình cờ bắt gặp lại những sạp báo ven đường, nơi những tờ báo vẫn được bày ra đầy mời gọi, vẫn toát lên sức hút quen thuộc với tôi thuở trước. Một hôm, trên đường tan ca, tôi dừng xe trước một sạp báo nhỏ nằm trên đường Phạm Ngọc Thạch, ngay trước cổng trường Đại học Kinh tế TP. HCM. Đó là sạp của chú Hùng.

Sạp báo của chú Hùng trên đường Phạm Ngọc Thạch. Nguồn ảnh: Báo Phụ Nữ.

Sạp của chú Hùng tương đối nhỏ, chỉ gồm vài kệ báo dựng sát nhau kệ để giới thiệu với công chúng. Tuy vậy, sự hiện diện của nó — với màu sắc nổi bật của chồng báo và tác phong chậm rãi, từ tốn của người chủ — lại dễ dàng thu hút ánh nhìn của khách qua lại. Dường như nó tạo ra một sự tương phản rõ rệt với không gian quanh mình: một con phố ồn ào, vội vã, được lấp đầy bởi những cửa hàng hiện đại.

Chú Hùng kể với tôi rằng, trên con đường Phạm Ngọc Thạch này đã từng một thời sầm uất với hàng chục sạp báo khác nhau, nườm nượp khách đến mua. Dần dần, sau 25 năm hành nghề, giờ chỉ còn chú. Doanh thu cũng giảm nhiều vì số lượng khách ngày một ít đi. Dù vậy, chú vẫn bám trụ với công việc vì thích sự tự do, linh động của nó. Hơn nữa, dù tình hình của báo giấy có nhiều bi quan, chú vẫn có một lượng khách nhất định ở nhiều độ tuổi khác nhau. Những bác lớn tuổi hằng ngày vẫn đến sớm để mua những tờ báo quen thuộc. Một số bạn trẻ, học sinh sinh viên của các trường đại học gần đó, như Đại học Kiến trúc, thường tìm mua các ấn phẩm chuyên về thời trang, thiết kế, hoặc nghệ thuật thị giác để làm tư liệu tham khảo. Một số vị khác thì chọn những tạp chí chuyên ngành từ chú Hùng.

Sau buổi trò chuyện với chú Hùng, tôi rút ví mua mấy tờ để ủng hộ chú — toàn những cái tên quen thuộc mà tôi đã lâu không được cầm bản giấy: một số tờ thiếu nhi, một tờ biếm họa, và một tờ mà lần đầu tiên tôi thấy — một chuyên san dành riêng cho phụ nữ, phát hành vào Chủ nhật.

Dù thị trường báo giấy không còn sôi động như trước nhưng chú Hùng vẫn bám trụ với nghề. Nguồn ảnh: Báo Thanh Niên.

Những người bạn của tuổi thơ tôi vẫn đang khoác chiếc áo quen thuộc, khiến tôi dễ dàng nhận ra họ. Họ vẫn giữ logo quen thuộc sau bao nhiêu năm, vẫn ra mắt bạn đọc với khổ báo ấy và những màu sắc đặc trưng ấy. Nhưng bên trong tờ báo, mọi thứ đã thay đổi đáng kể. Những tờ thiếu nhi trước đây chỉ in màu một phần các trang, giờ đã in màu toàn bộ. Báo biếm họa ngày xưa in bằng giấy rất mỏng, giờ đã chuyển sang dùng giấy bóng. Những bài viết mới vẫn được trình bày một cách kỹ càng để thu hút sự chú ý của người đọc, nhưng nội dung của chúng dường như quá xa lạ với tôi.

Tờ cuối cùng trong chồng báo mà tôi mua về hôm ấy là một chuyên san phát hành vào Chủ nhật, dành riêng cho phụ nữ. Đọc qua từng bài, tôi cảm nhận được tinh thần năng động và đổi mới của các tác giả, cũng như mong muốn của họ trong việc xây dựng những nội dung có chiều sâu và ý nghĩa. Nếu ta hình dung mỗi tờ báo có một giọng nói riêng, thì chuyên san này mang một giọng nói mạnh mẽ, cấp tiến, thách thức những rào cản, khuôn mẫu, kêu gọi đấu tranh cho hạnh phúc và công bình của mỗi cá nhân trong xã hội.

Tôi đã hạnh phúc biết bao vì tìm ra được một tờ báo thật hay, có dấu ấn riêng, hứa hẹn sẽ làm tôi phải tìm mua mỗi tuần — như thể vừa kết được một tri kỷ mới cho hành trình bầu bạn tri thức sắp tới. Cho đến khi tôi lật đến bìa 3 và đọc được một dòng lạnh ngắt: Ấn phẩm ngừng xuất bản từ tháng 1/2025. Không có một lời giải thích nào thêm được đưa ra về sự kết thúc của ấn phẩm đã có mặt 28 năm, phát hành khắp cả nước gần 50.000 bản mỗi kỳ. 

Rất nhiều ấn phẩm in lâu đời đã phải nói lời tạm biết độc giả. Nguồn ảnh: Báo Phụ Nữ Chủ Nhật.

Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra rằng, cuộc gặp gỡ này đã diễn ra quá trễ. Niềm vui mà tôi chưa kịp nắm lấy đã trôi khỏi tầm tay.

Còn chút gì để nhớ

Hai tuần sau, tôi ra lại sạp chú Hùng để mua tờ cuối cùng của chuyên san ấy. Chú bảo báo đã ngừng in nên không lấy nữa. Tôi đánh bạo gọi về Phòng Phát hành và được hướng dẫn lên tòa soạn ở đường Điện Biên Phủ. May thay, nơi ấy vẫn còn dư một vài bản. Ban biên tập dành trọn vẹn trang 3 của số cuối cùng để đăng lời chia tay bạn đọc. Câu từ được viết với tất cả tình cảm, cẩn trọng và đầy sự dứt khoát.

“Cũng là tất yếu, vạn sự làm sao có thể thoát khỏi quy luật thiên địa tuần hoàn? Nếu có thể đốt mình để trở về với một phiên bản khác mới mẻ hơn, đẹp đẽ hơn cũng là điều đáng làm. Điều khó khăn nhất của chúng ta, nhất là phụ nữ, không phải là từ bỏ những thói quen và vượt qua những giới hạn đó sao? [...] xin chào tạm biệt với lời cảm ơn chân thành gửi đến những độc giả thân thương, những cộng sự cần mẫn đã đem đến rất nhiều bài viết chỉn chu, thú vị, bổ ích. Nhất định chúng ta sẽ gặp lại, nhận ra và thương yêu nhau như đã từng.”

Một khi được in ra, báo giấy không thể tự động thay đổi nội dung,
nhưng cũng vì vậy mà nó đóng vai trò như một chứng nhân lịch sử. Nguồn ảnh: Báo Lao Động.

Những lời từ biệt ấy lại làm tôi hồi tưởng về những ngày gặp gỡ đầu tiên của tôi và báo giấy. Là một đứa trẻ lớn lên ở tỉnh lẻ, lọt thỏm giữa một vùng quê nhỏ đầy khó khăn, một trong những nguồn thông tin quý giá nhất mà tôi có được chính là từng tờ báo giấy, từng tờ tạp chí tôi có được. Những tờ báo ấy đã làm công việc của những chiếc cửa sổ — hé mở cho tôi thấy những điều xảy ra trong thế giới rộng lớn ngoài kia, những điều mà tôi đọc chưa chắc đã hiểu, nhưng phần nào giúp tôi mường tượng được về sự phức tạp mà cũng đầy thú vị của xã hội. Những trang giấy mỏng ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi, và chắc hẳn đã phần nào truyền cảm hứng cho tôi trên hành trình viết văn sau này.

Một khi được in ra, báo giấy không thể tự động thay đổi nội dung theo dòng sự kiện, như cách mà báo mạng liên tục cập nhật. Nhưng cũng vì vậy mà tôi vẫn thương báo giấy, bởi nó đóng vai trò như một chứng nhân lịch sử cho những điều đã diễn ra ở thời điểm nó xuất hiện.

Chú Hùng nói với tôi, chú nghĩ báo giấy sẽ không biến mất ngay lập tức, nhưng sẽ ít đi dần dần. Dòng sông sẽ không cạn trơ đáy trong chớp mắt; nước dù yếu đi sẽ vẫn chảy, vẫn tìm cách luồn qua những rạch ngòi nhỏ hẹp. Báo giấy lúc này và sắp tới chắc cũng giống mạch nước ấy. Chúng sẽ vẫn tiếp tục hành trình kể chuyện với những vị khách quen, và biết đâu, may mắn hơn, là có thêm những người bạn mới, tuy không nhiều mong đợi.

Chú tài xế đọc báo sáng trên chiếc xích lô ở TP. Mỹ Tho. Nguồn ảnh: Báo Ấp Bắc.

Trong khi những người bán báo đang trở nên bi quan về tình hình phát hành và dần chấp nhận thực tại, một vài chùm sáng cuối đường hầm đang lóe lên khi có những chỉ báo về sự trở lại và chuyển mình của một số tạp chí. Tôi không biết mình có thể làm gì hơn vì ngày mai khó mà đoán định được. Nhưng tôi chắc rằng, mỗi lần đi ngang sạp chú Hùng hay bất kỳ sạp báo giấy nào trên đất nước này, tôi sẽ cố gắng dừng lại và mua một tờ nếu có thể.

]]>
info@saigoneer.com (Minh Phát. Ảnh bìa: Dương Trương.) In Plain Sight Fri, 05 Jun 2026 12:00:00 +0700
Chuyện chưa kể về ca khúc 'Xin chào Việt Nam' https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18142-chuyện-chưa-kể-về-ca-khúc-xin-chào-việt-nam https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18142-chuyện-chưa-kể-về-ca-khúc-xin-chào-việt-nam

Những ai từng bay cùng hãng hàng không VietJet có lẽ đều đã nghe qua ca khúc ‘Hello Vietnam’ hay phiên bản tiếng Việt ‘Xin chào Việt Nam.’ Vì bài hát thường vang lên lúc máy bay hạ cánh, hành khách dễ lầm tưởng đây chỉ là một đoạn nhạc hiệu của hãng. Tuy nhiên, giai điệu này lại mang một thông điệp ý nghĩa hơn: đó là tâm sự của một người gốc Việt muốn hướng về quê hương, một nơi cô chưa từng đặt chân tới. Nỗi lòng ấy tìm được sự đồng điệu ở nhiều người nghe, nhưng ít ai biết rằng, bản gốc của ca khúc vốn được viết bằng tiếng Pháp và từng suýt không bao giờ ra mắt.

Xuất phát từ cộng đồng hải ngoại, ‘Hello Vietnam’ đạt thành công hiếm thấy khi được đông đảo khán giả trong nước biết đến.

Ảnh bìa Hello Việt Nam.

Thành công này có lẽ không quá bất ngờ, bởi ca khúc dường như được “đo ni đóng giày” cho thị hiếu của người Việt. Lời ca hoài niệm đi cùng giai điệu buồn man mác vốn là công thức tạo nên nhiều tác phẩm bất hủ của Việt Nam. Dù nội dung kể về tâm tư của một người chưa từng đến Việt Nam, khán giả trong nước vẫn dễ dàng tìm thấy sự đồng cảm. Cảm giác khắc khoải ấy có lẽ gợi nhắc người nghe về chính quê nhà của mình, hoặc về một Việt Nam của những thập niên xưa cũ.

“Want to see your house, your streets. Show me all I do not know
Wooden sampans, floating markets, light of gold.”

Lòng cảm mến và sự tò mò dành cho Việt Nam, kết hợp với những lời ngợi ca vẻ đẹp đất nước đã giúp khơi gợi niềm tự hào dân tộc một cách tự nhiên. Đó cũng là lý do vì sao bài hát dễ dàng tạo cảm giác gần gũi ngay cả với những người lần đầu thưởng thức. Tác phẩm nhanh chóng có độ phủ sóng rộng khắp, từ các đoạn phim quảng cáo du lịch, nội dung trên mạng xã hội cho đến không gian tại các quán cà phê.

Hành trình của ‘Hello Vietnam’ thực chất bắt đầu tại Bỉ, nơi nữ ca sĩ Phạm Quỳnh Anh sinh ra. Cô là con gái trong một gia đình gốc Việt, cha cô là du học sinh còn mẹ cô là người nhập cư. Sớm bộc lộ năng khiếu âm nhạc, vào năm 13 tuổi, cô tham gia cuộc thi ca hát Pour la Gloire trên truyền hình Bỉ và giành chiến thắng ngoạn mục nhờ thể hiện ca khúc ‘The Reason’ của Celine Dion.

Chiến thắng giúp Quỳnh Anh nhận ra mình hoàn toàn có thể nghiêm túc theo đuổi con đường nghệ thuật. “Thực ra tôi thi Pour la Gloire chỉ vì lỡ cá cược với bố. Bố cứ khăng khăng là tôi sẽ làm nên chuyện, còn tôi thì đinh ninh mình sẽ rớt ngay từ vòng gửi xe. Thế rồi mọi chuyện cứ tự nhiên diễn ra, lúc đó tôi còn chẳng hiểu chuyện gì đang đến với mình nữa,” Quỳnh Anh trả lời bằng tiếng Pháp trong một cuộc phỏng vấn.

Phạm Quỳnh Anh.

Năm 2005, sự nghiệp của Quỳnh Anh sang trang khi cô trở thành học trò của Marc Lavoine, nam ca sĩ lừng danh nước Pháp với bản hit ‘Elle a les yeux revolver....’ Khi ấy, Lavoine đang tìm kiếm một giọng ca nữ cho bài hát song ca ‘J’espère.’ Ông hoàn toàn bị thuyết phục bởi giọng hát của Quỳnh Anh chỉ sau ba lượt thu thử. Tiếp nối thành công của bản song ca này, Quỳnh Anh đã đồng hành cùng Lavoine trong chuyến lưu diễn qua nhiều quốc gia.

Trải nghiệm làm việc cùng Marc Lavoine trở thành bước đệm quan trọng cho Quỳnh Anh, vì qua đó ông đã sáng tác riêng cho cô một loạt ca khúc chưa từng công bố, tiêu biểu là bài ‘Bonjour Vietnam.’ Khi biết tác giả nhạc phẩm là một người đàn ông Pháp da trắng, hẳn vài người nghe sẽ thấy đôi chút lấn cấn với phần ca từ, đặc biệt là ở những đoạn miêu tả ngoại hình nhân vật như “J'ai des yeux bridés” (tạm dịch: Tôi có đôi mắt xếch). Tuy nhiên, lời bài hát thực chất được chấp bút hoàn toàn theo yêu cầu của Quỳnh Anh và được chính cô giám sát hoàn thiện.

Trong quá trình chuẩn bị cho album đầu tay, cô mong muốn hát về nguồn cội nên đã nhờ nhà biên kịch Yvan Coriat viết lời về Việt Nam. Vì bản thảo ban đầu quá dài, cô tìm đến người thầy dày dặn kinh nghiệm là Lavoine để gọt giũa ca từ và phổ nhạc. Nữ ca sĩ mang hai dòng máu Việt-Bỉ đã lập tức bị thuyết phục. Cô chia sẻ trong một buổi phỏng vấn: “Tôi hát thử và thấy tâm đắc ngay. Thật tuyệt vời  khingười châu Âu lại có thể tái hiện không gian Á Đông tinh tế đến vậy. Tôi thấy mình may mắn khi được làm việc cùng những cộng sự tài năng, những người giúp tôi cất lên tiếng lòng mình.”

Marc Lavoine.

Con đường đưa ‘Bonjour Vietnam’ đến với công chúng cũng là một chuỗi rất nhiều tình cờ. Một bản thu thử bị rò rỉ trên internet và nhanh chóng lan truyền khắp cộng đồng hải ngoại. Đến Tết năm 2006, bài hát bùng nổ trên toàn cầu, thường được lồng vào các video phong cảnh Việt Nam do người hâm mộ tự dựng. Sự đón nhận nồng nhiệt ngoài sức tưởng tượng này giúp hành trình âm nhạc của Quỳnh Anh bước sang một trang mới, đưa tên tuổi cô lan tỏa khắp thế giới trong cộng đồng người Việt viễn xứ. Dù ca khúc chưa từng được phát hành chính thức, cô đã nhận được hàng loạt lời mời biểu diễn tại Canada, Mỹ và Úc. Trước sự đón nhận nồng nhiệt từ công chúng, cô quyết định ra mắt phiên bản tiếng Anh mang tên ‘Hello Vietnam’ do Guy Balbaert chuyển ngữ. Phiên bản này giúp bài hát tiếp cận tệp khán giả rộng hơn ở trong nước, đồng thời củng cố tên tuổi của cô ở thị trường hải ngoại.

Năm 2008, màn trình diễn tại Paris by Night đã giúp ‘Hello Vietnam’ trở thành khúc ca nằm lòng của người Việt hải ngoại. Và cuối năm đó, Quỳnh Anh cuối cùng cũng có cơ hội đặt chân đến Việt Nam thông qua một chuyến lưu diễn ngắn ngày.

Phiên bản gốc bằng tiếng Pháp do Phạm Quỳnh Anh thể hiện.

Bài hát ra đời có lẽ cũng từ cái duyên dẫn dắt Quỳnh Anh về với cội nguồn. Cú bắt tay với Marc Lavoine đã khơi gợi những ca từ chứa chan khao khát trở về Việt Nam. Tiếp đó, giai điệu này tự tìm thấy sức sống riêng với cộng đồng khán giả. Cuối cùng, chính bản dịch tiếng Anh đã giúp bài hát lan tỏa tại quê nhà, mở đường để cô đặt chân đến mảnh đất mình từng hát về bằng tất cả niềm mong mỏi.

“One day I’ll touch your soil.
One day I’ll finally know your soul.
One day I’ll come to you.
To say hello… Vietnam.”

Hiện tại, Quỳnh Anh đã chủ động lùi lại phía sau để chăm lo cho cuộc sống riêng thay vì tiếp tục hoạt động nghệ thuật sôi nổi. Xuyên suốt thời gian bài hát gặt hái thành công, cô vẫn luôn ưu tiên việc học và giờ đây đã bước sang những chương mới của cuộc sống. Tuy nhiên, sức hút của ‘Hello Vietnam’ chưa bao giờ hạ nhiệt; nhiều bản dịch tiếng Việt đã ra đời giúp ca khúc tiếp tục đến với các thế hệ người nghe mới. Hãng hàng không VietJet chọn cách phát xen kẽ cả bản tiếng Anh lẫn tiếng Việt mỗi khi hạ cánh, dù tần suất lặp lại liên tục đôi khi khiến hành khách bay nội địa có phần ngán ngẩm. Thế nhưng, bỏ qua yếu tố thương mại, giá trị của ‘Hello Vietnam’ vẫn vẹn nguyên, là lời tự sự chân thành của một người con xa xứ, mang trong mình khát khao tìm về quê hương.

]]>
info@saigoneer.com (Tom Phạm. Ảnh bìa: Mai Khanh.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Fri, 05 Jun 2026 11:46:51 +0700
Miền Tây có đồ bộ mặc hoài không chán https://saigoneer.com/vn/fashion/18138-miền-tây-có-đồ-bộ-mặc-hoài-không-chán https://saigoneer.com/vn/fashion/18138-miền-tây-có-đồ-bộ-mặc-hoài-không-chán

Từ chỗ chỉ là “đồ mặc cho tiện,” đồ bộ giờ đã bước vào đời sống miền Tây như một lựa chọn thời trang linh hoạt và đầy màu sắc.

Một sáng Chủ nhật, ở dưới quê bỗng dưng cúp điện. Gian nhà vắng bặt tiếng quạt hay tiếng máy bơm thường ngày, chỉ còn tiếng gà gáy vang qua mấy vạt vườn còn sũng sương đêm. Tôi rinh thau đồ ra ngồi ngay sàn nước dưới gốc mấy cây chuối, chỗ lu nước trong veo đã được mẹ lóng phèn từ mấy bữa trước. Tôi thích ngồi đây giặt hơn vì hơi nước từ bờ ao thổi lên mát rượi, trong không khí nức mũi mùi nước xả vải lẫn mùi nắng sớm, mùi rạ đầu hôm, mùi bùn non sông mới bồi lên.

Tôi tỉ mỉ tròng từng bộ đồ vào móc rồi treo lên sào, để mặc chúng đong đưa trong gió. Sào phơi nằm sát mé vườn rau, nên khung cảnh trước mặt lúc ấy đẹp như một bức tranh. Giàn đậu rồng đang độ trổ bông, mấy cái bông tim tím xen giữa tán lá non vươn mình đón nắng; bên cạnh là hoa mướp vàng rực; dưới thấp là mấy luống rau xanh rì còn đọng giọt sương chưa kịp tan. Giữa bảng màu xanh, tím, vàng rực rỡ, mấy bộ đồ nền xanh thẫm của mẹ nổi bật với những cụm hoa đỏ, vàng, hồng in kín mặt vải. Một bộ hoa nhỏ li ti như rắc lên nền áo, bộ kia thì chấm bi trắng đều tăm tắp, còn bộ sọc thì chạy những đường cam đất, tím khoai, xanh ngọc mềm mắt.

Tôi mê mấy bộ cánh đó của mẹ dù hiếm khi dám mặc chúng ra đường. Chỉ có mỗi bận về thăm nhà, tôi mới có dịp thử vài bộ mẹ thấy đẹp mà cất tủ để dành cho tôi. Có lẽ tôi chưa quen thấy mình trong dáng vẻ ấy, cũng không có dịp để mặc giữa cuộc sống thị thành. Tôi thấy mình có chút gì đó lạc quẻ trong kiểu thời trang sặc sỡ này.

Thế nhưng, chỉ cần bước chân ra lộ hay tạt qua mấy sạp chợ quê, người ta sẽ thấy ngay một “vũ trụ” đồ bộ rộn ràng. Từ các dì lớn tuổi cho tới mấy chị U-30, U-40 đều vô tư bận, người xỏ dép bánh mì, người kẹp tóc càng cua, trên tay xách cái giỏ đan dây hay giỏ nhựa đỏ điệu đà. Thậm chí, chẳng khó để bắt gặp bóng dáng những bộ đồ thun lấp ló trong quán cà phê, ở cổng trường lúc đón con, hay rần rần trong các phiên livestream và mấy đoạn clip TikTok quay vội trước sân nhà.

Ai cũng ưng và sắm đồ bộ như vầy, sở dĩ là do mẫu mã đã “tân thời” rất nhiều so với ngày xưa. Mẹ kể cỡ chục năm trước, đồ bộ loanh quanh chỉ có áo quần suông rộng cốt để mặc làm việc cho thoải mái. Còn giờ bước ra sạp là ê hề kiểu dáng, có những bộ tay lỡ phối cùng quần lửng trông năng động rõ, khi thì nhấn nhá thêm vài đường ren ở viền cổ, khi thì xẻ cổ tim để thêm phần nữ tính. Đường kim mũi chỉ cũng khéo léo, lên phom gọn gàng để chị em ở lứa tuổi nào diện vào cũng thấy mình thiệt ưa nhìn. 

Ưng bụng nhất vẫn phải nói đến chất liệu thun mềm láng. Giữa cái nắng hầm hập, lớp vải lạnh khoác lên người vừa nhẹ tênh vừa mát lịm. Đã vậy, nết vải còn ít nhăn và cực kỳ mau khô, rất hạp những ai suốt ngày tay năm tay mười mà vẫn muốn giữ vẻ ngoài tươm tất.

Ghé mấy cái đám dưới quê mới thấy, bao nhiêu bộ “đồ vía” đẹp nhất trong tủ đều được các bà các mẹ mang ra diện. Đẹp ở đây không phải kiểu ngồi chơi chờ người ta khen, mà để các dì các cô xắn tay áo vào bếp cho thêm phần tháo vát. Từ tờ mờ sáng, mọi người đã tề tựu đông đủ, người làm gà vịt, kẻ nhóm bếp lặt rau. Một hồi, lại thấy họ đứng bên nồi cháo, nồi canh, tay cầm cái vá, vừa nếm vừa xuýt xoa, rồi tiện tay lau vô vạt áo cái rẹt. Khách tới thì cũng mặc chính bộ đồ đó bước ra chào hỏi xởi lởi, xong xuôi lại tất tả quay vô dọn mâm hay rửa chồng chén đĩa. Lạ cái là dù bận rộn suốt, dòm họ vẫn gọn gàng, dễ mến lắm. Chắc tại người mặc lanh lẹ, nên tấm vải khoác lên mình cũng trở nên sinh động, chẳng cần chăm chút gì nhiều mà vẫn ra được cái tánh của người miệt vườn.

Mà đồ bộ đâu chỉ quanh quẩn chuyện bếp núc hay chợ búa. Ai đó sáng còn thấy đứng bên bếp, chút xíu sau đã xắn ống quần quá bắp đùi lội mương. Có người thoăn thoắt leo lên cây dừa cao vút, lớp vải thun ôm gọn từng cử động. Ra tới mé sông thì thấy họ kéo lợp, quăng chài, lấn ra biển thì thấy dáng người lom khom cào nghêu, mò hến, nước ngập tới gối vẫn cứ cần mẫn. Đồ bộ cũng “chịu thương chịu khó” dữ lắm, lăn lộn bao mùa nắng mưa mà chẳng chút nề hà.

Có lần tôi ngồi chơi lẩn quẩn dưới bếp, thấy mẹ đang nêm nồi canh chua, khói bay nghi ngút, tôi mới hỏi vu vơ: “Ủa, sao gọi là đồ bộ hen, không gọi là đồ bông?” Mẹ đang cầm cái vá, múc miếng canh lên thổi phù phù cho nguội, nghe vậy cũng dừng lại chút xíu, nhìn tôi rồi cười: “Đồ bộ nào? À bộ mẹ đang bận đó hả. Thì tại quần áo chung một xấp vải, trên dưới y chang nhau nên người ta gọi là đồ bộ.” Người ta nói hoài rồi quen hồi nào không hay, mấy cái tên ở quê nhiều khi là vậy đó.

Nhiều khi tôi thấy đồ bộ giống như “đồng phục” không chính thức của xứ mình. Từ người khá giả tới người làm ruộng, tủ đồ kiểu gì cũng có vài ba bộ. Trời miền phương Nam nắng nóng, ẩm thấp, mặc thứ gì bó buộc quá cũng không chịu nổi, nên mới không có rạch ròi chuyện “đồ ở nhà” với “đồ ra ngoài.” Cùng một bộ đồ đó quét nhà nấu cơm rồi chiều ghé nhà hàng xóm chơi mấy bận... Phải chăng điều đó phản ánh phần nào tính cách người quê tôi, ít câu nệ và không ưa ràng buộc?

Tôi cũng từng tò mò, không biết bộ đồ này có từ hồi nào, ai là người đầu tiên may ra nó. Lên mạng tìm, hỏi người này người kia, rồi về hỏi bà, hỏi mẹ… mà rốt cuộc cũng không ai trả lời được cho ra đầu ra đũa. Chỉ biết là từ hồi còn nhỏ xíu, tôi đã thấy mẹ ngồi may đồ. Mẹ hay ra chợ quê mua mấy xấp vải bông về trải lên tấm ván lớn. Mẹ cầm cục phấn, kẻ kẻ vạch vạch, rồi cây kéo đi “rẹt rẹt” một cái là thành hình, ngồi kế bên nhìn thôi cũng thấy thích. Đến chiều xuống, khi cơm nước xong xuôi, việc nhà việc vườn đã tạm yên, mẹ lại ngồi vô bàn, tiếng “lạch cạch, lạch cạch” đều đều vang lên trong ánh đèn vàng.

Nhắc chuyện chọn vải mới sực nhớ, hồi trước quần áo của ngoại tôi thường quẩn quanh loại vải bông dày dặn, màu trầm và hiếm khi có hoa văn, một phần vì thời buổi còn thiếu thốn nên ai cũng chỉ tính chuyện sao cho bền trước. Phải đến thời của mẹ, những bộ đồ bắt đầu rực rỡ hoa lá và tươi tắn hơn, tỉ lệ thuận với sự phong phú của đời sống khi xóm làng bắt đầu có đồng ra đồng vô. Cứ mỗi bộ đồ may xong, mẹ lại tỉ mỉ xếp gọn gàng rồi để dành cho ngoại, hay tặng dì bận lấy thảo, bộ nào “xuất xưởng” cũng được cả nhà nâng niu như của quý.

Qua thời gian, chiếc máy cũ kỹ ngày nào đã được đẩy vô góc nhà và phủ một lớp bụi mờ; ngoài chợ, người ta bày bán đủ thứ, ai cần đồ gì cứ tạt ngang lựa một cái bận liền chứ chẳng phải mất công chờ đợi. Thế nhưng, dù mẫu mã cải tiến và việc sắm sửa có phần chớp nhoáng hơn, “cốt cách” của đồ bộ vẫn vẹn nguyên như thuở đầu, để rồi chính sự thiết thực, giản dị ấy lại giúp nó ngày càng được ưa chuộng và sống khỏe hơn trong thời buổi mới.

]]>
info@saigoneer.com (Thảo Nguyên. Minh họa: Dương Trương.) Thời Trang Tue, 02 Jun 2026 21:21:09 +0700
Những phút giây Hà Nội tĩnh lặng trong tranh minh họa của họa sĩ Hoàng Hiền https://saigoneer.com/vn/arts-culture/18139-những-phút-giây-hà-nội-tĩnh-lặng-trong-tranh-minh-họa-của-họa-sĩ-hoàng-hiền https://saigoneer.com/vn/arts-culture/18139-những-phút-giây-hà-nội-tĩnh-lặng-trong-tranh-minh-họa-của-họa-sĩ-hoàng-hiền

Dù là ở Sài Gòn, Hà Nội hay Đà Nẵng, những đứa con thành thị đều sinh ra và lớn lên trong vòng tay che chở của đường phố, ngày ngày lắng nghe tiếng ru rì rầm của vỉa hè, của nhịp thở sôi động từ hàng quán, tiệm tạp hóa, và cả những cô chú giao hàng í ới gọi nhau. “Moment of Stillness” (tạm dịch: Phút giây tĩnh lặng), dự án tranh minh họa đầy màu sắc của họa sĩ Hoàng Thanh Hiền, cũng sinh ra trong khung cảnh ấy, được khắc họa qua con mắt hội họa của Hiền khi chú ý quan sát không gian sống quanh mình.

Phố xá Hà Nội vốn luôn được biết đến, cả trong và ngoài nước, qua hình ảnh xe cộ đông đúc có phần hỗn loạn, nhưng nếu một ngày ta có thời gian ngồi lại để soi xét kỹ hơn từng mảnh riêng biệt trong bộ lắp ráp Hà Nội, ta sẽ nhận ra có nhiều thứ cũng dễ thương, bình dị lắm, những thứ mà hàng ngày ta có thể bỏ qua giữa nhịp sống hàng ngày bận bịu. Mỗi bức tranh trong dự án của Hiền là một chân dung cận cảnh, tách biệt của một mảnh ghép trong không gian đường phố Hà Nội.

“Những xe hàng chở đầy hoa quả theo mùa, những xe bán đồ ăn, góc trà đá, gốc cây hay cột biển báo [...] được tận dụng cho những sạp bán mũ bảo hiểm, áo mưa,” Hiền viết trong email. “Có thể, với sự phát triển, tiện lợi của xã hội hiện tại, hàng rong vỉa hè trở thành một điều gì đó gắn với sự phức tạp, lộn xộn. Nhưng mình muốn vẽ lại những hình ảnh đó với màu sắc thật nhẹ nhàng. Một khoảnh khắc nghỉ ngơi của những người mình nghĩ đang có rất nhiều mệt nhọc. Cứ như vậy, đi đâu thấy gì cũng chụp lại, khi nào rảnh lại lôi ra vẽ, túc tắc vậy mà thành một bộ tranh.”

Các chủ thể trong tranh của Hiền đều là các cô bán hàng rong, hộ buôn bán nhỏ hay tài xế chạy app, những thân phận bám lấy lề đường làm kế sinh nhai, từ xe nước mía, gánh trái cây, bạn shipper khệ nệ giỏ đầy đơn hàng sau xe máy. Họ có một điểm chung trong tranh là đều không được vẽ rõ mặt, có lẽ cũng tương tự như cách chúng ta lướt qua những người lạ trên phố, nhưng đổi lại, họ đều được khắc họa bằng bảng màu tươi vui, như để tôn vinh những khoảnh khắc nhỏ trên phố.

Quan sát những phút giây đời thường rồi vẽ thành tranh trở thành cách Hiền giải tỏa đầu óc sau nhiều giờ làm việc. Tuy vẽ vời là một sở thích lâu năm từ khi Hiền mới 4-5 tuổi, đến lúc thi đại học, cô chọn một ngành hoàn toàn khác, ra trường và đi làm. “Chừng ấy năm mình vẫn vẽ, vẫn muốn vẽ và nghĩ về chuyện vẽ, nên mình nghỉ làm, bắt đầu đi học vẽ từ đầu,” Hiền nhớ lại. “Sau đó [mình] lại đi làm, may mắn gặp những anh chị tốt luôn kiên nhẫn và có niềm tin vào mình, cứ thế vừa làm vừa học đến giờ.”

Tựa đề dự án “Moment of Stillness” nói về những khung hình đường phố Hiền thu nhặt được khi đi vòng quanh Hà Nội, nhưng có lẽ phần nào cũng bắt đầu từ nhu cầu tìm kiếm một “phút giây tĩnh lặng” cho riêng mình của tác giả. “Bắt đầu từ một ngày, mình thấy mình đang vẽ như một cái máy. Mình vẽ trên công ty, mình vẽ job, mình vẽ mỗi ngày. Mọi thứ thuận lợi, ai cũng hài lòng, nhưng tự nhiên, [mình] không thấy niềm vui khi vẽ nữa,” cô kể. “Sản phẩm này hoàn thành chuyển ngay sang brief khác, chả biết từ bao giờ, mọi thứ cứ ào ào như vậy. Nhưng đâu thể ngừng vẽ được, vẫn phải vẽ tiếp chứ, nên mình xen giữa lúc rảnh bằng việc vẽ gì đó cho bản thân.”

Với mục đích đơn giản là nhóm lại niềm vui khi được cầm bút vẽ trên giấy, Hiền bắt đầu với những sự vật đơn giản nhất quanh mình: “Lá cây khô trên đường, nếp gấp quần áo, khối cơ trên cơ thể người, mọi thứ đều có thể trở thành một câu chuyện. Mình muốn tìm lại việc nhìn thấy vẻ đẹp từ những điều đơn giản như thế. Dần dần, mình chú ý hơn đến không gian vỉa hè, cuộc sống thường ngày trên vỉa hè.”

Đây có lẽ là một giai đoạn nhiều trăn trở với những ai đang bám lấy vỉa hè Hà Nội làm sinh kế, lẫn những ai có trái tim yêu quý không gian kinh tế bên lề ở thủ đô, khi chính quyền thành phố đang ra quân giải tỏa lấn chiếm vỉa hè gắt gao, nhằm trả lại không gian cho người đi bộ. Những dự án hội họa, nhiếp ảnh đường phố như “Moment of Stillness” sẽ trở thành dấu tích lưu lại văn hóa vỉa hè, sau khi chủ thể của các tác phẩm không còn ở đó nữa.

Họa sĩ Hoàng Thanh Hiền quê ở Hải Dương, nhưng cũng đã học tập và làm việc ở Hà Nội 10 năm. Hoạt động sáng tác hội họa về Hà Nội đã thôi thúc cô để ý kĩ hơn đến nơi mình sống thay vì chỉ là một người bộ hành lướt qua.

“Mình quan sát kỹ hơn những cô chú hàng rong xung quanh. Một chiếc xe cũ kỹ là cả một kế sinh nhai. Không gian vỉa hè dường như gì cũng có: nhu yếu phẩm, thực phẩm, quần áo, hay cả cắt tóc, v.v. Sáng là hoa quả, bánh mì, cà phê. Tối là trà đá, xiên nướng. Không gian vỉa hè tưởng như lộn xộn, phức tạp, nhưng lại được vận hành rất nhịp nhàng và có sự thỏa hiệp giúp đỡ lẫn nhau.”

Bạn đọc có thể theo dõi trang Behance này để xem các tác phẩm khác của Hoàng Hiền.

]]>
info@saigoneer.com (Khôi Phạm. Minh họa: Hoàng Thanh Hiền.) Văn Nghệ Tue, 02 Jun 2026 12:00:00 +0700
Tín ngưỡng thờ Cá Ông: Dấu ấn của loài cá voi trong văn hóa tâm linh miền biển https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18131-tín-ngưỡng-thờ-cá-ông-dấu-ấn-của-loài-cá-voi-trong-văn-hóa-tâm-linh-miền-biển https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18131-tín-ngưỡng-thờ-cá-ông-dấu-ấn-của-loài-cá-voi-trong-văn-hóa-tâm-linh-miền-biển

Năm 1799, Nguyễn Ánh cùng tàn quân bị lực lượng Tây Sơn truy đuổi gắt gao, buộc phải tháo chạy ra biển. Giữa thế trận hiểm nghèo, một trận cuồng phong bất ngờ ập tới chặn đứng đường lui. Cột buồm rung lên bần bật, mạn thuyền chao đảo chực vỡ nát thành từng mảnh. Đúng lúc ấy, một con cá voi khổng lồ từ dưới đáy sâu trồi lên, nâng đỡ con thuyền và đưa ông cùng quân lính đến nơi an toàn. Để tạ ơn cứu mạng, Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi đã sắc phong cho loài cá này tước hiệu Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần, cái tên mà dân gian vẫn kính cẩn gọi tắt là Cá Ông.

Giai thoại nhuốm màu huyền hoặc ấy không phải là câu chuyện duy nhất về việc cá voi cứu người tại Việt Nam. Dọc các làng chài ven biển, ngư dân vẫn truyền tai nhau về những lần được loài cá này cứu giúp khi gặp nạn khơi xa. Trò chuyện với tôi, chú Mùi, người trông coi nghĩa trang Cá Ông ở làng chài Phước Hải gần Vũng Tàu, bồi hồi nhớ lại khoảnh khắc bản thân thoát chết nhờ cá voi vào năm 2016. Hôm đó, trên đường chèo thuyền về nhà sau chầu nhậu cùng bạn bè, con thuyền nhỏ của chú bất ngờ lật úp. Giữa những đợt sóng dữ bủa vây, chú tưởng mình đã cầm chắc cái chết. Đột nhiên, một sinh vật khổng lồ trồi lên ngay phía dưới, dùng tấm lưng vạm vỡ nâng đỡ người đàn ông đang chới với giữa dòng nước xiết. Nó liên tục xoay trở, giữ cho chú không bị hụt chân chìm xuống. Đến khi được cá voi đưa tới mạn một con tàu khác an toàn, người ngư dân già không lấy gì làm kinh ngạc, bởi chú vốn là một tín đồ thuần thành của Cá Ông từ lâu.

Bức họa được trưng bày trong lăng thờ Cá Ông ở Vũng Tàu.

Những vị thần hộ mệnh thầm lặng của đại dương

Tôi lần đầu biết đến tục thờ cá voi ở Việt Nam qua một dòng chú thích ngắn ngủi dưới bức ảnh tham gia một cuộc thi nghệ thuật cấp quốc gia. Vốn luôn say mê loài sinh vật biển lành tính, thông minh và mang vẻ đẹp kỳ vĩ lạ thường này, tôi không khỏi tò mò muốn tìm hiểu sâu hơn về một đức tin dành riêng cho chúng. Vài người bạn tôi từng nghe phong phanh về tín ngưỡng này, nhưng không quen biết ai thực sự thực hành; thông tin trên mạng tuy có nhưng cũng khá rời rạc. Muốn hiểu thấu đáo ngọn ngành, tôi biết mình phải dấn bước về phía biển.

Bỏ lại Vũng Tàu sau lưng, chúng tôi đi khoảng 20 cây số qua một thị trấn nhỏ, xuôi theo con đường ven biển đang ngổn ngang công trình để đến một bãi cát trải dài sát mép sóng. Bước qua chiếc cổng chào là một bãi đất rộng điểm xuyết những nấm mồ nhấp nhô có dựng bia đá. Chốn hoang vắng này chính là một nghĩa trang cá voi, một trong hàng chục khu lăng mộ tương tự nằm rải rác khắp các vùng duyên hải.

Người dân dâng hương trước nấm mộ Ông lụy.

Dừng tay xếp hoa, bày trái cây, rót rượu trắng và thắp nhang trước từng nấm mộ, một dì lớn tuổi nán lại trò chuyện cùng tôi. Dì tâm sự rằng mình sinh ra trong một gia đình làm nghề đi biển. Với dì, việc dâng lễ vật trước mộ những “Ông lụy” (từ dùng để chỉ cá voi trôi dạt vào bờ) và thành tâm khấn vái tại lăng chính là để cầu mong những mẻ lưới bội thu. Ngư dân quê dì thường đánh bắt xa bờ ở tận những vùng biển quốc tế, nên việc nhang khói cẩn thận còn là niềm tin mong cầu bình an trước sóng to gió lớn.

Chú Mùi, từng được Cá Ông cứu mạng, đã trông nom khu nghĩa trang này suốt 7 năm qua. Chú giải thích rằng Cá Ông không chỉ hiện lên cứu người khỏi đuối nước bằng xương bằng thịt. Chú kể câu chuyện về những ngư dân quê mình đi đánh bắt, không may lạc sang vùng biển Indonesia. Khi lực lượng tuần tra nước ngoài xuất hiện, nhóm người trên thuyền tin chắc mình sẽ bị giữ lại. Họ vội vàng tắt hết đèn đóm và tha thiết cầu khấn Cá Ông. Kỳ diệu thay, họ lách qua được vòng vây và tiếp tục trúng đậm một mẻ cá lớn.

Chú chia sẻ rằng, dù cá voi từng góp công hỗ trợ chống giặc ngoại xâm nhiều thế kỷ trước, loài vật này không hề phân biệt ranh giới quốc gia, mà luôn sẵn sàng giang tay cứu giúp bất kỳ ai hoạn nạn. Gần đây, chú thậm chí còn nghe kể về một con cá voi giải cứu tàu Mỹ và đưa dạt vào tận bờ biển nước Nga. Thành tâm khấn nguyện Cá Ông, theo chú, còn mang lại sức khỏe và duyên lành trong cuộc sống.

Cá Ông trong kiếp sinh linh

Trong nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Cá Ông tại miền Trung Việt Nam, học giả Sandra Lantz đã ghi nhận nhiều câu chuyện có nét tương đồng với lời kể của chú Mùi. Điển hình là vào khoảng năm 1950, khi đang đánh bắt ngoài khơi Phan Thiết, ông Lý bất ngờ gặp bão lớn, chực chờ nuốt chửng chiếc thuyền con. Ông vội vã chắp tay khấn vái Cá Ông, rải muối và gạo xuống biển làm vật tế. Chỉ chưa đầy 5 phút sau, cuồng phong dịu đi và lùi dần ra xa. Ngay lúc đó, một con cá voi bơi đến áp sát mạn thuyền, rẽ sóng đưa ông về đến tận khi ngọn núi ven bờ lấp ló hiện ra và con thuyền được thả neo bình an.

Cũng theo nghiên cứu của Lantz, người xưa quan niệm Cá Ông không chỉ cứu mạng người sống mà còn dẫn lối cho linh hồn những ngư dân tử nạn trên biển trở về đất liền. Nếu không thể tìm đường về bến bờ, những linh hồn ấy sẽ mãi vất vưởng giữa đại dương cô độc. Chỉ khi được đưa về nương náu nơi đất mẹ, họ mới có thể yên nghỉ ngàn thu.

Tuy nhiên, dưới lăng kính khoa học, hành động xả thân được dân gian tôn kính ấy lại có một cách lý giải thực tế hơn. Giữa tâm bão, bản thân loài cá voi cũng phải chật vật chống chọi với sóng dữ, do đó chúng thường có xu hướng nương tựa vào mạn thuyền để giữ thăng bằng. Thế nhưng, nỗ lực sinh tồn này đôi khi vắt kiệt sức lực của con vật, khiến chúng gục ngã rồi bị hải lưu cuốn dạt vào vùng nước nông. Tương tự, việc cá voi đánh đuổi các loài săn mồi hung tợn khác trên biển thực chất bắt nguồn từ bản năng bảo vệ con non, chứ không hẳn xuất phát từ một mối giao cảm đặc biệt dành cho con người.

Trở lại với Phước Hải, khu nghĩa trang này hiện quy tụ hơn 20 nấm mộ lớn nhỏ, mỗi mộ phần là nơi an nghỉ của một sinh vật dạt vào bờ biển quanh làng. Người ta ước tính mỗi năm có đến 20 cá thể biển trôi dạt vào khu vực này. Trong tín ngưỡng thờ Cá Ông, dân gian hiếm khi phân biệt rạch ròi giữa cá voi và các loài thú biển khác như cá heo. Mặt khác, giới khoa học Việt Nam cũng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu nhằm phân loại chính xác các sinh vật biển tại đây.

Hầu hết xác cá dạt bờ mà dân làng tìm thấy có kích thước khá khiêm tốn, chỉ dài chừng mét rưỡi. Do đó, xét về mặt sinh học, khả năng cao nhiều con trong số này không phải là cá voi. Thậm chí, ngay trong khuôn viên nghĩa trang còn có ít nhất một ngôi mộ dành cho rùa biển. Dẫu không phải là linh vật trung tâm của tín ngưỡng thờ cúng, loài rùa này vẫn được người dân thành kính đưa về chôn cất và nhang khói đàng hoàng.

Một nấm mộ lớn tại nghĩa trang Cá Ông ở làng Phước Hải.

Tại Phước Hải, có một ngôi mộ đồ sộ hơn hẳn. Đó là nơi yên nghỉ của một chú cá voi khổng lồ dạt bờ vào ngày 28/12/2017. Chú Mùi quả quyết cá thể này dài hơn 10m, trong khi người dì bày đồ cúng chỉ ước chừng khoảng 7m đến 8m. Dẫu kích thước thực sự là bao nhiêu, trong ký ức của dân làng, con vật nặng chừng 10 tấn này vẫn là sinh thể lớn nhất từng dạt vào vùng biển Phước Hải. Người ta đã phải huy động cả một chiếc cần cẩu để đưa xác cá vào nơi chôn cất hiện tại. Gần đây, nhiều cá thể cá voi có kích thước tương tự cũng bắt đầu xuất hiện dọc theo các bãi biển khác ở Việt Nam.

Chú Mùi đinh ninh rằng khi còn sống, “Ông” đã cứu vô số chuyến tàu ngang qua vùng biển này, rẽ sóng vươn tận Thái Lan, Myanmar và thậm chí là cả nước Nga xa xôi. Thế nhưng, trong một lần đành bất lực nhìn một chiếc tàu quá tải chìm dần giữa cuồng phong, vị phúc thần ấy đã tự lao mình lên bãi cạn. Chú Mùi một mực tin rằng hành vi tự dạt bờ ấy xuất phát từ nỗi dằn vặt khôn nguôi. Bởi truyền thuyết làng chài vẫn luôn lưu truyền rằng: một khi không thể cứu được ngư dân, loài cá thiêng này sẽ tự vùi xác nơi bãi cạn vì quá đỗi u buồn.

Bàn thờ Cá Ông ở nghĩa trang Phước Hải.

Lễ tang dành cho các Ông lụy được tổ chức trang nghiêm. Tiếng trống chiêng âm vang hòa cùng mâm cúng tươm tất với đủ loại trái cây, rượu, vàng mã và hoa tươi. Trong nghiên cứu của mình, Lantz ghi nhận các Ông lụy được khâm liệm trong quan tài tre lót giấy đỏ. Trước khi hạ huyệt, linh cữu sẽ được rước đi quanh đường phố để dân chúng có thể thành kính dâng hương. Thậm chí còn có lời đồn đại rằng trong những ngày diễn ra tang lễ, đàn cá voi ngoài khơi sẽ kéo vào sát cảng để nói lời từ biệt cuối cùng với đồng loại. Trong trường hợp xác cá quá lớn không thể di chuyển đến nghĩa trang mà không có xe cẩu, dân làng sẽ cử người túc trực canh gác Ông lụy, kiên nhẫn đợi đến khi phần thịt rữa hết khỏi xương để việc di dời trở nên dễ dàng hơn.

Nhiều tín đồ tâm niệm rằng người đầu tiên phát hiện ra Ông lụy sẽ gặp nhiều may mắn, song việc chôn cất chỉ được phó thác cho những người lớn tuổi. Căn nguyên là do người ta lo sợ linh hồn ngư dân tử nạn được cá voi đưa về bờ vẫn còn nhiều vướng bận trần gian, dễ tìm cách trú ngụ vào thân xác những người trẻ tuổi. Trên mỗi nấm mồ đều khắc bia đá ghi rõ ngày tháng hạ huyệt, cùng với tên của cá nhân hoặc chiếc tàu đã có công phát hiện ra Ông.

Bàn thờ Cá Ông ở Phước Hải.

Các Ông lụy sẽ yên nghỉ dưới lòng đất trong 3 năm. Suốt quãng thời gian này, người dân địa phương sẽ thay phiên nhau trông nom, nhang khói và dâng lễ. Theo phong tục vạn chài, Cá Ông cũng được làm lễ cúng thất tuần (49 ngày) và bách nhật (100 ngày) kể từ khi hạ huyệt. Qua thời hạn 3 năm, phần xương cốt được bốc lên và lau rửa cẩn thận bằng rượu trắng. Khác với người phàm thường được con cháu đưa hài cốt về thờ tự tại gia, di cốt của cá voi sẽ được trang trọng rước vào Lăng Ông để thờ phụng.

Đế bàn thờ chứa đầy xương thú biển.

Những Lăng Ông uy nghi

Tôi tìm đến Lăng Ông tại Phước Hải, ngôi đền tọa lạc ngay giữa làng và chỉ cách khu nghĩa trang vài dãy nhà. Bước vào gian phòng nhỏ, đập vào mắt tôi là bàn thờ Cá Ông nghi ngút khói hương và rực rỡ sắc hoa. Nơi đây đặt hai bức tượng cá voi chạm trổ tinh xảo cùng một bộ xương hoàn chỉnh của một sinh thể biển chưa rõ danh tính. Phần đế rỗng ốp kính của bàn thờ xếp đầy xương cốt, trong đó có ít nhất chục hộp sọ còn nguyên vẹn. Ngoài điện thờ chính, quần thể kiến trúc bề thế này còn là nơi sinh hoạt cộng đồng, nơi bà con vạn chài đến chiêm bái và gửi gắm niềm tin. Ở vị trí trang trọng ngay chính diện, một bệ nâng lớn đỡ lấy bức tượng Cá Ông bằng gỗ khổng lồ vừa được sơn mới, vươn mình sừng sững.

Cổng vào Lăng Ông ở Vũng Tàu.

Kiến trúc lăng tẩm này có nhiều nét tương đồng với những ngôi đền thờ trải dọc bờ biển cả nước, bao gồm cả Lăng Ông nằm ngay trung tâm thành phố Vũng Tàu mà tôi có dịp ghé qua. Chiếu theo tài liệu từ ban quản lý, ngôi đền được khởi dựng từ năm 1824. Các đời vua Thiệu Trị và Tự Đức sau này đã 3 lần ban sắc phong vào các năm 1845, 1846 và 1850 để khẳng định vị thế linh thiêng của lăng. Bên cạnh hai tủ kính xếp chật kín những mẩu xương khổng lồ đầy ấn tượng, lăng còn lưu giữ một bộ cốt cá voi vĩ đại gần như nguyên vẹn cùng bức tượng gỗ lớn tạc hình loài vật này. Những bức họa vẽ Cá Ông treo quanh điện thờ càng khiến ranh giới giữa huyền thoại và thực tại sinh học trở nên mờ ảo.

Thầy Thứ Hải, người trông nom Lăng Ông ở Vũng Tàu.

Thầy Thứ Hải, người đã gắn bó và trông nom Lăng Ông Vũng Tàu 30 năm qua, chậm rãi giải thích cho tôi nghe về uy linh của Cá Ông. Gần như mọi người dân quanh vùng đều biết tiếng linh thiêng, thường xuyên lui tới dâng hương cầu mong cuộc sống ấm no, bình an. Cuộc trò chuyện của chúng tôi diễn ra bên mảng tường treo kín những bức ảnh nhuốm màu thời gian. Những khung hình ngả màu vàng úa khắc họa nhiều dịp đám tang và lễ hội suy tôn Cá Ông trải dài từ nhiều thập kỷ trước.

Song song với những tang lễ trang nghiêm, hằng năm, người dân miền biển còn nô nức mở hội để tỏ lòng thành kính với thần hộ mệnh của đại dương. Sự kiện kéo dài 3 ngày, được ấn định vào các mốc thời gian khác nhau tùy theo lịch âm của từng làng chài. Lễ hội là bức tranh văn hóa đa sắc màu với đủ nghi thức tế lễ, cầu an, hội đua thuyền, hát múa bả trạo, và đôi khi có cả những buổi diễn xướng tuồng cổ.

Dù mỗi cộng đồng lại có những biến tấu riêng trong cách thức tổ chức, đây vẫn luôn là dịp để dân làng hướng lòng về Cá Ông, cầu nguyện cho những người thân đã mãi mãi nằm lại nơi biển cả. Đây cũng là khoảng thời gian hiếm hoi họ gác lại những nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh thường nhật. Người người khoác lên mình bộ trang phục đẹp nhất, cờ hoa rợp trời trên ghe thuyền và khắp các nẻo đường.

Tương tự như bao tín ngưỡng khác, tục thờ Cá Ông cũng quan niệm “có kiêng có lành.” Nhiều tín đồ vẫn giữ thói quen kiêng ăn những loài thủy tộc được xem là “phụ tá” của Cá Ông như cá kiếm, tôm, cá ép và mực khổng lồ. Họ cũng tuyệt đối tránh xa thịt chó vì tin rằng loài vật này sẽ làm cá voi khiếp sợ. Cũng với lý do đó, ngư dân thường kiêng đeo trang sức làm từ móng vuốt hay nanh thú, e ngại vật linh này sẽ khiến vị ân nhân dưới đại dương chùn bước khi đến giải cứu. Một số nơi còn quan niệm rằng nếu phụ nữ đang trong kỳ kinh nguyệt bước vào Lăng Ông, ghe xuồng của gia đình họ sẽ mất đi sự chở che của cá voi khi ra khơi.

Chú Mùi (trái), quản trang nghĩa trang Cá Ông làng Phước Hải, cùng người bạn tên Ngọc (phải).

Khi được tôi hỏi về những luật lệ này, chú Mùi ví von chúng với tập tục ăn chay vào ngày rằm hay mùng một của Phật giáo. Tức là, việc tuân thủ hoàn toàn phụ thuộc vào lòng tin và cách diễn giải cá nhân của từng tín đồ. Dẫu vậy, chú cũng cẩn thận nhắc nhở không nên dùng thịt gà làm vật phẩm tế lễ dâng Cá Ông. Bản thân chú không dám chắc nguyên do sâu xa, nhưng lờ mờ đoán nó bắt nguồn từ thuở xa xưa, khi tiếng gà gáy rạng đông báo hiệu giờ khắc con người đổ ra đồng làm lụng, khiến xóm làng trở nên trống trải và dễ rơi vào tầm ngắm của giặc ngoại xâm.

Trong khi đó, thầy Hải ở lăng Vũng Tàu lại tỏ ra khá cởi mở về chuyện cấm kỵ ẩm thực hay quy định mâm cúng, khẳng định lòng thành kính dành cho cá voi cốt ở cái tâm chứ không câu nệ những rào cản khắt khe.

Tín ngưỡng thờ phụng và bài toán bảo tồn

Nguồn gốc thực sự của tục thờ Cá Ông ở Việt Nam cho đến nay vẫn là một ẩn số. Nhiều học giả đưa ra giả thuyết tín ngưỡng này đã du nhập vào miền Nam nhờ thương nhân đi biển người Chăm vào thế kỷ thứ 4, hoặc người Khmer vào thế kỷ thứ 10. Rất có thể, niềm tin vạn vật hữu linh của Ấn Độ giáo, vốn có sức ảnh hưởng đến các tôn giáo sơ khai của người Chăm, đã góp phần nâng tầm cá voi tại các vùng ven biển.

Phật giáo cũng đưa ra một cách lý giải riêng mang màu sắc từ bi. Tương truyền, khi chứng kiến nỗi thống khổ của những mảnh đời ngư dân nghèo khó luôn chật vật mưu sinh trên vùng Biển Đông, Quan Thế Âm Bồ Tát đã xé chiếc áo cà sa và ném xuống mặt biển. Những mảnh vải ấy bỗng hóa thành những con cá voi gánh vác sứ mệnh cứu vớt hoạn nạn. Thấy những sinh vật mới sinh ra có vóc dáng nhỏ bé, khó lòng trụ vững trước những trận cuồng phong, Bồ Tát liền gom nhặt xương voi trong rừng sâu và ban cho chúng. Kể từ đó, chúng sở hữu sức mạnh phi thường để hoàn thành trọng trách, đồng thời gắn liền với cái tên thuần Việt là “cá voi.”

Quá khứ của tục thờ Cá Ông vốn đã khó tường tận, mà tương lai của tín ngưỡng này xem ra cũng mịt mờ. Lớp trẻ ngày nay dần rời bỏ xóm chài thân thuộc để lập nghiệp ở các đô thị phồn hoa, bỏ lại phía sau nghề đi biển cha truyền con nối. Theo những bước chân ly hương ấy, niềm tin vào các giá trị tâm linh cũ cũng có nguy cơ nhạt phai theo năm tháng. Thêm vào đó, làn sóng đô thị hóa ven biển, với những cung đường mới, các khu dân cư mọc lên và hàng loạt dự án nghỉ dưỡng chiếm cứ mặt tiền biển, đang dần thu hẹp không gian sinh hoạt của các tập tục truyền thống. Chưa kể, biến đổi khí hậu làm thay đổi dòng chảy thủy triều tự nhiên, khiến việc đưa xác cá voi vào bãi cạn an táng ngày càng nan giải hơn.

Cột sống cá voi trưng bày tại Lăng Ông Phước Hải.

Trước băn khoăn đó, chú Mùi quả quyết mọi đổi thay về kinh tế hay xã hội đều không thể quật ngã tục thờ Cá Ông. Chú cho rằng, dân làng luôn mang trong mình niềm tự hào mãnh liệt về tín ngưỡng này. Dẫu sau này không còn bám biển mưu sinh, họ vẫn được người đi trước truyền dạy cách thức thờ phụng Ông trang nghiêm nhất, để đức tin được lưu truyền mãi về sau. Thầy Thứ Hải mang niềm tin sắt đá ấy, khẳng định dòng người đổ về Lăng Ông Vũng Tàu chiêm bái trước nay chưa từng thưa vắng. Dẫu vậy, một câu hỏi vẫn lơ lửng: liệu lòng sùng kính nhiệt thành của ngày hôm nay có đủ sức neo giữ qua nhiều đời nữa, khi lớp con cháu mai sau dần mất đi cơ hội nhìn thấy cá voi vẫy vùng ngoài biển khơi, chứ chưa nói đến cơ duyên được “Ông” nâng đỡ lúc hoạn nạn.

Khác với giai đoạn trước, khi nhiều Lăng Ông phải chịu cảnh hoang phế hay đóng cửa vì thiếu chính sách, chính quyền địa phương gần đây đã bắt đầu chú trọng bảo tồn tập tục độc này hơn. Đơn cử như năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận Lễ hội Nghinh Ông ở Cần Giờ là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Đến năm 2016, mười hai lễ hội tương tự tại Đà Nẵng cũng được vinh danh. Dù xuất phát từ tâm ý bảo vệ tín ngưỡng bản địa hay hướng đến tiềm năng khai thác du lịch, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cũng ráo riết phục dựng bộ xương Cá Ông khổng lồ dài 24m với tuổi đời 300 năm, đi kèm với việc xây dựng không gian trưng bày có tổng vốn đầu tư lên đến 10 tỷ đồng.

Xương cá voi được trưng bày ở Vũng Tàu.

Đứng từ ngoài nhìn vào, người ta rất dễ lãng mạn hóa một tín ngưỡng bản địa và gán cho nó những giá trị của thời đại mới. Sẽ thật đẹp nếu ta có thể coi tục thờ Cá Ông như một cách con người tôn vinh tự nhiên, gắn với sứ mệnh bảo vệ cá voi và đại dương xanh. Thế nhưng, thế giới tâm linh của vạn chài dường như thuộc về một hệ quy chiếu khác, chưa từng vướng bận về những thống kê về sự suy tồn của loài cá voi.

Chú Mùi bảo chú không thấy có gì thay đổi về lượng cá dạt bờ hay sản lượng đánh bắt, nhưng góc nhìn ấy lại chênh lệch quá nhiều với thực tế. Dẫu lệnh cấm săn bắt toàn cầu đã thắp lên chút hy vọng phục hồi, số lượng cá thể cá voi vẫn ở mức báo động sau hàng thế kỷ làm nạn nhân của ngành công nghiệp đánh bắt quy mô lớn.

Nghịch lý buồn đáng buồn nằm ở chỗ, loài sinh vật biển này đôi khi lại chịu tổn thương từ chính hoạt động mưu sinh của những con người hằng đêm cầu khấn chúng bảo bọc. Cá voi hay cá heo đều săn tìm cùng một nguồn hải sản với ngư dân. Vì thế, đằng sau hiện tượng Ông lụy dạt bờ, có lẽ không phải lúc nào cũng là câu chuyện tự sát vì u uất như người làng vẫn tin. Nhiều chú cá đã lặng lẽ kiệt sức dưới đáy đại dương sau khi vô tình vướng vào những tầng lưới bủa giăng.

Ngồi nhâm nhi ly rượu với chú Mùi, lòng tôi không khỏi chùng xuống bởi những suy nghĩ đan xen. Vốn dành nhiều tình cảm cho cá voi, tôi trân trọng trí thông minh và sự thấu cảm diệu kỳ của loài vật này, tin rằng chúng hoàn toàn xứng đáng với sự sùng kính của con người. Nhưng ở góc nhìn của một khách phương xa, tôi cứ băn khoăn, liệu niềm tin này có đang vô tình đặt con người làm trung tâm, ngước nhìn một “vị thần” mà quên mất những tổn thương của một sinh vật tự nhiên? Liệu có mâu thuẫn không khi ta thành tâm thờ phụng một sinh mệnh nhưng lại chẳng thể chở che ngược lại cho chúng? Và việc tin rằng loài cá voi thanh cao đến mức tự kết liễu đời mình khi không cứu được người, phải chăng là gánh nặng tâm lý mà con người đang vô tình áp đặt lên chúng? Trái Đất này có đến 8 tỷ người, còn cá voi dưới lòng đại dương sâu thẳm ngoài kia, liệu còn lại bao nhiêu?

Nhưng suy cho cùng, một người ngoài cuộc như tôi đâu có quyền phán xét. Tạm biệt chú Mùi, tôi bước đến trước bàn thờ Cá Ông, thành kính thắp nén nhang thầm cầu nguyện cho sự sinh tồn của loài cá voi thiêng, cầu một cuộc sống ấm no cho dân làng, và xin cả chút bình an cho riêng mình, bởi những mong cầu đó đâu nhất thiết phải xung đột lẫn nhau. Làn khói hương vấn vít rồi tan vào thinh không, giống như tiếng hát cá voi xa xăm, lịm dần vào tĩnh lặng khi lặn sâu xuống đáy đại dương mịt mùng.

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Ảnh: Paul Christiansen. Top illustration by Hannah Hoàng.) Văn Hóa Mon, 25 May 2026 15:26:39 +0700
Dfoxie37: Tìm kiếm bản thể giữa vũ trụ và bụi sao https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18130-dfoxie37-tìm-kiếm-bản-thể-giữa-vũ-trụ-và-bụi-sao https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18130-dfoxie37-tìm-kiếm-bản-thể-giữa-vũ-trụ-và-bụi-sao

Hôm chúng tôi hẹn gặp, Dfoxie37 đến nơi với bộ râu tóc dài, mũ nồi màu be lưa thưa những sợi vải. Anh có hai chữ “Biết ơn” và “Cảm ơn” đối xứng trên đôi khuỷu tay, mỗi lần gập lại cứ như ghì lấy chúng vào mình. Tôi tự nhủ, con người này hẳn có nhiều chuyện để kể lắm đây.

Dfoxie37 tên thật là Đình Phúc, là một người chơi rap ở Vinh, Melbourne, Sài Gòn, rồi lại Vinh. Tôi thường nghe người ta gọi anh là “người vẽ nhạc” hơn. Âm nhạc của anh có nhiều dụng ý, nghĩa là những điều anh nói trong lời rap đều được lặp lại một lần nữa ở phần giai điệu, hiệu ứng âm thanh và cả cách xử lý âm thanh.

Anh bắt đầu sáng tác từ 2021 khi hoạt động cùng 37Sound, một cộng đồng khá đặc biệt khi các thành viên đều sống ở những nước khác nhau trên thế giới, thậm chí có thời điểm không ai ở Việt Nam nhưng cùng là người con xứ Nghệ. Ở Melbourne một mình 7 năm, anh tìm đến rap và cộng đồng như một liều chữa cô đơn, từ đó mà những nghĩ suy chất chồng nên âm nhạc.

Album đầu tay của Dfoxie37, “Lợi Khuẩn,” làm tôi phải nghe miệt mài cả mấy tuần liền. Những thứ anh nói về tâm lý, đức tin, góc nhìn dù phức tạp nhưng tôi nhận thấy mình rất hiểu, như thể ai đó vừa cắp lấy những sợi suy nghĩ hỗn loạn của tôi ra khỏi đầu, gỡ gạc ngăn nắp rồi xếp thành vườn hoa nhiều màu trên nhạc. Chẳng thể thuật lại hết những câu chữ từ anh, tôi mời các bạn cùng nghe album trước khi tìm hiểu về người nghệ sĩ lạ lùng này.

Người vẽ nhạc

Thế giới âm nhạc của Dfoxie37 và những người cộng sự chi chít những dạng sống lẫn hòa. Ở đó có loài chim đã tuyệt chủng Kauaʻi ʻōʻō cất tiếng hát cùng vùn vụt sao băng, cùng dàn âm thanh điện tử. Ở đó, tiếng nói của con người thế kỷ 19 và thế kỷ 21 đứng kế cạnh nhau. Tiếng saxophone thường dùng cho jazz lại nhún nhảy cùng tiếng bass của hip-hop, và chuông chùa hay chuông nhà thờ nghe cũng tựa nhau.

Dfoxie37.

Điều tôi luôn ấn tượng khi nghe một bài nhạc chính là cách thiết kế âm thanh kể được câu chuyện trong lời nhạc. Như khi nói về ‘Cà phê phin,” tôi bắt gặp âm thanh nhỏ giọt và tiếng muỗng inox gõ vào cái ly thủy tinh chấm bi đã thân thuộc với những đứa con miền Trung. Khi tác giả nói về vũ trụ, giọng hát của anh được xử lý reverb (hiệu ứng vang) khiến nó như loang vào không gian. Khi anh nói về ngọn lửa, ta nghe phừng phừng; anh nói về cánh cửa, ta nghe sầm sập. Tôi nghĩ phải dành một lời tôn vinh từ tận lòng cho người đồng hành cùng anh, nhà sản xuất âm nhạc Tuann.

Để ý một chút, tôi lại nhận ra có vẻ bài nào của anh cũng bắt đầu bằng một tiếng ho, mỗi bài lại ho theo cách khác nhau. Anh nói nó giống như “artist tag” của mình, khi nào anh bỏ được thuốc lá thì lại đổi một con dấu khác. Anh cũng từng tha thiết với mục tiêu này trong bản ‘anh muốn bỏ thuốc’ cách đây hai năm.

Một tuổi thơ tự chơi, tự sống trong đầu

Với một con người nhiều tâm tư, tôi nghĩ mình nên bước vào thế giới tuổi thơ của họ để tìm thấy những khuôn mẫu đầu tiên.

Anh kể, ngày trước bố mẹ anh bận nhiều công việc, em trai lại cách 7 tuổi, thế nên, trong những năm phát triển tư duy và kết nối xã hội đầu đời, anh lại không có ai chuyện trò. Bạn Phúc năm ấy thường ra vườn, nhìn những chú kiến tha mồi, làm tổ, vận hành cộng đồng rồi tưởng tượng ra một thế giới cỏn con. Bạn Phúc ấy cũng thích vẽ trên những tờ A0 lớn gấp ba lần mình mà bố bạn mang về.

Nói về sáng tạo cùng ngôn ngữ, tôi bất ngờ khi anh kể rằng đã viết thơ từ khi vừa biết chữ. Anh lớn lên với những tập thơ chất thành núi của mẹ, viết thơ để kết bài trong những bài tập làm văn dù giáo viên cho bốn hay chín điểm. Từ những năm tháng đầu đời, Dfoxie37 đã thể hiện một cá tính sáng tạo độc lập, độc đáo, với một bộ óc quan sát đầy chiêm nghiệm.

Một tờ giấy thi cũng có thể là nơi để Phúc viết lời.

Tuổi thiếu niên ở Melbourne của anh có nhiều chuyện điên rồ mà anh không muốn nhắc đến, đã có những thời điểm không một xu dính túi mà anh gọi là “gần như vô gia cư.” Khi tôi hỏi mò, rằng làm sao anh vượt qua những nghĩ suy về danh tính mà tuổi trẻ nào cũng có, anh chỉ nói “lúc đấy điều duy nhất anh có thể nghĩ đến là làm sao kiếm bánh mì bỏ mồm.”

Anh từng không tin vào bệnh tâm lý, anh thường vượt qua được hết, và nỗi lo cơm áo dường như chiếm hết không gian trong đầu. Nhưng rồi anh kể một câu chuyện khiến bản thân phải chấp nhận nó tồn tại. Đó là những cơn hoảng loạn đến đột ngột, không nguyên do, không báo trước. Chúng làm tim anh đập nhanh, tay chân run lẩy bẩy. Có lần anh phải nhập viện vì cơn đau tim dữ dội. Ở nơi đó, anh tìm thấy vẻ đẹp của đức tin.

Đức tin là một dạng thức ăn

Chuyện là buổi sáng sau đêm nhập viện, anh đi dạo trong khuôn viên và bắt gặp một khu cầu nguyện, nơi tượng Phật, tượng Mẹ Maria và Chúa Giêsu đứng cùng nhau trong một không gian. Hình ảnh ấy có lẽ đã khắc sâu trong lòng anh bởi tôi đã bắt gặp câu chuyện này trong nhiều cuộc phỏng vấn khác của anh trên mạng. Trong mắt một người vô thần, anh thấy đức tin thật đẹp khi con người ta khẩn khoản muốn tin vào một điều gì. “Tôn giáo như món ăn em ạ, mỗi người một gu,” anh gật gù.

Artwork từ ca khúc ‘cà phê phin.’

Khi nghe bản nhạc ‘tất cả là một’ trong album “Lợi Khuẩn,” tôi đoán chừng anh đã đọc một lý thuyết cho rằng vạn vật được liên tục phân hủy, tái sinh và cùng tạo nên nhau mà viết nên. Thế mà hôm nay, anh nói rằng ý tưởng ấy đến từ một lần anh vô tình cảm nhận được mọi thứ như hợp thể, như đồng lòng hòa quyện vào nhau, mà bây giờ anh khó lòng tìm lại được. Anh cũng cho rằng thế giới đứng dậy từ ‘bụi sao,’ Vụ Nổ Lớn đã mang nó cho Trái Đất để rồi vô số tế bào sinh ra cây cỏ, động vật, loài người. Mọi chuyện cứ như ảo ảnh trong bộ não kỳ lạ ấy, mà một người luôn cố giải thích mọi thứ như tôi chẳng thể lần ra. Có lẽ vũ trụ đã chọn anh và cho anh thấy.

Anh lặp lại câu nói “tất cả là một” ở bản nhạc ‘Dậy đi.’ Giai điệu của nó khiến tôi liên tưởng đến thánh ca vang lên trong nhà thờ Thiên Chúa, nhưng với tác giả đó lại là âm hưởng tụng kinh của đạo Phật. Ấy thế mà đúng, mà tất cả lại là một, đều là những món ăn tinh thần tùy khẩu vị mỗi người, là những niềm tin mà ta nắm lấy trên con đường làm người.

Ngắm nhìn và ôm ấp cuộc đời

Dfoxie37 có cảm hứng cho âm nhạc phần nhiều từ tượng đài rap Việt DSK, vẻ đẹp trong âm nhạc của Mac Miller, và nỗi khao khát để lại con chữ cho cuộc đời như Trịnh Công Sơn. Tôi lấy làm lạ khi so với những tiền bối chuyên nói về cuộc đời, anh lại cứ đặt điểm nhìn vào những thứ xa xôi như ngôi sao, vũ trụ, hay những thứ bé nhỏ như hạt bụi và tế bào. Anh lý giải, vũ trụ hay tế bào vẫn là những thứ ngang tầm mắt, chỉ là mình nhìn kỹ hơn, nhìn ra cái đẹp, cái ý nghĩa từ những dạng sống tưởng chừng phù du hơn.

Lớn lên ở Vinh, thành phố lớn nhất Nghệ An, anh từng cho rằng bản thân sẽ được tiếp cận với những văn hóa rõ rệt hơn. Nhưng khi gặp gỡ những người bạn trong 37Sound, anh lại nhìn thấy cách các dòng chảy văn hóa va vào nhau hỗn loạn, để rồi biết rằng văn hóa, hay chi tiết hơn là điểm nhìn, luôn được phân phát đều cho mỗi người, và công việc của mình là nhìn ra vẻ đẹp của chúng.

Bìa ca khúc ‘Mạt Chược’ từ mixtape “Choa Nói Thật” của 37Sound.

Anh thường chọn ban công để thả cho những nghĩ suy bay nhảy, và buổi đêm cho anh đủ tĩnh lặng để tập trung đuổi theo chúng. Anh phóng tầm nhìn vào bầu trời quang đãng của Melbourne, viết lung tung về những gì anh nhìn thấy, nhận ra. Tôi chợt nhớ đến câu nói của nhân vật Raskolnikov trong tiểu thuyết Tội ác và hình phạt của Dostoevsky: “Em có biết rằng những trần nhà thấp lè tè và những căn buồng chật chội nó đè ép tâm hồn và trí tuệ con người ra sao không”? Có lẽ bên cạnh thói quen sống trong đầu, anh còn có cho mình một không gian sáng tạo vô cùng để không giam hãm những khoảng nhìn lớn lao.

Tất cả là một, mà cũng rất khác nhau

Có một điều mà nhiều người nghe nhạc Dfoxie37 thắc mắc, chính là giữa anh, nhà sản xuất Tuann và những nghệ sĩ đồng sáng tác khác đã phải thân thiết thế nào mới cho ra mắt được những sản phẩm đồng điệu, ý nghĩa sáng tỏ như thế. Nhưng anh lại một lần nữa phủ nhận giả thiết này: “Anh với Tuann khác nhau lắm, Tuann không tin những gì anh tin.”

Với một dự án đồng sáng tạo, anh sẽ tôn trọng ý kiến của cộng sự để họ có không gian sáng tạo của riêng họ, nhưng cũng đấu tranh cho bản sắc của mình. Với anh, xung đột là cách để chúng ta nhiều lần tự vấn về niềm tin của mình, để thứ ở lại đến cuối chính là niềm tin mạnh mẽ nhất mà mỗi cá nhân gìn giữ. Anh tin rằng mỗi người đều đang xây dựng thế giới của riêng mình và anh yêu cách cộng đồng cùng nhau xây dựng một nền âm nhạc đa dạng hơn.

Nghệ sĩ làm việc cùng nhau đã có nhiều khác biệt, anh cũng không lạ gì nếu khán giả đón nhận tác phẩm của mình theo nhiều hướng khác. Có những bài anh tâm đắc nhưng khán giả chẳng mấy mặn mà, cũng có những bản nhạc vang lên khắp nơi như ‘Hello em có khỏe không?’ mà anh chỉ xem như những lời luyên thuyên. Cũng bởi thế, khi tôi trải lòng về những sáng tác mà mình cho là lải nhải, anh động viên tôi cứ đem ra, và để khán giả tự có cảm nhận của họ.

Ánh mắt tôi bỗng dừng lại trước hình xăm “biết ơn” và “cảm ơn” của anh, nhận ra anh thực sự đón nhận mọi vận động của cuộc sống, trân trọng vạn vật đã cùng dựng xây nên chính anh, nên thực tại này.

Có điều gì phía trước?

Anh hân hoan: “Vợ chồng anh sắp có con đầu lòng.” Tôi giật mình lục lại tuổi của anh, à, hăm bảy, tự dưng nhớ ra mình cũng đã đầu hai. Đến một cảnh mới, mọi thứ sẽ đổi thay và âm nhạc của anh sẽ góp nhặt từ đó mà thành hình. Anh sẽ cạo hết râu tóc, cạo cả chân mày để chào đón chương mới, cũng là cách tránh mình bị vướng víu vào một hình tượng vốn từ đầu đã không tồn tại. Cuối tháng này anh về lại Vinh, chăm lo cho tổ ấm nhỏ, anh sẽ chăm chỉ quảng bá những sản phẩm mới của mình ở một quang cảnh khác của Việt Nam.

Tôi như háo hức hộ anh, tôi biết anh luôn cố gắng hoàn thiện những tác phẩm của mình và dành mọi thứ tốt nhất cho điều anh yêu. Chúng tôi tạm biệt nhau sau hai phần lươn xứ Nghệ. Anh tặng tôi một đồng xu để tôi tung lên mỗi khi có những trăn trở trong đầu mình: “Niềm tin đẹp lắm em.”

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. Ảnh bìa: Ngọc Tạ.) Quãng 8 Sat, 23 May 2026 16:01:55 +0700
Đờn Ca Đó Đây: Mang âm điệu miền Tây vào không gian đô thị https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18125-đờn-ca-đó-đây-mang-âm-điệu-miền-tây-vào-không-gian-đô-thị https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18125-đờn-ca-đó-đây-mang-âm-điệu-miền-tây-vào-không-gian-đô-thị

"Bà con ơi... Nếu có dịp đi đến Hồ Chí Minh ở đường Huỳnh Mẫn Đạt
Ở đây có một quán bar với phong cách miền Tây rất lạ
Thứ bảy hàng tuần còn ca tài tử cải lương, di sản văn hoá quê hương
Ngoài cái việc mà thưởng thức ca đờn,
còn được giao lưu cùng với ban Đờn Ca Đó Đây
Một góc miền Tây giữa lòng đô thị"

Lời rủ rê chân chất ấy xuất hiện trên mạng xã hội như một gợi ý lạ lẫm giữa lòng Sài Gòn. Với một người lớn lên cùng câu hò điệu lý miền sông nước, sự xuất hiện của đờn ca tài tử bên trong một quán bar hiện đại đủ khiến tôi tò mò. Nhưng khi tìm hiểu sâu hơn, tôi mới biết không gian ấy thực ra chỉ là một trong những trạm dừng chân ngẫu hứng của Đờn Ca Đó Đây, một nhóm những người trẻ kết nối với nhau để lan tỏa tinh thần của di sản đờn ca Nam Bộ giữa chốn thị thành hối hả.

Từ những cuộc gặp ngẫu hứng đến một không gian đờn ca không biên giới

Nghệ thuật đờn ca tài tử Nam Bộ ra đời đã trên trăm năm, bắt nguồn từ nhạc lễ, nhạc thính phòng Huế (tiền thân là nhạc cung đình) trên nền tảng văn nghệ dân gian Nam Bộ. Dòng nhạc này do các nhạc sĩ, nghệ sĩ, nghệ nhân từ miền Trung theo dòng người di cư vào Nam, cùng với cư dân bản địa cải biên và truyền bá. Nó biểu hiện trọn vẹn tâm lý, tình cảm và hoàn cảnh sống của cộng đồng nơi vùng đất mới phì nhiêu. Đến cuối thế kỷ 19, phong trào đờn ca tài tử bắt đầu khởi sắc, các bài bản, điệu thức được hình thành có hệ thống, trở thành một gia tài nghệ thuật dân tộc đồ sộ lưu truyền trong đời sống người dân phương Nam.

Một ban nhạc đờn ca tài tử Sài Gòn năm 1911. Nguồn ảnh: Wikipedia.

Tôi đã có cuộc điện thoại trò chuyện với anh Đỗ Thanh Phong, trưởng ban Đờn Ca Đó Đây vào một buổi chiều khi đang về thăm quê. Ngồi trên tấm phản sau nhà, trước mắt là bờ sông với rặng bần đung đưa, tôi lắng nghe anh kể chuyện. Câu chuyện của chúng tôi cứ thế đan xen: bên này là tiếng gió xạc xào, bên kia là những chia sẻ mộc mạc của một người yêu đờn ca giữa lòng Sài Gòn. Hai bối cảnh khác biệt, nhưng lại gặp nhau ở một sự đồng điệu thân tình.

Các thành viên của Đờn Ca Đó Đây.

Dù khá bận rộn với công việc văn phòng hàng ngày, anh Phong vẫn dành nhiều tâm huyết cho nghệ thuật truyền thống. Anh có thể chơi đàn tranh ở mức căn bản và giữ vai trò kết nối các thành viên, định hướng hoạt động chung của nhóm, giúp nhóm luôn giữ được sự gắn kết nhưng không mất đi tính tự do.

Đúng như tên gọi, Đờn Ca Đó Đây bắt đầu từ những buổi đờn ca đó đây ngẫu hứng.

Anh kể tôi nghe về những ngày cuối tuần tại công viên Lê Văn Tám ở Sài Gòn, nơi mở ra hành trình lan tỏa tình yêu với loại hình nghệ thuật đặc sắc. “Hồi xưa tụi anh hay hẹn nhau ở công viên. Giữa những con đường đông đúc, xe cộ vẫn qua lại không ngừng, có một góc nhỏ bất chợt lắng xuống bởi tiếng đàn và lời ca. Chỉ vài nhạc cụ và vài con người yêu nhạc, vậy là đủ để một không gian rất riêng được mở ra.” 

Nhóm diễn tập tại một quán cà phê.

Từ những buổi tối giản dị như vậy, Đờn Ca Đó Đây đã dần thành hình. Họ là những người trẻ đến từ nhiều ngành nghề khác nhau, từ giáo viên, công nhân đến kỹ sư, sinh viên. Dù không hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực nghệ thuật, họ có chung niềm đam mê với đờn ca tài tử và cải lương. Nhóm bắt đầu kết nối thông qua các nền tảng mạng xã hội, sau đó tổ chức các buổi gặp gỡ trực tiếp từ đầu năm 2025 tại công viên. Đến tháng 3 cùng năm, hoạt động của nhóm dần được tổ chức bài bản hơn, mở rộng sang các không gian như quán ăn, trường học, triển lãm và đặc biệt là các quán bar, nơi tạo nên những trải nghiệm mới mẻ cho thính giả.

Một chương trình của Đờn Ca Đó Đây tại Hai Tô Bar.

Nhiều mảnh ghép quan trọng của nhóm đến từ những sự kết nối rất tự nhiên. Anh Thanh Phong chia sẻ: “Có một bạn mà anh biết từ khi bạn còn học lớp 11 ở Đồng Tháp, qua những video bạn đăng tập đàn trên TikTok. Từ đó, hai anh em hay trò chuyện qua lại về nhạc cụ. Đến khi lên thành phố học đại học, bạn chủ động liên hệ lại để gặp gỡ. Trong lần gặp đầu tiên, anh thấy bạn có năng khiếu âm nhạc rất rõ nên quyết định kết nối với các thành viên khác. Từ đó, bạn đảm nhận vai trò phụ trách âm nhạc chính, góp phần định hình phần âm thanh cho nhóm, bên cạnh các mảng như biên tập nội dung và xây dựng bài bản.” 

Một thành viên khác là giáo viên lại phát huy thế mạnh chuyên môn bằng cách phụ trách các chương trình học đường. Bạn phụ trách thiết kế kịch bản, nội dung và trình thức thể hiện sao cho vừa gần gũi, dễ hiểu mà vẫn truyền tải hết được nét đẹp của âm nhạc dân tộc đến các em nhỏ.

Giới thiệu nghệ thuật đờn ca tài tử đến thế hệ trẻ qua các giờ sinh hoạt tại trường.

Tên gọi Đờn Ca Đó Đây thể hiện rõ tinh thần hoạt động của nhóm. Đó là sự linh hoạt về không gian, không bị giới hạn bởi địa điểm cố định. Đồng thời, cách gọi này còn gợi lên sự gần gũi giữa người biểu diễn và khán giả. Bất kỳ ai cũng có thể tham gia, lắng nghe và chia sẻ. Trong không gian đó, âm nhạc không còn là sự trình diễn một chiều mà trở thành sự tương tác. Người biểu diễn và khán giả cùng tham gia vào một dòng chảy cảm xúc chung. Đờn ca vì thế không bị đóng khung mà hiện diện trong đời sống một cách tự nhiên. Cứ nơi nào có người muốn nghe thì họ đến, nơi nào có người muốn cất lời thì họ cùng hòa vào.

Kể chuyện đờn ca và cải lương bằng ngôn ngữ đương đại

Với nhiều thành viên trong nhóm, đờn ca tài tử không phải là một lựa chọn có chủ đích từ đầu, mà là một cái duyên được gieo từ những ký ức ngày còn nhỏ. Đó là những lần xem tivi cùng gia đình, những buổi sinh hoạt văn hóa tại đình, miễu. Dù không xuất thân từ môi trường đào tạo chuyên nghiệp, những trải nghiệm ban đầu đã âm thầm nuôi dưỡng tình yêu đờn ca tài tử bên trong họ. Trong giai đoạn dịch bệnh Covid-19, khi đời sống chững lại, nhiều người mới có cơ hội tìm hiểu sâu hơn, chuyển từ việc thưởng thức sang chủ động học hỏi, thực hành và sáng tạo.

Một trong những thách thức lớn mà nhóm nhận thấy là định kiến của công chúng. Đờn ca tài tử và cải lương thường bị gắn với những nhận định như buồn, cũ hoặc khó tiếp cận. Tuy nhiên, theo góc nhìn của nhóm, vấn đề không nằm ở bản thân âm nhạc mà ở cách tiếp cận và truyền tải. Từ nhận thức đó, nhóm lựa chọn hướng đi là kể lại đờn ca bằng ngôn ngữ của đời sống hiện đại. Nội dung các tiết mục được tinh chỉnh để phản ánh những vấn đề gần gũi hơn, như áp lực công việc, nhịp sống đô thị, tâm tư của người trẻ. Hình thức thể hiện cũng linh hoạt, phù hợp với từng không gian và đối tượng khán giả.

Các buổi biểu diễn mang tính tương tác cao, khán giả cũng có thể góp giọng.

Đặc biệt, các buổi biểu diễn tại quán bar trở thành một điểm nhấn đáng chú ý nhờ những trải nghiệm mang tính tương tác cao. Mỗi buổi diễn được xây dựng như một kịch bản riêng, các thành viên có thể ứng tác lời ca để giới thiệu không gian biểu diễn.

Bên cạnh đó, nhóm còn thực hiện việc viết lời mới cho các điệu lý truyền thống, gắn với bối cảnh hiện đại của các tỉnh Nam Bộ. Những sáng tác này phản ánh sự thay đổi về địa lý, văn hóa và đời sống xã hội, đồng thời vẫn giữ được cấu trúc và tinh thần của  bản gốc. Anh Phong cho tôi nghe một đoạn hát về quê hương mình sau sáp nhập cùng với điệu ‘Lý Đêm Trăng’ khiến tôi vô cùng thích thú:

Từ ngày hôm nay, quê hương Vĩnh Long đà đổi mới
Chung với Trà Vinh và Bến Tre xứ dừa
Cùng vươn lên đắp xây quê nhà
Đến nơi đây, tham quan du lịch Ao Bà Om
Hay đi về lò gạch Mang Thít
Rồi cùng qua vườn trái cây Cái Mơn
Cho dù đi đâu, cũng không quên quê nhà yêu dấu
Mến thương sao Vĩnh Long quê mình
Về nơi đây vấn vương bao tình
Về nơi đây vấn vương bao tình

Anh còn gửi tôi xem video nhóm giao lưu cùng khán giả với điệu ‘Lý Chim Xanh’:

Ai ơi xin nhớ quê tôi tận cùng Cà Mau
Thương sao nơi miền Đất Mũi cực nam bản đồ
Về Năm Căn lắng nghe câu hò, Đầm Dơi ôi mến yêu
Tràm xanh U Minh bát ngát, đậm tình quê hương

Những lời mới này không chỉ mang tính giải trí mà còn tạo cảm giác gần gũi, khiến người nghe nhận thấy mình là một phần của câu chuyện âm nhạc. Qua đó, âm nhạc dân tộc được làm mới mà không đánh mất giá trị cốt lõi. Đó là sự kết hợp giữa bảo tồn và sáng tạo, giữa truyền thống và hiện đại. Đờn ca vì thế không còn là một di sản tĩnh mà trở thành một thực thể sống, tiếp tục vận động cùng thời đại.

Kết nối cộng đồng yêu đờn ca

Việc duy trì một nhóm nhạc truyền thống độc lập không phải là điều dễ dàng. Anh Phong chia sẻ: “Địa điểm biểu diễn và không gian giao lưu là trăn trở lớn nhất. Những không gian chính quy thường không ưu tiên cho nhóm ngoài công lập, dẫn đến việc các hoạt động mang tính tự phát và tự chủ. Bên cạnh đó là sự dè dặt của những người đi trước khi vẫn còn nhiều tranh luận quanh cách tiếp cận mới.”

Đờn Ca Tài Tử biểu diễn tại triển lãm "Thanh Kiều."

Tuy nhiên, chính những phản hồi tích cực từ khán giả đã trở thành nguồn động lực quan trọng. Anh Phong hào hứng kể về một chị khán giả ở Đồng Tháp nhắn tin xin tặng nhóm mấy bộ áo bà ba nâu để nhìn ra chất “Nam Bộ” hơn.

Sau khi nhóm chia sẻ clip, một khán giả khác lại gửi tặng thêm khăn rằn. Không lâu sau, lại có người tặng áo bà ba nhiều màu với mong muốn “nhìn đỡ buồn.” Cứ thế, những món quà như áo dài, khăn đóng… lần lượt được người yêu mến gửi đến, tiếp thêm rất nhiều sức mạnh cho cả nhóm.

Có kiều bào lâu ngày về quê, khi xem lại những hình ảnh ấy, đã xúc động đến rơm rớm nước mắt. Sau đó, người này còn chủ động kết nối, ngỏ ý mời nhóm sang nước ngoài tham gia các hoạt động giao lưu văn hóa. Cũng có những buổi biểu diễn ở công viên, nơi các bác lớn tuổi dừng lại lắng nghe say sưa rồi xúc động rơi nước mắt vì thấy những người trẻ vẫn còn giữ được tình yêu với điệu lý, câu hò.

Qua từng hoạt động, nhóm nhận ra rằng giá trị cốt lõi của âm nhạc không nằm ở hình thức biểu diễn mà ở sự chân thành và khả năng kết nối con người. Đờn ca tài tử và cải lương có thể tồn tại trong bất kỳ không gian nào nếu vẫn giữ được tinh thần đó.

Thông qua hành trình của mình, điều mà nhóm mong muốn gửi đến công chúng, đặc biệt là giới trẻ, là hãy mở lòng đón nhận, đừng vội gán nhãn cho âm nhạc truyền thống là lạc hậu, bởi khi được tiếp cận đúng cách, đờn ca tài tử có thể mang lại những giá trị thẩm mỹ và cảm xúc sâu sắc.

]]>
info@saigoneer.com (Thảo Nguyên. Ảnh bìa: Ngàn Mai.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Sun, 17 May 2026 23:28:33 +0700
Từ làn da nàng Kiều đến chuẩn mực K-Beauty: Giải mã tâm lý chuộng da trắng của người Việt https://saigoneer.com/vn/arts-culture/18124-từ-làn-da-nàng-kiều-đến-chuẩn-mực-k-beauty-giải-mã-tâm-lý-chuộng-da-trắng-của-người-việt https://saigoneer.com/vn/arts-culture/18124-từ-làn-da-nàng-kiều-đến-chuẩn-mực-k-beauty-giải-mã-tâm-lý-chuộng-da-trắng-của-người-việt

Ở Việt Nam, tâm lý chuộng da trắng là một thực tế rất phổ biến. Chỉ cần nhìn ra đường phố Sài Gòn giữa ban trưa, ta sẽ bắt gặp hình ảnh dòng người kín mít trong lớp lớp áo khoác, găng tay và khẩu trang. Đó không chỉ là cách người dân tự bảo vệ mình trước tia cực tím gắt gao, mà còn là nỗ lực giữ gìn sắc diện dưới cái nắng như thiêu đốt. Đặc biệt với phụ nữ, làn da sáng màu từ lâu đã gắn liền với câu chuyện về thẩm mỹ và vị thế xã hội; bởi vậy, việc che chắn trước ánh mặt trời không đơn thuần chỉ gắn liền với lý do sức khỏe.

Xu hướng này bắt đầu từ bao giờ? Có ý kiến cho rằng gốc rễ của nó nằm ở thời kỳ thuộc địa và tư tưởng sùng bái phương Tây, rằng người ta khát khao làn da sáng màu để được tiệm cận với hình mẫu của người châu Âu. Dù nhận định này có phần thực tế, lịch sử của việc chuộng da trắng tại Việt Nam lại phức tạp hơn thế nhiều. Bối cảnh thuộc địa có thể đã nhào nặn và bồi đắp thêm những thiên kiến sẵn có, nhưng sự ưu ái dành cho làn da trắng vốn đã định hình từ rất lâu trước khi người Pháp đặt chân đến. Và dù định kiến này vẫn kéo dài đến tận hôm nay, cách nó được biểu đạt trong thời đại mới cũng đã khác xa so với một thế kỷ trước. Cả xưa và nay, làn da trắng luôn là biểu tượng của địa vị nhờ sự gắn kết với tính “thời thượng.” Điểm khác biệt duy nhất nằm ở hình mẫu “thời thượng” mà mỗi thời đại hướng tới. 

Tuy thị hiếu này xuất hiện ở cả hai giới, chuẩn mực dành cho nam giới thường ít khắt khe và áp đặt hơn hẳn. Bài viết này sẽ chỉ tập trung vào phái nữ, phần lớn vì các nghiên cứu về lịch sử mỹ phẩm và làm đẹp tại Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu xoay quanh phụ nữ.

Quan niệm về màu da thời thuộc địa

Trong xã hội tiền thuộc địa, việc chuộng da trắng chủ yếu xuất phát từ sự phân hóa giai cấp. Làn da sạm nắng gắn liền với nỗi nhọc nhằn của người lao động tay chân, trong khi nước da trắng trẻo lại là đặc quyền của giới thượng lưu, những người sống trong nhung lụa, nhàn hạ. Chẳng thế mà khi miêu tả vẻ đẹp cốt cách của Thúy Kiều, đại thi hào Nguyễn Du đã dùng hình ảnh “tuyết nhường màu da” như một chuẩn mực tuyệt mỹ của bậc giai nhân.

Bước sang thời Pháp thuộc, sự ưu ái dành cho sắc da sáng vẫn vẹn nguyên, nhưng đã mang một diện mạo khác. Chủ nghĩa thực dân không xóa bỏ định kiến cũ, mà khéo léo chồng lấp lên đó một tư duy mới: sự ưu việt của người da trắng.

Tuần báo Ngày Nay, ngày 6/7/1936.

Ngành mỹ phẩm và chăm sóc da chính là nơi thể hiện rõ nét nhất những chuyển biến này. Theo sử gia Christina Firpo trong cuốn Beauty and the Nation, mỹ phẩm đại chúng chỉ bắt đầu bùng nổ vào những năm 1920–1930 tại Việt Nam, song hành cùng xu hướng chung của thế giới. Sự lên ngôi của ngành công nghiệp làm đẹp đến từ nhiều yếu tố: công nghệ sản xuất tiến bộ giúp sản phẩm ổn định hơn, cái nhìn của xã hội về trang điểm dần cởi mở hơn, và sự phát triển của giao thông giúp hàng hóa lưu thông toàn cầu. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng phụ nữ Việt từ xưa đã biết nâng niu làn da bằng những phương thức cổ truyền, tiêu biểu như việc dùng bột gạo để dưỡng trắng theo y học Á Đông.

Quảng cáo kem dưỡng Crème Siamoise, Phụ Nữ Tân Văn, ngày 16/5/1929.

Ở thời kỳ này, mỹ phẩm có sức hút mãnh liệt tại Việt Nam vì chúng mở ra một con đường để phụ nữ thể hiện bản thân, nhất là khi họ đang nỗ lực phá vỡ các rào cản giới truyền thống. Bên cạnh việc phản đối chế độ đa thê hay hủ tục thủ tiết của góa phụ, phụ nữ bắt đầu chối bỏ hôn nhân sắp đặt để đi tìm tình yêu tự do.

Thế giới mỹ phẩm giai đoạn giữa và cuối thời thuộc địa khá đa dạng. Từ son môi, chuốt mi, nước hoa cho đến các loại phấn và kem dưỡng, tất cả đều góp phần nhào nặn nên hình ảnh một “phụ nữ tân thời” đầy kiêu hãnh. Tuy nhiên, thực tế là ngoại trừ son môi, chỉ có giới thượng lưu mới đủ khả năng chi trả cho những món đồ xa xỉ ấy. Phần lớn mỹ phẩm bấy giờ vẫn được bào chế thủ công tại gia hoặc tại các hiệu thuốc. Dẫu vậy, việc những mặt hàng này xuất hiện trên mặt báo, đa số từ châu Âu, một số từ Nhật Bản, vẫn có sức lay động xã hội mạnh mẽ. Bởi lẽ, các mẩu quảng cáo trên báo chí, tạp chí chính là mảnh đất màu mỡ để định hình nên những quan niệm mới về giới và tính nữ trong xã hội. 

Ngành mỹ phẩm thời kỳ thuộc địa bùng nổ chính nhờ đánh trúng tâm lý muốn thoát ly khỏi những định kiến cũ và khát khao hướng tới sự thời thượng, mà hình mẫu “phụ nữ tân thời” chính là một biểu tượng. Các sản phẩm dưỡng da tất nhiên cũng không phải ngoại lệ. Firpo đã chỉ ra một mẩu quảng cáo đầy tính gợi mở, nơi thương hiệu Thụy Sĩ Tokalon “cam đoan với phụ nữ rằng đàn ông luôn bị mê hoặc bởi làn da trắng mịn, và hứa hẹn rằng kem Tokalon sẽ khiến đàn ông phải si mê họ.” Như tác giả Khanh Trần từng viết trên Saigoneer: “Phụ nữ thuộc tầng lớp trung lưu ở Việt Nam lúc này ưa chuộng làn da trắng trẻo, mịn màng hơn bất cứ kiểu tô son điểm phấn cầu kỳ nào.”

Quảng cáo kem phấn Tokalon, Phong Hóa, ngày 26/10/1934.

Một điểm khá lạ là dù nhắm tới khách hàng Việt, các thương hiệu mỹ phẩm bấy giờ lại chủ yếu sử dụng người mẫu châu Âu. Theo lý giải của Christina Firpo, “có thể các công ty chỉ đơn giản là giữ nguyên mẫu quảng cáo gốc từ châu Âu cho thị trường bản địa, nhưng nhiều khả năng họ đã chủ ý dùng người mẫu phương Tây để tận dụng tâm lý xem da trắng là ưu việt.” Firpo cũng chỉ ra rằng ngay cả những cơ sở do chính người Việt làm chủ, tiêu biểu như Mỹ Viện Amy, cũng mượn hình ảnh phụ nữ Pháp để quảng bá sản phẩm.

Quảng cáo thẩm mỹ viện Amy, Ngày Nay, ngày 7/9/1940.

Dù tâm lý ưa chuộng da trắng đã tồn tại từ rất lâu trước thời Pháp thuộc, nhưng những giá trị định hình nên quan niệm này đang dần dịch chuyển. Độ sáng của làn da không còn chỉ được đo lường bằng lăng kính giai cấp, mà bắt đầu được nhìn nhận qua tiêu chuẩn của sự thời thượng phương Tây và sự tiệm cận với hình mẫu người da trắng, dẫu rằng trên thực tế, hai yếu tố này gần như không thể tách rời.

Từ “trắng” đến “sáng”

Tâm lý chuộng da trắng vẫn tồn tại dai dẳng cho đến ngày nay, nhưng các chuẩn mực thẩm mỹ chung hiện đang dần dịch chuyển sang hình mẫu phụ nữ Đông Á, tiêu biểu là Hàn Quốc. Như phóng viên Elise Hu đã viết trong cuốn sách Flawless: Lessons in Looks and Culture from the K-Beauty Capital: “Diện mạo của người phụ nữ Á Đông hiện đại đang ngày càng bị chi phối bởi các chuẩn mực làm đẹp Hàn Quốc, đặc biệt là phụ nữ Đông Nam Á, những người luôn hướng về xứ sở kim chi để tìm kiếm các sản phẩm và liệu trình làm đẹp tiên tiến nhất.” Gương mặt này được định nghĩa bằng những đặc điểm như làn da trắng sáng như ngọc, khuôn cằm V-line, sống mũi cao thanh tú và đôi mắt hai mí — những “tiêu chuẩn” mà từ đó, cả một ngành công nghiệp chăm sóc da và phẫu thuật thẩm mỹ lừng danh thế giới đã được xây dựng nên.

Dĩ nhiên, quan niệm về cái đẹp vốn là chuyện riêng của mỗi người. Thế nhưng, chẳng khó để nhận thấy sức hút mãnh liệt mà làn sóng “K-Beauty” đang tạo ra tại Việt Nam. Chỉ cần lướt qua những tạp chí thời trang hàng đầu như Elle Việt Nam hay Đẹp, ta sẽ thường xuyên bắt gặp hình ảnh cùng các bài viết về những ngôi sao xứ Hàn, tiêu biểu như Jisoo của BlackPink.

Đứng sau hiện tượng này là tầm ảnh hưởng sâu rộng của cả nguồn vốn văn hóa lẫn kinh tế từ Hàn Quốc. Đó là sự bùng nổ của K-pop và phim ảnh, cùng thực tế rằng các thương hiệu Hàn đang chiếm lĩnh thị phần cao nhất trong thị trường làm đẹp và chăm sóc cá nhân tại Việt Nam (xét trên bình diện rộng hơn, Hàn Quốc cũng trở thành nhà đầu tư FDI lớn nhất tại Việt Nam tính đến năm 2026).

Bước đệm cho sự chuyển mình này chính là quá trình hội nhập kinh tế toàn cầu sau thời kỳ Đổi Mới, cộng hưởng với sự trỗi dậy của Hallyu (Làn sóng Hàn Quốc). Khởi nguồn từ cuối thập niên 90, làn sóng này đã có những bước tiến nhảy vọt và bùng phát mạnh mẽ kể từ sau năm 2010.

Jisoo, thành viên nhóm BlackPink, trên bìa tạp chí Elle Việt Nam tháng 9/2023.

Tại Việt Nam, làn da lý tưởng mà bao người khao khát trong những thập kỷ sau Đổi Mới có thể được gói gọn bằng từ "sáng.” Từ này xuất hiện dày đặc tại các trung tâm thương mại hay trên các trang thương mại điện tử. Điểm thú vị là khái niệm “bright skin” (da sáng) trong tiếng Anh nghe có phần lạ lẫm, nhưng ở Việt Nam, nó lại là từ khóa vàng. Khi so sánh các trang web mỹ phẩm cao cấp, cùng một sản phẩm nhưng tại Việt Nam, người ta luôn nhấn mạnh vào công dụng “làm sáng” da.

Serum Kiehl’s Clearly Corrective Dark Spot Solution.

Lấy ví dụ từ một trong những mặt hàng bán chạy nhất của Kiehl’s tại Việt Nam. Dù tên gốc tiếng Anh là “Kiehl's Clearly Corrective Dark Spot Solution” (Giải pháp trị đốm thâm), nhưng trên trang web tiếng Việt, sản phẩm này lại được quảng cáo là serum “sáng da.” Tương tự, dòng kem dưỡng “Cherry Blossom Glow Tone-Up Cream” của Innisfree cũng đưa từ “sáng” vào ngay tiêu đề SEO trên website tại Việt Nam.

Tất nhiên, “glow” cũng có nghĩa là sáng rạng rỡ, nhưng điểm khác biệt nằm ở chỗ tại Hàn Quốc, tên sản phẩm này chỉ phiên âm lại chữ “glow” (đọc là geul-lo-u) chứ không dịch nghĩa. Người Hàn chuộng cách dùng từ mượn tiếng Anh như vậy vì nó mang lại cảm giác “khoa học” và “hiện đại.” Trong khi đó, tại Việt Nam, chữ “sáng” lại xuất hiện dày đặc trên các gian hàng trực tuyến của mọi thương hiệu, từ những gã khổng lồ như L'Oréal Paris cho đến các tên tuổi nội địa như Cocoon. Có thể thấy, trong địa hạt dưỡng da, chữ “sáng” đã trở thành nỗi ám ảnh của cả người bán lẫn người mua.

Kem dưỡng Innisfree Cherry Blossom Glow Tone Up Cream.

Ở một góc độ nào đó, “làm sáng” (brightening) đơn thuần là một cách gọi khác của “làm trắng” (whitening). Tuy nhiên, sự khác biệt về mặt ngữ nghĩa giữa hai thuật ngữ này lại rất đáng để ta suy ngẫm.

Nhà xã hội học Thụy Linh Nguyễn Tú từng viết: “Sáng không chỉ là một màu da, mà là một phẩm chất, một sự rạng rỡ tỏa ra từ chính làn da ấy.” Khác với khái niệm về sự trắng trẻo hay mịn màng, “sáng” biểu thị nội lực toát ra từ bên trong, một giá trị không hoàn toàn chỉ nằm ở phương diện thẩm mỹ. Điều này có thể thấy rõ qua việc chúng ta thường dùng từ “sáng” để mô tả trí thông minh hay ngay cả tương lai của một người.

Trong chuyến thăm Việt Nam, nhà nghiên cứu ghi nhận rằng bà thường xuyên bắt gặp cụm từ “sáng, sạch, đẹp” như một tiêu chuẩn cho làn da lý tưởng. Thật thú vị khi câu khẩu hiệu này lại có sự tương đồng lạ lùng với khẩu hiệu “xanh, sạch, đẹp” vốn đã quá quen thuộc trong các dự án quy hoạch đô thị.

Nếu như các quảng cáo thời thuộc địa mượn hình ảnh phụ nữ châu Âu để khơi gợi sức hút của sự thời thượng phương Tây, thì chữ “sáng” ngày nay lại hướng đến một tập hợp những khát vọng rất khác. Nó phản ánh nỗi khao khát về cái mà nhà xã hội học Kimberly Kay Hoang gọi là pan-Asian modernity (tạm dịch: sự thời thượng xuyên Á). Đó là tính thời thượng không còn lấy phương Tây làm hình mẫu, mà tìm kiếm cảm hứng ngay giữa lòng châu Á, nhất là khi ảnh hưởng và quyền lực của khu vực Đông Á đang không ngừng vươn xa trên bản đồ toàn cầu, đối lập với sự suy yếu dần của các thế lực phương Tây.

Nhìn từ góc độ này, ta có thể hiểu chữ “sáng” không đơn thuần là một chuẩn mực về nhan sắc, mà còn là tấm gương phản chiếu những kỳ vọng rộng lớn hơn về vị thế kinh tế-xã hội của Việt Nam. Nếu “sáng” đại diện cho sự trắng trẻo, thì như Thụy Linh đã viết, đó “chắc chắn là một sắc trắng mang tông màu rất khác.”

Trần Thị Thu Ngân trên bìa tạp chí Harper's Bazaar Việt Nam tháng 11/2016.

Nhìn lại hành trình từ quá khứ đến hiện tại, ta thấy vẻ đẹp của làn da luôn chịu sự chi phối của những thế lực lớn lao hơn là thẩm mỹ đơn thuần. Cả xưa và nay, làn da sáng vẫn bền bỉ giữ vững vị thế là biểu tượng của địa vị xã hội, dù định nghĩa về sự “thời thượng” đằng sau nó đã chuyển mình.

Để kết lại bằng một vài chia sẻ cá nhân: Bản thân tôi là một người Hàn Quốc nhưng lại sở hữu làn da rám nắng hơn hẳn so với phần lớn đồng hương của mình. Đây là kết quả của nhiều năm sinh sống tại Việt Nam, và tôi hoàn toàn thấy thoải mái với điều đó. Khi viết những dòng này, tôi đã tự hỏi tại sao mình lại có cảm giác tự tại như vậy. Ở góc độ cá nhân, tôi muốn xem đây là minh chứng cho việc bản thân đã khước từ định kiến về màu da (colorism), vốn là một hình thức phân biệt đối xử. 

Thế nhưng, nếu thành thực với chính mình, tôi nghĩ sự tự tin này đến từ hai yếu tố. Thứ nhất, tôi là đàn ông, giới tính vốn nhận được nhiều sự khoan dung hơn trước các quy chuẩn về sắc đẹp. Thứ hai là vị thế kinh tế-xã hội của tôi. Là một người Hàn Quốc tại Việt Nam, tôi đã được “ban cho” nhiều đặc quyền mà người ta vẫn hằng khao khát có được bằng một làn da trắng sáng. Chính vì thế, tréo ngoe thay, tôi cũng chẳng cần nước da trắng trẻo để chứng minh đẳng cấp bản thân nữa. Tôi ngờ rằng nếu mình sinh ra và lớn lên ngay tại Hàn Quốc, chưa chắc tôi đã thấy tự tin với làn da nâu này đến thế.

Nhìn từ góc độ này, việc tôi không chạy theo làn da trắng chẳng phải là một chiến tích gì lớn lao, mà đúng hơn là biểu hiện của một vấn đề sâu xa hơn, nơi mà định kiến về màu da chỉ là bề nổi. Dĩ nhiên, sắc độ của làn da không nên là thước đo để phán xét bất kỳ ai. Thế nhưng, khi phê phán vấn nạn này, chúng ta cần nhìn nhận một cách tỉnh táo: vấn đề không hẳn chỉ nằm ở việc màu da bị dùng làm công cụ để gắn mác địa vị, mà thực chất nằm ở việc xã hội vẫn luôn tồn tại một hệ thống phân cấp chúng ta dựa trên chủng tộc, giai cấp và hay tính thời thượng nữa.

]]>
info@saigoneer.com (San Kwon. Ảnh bìa: Ngàn Mai.) Văn Nghệ Thu, 14 May 2026 12:48:49 +0700
Phong cách làm đẹp của phụ nữ Việt Nam trên ảnh quảng cáo qua các thời kỳ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/16751-phong-cách-làm-đẹp-của-phụ-nữ-việt-nam-trên-ảnh-quảng-cáo-qua-các-thời-kỳ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/16751-phong-cách-làm-đẹp-của-phụ-nữ-việt-nam-trên-ảnh-quảng-cáo-qua-các-thời-kỳ

Qua những trang bìa tạp chí cũ hay quảng cáo mỹ phẩm đăng trên báo xưa còn lưu giữ tới ngày nay, ta thấy được chân dung phụ nữ Việt Nam qua mỗi thời kỳ.

 

Truyền thống và Chủ nghĩa thực dân

Những hình ảnh đầu tiên của ngành công nghiệp mỹ phẩm nước ta xuất hiện từ hơn một thế kỷ trước, khi đất nước vẫn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp, đến những năm 1920. Ở thời kỳ này, các quảng cáo mỹ phẩm chưa thật sự hiện diện, phần vì chủ nghĩa bảo thủ xã hội bao trùm nước Pháp từ cuối những năm 1870 dưới sự dẫn dắt của chính quyền Tổng thống Patrice de MacMahon, phần vì tham vọng bành trướng của Thủ tướng Emile Loubet đầu thế kỷ 20. Ngay từ câu khẩu hiệu bằng tiếng Latin mà thực dân Pháp đặt cho Sài Gòn lúc bấy giờ — “Paulatim Crescam” hay “Từ từ ta gầy dựng” — đã phản ánh rõ cái nhìn của thực dân về thuộc địa: một vùng đất lạc hậu, xa lạ và kém phát triển.

Trái: Bìa tờ Exposition de Hanoi số tháng 11/1902. Ảnh: người dùng Flickr manhhai. Phải: Quảng cáo sản phẩm Creme Siamoise của hãng Lucien Berthet & Cie.
Ảnh: Báo Phụ Nữ Tân Văn, qua Thư viện Quốc gia Việt Nam.

Một ví dụ cho giai đoạn này là hình bìa của Exposition de Hanoi, cuốn catalogue quảng bá sự kiện triển lãm thế giới cùng tên diễn ra từ tháng 11/1902 đến tháng 2/1903 tại Hà Nội. Trong hình là cách ăn mặc thường gặp của những người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ: sắc diện đơn giản không cầu kỳ, trên người mặc bộ áo ngũ thân. Đằng sau cô gái là dòng sông yên ả và rặng chuối xanh mướt, tất cả vẽ nên khung cảnh cuộc sống thôn quê quen thuộc của 13 triệu người dân Việt Nam đầu những năm 1900.

Một hình ảnh khác là quảng cáo sản phẩm dưỡng da của thương hiệu Lucien Berthet & Cie, được in trong một số báo của tờ Phụ Nữ Tân Văn. Người sáng lập nhãn hàng đã tạo ra Crème Siamoise, một loại kem dưỡng có công dụng làm da trắng mịn không tì vết. Có thể suy luận được rằng, những người phụ nữ thuộc tầng lớp trung lưu ở Việt Nam lúc này ưa chuộng làn da trắng trẻo, mịn màng hơn bất cứ kiểu tô son điểm phấn cầu kỳ nào. Một điều cần nhấn mạnh đó là nước da “trắng như sứ” là một tiêu chuẩn cái đẹp vẫn luôn tồn tại ở Việt Nam cho đến ngày nay.

Nước da trắng ngần đã được ưa chuộng từ thời phong kiến và xuất hiện nhiều trong thi ca Việt Nam ở giai đoạn này, như bài thơ “Khúc hát hái sen” (“Thái liên khúc”) của Ngô Chi Lan, một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông vào thế kỷ thứ 15:

Liên hoa viễn cận hương,
Thái thái tổng sơn nương.
Mạc khiển phong xuy mấn,
Băng cơ nguyên tự hương.

Dịch nghĩa:

Hương sen thoang thoảng tỏa chung quanh,
Cô em ở chốn quê hái nơi này sang nơi khác
Vì riêng làn da trắng thôi đã tự mát mẻ.

Trong nghiên cứu mang tên Beautiful White: an illumination of Asian skin-whitening culture (tạm dịch: Làn da trắng nõn: lý giải văn hóa dưỡng trắng da của người châu Á), học giả Elysia Pan đến từ trường đại học Duke University cho hay sự ưu ái dành cho làn da trắng trong văn hóa Châu Á có ý nghĩa về cả mặt xã hội lẫn thực tiễn.

Tác giả Elysia liên hệ sắc da trắng với đặc điểm đời sống kinh tế - xã hội như sau: “Giai cấp thống trị thường ở trong nhà và có cuộc sống nhàn nhã, họ ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nên da không bị đen sạm. […] Người Trung Hoa cũng áp suy nghĩ này lên những người da trắng đặt chân tới đất nước của họ, góp phần hình thành cách nhìn nhận về văn minh phương Tây (Occidentalism) cũng như sự ngưỡng mộ dành cho ngoại hình của người phương Tây.”

Tiếp đến là những năm 1930-1945, một giai đoạn mang tính cột mốc trong lịch sử Việt Nam.

Nét thanh lịch giữa bối cảnh rối ren toàn cầu

Khi cả thế giới bị cuốn vào những vấn đề vĩ mô như soạn thảo hiến pháp, danh tính quốc gia con người và Thế Chiến thứ Hai, không khó hiểu khi việc trang điểm cầu kỳ không còn được ưa chuộng nữa. Thế nhưng cũng cùng lúc đó, ở Việt Nam lại chứng kiến sự đổ bộ ồ ạt của những thương hiệu mỹ phẩm bên ngoài nước Pháp, cũng như những thương hiệu trong nước mà điển hình là xà bông Cô Ba. Theo một mẩu tin quảng cáo in trên tờ Vogue của Pháp năm 1940, những tên tuổi đình đám như Elizabeth Arden cũng đã mở một cửa hiệu ở Sài Gòn trong giai đoạn này.

Mẩu tin viết: “Khi kết hợp với trang phục có màu xám đậm, xanh đậm hay đen, Elizabeth Arden khuyên bạn nên dùng cây son màu Stop Red.Chi tiết chứng tỏ những thiếu nữ Sài Gòn, lúc này, đã quen dùng màu son đỏ hiện đại, vốn là màu sắc mà từ những năm 1930 đổ về trước chỉ sử dụng cho nghệ sĩ hát tuồng.

Trái: Quảng cáo của Elizabeth Arden cho son Stop Red. Phải: Quảng cáo của Elizabeth Arden cho dòng sản phẩm dưỡng da Matin Au Soir. Nguồn ảnh: Thư viện Quốc gia Pháp.

Thế chiến ập đến, phụ nữ thế giới cũng quay về với những phương thức làm đẹp tối giản và ít cầu kỳ hơn. Sau năm 1940, thế trận tại Châu Âu và nhiều nơi khác đã khiến việc sở hữu mỹ phẩm trở nên vô cùng xa xỉ. Tình trạng này được nhắc đến trong cuốn sách Compacts and Cosmetics: Beauty from Victorian Times to the Present Day (tạm dịch: Hộp phấn Trang điểm và Mỹ phẩm: Việc làm đẹp từ thời Victoria đến nay) của nhà sử học người Anh Madeleine Marsh.

“Không có mấy quảng cáo mỹ phẩm được 'lên sóng' vào giai đoạn này, nếu có thì cũng chỉ là để rối rít xin lỗi công chúng,” tác giả Madeleine miêu tả thế lưỡng nan mà các nhãn hàng gặp phải vào thập niên năm 1940. “Peggy Sage rất mong các sản phẩm sơn móng tay có thể sớm quay lại kệ hàng,” hay “Elizabeth Arden mong muốn được đồng hành với chị em trong thời chiến, nhưng salon của chúng tôi cũng bị 'cấm vận' như ai kia.” Ngay cả những người phụ nữ khá giả hơn cũng khó cầm được trên tay một món mỹ phẩm nào. Theo ghi chép, thương hiệu Bourjois từng phải đính kèm trong  hộp phấn má hồng của mình thông điệp ngắn sau: “Chúng tôi rất tiếc không thể tặng kèm miếng dặm phấn vì khan hiếm do chiến tranh.”

Thiếu hụt các sản phẩm mới, nên dù có nhiều thay đổi trong thị hiếu và thẩm mỹ, chẳng hạn như sự nở rộ của kiến trúc Art Deco, thì các xu hướng làm đẹp tại Sài Gòn vẫn dậm chân tại chỗ, phần lớn vẫn bị ảnh hưởng bởi phong cách truyền thống. Tuy nhiên trong hai thập kỉ tiếp theo, hành trình làm đẹp của phụ nữ hai miền Nam Bắc sẽ rẽ sang hai hướng tách biệt hoàn toàn vì công cuộc thống nhất đất nước.

Xu hướng làm đẹp trong hai mươi năm chia cắt

Sau khi đất nước bị chia cắt vào năm 1954, cuộc sống của phụ nữ Việt ở hai miền có nhiều sự khác biệt — miền Bắc mộc mạc, bình dị và miền Nam phồn hoa, rực rỡ.

Trái: Quảng cáo thuốc lá Cotab. Nguồn ảnh: Pinterest. Phải: Bìa báo Thanh Xuân năm 1951 tại Sài Gòn. Nguồn ảnh: Thanh Niên.

Sự khác biệt này được thể hiện vô cùng rõ nét trong các mẫu quảng cáo tại Sài Gòn lúc bấy giờ. Bên cạnh phần nội dung được lấy trực tiếp từ bản gốc của phương Tây, các mẫu quảng cáo như thế này sử dụng hình ảnh người Việt Nam, tập trung vào hình tượng những cô gái thanh lịch, nữ tính. Một ví dụ là quảng cáo thuốc lá Cotab khi khai thác hình tượng người phụ nữ tự tin với mái tóc uốn phồng và cặp lông mày đậm màu theo phong cách của nữ minh tinh Marlene Dietrich. Nhân vật trong tranh cũng gợi nhớ tới hình ảnh “cô Mía” trên những chiếc xe bán nước mía của Sài Gòn. Đây có thể nói là vẻ đẹp đại diện cho phong cách Sài Gòn những năm 50.

Một mẩu quảng cáo khác in trên bìa tạp chí Việt Thanh Xuân xuất bản năm 1951, cũng cho thấy rằng ngoài các xu hướng làm đẹp trên, son môi đỏ tươi và sắc má hồng khỏe khoắn cũng là trào lưu  được ưa chuộng bởi những cô gái thành thị.

Có thể nói, thị hiếu làm đẹp của Sài Gòn lúc bấy giờ phản ánh rõ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây thông qua điện ảnh quốc tế khi hàng loạt rạp chiếu bóng mở cửa như rạp Rex, Long Vân hay Dakao. Những bộ phim Hollywood thập niên 1950 được người Sài Gòn đón nhận nồng nhiệt. Các nhà sử học nhìn nhận thập kỷ này là giai đoạn phục hồi quan trọng sau sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh thế giới, cũng là lúc phụ nữ khắp nơi thử nghiệm với các sản phẩm làm đẹp nhiều hơn bao giờ hết.

Trong sách của mình, Madeleine nói về sự bùng nổ của xu hướng trang điểm “lồng lộn” của thế hệ baby boomers tại Mỹ: “Vào thời chiến, phụ nữ phải làm công việc của đàn ông và mặc những bộ trang phục nam tính. Khi đàn ông quay về từ chiến trường, phụ nữ về lại với bếp núc, ‘thời bao cấp’ hậu chiến kết thúc, họ hân hoan dắt tay nhau vào giường, cơn sốt sinh nở cứ thế mà bùng nổ.”

Nếu Sài Gòn của những năm 1950 mang vẻ đẹp thanh lịch, thì hai thập kỷ sau đó là giai đoạn mà phụ nữ trẻ tạm bỏ qua những nguyên tắc làm đẹp bất hủ, và hướng đến những phá cách ấn tượng. Các cô gái ngày càng chú trọng đến mái tóc của mình để trở nên “sành điệu” hơn. Khác với mái tóc phồng to từng là xu hướng của thập kỷ trước, những năm 1960 lại “phát cuồng” với mái tóc búi kiểu sau đầu, như trong một mẫu quảng nước giải khát Bireley’s được đăng trong tạp chí Saigon Roundup dành riêng cho khách du lịch đến thăm thành phố.

Mặt khác, rất ít quảng cáo mỹ phẩm xuất hiện tại miền Bắc. Nguyên nhân có thể là do những lý tưởng và đường lối cách mạng đang chiếm trọn bầu không khí miền Bắc lúc này. Một bài viết năm 1961 trên Báo Nhân Dân có tựa đề “Về việc Phát huy Tiềm năng và Phát triển Nhận thức Văn hóa của Phụ nữ” là một ví dụ điển hình cho lời kêu gọi phụ nữ tham gia phong trào thống nhất đất nước. Điều này tạo nên những khác biệt lớn giữa cuộc sống của phụ nữ miền Bắc và miền Nam.

Tuy nhiên, các xu thế làm không phải là không tồn tại ở miền Bắc. Giáo sư lịch sử Liam Kelly của trường Đại học Hawaii tại Manoa cung cấp bằng chứng:

“Nhiều trang bìa tạp chí có in hình những người phụ nữ trẻ, nhưng cách thức thể hiện thì rất khác,” Liam so sánh cách phụ nữ hai miền của Việt Nam được mô tả trong giai đoạn chiến tranh. “Trái với những hình ảnh ngoài Bắc, tạp chí của miền Nam Việt Nam lại mang lại cảm giác như thể không hề có cuộc chiến nào đang xảy ra. Bạn cũng không thấy bất kỳ hình ảnh nào của người lao động.” 

Những năm chiến tranh trước giai đoạn Đổi Mới

Mẫu quảng cáo ba kiểu tóc phổ biến tại Liên bang Xô Viết in trên một số Báo Phụ Nữ Sài Gòn năm 1985.
Ảnh: Tâm Minh, thủ thư tại Thư viện Khoa học Tổng hợp, Sài Gòn.

Từ sự kiện thống nhất năm 1975 đến tới loạt cải cách kinh tế quan trọng năm 1986, Việt Nam đã tăng tốc để trở thành trung tâm sản xuất hàng may mặc. Đất nước bước vào công cuộc công nghiệp hoá, phụ nữ Việt Nam quay trở về với vẻ ngoài mộc mạc và tự nhiên hơn.

Trong những năm dẫn đến cải cách kinh tế, các ấn phẩm báo chí hướng đến đối tượng đọc giả nữ như Báo Phụ Nữ Sài Gòn đã giới thiệu “trend” mới nhất từ nền công nghiệp làm đẹp của Liên Xô. Trong mục tư vấn của số báo in vào năm 1985 được lưu giữ tại Thư viện Khoa học Tổng hợp ở Sài Gòn, có một đoạn được ban biên tập gửi gắm đến độc giả: “Vài lời khuyên về mái tóc của bạn.”

Xuất hiện trong phần quảng cáo là hình ảnh ba cô gái người Nga với mái tóc uốn lọn cầu kỳ và phần mái dày vô cùng phổ biến vào những năm 80. Dù hầu hết phụ nữ Việt Nam trong thập niên này chủ yếu ăn vận rất đơn sơ, những ai có điều kiện và thời gian đều muốn thử nghiệm với những bộ tóc kiểu phá cách, thức thời thế này.

Và rồi, bước ngoặt của kinh tế đất nước xảy ra. Chính sách Đổi Mới năm 1986 đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển và hưởng ứng những xu hướng làm đẹp trong và ngoài nước.

Làn sóng văn hóa Hồng Kông, Tân dòng sông ly biệt và những tông màu trầm

Tua nhanh đến thập niên 90, dòng chảy văn hóa lại một lần nữa chuyển dịch. Việt Nam lúc này tiêu thụ âm nhạc, phim ảnh và các văn hóa phẩm ở mức độ mà chỉ mười năm trước vẫn là điều không tưởng. Song song đó tại Trung Quốc, một làn sóng văn hóa đại chúng đang lan tỏa mạnh mẽ trong cả âm nhạc lẫn phim ảnh; Hoàn Châu Cách Cách (1998-1999), bộ phim dài tập liên tục được chiếu đi chiếu lại trên màn ảnh nhỏ và Tân Dòng sông Ly biệt (2001) là hai trong số những ví dụ tiêu biểu của làn sóng này trong giai đoạn chuyển giao của thiên niên kỷ. 

Một ví dụ cho sức ảnh hưởng của nền văn hóa nói tiếng Trung lên thời trang Việt Nam có thể được thấy trong một mẫu quảng cáo váy cưới in trên Báo Phụ Nữ Sài Gòn số tháng 1 năm 1996. Những mái tóc uốn lọn bồng bềnh hay kiểu tóc phồng to đã hết thời, nhường chỗ cho làn tóc duỗi thẳng óng mượt và sành điệu, thường đi kèm với bộ mái lấy cảm hứng từ ngôi sao Châu Huệ Mẫn.

Một thay đổi nhỏ khác trong xu hướng làm đẹp của phụ nữ Việt Nam trong thập niên này là sự xuất hiện của những màu son trầm hoặc nude. Một chuyên mục gợi ý phối màu in trong Báo Phụ Nữ Sài Gòn có tựa đề như sau: “Khuynh hướng trang điểm hiện nay: nâu sô-cô-la!”

Màu sắc là yếu tố quan trọng không chỉ với phụ nữ Việt Nam mà còn đối với bất cứ tín đồ làm đẹp nào. Bước sang thế kỷ mới, các chuyên gia làm đẹp trên thế giới đã tạo ra những màu son tôn lên sắc môi tự nhiên, như Lisa Eldridge nhận định trong sách Face Paint: The Story of Makeup (tạm dịch: Họa Mặt: Câu chuyện trang điểm).

“Ở thời điểm đó, phong cách trang điểm vẫn khá lòe loẹt với những lớp phấn tạo khối dày cộm thiếu tinh tế và đôi môi đỏ theo xu hướng những năm 80. Bobbi Brown lại chuộng những phong cách khỏe khoắn và tự nhiên hơn, khác hẳn với các sản phẩm được bán trên thị trường. ”—  Cô viết dựa trên kinh nghiệm làm việc trong ngành công nghiệp làm đẹp. Nếu như xu hướng trước đó là những gam màu táo bạo, thì đến thập niên 90 và đầu những năm 2000, phụ nữ Việt Nam và thế giới lại thích lớp trang điểm tông nude tự nhiên, để hoàn thiện vẻ đẹp vốn có của gương mặt mình. 

Trong một chuyên mục về màu son nâu sô-cô-la, Báo Phụ Nữ đã “mách” cho độc giả nữ những thương hiệu có màu son “trendy” này: “Maybelline (Mỹ): son bóng 75.000VNĐ/cây; son bột 83.000VNĐ/cây." Nhờ những chuyên mục đề xuất thế này, phụ nữ trong nước có một phương thức để tiếp cận những loại mỹ mới dễ dàng hơn, mở ra một thời đại mới cho nền công nghiệp làm đẹp ở Việt Nam.

Trái: Quảng cáo cửa hàng áo cưới. Phải: Chuyên mục chia sẻ lời khuyên về những xu hướng màu sắc mới nhất của thập niên 1990.
Ảnh: Tâm Minh, thủ thư tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM. 

[Ảnh bìa trái: Pinterest; ảnh bìa phải: Thanh Niên.]

Bài viết đăng tải lần đầu vào năm 2024.


Nước da trắng ngần đã được ưa chuộng từ thời phong kiến và xuất hiện nhiều trong thi ca Việt Nam ở giai đoạn này, như bài thơ “Khúc hát hái sen” (“Thái liên khúc”) của Ngô Chi Lan, một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông vào thế kỷ thứ 15:

]]>
info@saigoneer.com (Khanh Tran.) Văn Hóa Tue, 12 May 2026 12:00:00 +0700
Họa sĩ Quế Hương (Một Quả Tắc) kể chuyện đời thường trên lụa https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18119-họa-sĩ-quế-hương-một-quả-tắc-kể-chuyện-đời-thường-trên-lụa https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18119-họa-sĩ-quế-hương-một-quả-tắc-kể-chuyện-đời-thường-trên-lụa

Lụa vốn là một chất liệu khó tính. Nhưng ngay từ lần chạm tay đầu tiên, Quế Hương đã chọn gắn bó với sự đỏng đảnh ấy để rồi theo đuổi nó suốt gần một thập kỷ qua.

Gần đây, Saigoneer có dịp ghé thăm không gian sống và cũng là xưởng thực hành sáng tạo của Quế Hương. Đón chúng tôi ngay ngưỡng cửa là hai “trợ lý” mèo nhỏ nhắn. 

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Tình yêu hội họa của Quế Hương nảy mầm từ thuở nhỏ và lớn dần khi cô theo học khoa Mỹ thuật Tạo hình tại Đại học Mỹ thuật TP. HCM. Trong những ngày tháng loay hoay tìm kiếm bản sắc giữa các loại chất liệu, lụa đã chọn cô, hoặc có lẽ, sự kiên nhẫn của cô đã chinh phục được lụa.

Khi được hỏi về nghệ danh “Một Quả Tắc,” Hương chia sẻ: “Một Quả Tắc chỉ là một cái tên vô tri, không có ẩn ý gì đặc biệt đâu. Trong các loại ‘siêu trái cây’ có múi như bưởi, cam thì tắc là nhỏ nhất. Và mình tự thấy bản thân vẫn còn xanh và nhỏ bé lắm.”

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Hành trình của một nghệ sĩ trẻ chưa bao giờ trải đầy hoa hồng. Tốt nghiệp ngay thời điểm đại dịch bùng phát, Quế Hương cũng từng đứng trước ngã rẽ của cơm áo gạo tiền. Cô đã từng nghĩ đến việc gác lại cọ vẽ để tìm một công việc văn phòng ổn định, nhưng “trộm vía là ngay thời điểm ấy, mình có duyên gặp được một người sưu tập tranh và bán được những bức vẽ để vững tin hơn trên con đường này.”

‘Mơn man’

‘Méow’

Dạo qua những tác phẩm của Quế Hương tại các triển lãm hay trên mạng xã hội, bạn sẽ được bao bọc bởi sự dịu dàng của cỏ cây hoa lá, các loài động vật nhỏ hay những thiếu nữ xuân thì. Nguồn cảm hứng của cô nàng cũng chẳng ở đâu xa vời. Đó có thể là chân dung bản thân, là những khoảnh khắc rất đỗi bình dị trong cuộc sống hằng ngày, là những người thân thiết xung quanh, và đôi khi, vài ý tưởng lạ kỳ chợt nảy mầm trong đầu.

Tỷ như hai bức tranh lụa đang thành hình mà Saigoneer được quan sát. Một bức ghi lại cảnh mèo nhỏ nằm dài thư thái trên người chủ nhân trong tà váy hoa nhí màu xanh, bức còn lại là khoảnh khắc đôi bạn mèo đang đùa nghịch. Mỗi bức tranh tựa như một trang nhật ký được Quế Hương kể lại và giữ gìn trên lụa, khiến những ký ức tồn tại lâu thật lâu. Kể cả có về tay người khác, bức tranh chắc hẳn cũng tạo được sự đồng cảm hoặc có ý nghĩa nào đó với người mua.

‘Mấy đôi giày đã cũ của tôi’

’Hái sao cho em’

“Mình chưa bao giờ cảm thấy chán nản, khó khăn hay muốn từ bỏ tranh lụa vì còn có quá nhiều ý tưởng để khai thác, quá nhiều thứ muốn vẽ ra.”

Sự kiên định ấy đã mang về cho Quế Hương nhiều giải thưởng và dấu ấn riêng trong cộng đồng nghệ thuật. Tháng 9/2024, cô đánh dấu cột mốc quan trọng với triển lãm cá nhân đầu tiên mang tên “Xôn xao.” Đó là 15 bức họa với bảng màu đầy chất thơ, tạo nên một không gian yên bình, nơi người xem có thể tạm lánh những ồn ã ngoài kia để đắm mình vào vẻ đẹp mộng mơ và lối vẽ tỉ mỉ của cô.

Tranh lụa ‘Lập xuân’ được trình bày tại triển lãm “Xôn xao.”

“Học lỏm” quá trình vẽ tranh lụa

Theo chân Quế Hương qua từng công đoạn, chúng tôi mới thấu hiểu sự kỳ công của bộ môn này.

‘Xoxo’

Vải lụa để vẽ tranh không giống lụa để may trang phục. Nó mỏng hơn, thô nhám hơn và thường được quét một lớp keo mỏng. Nếu cần, họa sĩ có thể gột bớt đi để vải mềm mại hơn. Sau khi đã có lụa, cô nàng sẽ đặt khung tranh làm từ gỗ với kích thước bất kỳ tùy thích. “Có lần, mình đặt một khung lớn tới mức không thể mang vào thang máy của chung cư nên phải vác lên lầu bằng thang bộ. Về sau mang tranh đi triển lãm, mình phải nhờ các anh trai lực lưỡng vác giúp xuống thang bộ lần nữa,” Quế Hương tươi cười kể.

Tranh lụa đang được quét keo.

Tiếp theo, cô sẽ phải tự căng lụa lên khung, cố định lại bằng ghim và quét keo. “Ở công đoạn này, mình thường phải cất hai em mèo lại để tụi nhỏ không chạy nhảy lung tung làm dính lông lên tranh. Mặc dù vậy, trong lúc vẽ, tranh cũng dễ bị dính lông mèo nên khi màu khô, mình sẽ dùng thanh lăn để làm sạch.” Khi khung lụa đã sẵn sàng, Quế Hương sẽ chọn ý tưởng, phác họa, vẽ chi tiết rồi tô màu. Cô thường sử dụng màu nước là chính. Bên cạnh đó, màu gouache và mực tàu cũng được dùng khi cần.

‘Bật một bản nhạc nhé’

Cô cho biết thêm: “Các họa sĩ tranh lụa hay đứng vẽ trên mặt bàn ngang. Hồi trước mình cũng vậy. Mỏi cổ, mỏi chân lắm! May mà giờ mình có cái kệ này, có thể kê nghiêng để vẽ, nhưng vẫn khá đau lưng, mỏi gối.” Bất chấp điều đó, vì yêu nghề nên Hương vẫn miệt mài vẽ hàng giờ đồng hồ. “Mỏi quá thì mình tự mát-xa hoặc đi ra tiệm thôi!”

Cuối cùng, Quế Hương sẽ bồi một lớp vải ở phía sau bức tranh. Đó thường là loại vải trơn, ít thớ để không làm thay đổi cấu trúc và hình ảnh trên tranh lụa. Tùy thuộc vào “tâm trạng” của tranh mà cô chọn vải màu sáng, tối hay trung tính. “Với những tranh tối màu, mình sẽ chọn vải xám hoặc đen. Còn tranh có gam màu nóng sẽ được bồi vải màu trắng. Không phải lúc nào mình cũng đắp thêm vải. Có những bức mình cứ để nguyên như thế, tùy tính thẩm mỹ.”

‘Lặp’

Sự quan tâm trở lại của giới trẻ đối với tranh lụa gần đây là một tín hiệu đầy lạc quan. Với Quế Hương, đây không chỉ là niềm vui cá nhân mà còn là cơ hội để chất liệu truyền thống này được định nghĩa lại bằng những ngôn ngữ đa dạng hơn.

“Mình cũng muốn được đi du lịch nhiều hơn để nạp năng lượng mới và có thêm nguồn cảm hứng. Ngoài ra, mình mong sẽ được nhiều người biết đến hơn với tư cách họa sĩ vẽ tranh lụa,” Quế Hương nói, ánh mắt lấp lánh nhìn ra phía ban công đầy nắng.

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Ghé thăm trang Instagram @motquatac để tìm hiểu thêm về hành trình hội họa của Quế Hương.

]]>
info@saigoneer.com (Mầm.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Sun, 03 May 2026 22:03:25 +0700
Ngược dòng lịch sử để hiểu và yêu mến thêm công viên Tao Đàn https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/18116-ngược-dòng-lịch-sử-để-hiểu-và-yêu-mến-thêm-công-viên-tao-đàn https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/18116-ngược-dòng-lịch-sử-để-hiểu-và-yêu-mến-thêm-công-viên-tao-đàn

Những lớp rễ cạn của bụi cây và dương xỉ đan cài vào nhau, nỗ lực đâm chồi, vươn những tua cuốn và thân cây lên cao, bò lan trên mặt đất gồ ghề để chực chờ những vệt sáng ít ỏi. Mùi đất ngai ngái, nồng nặc bốc lên từ những hốc cây, kẽ đá, vốn là lãnh địa của sâu bọ, nhện, ốc sên, bọ cánh cứng và lũ ruồi. Giữa đám dây leo, thân gỗ mục nát và những tảng đá trơ gan cùng tuế nguyệt, hoa bừng nở rực rỡ; chim hót líu lo, ve sầu kêu râm ran, và không khí cứ thế tuôn trào hơi thở ẩm ướt trong từng phân tử nước. Chúng ta hay quên rằng mình đang sống giữa vùng nhiệt đới. Tao Đàn chính là nơi nhắc nhở ta về sự thật này.

Ai cũng biết Tao Đàn là gì và ở đâu. Mảng xanh lớn nhất ngay trung tâm thành phố này đã hiện diện từ trước cả khi những cư dân cao tuổi nhất kịp có chút ký ức gì về nó. Thế nhưng, dù công viên có diện tích rộng lớn và vị trí đắc địa, tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên khi nhận ra qua những cuộc trò chuyện với bạn bè hay đồng nghiệp rằng: phần lớn mọi người chẳng mấy khi ghé chân vào đây. Thậm chí, có người còn chưa bao giờ bước qua cổng công viên.

Bản quy hoạch thời thuộc địa cho Tao Đàn (trái) và cảnh quan công viên những thập kỷ trước (phải). Ảnh: Chuyện Xưa.

Khi người Pháp bắt đầu quá trình xâm lược Sài Gòn và khởi công xây dựng Dinh Norodom vào năm 1868, ở khu vực bấy giờ còn là vùng ngoại ô, khoảng không gian bao la phía sau dinh thự được dùng làm vườn cây ăn trái. Đến khi đường Miss Clavell (nay là đường Huyền Trân Công Chúa) được mở, khu vườn bị tách khỏi dinh biệt lập và đổi tên thành “Jardin de la ville” (Vườn Bách thảo thành phố).

Tuy vậy, nơi đây vẫn chỉ là chốn hưởng lạc dành riêng cho giới thực dân và những cộng sự giàu có của họ. Phải đến khi người Pháp rút đi vào năm 1955, công viên mới có tên gọi như hiện tại. Từ đó đến năm 1976, khuôn viên nơi đây từng được dành để xây dựng trường tiểu học, đồng thời tổ chức nhiều hoạt động vui chơi, giáo dục, rồi dần dần chuyển mình thành dáng vẻ mà chúng ta thấy ngày nay.

Công viên Tao Đàn, năm 1976. Nguồn ảnh: Đỡ Buồn.

Thực lòng mà nói, lịch sử không phải điều đầu tiên khiến tôi chú ý đến Tao Đàn. Tôi bắt đầu dành thời gian ở đây đơn thuần vì sự tiện lợi: đó là con đường ngắn nhất nối giữa tòa soạn Saigoneer và căn hộ của tôi. Việc băng qua công viên mỗi sáng, mỗi chiều không chỉ cho tôi vài phút giây thảnh thơi để hưởng thụ bóng mát, giúp tôi thoát khỏi cảnh phải né tránh những “hung thần” xe máy leo vỉa hè, mà còn giúp tôi nhận ra những mảnh ghép thú vị, đôi khi là kỳ quặc, của những con người và cảnh vật nơi đây.

Kho tàng kỳ lạ bên trong Tao Đàn

Sự tò mò trong tôi bắt đầu nhen nhóm từ những bức tượng không tên nằm rải rác khắp Tao Đàn. Có thể kể đến một bàn tay giơ ngón cái đâm xuyên qua bức tường, một đứa trẻ đọc sách trên lưng chú trâu mang phong cách hiện đại, hay bức tượng bán thân của Beethoven với cái tên bị viết sai ngay dưới tiêu đề một bản sonata nổi tiếng nhất của ông. Rồi còn cả thứ trông như ống xả khổng lồ đặt cạnh một vật chặn cửa, hay hình bóng một nữ tu bị đâm xuyên bởi những chiếc cọc nhọn. Tất cả đều không có thông tin đi kèm về tên tác phẩm hay tác giả. Chúng nằm chen chúc nhau phía cuối công viên về hướng Nam, tạo thành một sự pha trộn khập khiễng giữa các phong cách và chủ đề. Những bức tượng này từ đâu tới? Và tại sao chúng lại xuất hiện ở nơi này?

Hóa ra, những tác phẩm này là thành quả của một trại sáng tác điêu khắc kéo dài một tháng vào năm 2005 nhằm làm đẹp công viên. Các nghệ sĩ từ khắp cả nước được mời về để tự do sáng tạo mà không bị ràng buộc bởi bất kỳ yêu cầu hay chủ đề nào. Những hoạt động tương tự cũng từng diễn ra ở nhiều nơi khác như Huế hay An Giang. Dù ý định hỗ trợ nghệ thuật và cải thiện không gian công cộng là rất đáng trân trọng, nhưng lẽ ra việc trưng bày những tác phẩm mang tính sắp đặt vĩnh viễn này cần được đầu tư kỹ lưỡng hơn.

Nhà điêu khắc Phan Tấn Toàn từng chia sẻ: “Hầu hết các không gian công cộng của TP không được quy hoạch ngay từ đầu trong tổng thể, nên tác phẩm điêu khắc hầu như được đặt vào sau cùng giữa các công trình cổ và hiện đại đan xen nhau, khiến cho tác phẩm điêu khắc khó hòa hợp thực sự với không gian xung quanh. Bản thân nghệ sĩ dù có mong muốn sáng tác và đưa tác phẩm vào trang trí cho một không gian cụ thể, ví dụ như khuôn viên tòa nhà, trụ sở công ty..., thì cũng khó mà thực hiện.”

Kỳ thực, nhiều tác phẩm ở đây sở hữu những giá trị riêng, mà nếu được đặt để một cách trân trọng hơn, như có thêm thông tin về tác giả, hay được tính toán kỹ lưỡng về cách chúng đón nắng và chiếm lĩnh không gian, thì hẳn sẽ ấn tượng hơn nhiều. Còn với cách sắp xếp hiện tại, chúng dễ khiến người ta liên tưởng đến những bức ảnh trang trí đại trà trong khách sạn, treo lên chỉ để lấp đầy những mảng tường trống chứ chẳng nhằm khơi gợi chút suy tư hay cảm xúc nào. Hay nói cách khác, cả khu vườn tượng này chẳng khác nào một nhà thiết kế thời trang đang trình làng bộ sưu tập mới bằng cách giăng mắc quần áo lên một dây phơi ngoài ban công.

Những bức tượng khác trong Tao Đàn lại có nguồn gốc và thông điệp rõ ràng hơn. Chẳng hạn như bức tượng bán thân của Mahatma Gandhi, đi kèm với một trích dẫn truyền cảm hứng cùng thông tin chi tiết về nhà điêu khắc và Hội đồng Quan hệ Văn hóa Ấn Độ, đơn vị đã trao tặng tác phẩm này. Hay như bản mô phỏng thu nhỏ của Tháp Bà Po Nagar (Nha Trang) được xây dựng từ vài thập kỷ trước, nhằm nhắc nhớ về lịch sử của vương quốc Chăm Pa hải hành tại Việt Nam. Dù tháp gốc đã bị cây đổ đè sập trong một trận bão lớn năm 2021, nhưng một bản sao mới đã nhanh chóng được dựng lại, càng khẳng định giá trị của tác phẩm với công viên này.

Ở phía đối diện bên kia công viên là khu lăng mộ họ Lâm, ít ra nơi này vẫn còn vài dòng thông tin ngắn ngủi để người ta biết về tông tích của nó. Một tấm bia ghi lại rằng ngôi mộ do ông Lâm Tam Lang, một người Hoa di cư từ Quảng Đông, cùng vợ là bà Mai Thị Xã xây dựng. Những dòng chữ Hán trên vách mộ cho thấy ông mất vào năm 1795, giữa thời kỳ đầy biến động tại phương Nam khi quân Tây Sơn lật đổ quyền thống trị của các Chúa Nguyễn. Tuy nhiên, theo Danh mục Di tích Lịch sử - Văn hóa TP. HCM, ngôi mộ cổ này lại được xây vào năm 1895. 

Những vật liệu xây dựng như vôi sống, cát mịn, bột vỏ sò trộn mật đường và nhựa cây rừng cho thấy đây là một gia đình quyền quý thời bấy giờ. Năm 2014, nơi này được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố. Dẫu vậy, dường như nghĩa vụ với tổ tiên và di sản cũng chỉ có giới hạn thời gian nhất định, bởi tôi chưa từng thấy ai ghé thăm hay thắp nén nhang nào ở đây.

So với mộ cổ họ Lâm, Đền Hùng là công trình được người dân ghé thăm thường xuyên hơn hẳn. Được xây dựng vào năm 2012 và trùng tu 10 năm sau đó, tôi thường xuyên bắt gặp cảnh khách tham quan dừng chân thắp nhang, chiêm bái và cầu nguyện tại đây. Được mô phỏng theo ngôi đền lớn ở Phú Thọ, Đền Hùng ở đây có mái đao cong vút, đôi sư tử đá canh cổng và những chậu cây cảnh được chăm chút tỉ mỉ, tất cả đều phảng phất ảnh hưởng từ văn hóa Trung Hoa, thể hiện rõ qua những dòng chữ Hán trên cột trụ. Đối lập với đó là hình ảnh trống đồng Đông Sơn ngay lối vào, bên cạnh là cánh chim Lạc quen thuộc. Những biểu tượng này vốn thuộc về nền văn hóa Đông Sơn ở lưu vực sông Hồng từ hơn 2.000 năm trước, và thường được coi là một trong số ít những nét thẩm mỹ cổ xưa thuần Việt còn sót lại đến ngày nay.

Trước lần gần nhất ghé thăm công viên, tôi vừa đọc xong cuốn Architects of Dignity (tạm dịch: Kiến trúc sư của Phẩm giá), một tác phẩm soi chiếu những thảo luận vào đầu và giữa thế kỷ 20 xung quanh nền độc lập và bản sắc Việt Nam, bao gồm cả vai trò của những ảnh hưởng từ bên ngoài. Chính những trang sách này đã khiến tôi không khỏi suy ngẫm về các công trình tại Tao Đàn, về cách chúng phản ánh nỗ lực tách bạch nét văn hóa thuần Việt khỏi dấu ấn của những quốc gia từng cai trị mảnh đất này suốt hàng thế kỷ. Ngay cả sự tồn tại của chính công viên, hay những hàng cổ thụ khổng lồ kia, phần lớn cũng không phải là loài bản địa. Người Pháp đã di thực chúng về từ vùng cao và nhiều nơi khác, dựa trên tư duy riêng của họ về mảng xanh, cách vận hành đô thị và quy hoạch thành phố.

Vậy thì ở Tao Đàn, đâu là điểm kết thúc của chất Pháp và đâu là điểm khởi đầu của hồn Việt? Liệu bức tượng Chăm kia có phải là một sự chiếm dụng văn hóa, chứ không phải là minh chứng cho việc bản sắc Việt vốn rộng lớn hơn nhiều so với căn tính của riêng người Kinh? Và ta phải nói sao về mô hình công viên cùng công năng của nó, khi đây vốn là những khái niệm ngoại lai?

Mọi suy tư nặng nề ấy bỗng chốc tan biến khi tôi bước vào vườn xương rồng. Xương rồng, một loài cây vốn chẳng có nguồn gốc từ châu Á chứ đừng nói là Sài Gòn, cứ thế vươn những cánh tay đầy gai góc lên trời, chẳng bận tâm đến những định nghĩa về quốc gia hay dân tộc của con người. Để kể về lịch sử Tao Đàn, người ta cần đến tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Anh và cả một chút tiếng Hoa. Nhưng xương rồng lại có ngôn ngữ riêng của chúng, một ngôn ngữ chẳng có thì quá khứ hay tương lai. Xương rồng chỉ biết đến hiện tại.

Tao Đàn ngày nay

Thôi không bàn chuyện xưa cũ hay suy ngẫm về bản chất của Tao Đàn nữa; hãy nhìn xem nơi này đang được sử dụng ra sao. Nếu bạn ghé công viên vào sáng sớm, trước khi thành phố tự phủ lên mình những lớp khói bụi và ẩm ương, bạn sẽ bắt gặp người người đang tập thể dục. Những người đi bộ và chạy bộ lách mình qua các nhóm nhảy, nhóm aerobic và yoga đang tập luyện bài bản. Dù những âm thanh cạnh tranh nhau, từ nhạc pop hiện đại thế giới cho đến những bản nhạc sến cổ điển của Việt Nam, có hơi chói tai một chút, nhưng bầu không khí nói chung vẫn vô cùng bình yên.

Các cô, các chú vừa sử dụng máy tập vừa tạo những thế võ như đang quay chậm. Những người chơi cầu lông thản nhiên biến các đoạn vỉa hè thành sân đấu mà chẳng mấy ai bận tâm. Trẻ con thì leo trèo, đùa nghịch trên các khu trò chơi. Những con người đang tập trung chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần này trông thật điềm tĩnh và hạnh phúc. Một khung cảnh tương tự sẽ lặp lại vào buổi chiều tối, đối lập hoàn toàn với sự kích động của những người cầm lái đang làm tắc nghẽn các đại lộ, họ bấm còi và hằm hè chẳng khác nào những con chồn bị nhốt trong lồng.

Tao Đàn vốn đã gắn liền với các hoạt động thể thao từ những ngày đầu dưới bàn tay quy hoạch của người Pháp. Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, họ đã xây dựng hàng loạt cơ sở hạ tầng thể chất, trong đó có nơi được cho là sân bóng đá đầu tiên của cả nước. Vì bóng đá lúc bấy giờ còn là khái niệm xa lạ với người bản xứ, sân chơi này chủ yếu phục vụ cho binh lính ngoại quốc và công nhân bốc xếp ở cảng. Tao Đàn cũng là địa điểm quan trọng trong quá trình du nhập bộ môn đạp xe vào Việt Nam. Năm 1896, một cuộc đua xe đạp, có lẽ là đầu tiên tại Việt Nam, đã được tổ chức tại đây, cùng với đó là các lớp hướng dẫn người dân cách sử dụng thứ phát minh mới mẻ và lạ lẫm lúc bấy giờ. Chính quyền thuộc địa cũng rất ưa chuộng môn đua ngựa, vì thế một khu đất liền kề trên đường Nguyễn Du đã được dành riêng cho Hiệp hội Đua ngựa để nuôi dưỡng và huấn luyện ngựa cho các trường đua khác trong thành phố.

Sân tennis Tao Đàn được chụp ảnh vào năm 1948 bởi Jack Birns của tạp chí TIME và LIFE.

Nhìn lại bức tranh thể thao của Tao Đàn thời kỳ đó, ta dễ dàng liên tưởng đến những phân đoạn trào phúng trong tác phẩm Số Đỏ của Vũ Trọng Phụng. Cuốn tiểu thuyết đã mỉa mai sắc sảo tầng lớp tiểu tư sản Hà Nội những năm 1930 trong nỗ lực theo đuổi cái gọi là “xã hội văn minh” theo khuôn mẫu người Pháp. Môn quần vợt đóng vai trò trung tâm trong tác phẩm, nơi những thói rởm đời, nghi lễ và các toan tính chính trị phơi bày sự lố lăng của giới thượng lưu. Giống như những gì nhân vật chính đã trải qua: “Xuân Tóc Ðỏ cảm thấy cuộc đời đã mở rộng con đường công danh cho nó. Những cái xe hơi đẹp đẽ, những người quần áo sang trọng tấp nập ra vào, nào ta nào Tây nào đầm, nào phụ nữ tân thời, ai cũng có vẻ sang trọng nữa, đã bảo cho nó rõ rằng từ đây mà đi thì nó đã có một địa vị to tát trong đám những bậc thượng lưu! Ôi! Thể thao! Cái gì mà mày không làm được, hở thể thao! Líp líp lơ!”

Ngày nay, Tao Đàn vẫn đảm nhiệm vai trò là một trung tâm thể thao, nhưng dưới một hình thức bình dân và đại chúng hơn, không còn bóng dáng của những Xuân Tóc Đỏ năm nào. Bên cạnh các nhóm nhảy và cầu lông, công viên còn phục vụ người dân qua Câu lạc bộ Thể dục Thể thao Tao Đàn với sân bóng đá, hồ bơi, sân bóng rổ, sân tập bắn cung và sân quần vợt. Dù chẳng hào nhoáng bằng những cơ sở hiện đại khác trong thành phố, nhưng bóng mát từ những hàng cổ thụ, vị trí ngay trung tâm và những chi tiết hằn in vết thời gian, từ những tấm lưới sờn rách, tấm biển quảng cáo vịt Donald không bản quyền ngộ nghĩnh, cho đến căn tin cũ kỹ và lớp sơn đã phai màu, tất cả tạo nên một sự gắn kết mật thiết với một đô thị nhộn nhịp và đầy biến động. Bước chân vào không gian này mà không cần thẻ ra vào hay sự kiểm soát của bảo vệ, bạn sẽ có cảm giác mình được chào đón, mình thuộc về nơi này, và mình là một phần của guồng quay nhân sinh đang cùng nhau duy trì và thụ hưởng một không gian chung.

Sự tự do ấy cho phép ta tha hồ khám phá những ngóc ngách của công viên, bao gồm cả khu vực phía sau Nhà hát Múa rối nước Rồng Vàng. Loại hình nghệ thuật truyền thống có tuổi đời hàng thế kỷ này từ lâu đã bị xem như một “món lạ” chủ yếu dành cho khách du lịch. Ngay cả trong bối cảnh đó, nó vốn nổi tiếng hơn ở miền Bắc, nơi nó sinh ra. Thế nên, chẳng mấy ngạc nhiên khi ít có hành trình du lịch quốc tế nào đưa nơi này vào danh sách điểm đến, chưa nói tới du khách trong nước hay chính người dân Sài Gòn. Tuy nhiên, việc dạo quanh phía sau tòa nhà để quan sát những quân rối đang nằm chờ sửa chữa hay thay mới là một trải nghiệm rất đáng thử. Dưới những vệt nắng xuyên qua hàng cửa lá sách và những hàng cột kiểu Pháp cổ kính, những chú rồng gỗ, chim phượng và các nhân vật làng quê nằm nghỉ ngơi giữa những kệ đồ ngổn ngang nào keo, sơn, kim tuyến, những hũ hồ không nhãn mác, cho đến những ma-nơ-canh trần trụi và những mẩu vật liệu xây dựng bị vứt bỏ. Ánh nhìn trống rỗng của những bác nông dân tí hon với mớ dây nhợ lòi ra từ bụng, hay những mẩu gỗ cong vênh vì nắng mưa, chắc chắn sẽ là bối cảnh hoàn hảo cho một bộ phim kinh dị nếu có đạo diễn nào vô tình để mắt tới.

Và ngay cả khi bạn không phải người yêu vận động, cũng chẳng màng tới việc tìm một băng ghế dưới bóng râm để đọc sách hay lướt điện thoại, thì công viên vẫn còn một giá trị sử dụng cuối cùng: nhà vệ sinh! Ở phía Bắc công viên, gần khu vui chơi trẻ em, có một nhà vệ sinh công cộng sạch sẽ và khang trang. Giữa một thành phố vốn quá thiếu thốn những tiện ích như thế, việc biết được một địa chỉ như vậy là điều vô cùng hữu ích. Nó giúp ta không phải mua một ly cà phê chỉ để “đi nhờ” nhà vệ sinh của quán, hay tệ hơn là phải tính đến chuyện “giải quyết” bên lề đường. Giá trị của một nhà vệ sinh công cộng sẵn có không bao giờ nên bị xem nhẹ khi liệt kê những điểm cộng của Tao Đàn.

Tao Đàn mai kia

Nếu những điều trên giúp chúng ta hình dung về Tao Đàn của hôm qua và hôm nay, thì hãy thử nghĩ xem Tao Đàn sẽ ra sao trong tương lai. Giống như bao mảnh ghép khác của Sài Gòn, công viên này cũng đang phải chịu sự chi phối của những giá trị hiện đại và thực tại phũ phàng. Thành phố ngày một đông đúc hơn, và dường như những mảng xanh là thứ ít được coi trọng nhất. Người ta sẽ không phá bỏ nó ngay lập tức, mà gặm nhấm dần mòn từng chút một; mỗi nơi một mảng, mỗi chỗ một vết cắt. Và quá trình ấy vốn đã bắt đầu từ lâu.

Cứ đến 7 giờ sáng, bầu không khí tĩnh lặng của công viên bị phá vỡ, kéo theo đó là sự tan biến của những nỗi niềm riêng tư. Năm 2003, hai con đường nhỏ ở rìa đã được nối lại để trở thành đường Trương Định xuyên thẳng qua trung tâm công viên. Giống như một cái lỗ kim châm vào túi súp khiến nước dùng tràn cả ra ngoài, con đường này đã dẫn lối cho khói bụi, tiếng ồn và sự hỗn loạn của phố phường tràn vào đây. Không gian này khó có thể vừa là một huyết mạch giao thông, vừa là một ốc đảo bình yên. Một người bạn của tôi, người vẫn còn nhớ về công viên của những thập kỷ trước khi con đường xuất hiện, khẳng định rằng Tao Đàn giờ đã mất chất. Nhưng một người bạn trẻ khác lại lập luận rằng con đường là cần thiết để việc đi lại trong thành phố được thuận tiện hơn. Ai đúng ai sai? Chuyện của những không gian công cộng luôn là vậy, dư luận vốn chẳng bao giờ đồng nhất.

Một sự gặm nhấm tương tự đã diễn ra chỉ vài năm trước. Ở phía rìa Tây, quán cà phê chim lâu đời đã bị dỡ bỏ để nhường chỗ cho công trình ngầm của tuyến Metro Sài Gòn vốn đang chậm tiến độ trầm trọng. Được dời ra sát mặt đường nhộn nhịp, quán cà phê chim mới chỉ còn là một bản sao buồn bã của chính nó, thưa thớt bóng dáng những người yêu chim vốn giờ đây phải vất vả lắm mới nghe được tiếng hót lảnh lót của lũ chào mào giữa tiếng gầm rú của những động cơ xe. Khu vực phục vụ thi công Metro giờ là một dải đất sỏi đá, đầy rẫy ổ gà, vũng nước, những tấm tôn rỉ sét và những khối bê tông loang lổ vết sơn. 

Những sự “xâm lấn” nhỏ hơn vào vẻ đẹp tự nhiên của công viên vẫn đang tiếp diễn. Đầu năm 2024, một cành cây gãy rụng đã gây ra tai nạn đau lòng. Thành phố ngay sau đó đã cho rà soát và cắt tỉa bớt những cành nhánh khác để tránh những thảm kịch tương tự. Sự cân bằng giữa an toàn và vẻ hoang sơ sẽ vẫn tiếp tục là một bài toán khó, mà cán cân thường nghiêng về phía đảm bảo an toàn cho con người. Trong một thế giới hoàn mỹ, Sài Gòn sẽ có thật nhiều công viên để không phải thỏa hiệp như vậy, để mỗi nơi có thể dành trọn mình làm một bảo tàng thực vật nhiệt đới, một thánh đường của sức khỏe, một không gian triển lãm nghệ thuật, hay một chốn lưu giữ những giá trị văn hóa. Nhưng đáng tiếc, Tao Đàn phải gánh vác tất cả những vai trò đó, và cả nhiệm vụ giải tỏa áp lực giao thông.

Nhìn cái cách mọi người đang cùng chia sẻ nơi này, ta chợt nhận ra Tao Đàn chính là hình ảnh thu nhỏ của mọi không gian công cộng trên đời. Những nơi như thế chẳng bao giờ chiều lòng được tất cả. Luôn có những thứ, dù vặt vãnh hay to tát, khiến ta không vừa mắt, bởi mỗi người đều giữ riêng một hình dung về một nơi chốn lý tưởng cho mình. Thế nhưng, để mặc những khiếm khuyết đó vẫn tốt hơn nhiều so với việc không gian này bị thâu tóm bởi lợi ích cục bộ, dù là của một cá nhân giàu có hay những toan tính thực dụng. Thay vào đó, Tao Đàn là nơi để ta chứng kiến và học cách trân trọng sự thỏa hiệp, một kỹ năng mà giống loài chúng ta sẽ phải thực hành ngày một thường xuyên hơn để có thể chung sống mãi về sau.

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Ảnh: Mervin Lee.) In Plain Sight Wed, 29 Apr 2026 10:25:49 +0700
'Loin du Vietnam' (1967): Bản tuyên ngôn phản chiến đầy trăn trở của điện ảnh Pháp https://saigoneer.com/vn/film-tv/18110-loin-du-vietnam-1967-bảnn-tuyên-ngôn-phản-chiến-đầy-mâu-thuẫn-của-điện-ảnh-pháp https://saigoneer.com/vn/film-tv/18110-loin-du-vietnam-1967-bảnn-tuyên-ngôn-phản-chiến-đầy-mâu-thuẫn-của-điện-ảnh-pháp

Thập niên 1960, nước Pháp chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Làn sóng Mới (French New Wave), phong trào điện ảnh được xem là có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất lịch sử phim ảnh nước này. Những trí thức dẫn dắt phong trào luôn khao khát tìm kiếm phương thức kể chuyện mới lạ, phá vỡ những khuôn khổ trước đó. Hầu hết họ đều theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và kịch liệt phản đối việc can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam.

Dù thường xuyên bất đồng với công chúng trong nhiều vấn đề, các nhà làm phim thời bấy giờ lại tìm thấy tiếng nói chung với dư luận khi nhắc đến Việt Nam. Xã hội Pháp coi sự hiện diện của Mỹ là hành vi xâm lược, chà đạp lên quyền tự quyết của nhân dân. Khi chiến sự leo thang vào năm 1965, làn sóng ủng hộ Việt Nam càng trở nên mạnh mẽ. Thế nhưng, giữa bầu không khí sục sôi ấy, giới làm phim bản địa lại im hơi lặng tiếng một cách lạ thường. Sự im lặng này khiến Robert Bozzi, một chủ phòng tranh đang kêu gọi quyên góp thuốc men cho Việt Nam, không khỏi ngạc nhiên.

Khi nghe người bạn thân Robert Bozzi kể lại câu chuyện, đạo diễn Chris Marker đã lập tức quyết định thực hiện một dự án điện ảnh dành riêng cho Việt Nam. Vốn bị xem là “kẻ ngoại đạo” vì phong cách làm phim mang tính tiểu luận hơn là điện ảnh thuần túy, Marker có phần kín tiếng hơn các đạo diễn cùng thời. Xuyên suốt sự nghiệp, ông luôn kiên trì khai thác mối liên hệ mật thiết giữa nghệ thuật và chính trị. Bộ phim Loin du Vietnam (Xa Việt Nam), thành quả ra đời từ nỗ lực này, cũng không phải là ngoại lệ.

Áp phích phim. 

Rất khó để xếp Loin du Vietnam vào bất kỳ khuôn mẫu điện ảnh nào sẵn có. Marker đã tập hợp hơn 150 nhà làm phim, trí thức và sử gia cùng tình nguyện tham gia, trong đó có cả những cái tên gạo cội như Joris IvensWilliam KleinClaude LelouchAgnès VardaJean-Luc Godard và Alain Resnais. Ban đầu, nhóm dự định tạo ra một tác phẩm thống nhất, nhưng sau đó, dự án đã phát triển thành một bộ tiểu luận gồm 11 chương ra mắt vào năm 1967. Tác phẩm không dừng lại ở việc phê phán sự can thiệp của Mỹ mà còn khéo léo đan cài giữa hư cấu và tài liệu, mở ra nhiều lăng kính khác nhau, từ những ghi chép lịch sử đến những tự sự đầy riêng tư.

Cuộc chiến của kẻ giàu chống lại kẻ nghèo 

Góc nhìn của bộ phim về toàn bộ cuộc chiến được thiết lập ngay từ đoạn thuyết minh mở đầu bằng tiếng Pháp:

“Một bên là Hoa Kỳ, cường quốc quân sự mạnh nhất mọi thời đại. Từ năm 1965, khi chiến tranh bắt đầu leo thang, người Mỹ đã ném hơn một triệu tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam, vượt xa lượng bom rơi xuống nước Đức trong Thế chiến thứ hai. Một quốc gia với 200 triệu dân, chi tiền cho giấy gói quà còn nhiều hơn 500 triệu người Ấn Độ chi cho thực phẩm, dĩ nhiên chẳng thiếu nguồn lực cho quân đội. Mỗi sáng trên vịnh Bắc Bộ, các tàu sân bay của Hạm đội 7 lại chất đầy bom đạn. Đó là cuộc chiến của kẻ giàu. Ở phía bên kia chiến tuyến là cuộc chiến của kẻ nghèo, của 17 triệu người dân miền Bắc cùng đồng bào miền Nam đang chiến đấu vì độc lập. Họ nghèo nhất nhưng không hề yếu nhất. Họ ít người nhất, nhưng chẳng hề cô độc nhất.”
 

Phân cảnh từ phim.

Những thước phim đã lột tả sự tương phản này một cách trần trụi: nước Mỹ với những con tàu ăm ắp khí tài, phô diễn sức mạnh cơ giới áp đảo để làm chủ biển khơi; và ngay ở khung hình kế tiếp, bóng dáng người Việt hiện lên giữa những cánh đồng, mình khoác lá ngụy trang để hòa vào thiên nhiên, biến chính mảnh đất quê hương thành tấm khiên che chở. Thông điệp hiện ra rất rõ ràng: đây là một cuộc chiến không cân sức. Thế nhưng, cái bất công nghiệt ngã nhất lại nằm ở mục đích của cuộc chiến, như lời thuyết minh diễn tả: miền Bắc Việt Nam chiến đấu để giành lấy “quyền được kiến tạo của người nghèo, vì sự tiến bộ, vì một xã hội không dựa trên lợi ích của kẻ giàu,” còn Mỹ chiến đấu chỉ để “chứng minh cho thế giới thấy rằng mọi cuộc cách mạng chỉ dẫn đến ngõ cụt.”

Sự chênh lệch quá lớn về nguồn lực đã bóc trần tính chất tàn khốc của cuộc xâm lược. Điều này được thể hiện rõ qua góc nhìn của Joris Ivens, vị đạo diễn vừa ra mắt một bộ phim tài liệu tiếng tăm về miền Bắc bấy giờ. Trong chương đầu mang tên ‘Bomb Hanoi’ (Đánh bom Hà Nội), ông ghi lại cảnh những hầm trú ẩn mà người dân thủ đô dựng lên để đối phó với các đợt oanh tạc triền miên. Đó là những chiếc hầm bê tông đúc sẵn, chôn dọc đường để người dân có thể ẩn nấp nhanh chóng ngay khi tiếng còi báo động vang lên.

Ivens bắt trọn vẻ bình thản đến kinh ngạc trên đường phố Hà Nội: “Khi sống cùng họ, ta cũng trở nên bình thản như họ và tin chắc vào thắng lợi.” Vẻ thản nhiên ấy khiến người xem không khỏi xót xa, bởi nó chỉ là khoảng lặng ngắn ngủi trước cơn bão tố hiện hình ngay khung hình kế tiếp. Tiếng còi hú bất thần xé toạc bầu không khí, khiến dòng người vội vã tìm nơi trú ẩn. Thế nhưng, ngay trong cảnh hỗn loạn đó, vẫn có những bóng người thong dong bước đi trên phố.

Trẻ em chơi đùa bên hầm trú bom ở Phố Cổ, tháng 5/1968. Ảnh chụp bởi Sommer Mark.

Thước phim của Ivens phác họa một cuộc đối đầu không cân sức. Nước Mỹ với những con tàu đầy ắp vũ khí, phô diễn sức mạnh của một đế quốc công nghiệp. Và ở phía ngược lại, dù đối phương có sức mạnh áp đảo, tinh thần kiên cường của con người vẫn là chìa khóa để giành chiến thắng. Phần thuyết minh nhấn mạnh thông điệp này: “Phía Mỹ hoàn toàn mù tịt về đối thủ của mình. Xã hội Mỹ vận hành theo nguyên tắc: kẻ nghèo nhất luôn là kẻ kém cỏi nhất. Họ không hiểu rằng chính sự nghèo khó có thể tạo nên một sức mạnh tinh thần vượt trội so với kẻ xâm lược giàu có.”

Muôn sắc thái phản ứng

Để thể hiện sức ảnh hưởng của cuộc chiến với công dân toàn cầu, Loin du Vietnam còn lồng ghép những thước phim bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. William Klein đã đem đến một góc nhìn về cuộc chiến thông qua cảm xúc của con người. William Klein chọn lột tả cuộc chiến qua những rung cảm trần trụi của con người. Vốn là một tay máy đường phố lừng danh, ông vận dụng phong cách direct cinema (điện ảnh trực tiếp), dùng máy quay cầm tay và thiết bị thu âm linh động để bắt trọn những cảm xúc nguyên bản trong các cuộc biểu tình.

William Klein.

Vì là công dân Mỹ duy nhất trong nhóm lúc đó, Klein có thể tự do đi lại và quay phim mà không bị quấy rầy. Những thước phim ông ghi lại tại Phố Wall ngày 1/5 trong chương ‘A Parade is a Parade’ (Diễu hành là diễu hành) đã mang đến những lát cắt đa diện cho bộ phim. Giữa khu tài chính New York sầm uất, dòng người tuần hành chống chiến tranh giương cao biểu ngữ: “Kẻ giàu cứ giàu thêm, còn bạn thì phải đi lính.” Klein tiến xa hơn khi len lỏi vào giữa hai phe: một bên là người biểu tình, một bên là đám đông môi giới chứng khoán đang la ó, gào thét đòi “đánh bom Hà Nội.”

Không dừng lại ở việc quan sát, Klein còn trực tiếp khơi mào cho những cuộc tranh luận nảy lửa. Chương cuối mang tên ‘Vertigo’ (Chao đảo) đã khắc họa rõ vai trò này khi xoáy vào cuộc tuần hành khổng lồ do Martin Luther King dẫn dắt vào tháng 4/1967. Quy tụ hơn nửa triệu người từ đủ mọi tầng lớp đổ về Liên Hợp Quốc, đây là cơ hội để vị đạo diễn châm ngòi cho những cuộc đối thoại gay gắt. Klein lên án chiến tranh bằng cách kích thích tranh luận, với niềm tin rằng vì cuộc chiến này quá phi lý và bất công, lý tưởng của ông cuối cùng sẽ chiến thắng.

Ảnh được chiếu trong phim, chụp trong cuộc biểu tình phản chiến ngày 15/4/1967 tại New York.

Cuộc chiến phân cực trong một thế giới đa cực 

Dù nhìn nhận đây là một cuộc can thiệp phi nghĩa của Mỹ, Loin du Vietnam không hề đơn giản hóa vấn đề mà đặt chiến tranh Việt Nam vào một bối cảnh địa chính trị lắt léo.

Những lớp cắt lịch sử được bộ phim tái hiện trong chương năm mang tính diễn giải với tiêu đề ‘Flash Back’ (Hồi ức). Bắt đầu từ cuộc kháng chiến chống Pháp, chương phim không ngần ngại chỉ ra chính chủ nghĩa thực dân đã tạo tiền đề, là bàn đạp dẫn đến sự can thiệp của đế quốc Mỹ sau này. Mối liên hệ giữa hai thời kỳ xâm lược hiện lên qua các tư liệu lịch sử, nhưng lại kết thúc đầy bất ngờ bằng cảnh các nhân vật truyện tranh lao vào đánh đấm.

Lối dàn dựng này chịu ảnh hưởng rõ rệt từ phong trào Situationist International (Tình huống quốc tế), một phong cách đang rất thịnh hành lúc bấy giờ. Nhóm nghệ sĩ tiên phong và những người cánh tả này có thủ pháp đặc trưng là le détournement: họ mượn hình ảnh từ truyện tranh, quảng cáo hay phim ảnh rồi đặt vào những ngữ cảnh hoàn toàn khác để giễu nhại xã hội tư bản và chủ nghĩa tiêu dùng vô độ.

Ấn phẩm thuộc phong trào Situationist International (Tình huống quốc tế) vận dụng thủ pháp détournement. Nội dung của Raoul Vaneigem, minh họa bởi André Bertrand, 1967. Một trang truyện tranh trào phúng phê phán việc biến văn hóa thành món hàng trong xã hội tư bản.

Sử dụng một trào lưu chính trị ngách như vậy, bộ phim cho thấy nhãn quan của nhóm trí thức Pháp theo khuynh hướng Marxist, những người vốn có tiếng nói khá tách biệt với công chúng. Góc nhìn của họ là một phần không thể thiếu trong dư luận phương Tây thời bấy giờ, dù chưa thể đại diện cho toàn bộ tư tưởng xã hội. Đa số nhóm này đã phản đối chủ nghĩa đế quốc ngay từ thời thực dân Pháp; trong khi với đa số người dân Pháp, làn sóng chống chiến tranh chỉ thực sự lan rộng khi Mỹ đổ quân trực tiếp vào Việt Nam.

Chuyển biến trong nhận thức xã hội hiện rõ qua các con số. Trong một cuộc khảo sát vào tháng 1/1948, khi được hỏi về những sự kiện tiêu biểu của năm cũ, người dân Pháp dửng dưng với chiến tranh Đông Dương đến mức nó bị xếp vào mục “khác” với vỏn vẹn 6%. Thế nhưng đến năm 1966, cục diện đã đảo ngược hoàn toàn khi có tới 41% người được hỏi phản đối sự can thiệp của Mỹ, cao gấp bốn lần so với tỷ lệ 10% đồng thuận.

Mạch phim chuyển sang những sắc thái trừu tượng trong chương ‘Claude Ridder’ của đạo diễn Alain Resnais. Thay vì những thước phim tài liệu trực diện, Resnais khắc họa một trí thức tư sản Pháp hư cấu và nỗi giằng xé khi ủng hộ cuộc chiến của người Việt. Nhân vật này, vốn được xây dựng để gây khó chịu, đã bộc bạch những mâu thuẫn nội tâm đầy nghiệt ngã. Anh ta khao khát ủng hộ người Việt Nam hết lòng, nhưng lại bất lực trong việc thấu cảm hoàn toàn với họ. Sự bế tắc ấy được anh lý giải bằng chính trải nghiệm trong hàng ngũ Kháng chiến chống phát xít ở Thế chiến thứ hai:

“Người Đức là những con quái vật, điều đó không có gì phải bàn cãi. Tôi vẫn thấy sợ hãi mỗi khi nghe tiếng Đức. Rồi tôi nhớ lại những ngày cuối cùng, khi chúng tôi gặp một sư đoàn thiết giáp Mỹ gần một ngôi làng nhỏ. Những chiếc Jeep, pháo hạng nặng, xe tăng và cả kẹo cao su của năm 1944. Khi ấy chúng tôi đã rất hạnh phúc khi thấy họ đến. Suy cho cùng, chúng tôi không có đạn dược, và tôi nợ người Mỹ mạng sống này. Tôi sẽ luôn yêu quý họ. Cho đến tận cuối đời, tôi vẫn sẽ căm thù người Đức và yêu quý người Mỹ. Chỉ có điều, giờ đây người Mỹ lại chính là ‘người Đức’ của người Việt Nam. Mọi thứ trở nên thật phức tạp.”

Một khung hình trong chương ‘Claude Ridder’ của Alain Resnais. Nhân vật hư cấu này cũng xuất hiện trong bộ phim Je t’aime, je t’aime (1968) của cùng đạo diễn.

Trong mắt nhân vật này, việc một người Pháp xuống đường biểu tình sau một lịch sử thực dân dài đằng đẵng là hành động cận kề đạo đức giả. Anh thấy những lời phản kháng từ bên kia đại dương trở nên vô nghĩa trước máu xương đang đổ xuống nơi chiến trường. Thậm chí, anh còn tự vấn vì sao chỉ tập trung vào Việt Nam mà bỏ quên bao dân tộc khác cũng đang gánh chịu bạo lực. Những trăn trở đó dồn nén thành một cảm giác bất lực, lương tâm không cho phép anh lờ đi, nhưng bản thân lại thấy mình hoàn toàn thiếu hụt tư cách lẫn công cụ để đối diện với vấn đề.

‘Claude Ridder’ vì thế trở thành chiếc gương phản chiếu thế lưỡng nan của những người làm phim. Qua nhân vật này, các đạo diễn bộc bạch nỗi lòng của chính mình. Họ khao khát ghi lại cuộc chiến một cách chân thực nhất, nhưng muốn vậy, trước hết họ buộc phải lùi lại để tự vấn về cách bản thân đang quan sát và hình dung về cuộc chiến đó.

Để cuộc chiến ‘xâm chiếm’ tâm trí

Sự hiện diện của nhân vật Claude Ridder đã khơi lên những trăn trở về vai trò của người ngoài cuộc giữa tâm bão chiến tranh. Nghệ thuật phải làm sao để chạm tới một đề tài phức tạp đến thế? Chính nhu cầu duy trì một khoảng cách tỉnh táo để soi xét vị thế cá nhân đã dẫn dắt bộ phim tới tầng sâu nhất. Jean-Luc Godard nỗ lực tìm lời giải cho câu hỏi này trong chương ‘Camera Eye’ — khán giả chỉ còn nghe thấy tiếng ông độc thoại. Những khung hình đầu tiên có phần lạ lẫm: ông đứng sau một chiếc máy quay khổng lồ che khuất gần hết gương mặt. Nhưng thông điệp lại hiện lên rõ ràng: với tư cách một đạo diễn Pháp, vì sao việc lên tiếng phản đối cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam lại quan trọng đến thế?

Jean-Luc Godard

Godard mở đầu bằng cách liệt kê những gì ông dự định ghi lại nếu có cơ hội đặt chân đến Việt Nam: từ sức công phá của bom bi lên cơ thể con người cho đến sự tàn khốc của chất độc màu da cam. Thế nhưng, những dự định đó mãi nằm trên trang giấy. Godard kể rằng ông từng xin phép chính quyền Hà Nội để đến tác nghiệp nhưng bị từ chối. Ông nhắc lại chuyện này với thái độ khiêm nhường, nhưng đâu đó vẫn phảng phất nỗi tiếc nuối, thừa nhận rằng mình hoàn toàn đồng tình với sự khước từ ấy. Bởi lẽ, với ông khi đó, lòng trắc ẩn mà thiếu đi trải nghiệm thực tế chỉ là một sự “hào phóng giả tạo.” Lời nói chẳng thể có sức nặng khi người ta đứng ngoài cuộc: “Thật khó để nói về những quả bom khi chúng chẳng hề rơi xuống đầu mình.”

Từ chiêm nghiệm ấy, ông chọn cách “để Việt Nam xâm chiếm tâm trí.” Ở đây, Việt Nam không còn là một quốc gia xa xôi trên bản đồ, mà đã hóa thành biểu tượng cho tinh thần phản kháng. Ông hiểu rằng cuộc chiến này không phải là một sự kiện tách biệt, mà là một phần của dòng chảy chung trên toàn thế giới. Khi nhiều quốc gia cũng đang phải đối mặt với chủ nghĩa đế quốc, Việt Nam trở thành hiện thân của lòng kiên cường, đúng lời Fidel Castro được đạo diễn trích dẫn, rằng chúng ta phải “tạo ra hai, ba, thật nhiều Việt Nam.”

Tâm thế ấy chính là nỗ lực tự tạo ra một “Việt Nam” bên trong mỗi người, và học cách kháng cự những áp bức bủa vây mình. Với riêng Godard, đó là cuộc chiến chống lại sức ảnh hưởng của nền kinh tế và thẩm mỹ điện ảnh Mỹ, thứ mà ông cho là đã làm tha hóa diện mạo điện ảnh toàn cầu. Là một nhà làm phim, ông quan niệm việc “để Việt Nam xâm chiếm” còn là không ngừng nhắc về Việt Nam trong các tác phẩm khác, như một cách lan tỏa biểu tượng của tinh thần bất khuất.

Một đoạn phỏng vấn Fidel Castro xuất hiện trong phim.

Dài 11 chương với vô vàn góc nhìn về một trong những cuộc chiến lớn nhất thế kỷ, Loin du Vietnam từng có một số phận đầy thăng trầm. Những buổi công chiếu ít ỏi đã sớm bị dập tắt bởi các cuộc biểu tình của phe cực hữu và những lời đe dọa đánh bom. Dù đã được phục chế cách đây khoảng 10 năm, bộ phim vẫn nằm ngoài vùng nhận thức của số đông và rất khó để tìm xem. Giờ đây, 6 thập kỷ sau ngày ra mắt, dù cuộc chiến đã được mổ xẻ qua vô số sản phẩm truyền thông, tiếng chuông cảnh tỉnh chống lại sự bạo tàn trong Loin du Vietnam vẫn vẹn nguyên giá trị. Không chỉ là một bộ phim tài liệu, tác phẩm còn là những suy ngẫm sâu sắc về sự áp bức toàn cầu và cách nó tác động đến toàn xã hội của chúng ta.

Loin du Vietnam hiện đang được đăng tải toàn bộ trên YouTube.

]]>
info@saigoneer.com (Tom Phạm. ) Màn Ảnh Fri, 24 Apr 2026 13:00:00 +0700
Tết Thanh Minh, người Dao Chàm Quản Bạ xuống suối bắt cá dâng lên tổ tiên https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17518-tết-thanh-minh,-người-dao-chàm-quản-bạ-xuống-suối-bắt-cá-dâng-lên-tổ-tiên https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17518-tết-thanh-minh,-người-dao-chàm-quản-bạ-xuống-suối-bắt-cá-dâng-lên-tổ-tiên

Hàng năm, vào dịp Tết Thanh Minh, người Dao Chàm ở Nặm Đăm, Quản Bạ lại tổ chức hội bắt cá. Cá sau khi bắt được chia đều cho các hộ trong làng làm mâm cơm dâng lên tổ tiên và thần linh để cảm tạ, đồng thời cầu cho một năm mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, cuộc sống no đủ.

Nặm Đăm là một thôn thuộc xã Quản Bạ, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang, cách thành phố Hà Giang khoảng 50 km. Nằm nép mình trong thung lũng yên bình dưới chân núi, Nặm Đăm là nơi sinh sống của người Dao Chàm, dân tộc có dân số đông thứ hai tại huyện Quản Bạ.

Trước khi lễ hội bắt cá diễn ra, một đoàn rước lễ từ đầu làng lên miếu Đội 1 để thực hiện nghi thức cúng.

Người Dao quan niệm, khi con người sống hòa hợp, tôn trọng tự nhiên, các vị thần cai quản tự nhiên sẽ bao bọc, che chở, mang đến cho họ cuộc sống bình an, no đủ. Vì vậy, trong đời sống tín ngưỡng, người Dao ở Hà Giang ngoài thờ cúng tổ tiên còn thờ thần như thần thổ công, thần bếp, thần gia súc gia cầm; các vị thần cai quản tự nhiên (thần mưa, thần nước, thần đất, thần gió); và các vị thần nông nghiệp (thần rừng, thần nương).

Tọa lạc ở cửa ngõ của cao nguyên đá, Nặm Đăm được thiên nhiên ưu ái ban tặng cảnh sắc yên bình với những cánh rừng già bao bọc xung quanh, khí hậu mát mẻ quanh năm. Làng cũng có nhiều dòng suối chảy qua, nhiều hồ nước xanh mát. Người dân nơi đây xem hồ Nặm Đăm là "hồ thiêng" mang đến nguồn nước tưới mát ruộng nương, giúp cho vạn vật sinh sôi, tươi tốt.

Nghi thức cúng do ông Lý Đại Thông, một người có uy tín trong làng, thực hiện.

Người lớn tuổi trong làng nói rằng, người Dao nơi đây có truyền thống nuôi cá ở hồ Nặm Đăm trong suốt một năm và chờ đến Tết Thanh Minh (mùng 3 tháng 3 âm lịch) để mở hội bắt cá dâng lên tổ tiên, cảm tạ trời đất, thần linh đã phù hộ, giúp mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Vì là sản vật để dâng lên tiền nhân nên bầy cá được chăm sóc và bảo vệ rất cẩn thận. Làng quy định trong suốt 12 tháng đó, không ai được câu cá trong hồ, nếu vi phạm bị phát hiện sẽ chịu phạt rất nặng.

Không biết tục lệ bắt cá đã hình thành từ khi nào, nhưng cho đến ngày nay, cứ vào dịp Tết Thanh Minh, trong mâm cơm cúng ông bà của người Dao Chàm Quản Bạ luôn có món cá. Truyền thống này được duy trì như một nét đẹp trong tín ngưỡng, thể hiện lối suy nghĩ, tinh thần nhân văn của người Dao. Đó là lòng biết ơn tổ tiên, là sự tôn kính đối với các vị thần tự nhiên đã luôn phù hộ, chở che họ.

Mâm lễ có rượu, trái cây, xôi ngũ sắc, gà, thịt…

Lễ hội bắt cá được tổ chức hàng năm ở Nặm Đăm, ngoài ý nghĩa tâm linh sâu sắc, còn là dịp để người dân trong làng có dịp vui chơi tăng cường gắn kết. Trước khi các đội bắt đầu xuống suối bắt cá, từ 8 giờ sáng, một đoàn rước lễ đi từ đầu làng đến miếu Đội 1 để cúng. Miếu đội 1 nằm trên một gò đất cao, gần một hồ nước. Mâm lễ gồm xôi ngũ sắc, thịt, gà, rượu, v.v. Nghi thức cúng do ông Lý Đại Thông, một người có uy tín trong bản, thực hiện.

Năm nay, lễ hội bắt cá của người Dao Chàm Quản Bạ là cuộc so tài giữa hai đội Nặm Đăm và Chúc Sơn. Buổi sáng hôm đó, thời tiết ủng hộ, trời ấm áp, nắng không gắt và nước suối không quá lạnh nên gương mặt ai cũng rạng rỡ.

Sau nghi thức cúng, hội thi chính thức diễn ra ở suối Nặm Đăm.

Mỗi đội thi gồm 10 người đã được ban tổ chức chia trước đó. Cá, chủ yếu là cá rô, cũng được mang từ hồ thả vào suối ngày hôm trước. Người tham gia mặc trang phục truyền thống màu chàm. Phụ nữ đội nguyên khăn vấn đầu với những sợi chỉ thêu nhiều màu sắc. Hai đội phân biệt bằng màu ruy-băng quấn trên đầu. Đội Nặm Đăm màu đỏ, đội Chúc Sơn màu xanh. Theo luật, người tham gia bắt cá bằng tay và bỏ vào thùng của mỗi đội đặt trên bờ suối. Trong 30 phút, đội nào bắt được nhiều cá hơn là đội chiến thắng. Những người bắt được cá to nhất, đẹp nhất cũng được cho là sẽ gặp nhiều may mắn trong cuộc sống.

Người dân hai thôn tập trung rất đông dọc bên đường để cổ vũ.

Hiệu lệnh từ trọng tài báo hiệu cuộc tranh tài bắt đầu. Tiếng hò reo cổ vũ từ bờ suối vang vọng từ tứ phía. Nhanh nhất có thể, những người tham gia khẩn trương lao xuống nước. Những tia nước bắn lên tung tóe, lung linh như pha lê. Thoắt một cái, ai nấy đều đã ướt hết từ đầu đến chân. Họ ngụp lặn, tay liên tục mò mẫm, mắt láo liên quan sát. Chỉ trong khoảng 3 phút đầu tiên của cuộc tranh tài, anh Lý Tà Sàng (thôn Nặm Đăm) đã tìm thấy con cá đầu tiên trong tiếng vỗ tay tán dương của cả làng. Theo luật chơi, người bắt được cá đầu tiên sẽ có phần thưởng riêng.

Người tham gia mặc trang phục truyền thống, áo quần tông chàm đen, khăn vấn đầu của phụ nữ có dây thêu nhiều màu sắc. Hai đội phân biệt bằng màu ruy-băng quấn trên đầu. Theo đó, đội Nặm Đăm màu đỏ, đội Chúc Sơn màu xanh.

Mực nước suối ngang người nên việc di chuyển của người chơi tương đối khó khăn. Ngoài ra, vì suối nhiều nước, nhiều đá, không như ở hồ, lại bắt cá bằng tay không nên cá dễ luồn lách. Đây là một thách thức lớn với hầu hết những người chơi. Thế nhưng, với sự khéo léo, hầu như ai cũng bắt được cá. Cứ chốc chốc lại có tiếng hô to lên khiến mọi người đồng loạt ngoái lại nhìn. Cá được nắm chặt trong lòng bàn tay giơ lên cao như một động tác khoe kết quả trong niềm vui sướng và tự hào khôn xiết.

Anh Lý Tà Sàng là người bắt được con cá đầu tiên tại hội thi.

Sau 30 phút cực kỳ sôi nổi, kim đồng hồ điểm hết giờ, trọng tài đếm ngược 10 giây cuối cùng, người chơi tiến về bờ trong bộ áo quần ướt sũng. Cá trong thùng của hai đội được tiến hành cân để xác định đội chiến thắng. Chung cuộc, đội Nặm Đăm với khối lượng cá lớn hơn giành giải nhất.

Sau hội thi, cũng như những ngày sau đó, người làng cũng xuống ao bắt cá. Cá bắt lên được chia cho tất cả các hộ trong làng. Những con cá to nhất, đẹp nhất được bà con làm cơm cúng tổ tiên vào Tết Thanh Minh và rằm tháng 3 âm lịch.

Mực nước suối ngang nửa người. Thời tiết buổi sáng diễn ra hội thi khá ấm áp tạo thuận lợi cho người chơi. Tuy nhiên, suối nhiều nước, cá dễ luồn lách. Người thi phải ngụp lặn và chú ý quan sát để bắt được cá.

Niềm vui sướng của người tham gia khi bắt được cá.

Cá được bắt trong hội thi chủ yếu là cá rô, được nuôi ở hồ Nặm Đăm 1 năm.

Người bắt được cá phải cho cá vào thùng của mỗi đội đặt trên bờ suối.

Sau 30 phút tranh tài, hai đội tiến hành cân cá để xác định đội thắng cuộc.

Ghi lại kết quả cân cá. 

Bài viết đăng tải lần đầu vào năm 2023.

]]>
info@saigoneer.com (Xuân Phương. Ảnh: Xuân Phương.) Văn Hóa Wed, 22 Apr 2026 11:00:00 +0700
Saigoneer’s Pick: Nhà Saigoneer đọc gì vào Ngày Sách Việt Nam? https://saigoneer.com/vn/literature/18109-saigoneer’s-pick-nhà-saigoneer-đọc-gì-vào-ngày-sách-việt-nam https://saigoneer.com/vn/literature/18109-saigoneer’s-pick-nhà-saigoneer-đọc-gì-vào-ngày-sách-việt-nam

Cứ đến trung tuần tháng 4 mỗi năm, chúng ta lại bắt gặp nhiều cuộc thảo luận sôi nổi về sách trên các diễn đàn và không gian cộng đồng.

Điều này không phải ngẫu nhiên, bởi ở Việt Nam, ngày 21/4 được chọn làm Ngày Sách và Văn hóa đọc để kỷ niệm cột mốc xuất bản cuốn Đường Kách mệnh năm 1927, đồng thời cũng nhằm hưởng ứng Ngày Sách và Bản quyền Thế giới ngay sau đó (23/4). Tại vùng Catalonia (Tây Ban Nha), nơi khởi nguồn của ngày lễ này, người dân thường tặng nhau sách và hoa hồng.

Tại Saigoneer, thay cho hoa, các thành viên của đội ngũ muốn chia sẻ với bạn vài tựa sách mà chúng tôi tâm đắc. Từ thơ đến tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, đây là những tác phẩm đã ít nhiều để lại dấu ấn trong cách chúng tôi nhìn nhận thế giới xung quanh cũng như trong thực hành chuyên môn. Hy vọng qua những chia sẻ này, bạn đọc cũng sẽ tìm thấy một gợi ý phù hợp để làm đầy thêm kệ sách cá nhân.

Những miền quê trong thơ Việt | Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ tuyển chọn

Gợi ý bởi: Khôi Phạm | Tổng biên tập

Thể loại: Thơ

Mô tả nhanh: Những miền quê trong thơ Việt là tuyển tập thơ gồm 36 bài do 34 tác giả viết, được hai nhà phê bình Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ lựa chọn kỹ lưỡng và viết lời bình. Ở đây, độc giả có thể bắt gặp những cái tên quen thuộc trong làng thi ca Việt Nam, như Phan Thị Thanh Nhàn, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, bên cạnh một vài cây bút trẻ. Sự đa dạng, cả về chủ đề, thể loại, và địa danh, đem đến một bức tranh thiên nhiên, con người nước ta kỳ diệu, giàu cảm xúc, vừa quen lại vừa lạ.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Là đứa con Việt Nam, nhiều lúc tôi bất giác cảm thấy xấu hổ, vì còn quá nhiều ngóc ngách trên khắp đất nước mà mình vẫn chưa đặt chân tới, hay thậm chí biết đến. Quanh đi quẩn lại, những Đà Lạt, Hà Nội, Nha Trang, Đà Nẵng vẫn hiện lên thường trực trên tấm vé máy bay cầm trên tay qua mỗi năm. Tôi đến Huế lần đầu tiên năm… 32 tuổi, choáng ngợp bởi cảnh trí, con người, bề dày lịch sử nơi đây, và tự vấn rằng sao mình đã không đến đây sớm hơn. Tuyển tập thơ này có lẽ đã được gọt đẽo qua bàn tay của Nguyễn Hoài Nam và Đỗ Anh Vũ vừa vặn cho những ai như tôi, luôn loay hoay tìm cách đắm mình vào những cảnh đẹp bị bó buộc trong màn hình điện thoại chật hẹp.

Từng thước phim, ảnh chụp đẹp luôn cũng là một cách trực quan để thưởng thức một địa danh, nhưng thơ ca lại có một khả năng độc đáo giúp ta kết nối với những nơi chốn ấy qua chính tình cảm và nhân sinh quan của tác giả. ‘Giời mưa ở Huế’ (Nguyễn Bính) khiến tôi trở lại phút giây đi bộ một mình qua cầu Trường Tiền, hay chênh vênh qua Đập Đá. ‘Có một phố vừa đi qua phố’ (Đinh Vũ Hoàng Nguyên) là áng thơ tự do đem lại một Hà Nội thổn thức nhịp điệu phố thị-làng quê. Trong xã hội ngày càng gấp gáp, phân mảnh sự chú ý của chúng ta, có lẽ một tuyển tập thơ sẽ là trạm nghỉ rất thiết thực. Nếu không có thời gian cho cả tiểu thuyết, dành dăm phút mỗi ngày để đọc một bài thơ, ta đã được du ngoạn khắp Việt Nam trong tâm trí chỉ trong 36 ngày.

Sống | Hải Anh, Pauline Guitton

Gợi ý bởi: Dương Trương | Thiết kế đồ họa

Thể loại: Tiểu thuyết đồ họa

Mô tả nhanh: Sống là cuộc trò chuyện xuyên thời gian giữa một người mẹ và cô con gái. Qua những lời kể, ký ức về quãng thời gian bà sống tại chiến khu từ năm 1969 đến 1975 dần hiện lên. Hai tuyến thời gian đan cài vào nhau: một bên là người mẹ ngày trẻ cố gắng thích nghi với cuộc sống kháng chiến khắc nghiệt, một bên là cô con gái hiện đại đang nỗ lực kết nối để hiểu về mẹ và nguồn cội của mình.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Tôi tình cờ thấy cuốn này khi đi dạo ở Reading Cabin. Thứ đầu tiên khiến tôi chú ý chính là phần bìa và nét vẽ. Lúc đầu, tôi khá ngạc nhiên vì phong cách minh họa trông rất “Tây” nhưng bối cảnh và nhân vật lại thuần Việt.

Cách kể chuyện của sách khá liền mạch, có thể đọc một lèo theo mạch cảm xúc của nhân vật chứ không bị cảm giác ngắt quãng giữa các chương. Dưới góc độ của một họa sĩ, tôi thích cách kể chuyện bằng hình ảnh này vì nó giúp tôi hình dung về lịch sử một cách trực quan và sống động hơn.

Cuốn sách khiến tôi thêm trân trọng những người đã đi qua gian truân của thời kỳ kháng chiến. Họ phải đối mặt với những khó khăn ngày nay ít ai nhắc đến, như chuyện vệ sinh kinh nguyệt của phụ nữ trong rừng hay việc học cách nấu ăn dù thiếu thốn đủ thứ dụng cụ. Đặc biệt, tôi thấy rất gần gũi mấy lúc cô con gái hỏi ngược lại mẹ: “Tại sao lúc đó mẹ không làm thế này hay thế kia?” Đó cũng là cách những người trẻ như tôi vẫn thường trò chuyện với ba mẹ mình bây giờ.

Thơ | Trần Dần

Gợi ý bởi: Phương Quỳnh | Thực tập sinh biên tập

Thể loại: Thơ, đoản văn

Mô tả nhanh: Như tựa đề, Thơ của Trần Dần là tổng hợp những bản di cảo của ông trong một đời sáng tạo. Thơ hay đoản văn của Trần Dần đều trao đổi được cho nhau, nghĩa là trong văn có thơ và thơ dàn được thành văn. Độc giả cũng có thể bắt gặp những câu ngắn riêng lẻ trong tuyển tập, không biết nên xếp vào thơ hay văn, nhưng thực ra với tác giả cũng không quan trọng lắm. Toàn bộ di cảo chỉ là một cuộc dạo chơi với chữ và nghĩa. Tác giả là người chơi với thời cuộc, với đời.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Học thơ trong chương trình giáo dục công, chúng ta đều biết tới luật bằng trắc và các thể thơ Đường nghiêm khắc. Đến thời thơ mới, thơ đã rũ bỏ luật lệ mà thỏa thích cho mình muốn viết thế nào cũng được miễn nói lên được tư tưởng tình cảm độc đáo. Sau đấy nữa, văn thi nhân chuyển hướng sang thơ cách mạng, chuyển cái niềm “tôi” mới chớm nở ấy thành cái “ta.” Giữa thời cuộc đạn lửa, Trần Dần một mình một hướng xoáy sâu vào cái “tôi.” Ông viết về những mảnh gương trong nội tâm con người, riêng lẻ như thể trong ông có cả triệu cái tôi mà không mảy may dính líu tới chút cái ta nào. Phạm Thị Hoài cho rằng ông như “vật lộn với thời đại.”

Sở dĩ tôi chọn tác phẩm này là để không chỉ giới thiệu một tập thơ mới, mà là giới thiệu một cách tiếp cận thơ mới. Thơ có thể tự do đến mức nào, liệu ta có thể chế cháo một từ chưa ai dùng không, ta có thể nhặt chữ từ văn bản để xếp thành thơ không? Ở đây, tác giả làm tất cả. Ông dùng những chữ không có trong bảng chữ cái tiếng Việt như “J,” những vần như “oạcx,” những từ không biết nghĩa là gì như “kilomơr,” “nghĩa qoèn.” Tóm lại, đây là một ngõ cụt cho những người luôn cố giải thích ý đồ tác giả, và là một miền vô tận cho những ai chọn lắng nghe cảm nhận của mình.

Cuộc chiến với hành tinh Fantom | Nguyễn Bình

Gợi ý bởi: Jimmy | Nhà sản xuất

Thể loại: Khoa học viễn tưởng

Mô tả nhanh: Đây là một cuốn tiểu thuyết viễn tưởng đặc biệt của Việt Nam, được viết bởi tác giả Nguyễn Bình khi bạn ấy mới chỉ 10 tuổi. Câu chuyện kể về một nhóm bạn nhỏ tình cờ phát hiện ra những người ngoài hành tinh có liên quan mật thiết đến các sự kiện lớn trong lịch sử thế giới. Bằng trí tưởng tượng phong phú, tác giả nhí đã lý giải những cột mốc lịch sử theo một cách mới lạ và đầy kịch tính.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Tôi đọc cuốn này từ hồi còn nhỏ. Lúc đó, tôi luôn nghĩ tiểu thuyết phải là thứ gì đó do những người rất giàu kinh nghiệm viết ra, nên khi biết tác giả chỉ lớn hơn mình đúng 1 tuổi, tôi đã thấy rất nể và tò mò. Cuốn sách đã thỏa mãn trí tưởng tượng của tôi lúc nhỏ về cách thế giới này vận hành thông qua những yếu tố viễn tưởng.

Văn phong của sách rất gần gũi, đúng kiểu một đứa trẻ viết nên dễ cảm, nhưng dù người lớn đọc thì vẫn sẽ thấy có những góc nhìn thú vị.

Trong công việc làm phim hay xây dựng kịch bản, tôi thấy cuốn sách này gợi mở một cách tư duy hay, là dùng sự viễn tưởng để lấp đầy những khoảng trống mà thực tế chưa giải thích được. Nó cho tôi thấy rằng có rất nhiều cách để giải quyết một vấn đề, và đôi khi câu trả lời lại đến từ những nơi mình không ngờ tới. Đôi khi mình phải bứt phá ra khỏi những khuôn mẫu cũ để tìm thấy những ý tưởng mới.

Tiếng Việt giàu đẹp | Nhiều tác giả

Gợi ý bởi: Uyên Đỗ | Biên tập viên

Thể loại: Biên khảo

Mô tả nhanh: Tiếng Việt giàu đẹp là tuyển tập những công trình nghiên cứu ngôn ngữ học, dẫn dắt bạn đọc khám phá những địa hạt quen thuộc nhưng không phải lúc nào cũng được thấu hiểu ngọn nguồn của tiếng Việt.

Qua góc nhìn của các bậc trí giả cùng những cây bút nặng lòng với chữ nghĩa, bộ sách mở ra một thế giới ngôn từ đầy biến hóa và giàu bản sắc. Đó là hành trình đi tìm lời giải cho những thắc mắc về nếp nói, nếp nghĩ của người Việt trên khắp mọi miền Tổ quốc.

Vì sao lại thích/Gợi ý nó: Là người làm công việc viết lách, tôi xem Tiếng Việt giàu đẹp là nguồn tư liệu quý để soi chiếu lại cách bản thân dùng tiếng mẹ đẻ. Điều tôi trân trọng nhất là dù mang tính hàn lâm, bộ sách này vẫn tương đối dễ tiếp cận nhờ lối diễn giải dí dóm, không hề đóng khuôn ngôn ngữ vào những quy tắc khô khan.

Tôi thích cách Giáo sư Nguyễn Đức Dân “minh oan” cho những từ vốn bị coi là thừa thãi trong Nỗi oan thì, là, mà, hay cách cố Giáo sư Hoàng Tuệ đưa ngôn ngữ học ra khỏi giảng đường trong Cuộc sống ở trong ngôn ngữ, từ việc phân tích cái hay của lời nói thường ngày đến những đóng góp di sản của Nguyễn Trãi, Nguyễn Du.

Thay vì sa vào lối diễn đạt khiên cưỡng hay những từ ngữ hoa mỹ quá đà, tôi tìm thấy ở đây sự tinh tế và nhạy cảm cần thiết để làm nghề. Nếu không có nhiều thời gian để nghiền ngẫm trọn vẹn tất cả ấn phẩm, việc đọc các chương ngắn cũng đủ để bạn nhặt nhạnh được nhiều kiến thức thú vị và làm giàu cho vốn từ của mình.

]]>
info@saigoneer.com (Saigoneer. Ảnh bìa: Ngàn Mai.) Văn Chương Tue, 21 Apr 2026 20:38:33 +0700
Nghệ sĩ ký họa ghi lại một thập kỷ chuyển mình của Sài Gòn https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18095-nghệ-sĩ-ký-họa-ghi-lại-một-thập-kỷ-chuyển-mình-của-sài-gòn https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18095-nghệ-sĩ-ký-họa-ghi-lại-một-thập-kỷ-chuyển-mình-của-sài-gòn

Ngay giữa lòng Sài Gòn, có một góc nhỏ đã ẩn mình suốt hơn nửa thập kỷ.

Một bên là giàn hoa sử quân tử phủ kín khoảng sân, khéo léo ngăn cách và khiến người ta tạm quên đi những tiếng ồn ào từ các công trình xây dựng đang bủa vây thành phố.

Phía còn lại là một lối đi mở, chỉ cách vài bậc cầu thang từ bãi xe không biển hiệu. Bác bảo vệ lớn tuổi trông có vẻ vẫn còn ngái ngủ khi tôi ghé thăm vào cuối buổi sáng.

 Cánh cửa dẫn vào xưởng vẽ phủ kín những chữ ký lưu niệm.

“Có Richie đây không ạ?” tôi nói.

“À, Richie hả, ok, ok,” bác gật đầu rồi ra hiệu cho tôi dựng xe ngoài vỉa hè.

Ngay góc đường Pasteur và Lý Tự Trọng, bạn sẽ tìm thấy The Studio Saigon, không gian kết hợp giữa xưởng nghệ thuật và hidden bar. Đây cũng là nơi Richie Fawcett thường ngồi trên chiếc thùng đựng thiết bị DJ cũ kỹ, khom mình bên bàn vẽ với đôi găng tay đen hở ngón. Anh cầm dao trổ, tỉ mẩn chăm chút cho những bản vẽ đường chân trời Sài Gòn vốn thay đổi từng ngày. Thấy tôi xuất hiện trước cửa, anh đứng bật dậy chào đón tôi bằng nụ cười và cái bắt tay nồng hậu.

Richie Fawcett đã dành trọn một thập kỷ để vẽ về Sài Gòn.

Tôi hẹn gặp Richie để trò chuyện về tựa sách mới nhất của anh, HCMC Decacity Project, dự án nghệ thuật kéo dài một thập kỷ ghi lại diện mạo Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2013 đến năm 2023.

Lưu giữ lịch sử qua những nét vẽ phố phường

Muốn hiểu thấu cuốn sách, hãy nhìn vào hành trình của Richie qua bốn “chương” sự nghiệp. Đầu tiên là sinh viên ngành Khảo cổ học Ai Cập tại UCL, chuyên chụp ảnh xác tàu cổ dưới nước. Kế đến là nhiếp ảnh gia tại các câu lạc bộ nhạc điện tử ở London và quay phim thể thao mạo hiểm trên du thuyền. Sau đó, anh làm nhân viên pha chế phục vụ cho những người nổi tiếng tại London và Edinburgh. Năm 2011, sau một thời gian ở Hồng Kông, Richie chuyển tới Sài Gòn. Ban đầu, anh chỉ định đến để phát triển mảng nhà hàng và quán bar, nhưng duyên số đã giữ anh lại với hội họa.

Kỷ vật của “chương thứ ba” được bày trí giữa những món đồ Việt Nam.

Trong xưởng vẽ, nghệ sĩ 50 tuổi đến từ Norfolk ngồi bên phải tôi trên chiếc sofa da màu nâu, tay mở cuốn sách mới nhất đặt trên đùi. Dòng thời gian trong sách chảy xuôi, còn câu chuyện giữa chúng tôi lại tuôn ra đầy ngẫu hứng, chẳng theo trật tự nào.

Tác phẩm mở đầu và khép lại ngay tại điểm xuất phát, nơi anh bén duyên với hội họa hơn mười năm trước là khung cửa sổ tầng cao nhất của Bảo tàng Mỹ thuật nhìn xuống vòng xoay Quách Thị Trang và chợ Bến Thành. Vào những năm 2012, 2013, Richie bắt đầu với bộ ba ký họa Nhà thờ Đức Bà bằng bút chì trên giấy A5, giống hệt cách ông nội anh, cũng là một nghệ sĩ tự học, từng vẽ bằng than củi từ những năm 1930.

Richie kể về hành trình đến với nghệ thuật của mình.

Linh cảm về những cuộc đại trùng tu sắp tới đã thôi thúc Richie cầm bút. Anh dành trọn 10 năm dấn thân vào cuộc chuyển mình của Sài Gòn, miệt mài thu lượm từng mảnh ký ức để rồi gói gọn vào 150 trang sách. Ở đó hiện lên đủ mọi lát cắt, từ quan cảnh phố phường, đường chân trời, cho đến những gương mặt thân thuộc.

Bút và giấy, bạn thân của nghệ sĩ.

Dụng cụ của Richie cũng có những câu chuyện riêng. Anh dùng giấy Pháp thủ công hiệu Daler and Rowney với vân Aquafine mua tại một tiệm họa cụ địa phương. Mực Tàu được anh pha loãng từ đen tuyền sang xám nhạt, giống loại mực các thầy đồ thường dùng mỗi dịp Tết. Đây cũng là khoảng thời gian Richie cảm thấy tâm hồn nhẹ nhõm nhất. Bầu trời thành phố trong trẻo mang lại cảm giác kỳ diệu mỗi khi anh đặt bút. Anh ưu tiên dùng bút Nhật Mitsubishi với ngòi từ 0.1 đến 0.5. Richie còn có một quy ước riêng: cây bút nào quấn băng keo xanh nghĩa là còn mới, còn quấn băng vàng tức là đã dùng lâu.

Con dấu ở góc phải mỗi bức ký họa là món quà vợ anh, chị Duyên, tặng từ 3 năm trước. Cậu con trai Harry của anh cực kỳ thích món đồ này. Richie cười nói: “Thằng bé cứ thích đóng dấu ngày tháng lên khắp mọi nơi.” Logo của xưởng vẽ, thứ hiện diện khắp không gian studio, chính là biểu tượng mô phỏng hình dáng thành Bát Quái, tòa thành đầu tiên của Sài Gòn từ thế kỷ 18.

Đưa đường chân trời Sài Gòn lên mặt giấy

Hiếm ai ở Sài Gòn lại chọn cách “bộ hành” mọi nơi như Richie. Thế nhưng, chính những chuyến tản bộ dằng dặc giữa hai ca trực bar năm xưa đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho anh. Mải miết rảo bước trên cùng một con đường ngày này qua tháng nọ, Richie đủ tinh tế để thu vào tầm mắt không chỉ những tòa nhà đang vươn cao, mà cả những bóng hình già cỗi vẫn lặng lẽ bám trụ nơi vỉa hè.

Những khung cảnh thoáng qua.

“Vẽ là cách ghi chép chính xác nhất,” Richie nói. “Viết nhật ký dễ khiến ngôn từ trở nên mơ hồ, còn bức vẽ lại như một lát cắt tức thời. Tôi chọn cách khắc họa mọi thứ thật chuẩn xác để kể lại câu chuyện về những gì đang diễn ra theo đúng trình tự thời gian.”

Qua dần năm tháng, từ những bản phác bằng bút chì, anh chuyển sang kết hợp chì và mực, rồi cuối cùng là dùng bút mực hoàn toàn. Richie dần ưu tiên những ngòi bút siêu mảnh trên các tấm toan khổng lồ, mỗi tác phẩm tiêu tốn hơn trăm giờ lao động. Có thể kể đến bức vẽ tại nhà hàng Brasserie VietNam ở New York hay bức bích họa phía ngoài Lãnh sự quán Anh trên đường Lê Duẩn. Richie kể rằng bức bích họa đó từng có bảo vệ canh gác nghiêm ngặt suốt gần 1 năm trời. 

Hiện tại, tác phẩm đồ sộ nhất của anh là bức vẽ ngược sáng bằng đèn LED rộng 5 mét đặt tại Anan Saigon trên đường Tôn Thất Đạm. Chủ nhà hàng, Peter Cường Franklin, vốn là một người bạn thân thiết luôn ủng hộ Richie từ những ngày đầu gặp gỡ.

Nếu các tác phẩm trong sách vừa vặn để trưng bày trên bàn trà, thì ngoài đời, không ít bức ký họa của Richie đủ sức phủ kín cả những mảng tường lớn.

Peter Ryder, CEO của Indochina Capital, đã chọn Richie trở thành nghệ sĩ đồng hành cùng Wink Hotels. Ông đưa các tác phẩm của anh lên rèm cửa của mọi phòng nghỉ trong hệ thống khách sạn và chia sẻ: “Đây là một sự kết hợp hoàn hảo. Wink muốn phản chiếu một Việt Nam hiện đại, còn Richie lại gửi gắm cách anh cảm thụ về đất nước này lên từng mặt giấy.”

Trân trọng từng điều nhỏ bé

Xuyên suốt 10 năm Richie sống và làm việc, tôi mải miết đi tìm một bước ngoặt trong hành trình ấy. Trong quá trình ghi lại một thập kỷ mà anh miêu tả là “tàn phai và hỗn độn rực rỡ,” đâu là thời điểm quỹ đạo sự nghiệp của nghệ sĩ này bắt đầu xoay chuyển?

Đó là sau 2 năm cầm bút, khi anh đủ tự tin để rũ bỏ bút chì và chuyển hẳn sang dùng bút mực? Hay giai đoạn 2015, 2016 khi khối lượng tác phẩm tăng vọt? Có lẽ là vào năm 2018, khi anh rời bỏ công việc văn phòng để kết hôn và trở thành nghệ sĩ toàn thời gian, từ đó thu hút hàng loạt đơn đặt hàng riêng? Hay chính những đợt giãn cách vì đại dịch là lúc anh bắt đầu thử nghiệm những chủ đề mới như các thành phố châu Âu, hoặc vẽ chân dung con trai, những tác phẩm anh chỉ giữ cho riêng mình?

Một nụ cười luôn hé.

Sau khi gặp gỡ Richie và trò chuyện với những người bạn của anh, tôi nhận ra bấy lâu nay mình đã lầm. HCMC Decacity Project không đơn thuần là một dự án nghệ thuật kéo dài 10 năm như tiêu đề của nó. Đây là một tuyển tập, một tập hợp những câu chuyện tình mà Richie đã kiên nhẫn viết nên.

Anh phải lòng những mái nhà Sài Gòn, nơi phơi bày trọn vẹn mọi mảnh đối lập của đô thị. Anh say mê vòng xoay Quách Thị Trang đến mức từng ngồi bệt xuống vỉa hè dưới ánh đèn đường để kịp ghi lại khoảnh khắc người ta di dời bức tượng giữa đêm khuya. Anh yêu cả những sớm mùng một Tết được vợ chở đến Chợ Bình Tây trên chiếc xe máy, nơi anh tâm niệm rằng nếu không tìm thấy thứ mình cần ở đó thì món đồ ấy hẳn không tồn tại trên đời.

Một nét vẽ vội ngày Tết.

Và sau cùng là niềm hạnh phúc khi được làm cha. Tại xưởng vẽ, anh dựng một bàn làm việc riêng cho con, giống hệt cách người cha vốn là một thợ sửa súng của anh từng làm ngày trước. Nhờ vậy, Harry có thể ngồi ngay cạnh và chứng kiến cha mình say mê sáng tạo mỗi ngày.

“Đó chính là tuổi thơ mà tôi hằng mong muốn dành cho con mình,” Richie chia sẻ.

Hướng về tương lai

Anh chạy đua với thời gian để sáng tạo.

Sắp tới Richie sẽ làm gì? Liệu có một “chương thứ năm” với những dự định như lấn sân sang thời trang, ra mắt bộ sưu tập NFT, hay tiếp tục cuộc đua với thời gian để lưu giữ vẻ đẹp mong manh của Sài Gòn? Dù là gì, kim đồng hồ vẫn chưa bao giờ ngừng thúc giục anh sống hết mình. “Không có thời điểm nào tốt hơn hiện tại cả,” anh nhắn cho tôi.

Ngồi lại trên chiếc thùng thiết bị DJ có in logo thành Bát Quái và dòng chữ “Keep Calm and Make a Sketch” (Bình tĩnh và vẽ thôi) Richie xích lại gần bàn vẽ nơi đặt bức phác thảo của con trai. Anh mỉm cười chia sẻ về triết lý sống và những dự định sắp tới. Mọi thứ rất đơn giản: “Kế hoạch tốt nhất chính là chẳng có kế hoạch nào cả.”

Bài viết đăng tải lần đầu năm 2023.

]]>
info@saigoneer.com (Garrett MacLean. Ảnh: Alberto Prieto.) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Fri, 10 Apr 2026 12:57:38 +0700
Cẩm nang 'quẹo lựa' đồ si đẹp cho mọi túi tiền https://saigoneer.com/vn/fashion/18088-cẩm-nang-quẹo-lựa-đồ-si-đẹp-cho-mọi-túi-tiền https://saigoneer.com/vn/fashion/18088-cẩm-nang-quẹo-lựa-đồ-si-đẹp-cho-mọi-túi-tiền

Săn đồ cũ, đồ si từ lâu đã trở thành một mốt khó lỗi thời, nhưng cuộc săn lùng này cũng không kém phần khó khăn. Có những buổi ra về tay trắng, hay tiếc nuối với những món đồ đẹp độc xịn mà không về tay mình. Vậy nên, sau đây là những ghi chú nho nhỏ của một “đồng si” sau nhiều năm lăn xả để giúp bạn “nhắm mục tiêu” nhanh hơn.

Không phải đồ cũ nào cũng như nhau

Đã bao giờ bạn đi mua đồ cũ mà không thể hiểu nổi mức giá của nó? Hay bạn không biết nên đến nơi nào để tìm được quần áo theo phong cách của mình với mức giá vừa túi tiền?

Thị trường đồ cũ ngày nay rất đa dạng, nhiều mẫu mã, mức giá, phục vụ từ người trẻ đến già, đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau. Có những cái áo ở chợ chỉ vài chục nghìn lại còn lành lặn hơn cái áo vài triệu ở tiệm. Thế nhưng, vẫn không ít người chọn chi mạnh tay cho những món đồ có vẻ khó mặc.

Xin mách bạn vài điểm khác biệt mấu chốt để tối ưu ngân sách của mình cho những món đồ đẹp nhất, phù hợp nhất.

Vintage/archive: những kiện hàng nước một

Đồ vintage là đồ đã trải qua ít nhất 20 năm, có giá trị sưu tầm bởi nó gắn với thời đại, văn hóa đương thời. Những món này gọi là đồ nước nhất, sẽ được chuyển thẳng đến các cửa hàng vintage bởi đã có liên kết từ trước. Mỗi cửa hàng sẽ có phong cách riêng của mình, có thể là hip-hop, rock, hippie, hay thời trang thập niên 2000.

Do được tuyển chọn kỹ lưỡng và có thẩm mỹ thống nhất, quần áo từ các cửa hàng này thường có giá dao động từ trên 500.000VND đến vài triệu, thậm chí có những mẫu hiếm lên đến vài chục triệu. Giá thành cao nhưng những món hàng này không chỉ được xem là quần áo, mà còn là một mẫu lưu trữ — archive piece, do có thương hiệu và dấu vết lịch sử. Với vài trăm nghìn, bạn có thể sở hữu một chiếc quần của người lao động Nhật Bản những năm 2000, với chất liệu bền và đường may chắc chắn. Bỏ ra vài triệu trở lên, bạn có thể sở hữu một chiếc áo Carhartt bị rách đâu đó — dấu vết thời gian cho thấy nó đã trải qua bao cuộc vận động từ những năm 1980.

Với tôi, mua đồ vintage cứ như sưu tầm đồ cổ, khi thứ bạn cầm trong tay là minh chứng cho một thời đại đã qua, thứ bạn mặc trên mình là một tuyên ngôn cổ điển. Nếu chỉ có nhu cầu mua đồ chất lượng để mặc và thời trang không phải một thú chơi, đồ vintage sẽ không giúp bạn tối ưu túi tiền.

Một số địa chỉ mà bạn có thể tìm những mẫu đồ vintage là Antsea Clothing, House of Nhã (Sài Gòn), Heartless Vintage Clothing (Đà Nẵng), Giày: Deerus (Sài Gòn)

Đồ “si tuyển”: những kiện hàng nước hai

Những món đồ dễ dùng, không hư hỏng nhưng không nhất thiết đến từ thương hiệu xịn, hiếm, và có thể dễ dàng tìm ngoài thị trường được gọi là đồ nước hai, được bán ở các cửa hàng si tuyển — thrift shop. Đồ thrift toàn tâm toàn ý phục vụ cho nhu cầu mua đồ tiết kiệm, dành cho những khách hàng quan tâm đến giá trị thực dụng của sản phẩm

Chúng cũng được phân loại theo phong cách riêng giúp người mua tìm đến chính xác thứ họ cần, có thể là jeans, áo phao, sơ mi, cả trang sức và giày dép. Bạn có thể lựa được một chiếc áo nguyên vẹn, có màu yêu thích, chất liệu tốt, với giá rẻ hơn rất nhiều lần so với một chiếc áo mới.

Tuy nhiên, thrift shop không đảm bảo tính lâu đời của sản phẩm. Nếu bạn chỉ muốn mua một món hời thì đây vẫn là một lựa chọn thông minh. Nhưng nếu may mắn và có đôi mắt tinh tường, bạn vẫn có thể nhặt được một chiếc vintage ẩn nấp.

Cái hay của thrift shop chính là những thương hiệu ngách từ các nước khác nhau. Vì không thường đến từ thương hiệu lớn, chúng ta vẫn sẽ lạ lẫm với kiểu dáng hay giá trị văn hóa chúng mang lại. Đến khi nhìn thấy, tìm hiểu và cảm thấy kết nối, ta lại vô tình có thêm một món đồ để gắn bó dù chúng đến từ hàng dặm xa.

Bạn có thể tìm đồ cũ chất lượng ở: Goût tui (Sài Gòn), Áo em si (Sài Gòn), Cúc Cúc Planet (Đà Nẵng), Lazy Angel Thrift (Đà Lạt), Angelxx Thrift, Moon Thrift Shop (Hà Nội)

Đồ bành (đồ bãi, chợ): những kiện hàng nước cuối

Đồ bành, còn gọi là đồ bãi, đồ sida, là những kiện hàng dạt, có khả năng đã hỏng hóc, hết thời. Chúng được chất thành từng đống trong các chợ đồ si chờ người mua tự khám phá, và thường rẻ đến khó tin.

Lăn xả trong những núi đồ này, bạn có thể tìm được áo, quần, đầm, khăn có giá từ 10.000VND, áo lạnh dày và túi thường khoảng 100.000VND. Với chút may mắn, bạn còn có thể tìm được một món hàng ở tình trạng hoàn hảo không sứt mẻ. Có những mẫu dù không có thương hiệu nhưng lại mang phong cách đặc trưng mà bạn có thể đã phải trả gấp 10 nếu mua trong cửa hàng si tuyển.

Với tôi, săn đồ bành là một trò chơi thử vận may, thử sức sáng tạo thực thụ. Giữa một núi đồ không ăn nhập với nhau, chưa được sửa sang hay phân loại, thì việc chọn được một món đồ hợp bản thân chính là một phần thưởng không gì sánh được.

Bạn có thể đào tìm kho báu ở: chợ Hoàng Hoa Thám, chợ Bà Chiểu (Sài Gòn), chợ Đông Tác (Hà Nội), chợ Cồn (Đà Nẵng), Chợ Đồ Cũ (Đà Lạt)

Tóm lại là: Về cơ bản, sự khác biệt giữa đồ nước nhất và hai là độ lâu đời, giữa đồ nước hai và ba là độ lành lặn và sự phân loại sẵn.

Mua sao cho đúng điệu?

Đi cửa hàng archive/si tuyển

Các cửa hàng đồ cũ được phân loại theo nhiều phong cách, bạn nên xem trước hình ảnh cửa hàng trên mạng để đến nơi có thứ bạn cần. Ngoài ra, hãy canh và tham gia những sự kiện pop-up nếu không muốn phải di chuyển giữa nhiều cửa hàng. Đây là các buổi “chợ phiên” kéo dài khoảng 1 tuần của các cửa hàng si tuyển/vintage trong thành phố, cho bạn rất nhiều lựa chọn và rất tiết kiệm thời gian.

Đi chợ đồ bành

Để có nhiều lựa chọn hơn, hãy đến chợ lúc mới khui hàng. Các chợ đồ si ở Việt Nam thường khui kiện hàng mới lúc hai đến ba giờ chiều, đây là thời điểm vàng để chọn được những món đặc biệt. Đến sớm, bạn cũng có thời gian xem kỹ chất vải, kiểu dáng, thương hiệu để không bỏ sót một viên ngọc ẩn. Nếu không thích đông đúc, bạn nên tránh ghé chợ vào cuối tuần.

Để tránh mua dư thừa, hãy định hình trước phong cách trong đầu. Mua đồ cũ phần lớn vẫn rẻ hơn mua mới, khiến ta có tâm lý mua nhiều hơn cần thiết. Do đó, bạn nên xác định trước phong cách, dáng người của bản thân để chọn những thứ phù hợp nhất. Để chắc chắn đúng kích cỡ, bạn có thể thủ sẵn một cây thước dây.

Một số mẹo để nhìn nhanh chất lượng sản phẩm

Dễ nhận biết nhất là hàng vintage thường không dùng vải acrylic. Bạn có thể bỏ qua loại vải này nếu muốn tìm những mẩu có giá trị lịch sử. Ngoài ra, đồ vintage thường có nhãn dày, may tỉ mỉ, font chữ sáng tạo, màu sắc, có thẩm mỹ riêng, trong khi đồ mới thường được in nhiệt hẳn lên ót áo. Nếu thấy một cái nhãn như thế, bạn nên kiểm tra nhanh bằng Google Lens để không bỏ lỡ một viên ngọc ẩn. 

Đa số mọi người xem việc săn đồ si cũng như mua đồ, nhưng để tận dụng chúng tốt hơn, bạn nên xem nó như mua chất liệu. Thay vì tưởng tượng bản thân mặc chúng đơn lẻ, bạn có thể nhìn kỹ chi tiết tay áo, cổ áo, độ phồng hay rũ của váy, dáng quần, để tìm cách phối chúng. Có những món đồ trông không hề đặc biệt, nhưng lại hợp rơ với một món nào đó trong tủ đồ bạn thì sao.

Đương nhiên, bạn nên xem xét chất lượng thực tế, rằng nó có rách, bạc màu, bung chỉ, dính bẩn khó giặt không, cả về độ mỏng và độ hầm bí. Nếu sửa được bằng cách may vá, nhuộm lại, giặt kỹ, bạn có thể cân nhắc về tiềm năng của chúng, xem có đáng mua không.

Giữ tinh thần bảo vệ môi trường

Tuyên ngôn đầu tiên của việc mua đồ cũ chính là hạn chế mua mới, giảm lượng sản xuất và bảo vệ môi trường. Do đó các đồng si nên cố gắng chỉ mua những thứ chắc chắn sẽ mặc, phù hợp phong cách của mình, tránh chạy theo xu hướng.

Nếu chưa biết phối thế nào, hay nghĩ rằng tương lai xa nào đó sẽ mặc, hãy cứ tự tin để lại chúng. Đến đúng thời điểm bạn tìm nó, nó sẽ có cách xuất hiện cho mà xem. Hãy tuân theo “quy luật 6 tháng” — chỉ mua những thứ bạn nghĩ 6 tháng sau bạn vẫn sẽ yêu thích để mặc.

Giữ an toàn vệ sinh cho mình nữa nhé!

Các núi đồ si đã trải qua nhiều chuyến vận chuyển từ nước ngoài, quần áo không tránh khỏi việc bị đóng bụi, dính chất dơ, có thể gây dị ứng da hay đường hô hấp. Khi bơi trong núi đồ si ở các chợ, bạn nên mặc áo dài tay, quần dài và mang vớ. Nếu bị viêm mũi dị ứng, hãy nhớ mang thêm khẩu trang. Và đương nhiên, việc đầu tiên khi mang thành quả về chính là giặt giũ rất-thật sự-cực kỳ sạch trước khi mặc bạn nhé!

Chúc các thợ săn đồ cũ luôn có chiến lợi phẩm về tay!

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. Đồ họa: Phương Quỳnh. Ảnh: Saigoneer.) Thời Trang Thu, 02 Apr 2026 11:49:38 +0700
Nước như một ẩn dụ của tổn thương, ký ức và lịch sử bị lãng quên qua nghệ thuật của Quế https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18086-nước-như-một-ẩn-dụ-của-tổn-thương,-ký-ức-và-lịch-sử-bị-lãng-quên-qua-nghệ-thuật-của-quế https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18086-nước-như-một-ẩn-dụ-của-tổn-thương,-ký-ức-và-lịch-sử-bị-lãng-quên-qua-nghệ-thuật-của-quế

Quế lần theo dòng chảy của nước qua ký ức cá nhân và lịch sử chung, theo cả những tổn thương liên thế hệ giữa quá trình đô thị hóa và thảm họa thiên nhiên.

Nước hiện hữu ở khắp mọi nơi: trong cơ thể chúng ta, trong dòng sông và đại dương bao quanh đất liền; và từ lâu luôn được xem như nguồn gốc thiết yếu của sự sống. Nhưng một khi nước không còn lặng trong, ngấm vào trong mọi ngóc ngách của tồn tại, thì sự sống sẽ còn lại những gì?

Xuất thân từ Đà Nẵng, nghệ sĩ và người sản xuất nghệ thuật Quế (Nguyễn Đức Hùng) từng sinh sống gần bờ kênh Nhiêu Lộc – Thị Nghè ở quận Bình Thạnh sau khi chuyển đến Sài Gòn làm việc. Quan sát và tiếp nhận môi trường xung quanh, anh bắt đầu tự hỏi bằng cách nào mà người dân địa phương có thể sống được bên cạnh con kênh vốn dĩ đã bị ô nhiễm trầm trọng. Mối quan tâm đối với “nước và những gì tồn tại trong nước” dẫn đến thực hành nghệ thuật xoay quanh lịch sử và ký ức cá nhân và tập thể, điều kiện môi trường lao động và quá trình đô thị hóa. Kết hợp nhiếp ảnh, hoạt hình chuyển động, hoạt hình và sắp đặt, các tác phẩm của anh đã được phát triển và trình bày tại Á Space (Hà Nội), Leipzig International Art Program (Leipzig, Đức), A.Farm International Art Residency (Sài Gòn), Artist-in-Residence Vietnam Network (Hà Nội), và nhiều triển lãm và chương trình chiếu phim khác.

Chân dung Quế (Nguyễn Đức Hùng).

Một bể cá mang tên ‘Nước ngấm vào người’ (2024) được đặt trong không gian tối, chứa nước lưng lưng một nửa và phát sáng. Được phát triển từ thời gian lưu trú tại A.Farm International Art Residency (Sài Gòn), tác phẩm sắp đặt, theo lời nghệ sĩ, là “một pixel của bùn, nước và tất cả những gì thuộc về dòng sông,” với bùn được thu thập từ kênh Nhiêu Lộc–Thị Nghè. Bên trong bể, những hạt cát và bùn từ từ trôi và tách ra mọi phía dưới ánh sáng xanh liên tưởng đến cực quang, nơi mọi thứ dường như trở nên trong suốt và rời rạc bất chấp tình trạng ô nhiễm của nước. Tác phẩm phơi bày một nghịch lý: đẹp, nhưng lại độc. Một bể cá riêng biệt nhưng không có cá, nơi sự sống không thể được duy trì.

‘‘Nước ngấm vào người,’ 2024. Bể kính, bùn, nước sông và những gì thuộc về nó, video một kênh.

Đối lập với tác phẩm trên, ‘Đến vùng nước lọc’ (2025) được phát triển trong đợt mở xưởng của chương trình lưu trú tại Leipzig International Art Program (Leipzig, Đức). Lần này, nước trong bể đủ trong để người xem có thể thấy được tác phẩm video về đàn kiến hoạt hình được chiếu xuyên qua nước lên tường — một điều khả dĩ nhờ vào hệ thống lọc nước đáng tin cậy tại Đức. Qua việc nghiên cứu về lịch sử di cư và lao động của người Việt tại Đức, kèm theo quan sát của nghệ sĩ trong giai đoạn chủ nghĩa bài ngoại và phân biệt chủng tộc đang gia tăng của Đức, tác phẩm cũng gợi lên câu hỏi: một cá nhân hoặc tập thể thật sự phải sẵn sàng đánh đổi điều gì để đến với một vùng đất hứa xa lạ để có được nguồn nước đã được lọc?

‘Đến vùng nước lọc,’ 2025. Video một kênh, bể kính, nước. Thời lượng: 3 phút 30 giây.

Mối quan tâm của Quế đối với nguồn nước không chỉ dừng lại ở điều kiện môi trường, mà còn hướng đến cơ thể như một nơi lưu trữ của sự truyền dẫn. Việc sống ở gần bờ kênh cũng khiến anh tự hỏi làm sao trẻ con ở khu vực này có thể lớn lên trong môi trường bị ô nhiễm ở đây, khi mà ngày nay chúng ta dễ dàng mắc bệnh hơn, kể cả sức khỏe tinh thần. Từ đó anh quay về chính trải nghiệm lớn lên của mình, xem nước trong cơ thể con người như một ẩn dụ cho sự truyền dẫn và thừa kế: mang đến sự sống và những ký ức gia đình. Những “di sản” mà chúng ta để lại cho đời sau, đáng tiếc thay, lại không thể tách rời khỏi những đặc tính và tổn thương tinh thần liên thế hệ.

‘Thị’ (2024) bao gồm chuỗi tác phẩm đối diện với ký ức cá nhân và những tổn thương. Trong tác phẩm video sắp đặt, Quế đặt mình nằm xuống, để từng giọt nước nhỏ giọt lên đầu, đến khi những giọt nước càng lúc càng nặng dần đến khi anh không chịu được nữa. Tác phẩm gợi nhắc hình ảnh người mẹ trong giấc ngủ trưa trong cơn đau đầu và áp lực dồn nén, thể hiện được nỗi đau thể chất lẫn tinh thần mà một người phụ nữ phải trải qua trong nhiều năm. Theo lời chia sẻ của Quế, “dòng nước chính là sự tác động đầy bạo lực của người đàn ông trong gia đình,” và bằng cách đặt bản thân vào vị trí này, anh muốn “để cho ký ức được ngầm cất tiếng.” Với cơ thể con người vốn được cấu thành từ nước, chất liệu trong tác phẩm của Quế hiện lên theo nghĩa trực tiếp và ẩn dụ: một phương tiện chứa đựng những đặc tính được truyền từ người mẹ sang con và qua nhiều thế hệ, như một đường dẫn vô hình nơi mà ký ức và tổn thương tồn tại.

(Phải) ‘Thị,’ 2024. Sắp đặt video hai kênh, sắp đặt âm thanh và mùi hương
(Trái) ‘Thị,’ 2017 - 2022. Hình ảnh kỹ thuật số.

Một điểm đáng chú ý khác trong thực hành của Quế là tác phẩm phim hoạt họa, và anh có mối quan tâm lớn đến phim hoạt hình Việt Nam và áp phích cổ động tuyên truyền. Thay vì đặt con người làm trọng tâm, anh chọn yếu tố phi con người thông qua góc nhìn của muỗi và kiến. Trong quá trình tìm hiểu lịch sử của ngôi nhà số 23 Châu Long (Hà Nội), một nơi đã từng trải qua hai cuộc chiến tranh Đông Dương, Quế đi phỏng vấn người dân sống ở khu này nhưng chưa thể tìm được câu trả lời mà anh mong muốn, và trớ trêu thay lại bị vây quanh bởi đàn muỗi trong căn nhà cũ ngay bờ kênh.

‘Nước lành mang bệnh’ (2024) lần theo một con muỗi và một hồn ma độc thoại bằng tiếng Pháp, với một lời thoại phim nói rằng: “Ta quên thảy tất cả mọi thứ rồi, chiến tranh biến ta thành phụ huynh của những đứa trẻ mà ta không bao giờ nhớ nổi. Có khi chúng nó còn chẳng tồn tại để kịp nhìn thấy mặt trời.” Câu thoại này nói lên một nỗi ám ảnh cực độ và lịch sử dường như không còn tồn tại — một điều gì đó không thể cất thành lời, có lẽ quá sức tưởng tượng để được hiểu một cách trọn vẹn.

 ‘Nước lành mang bệnh,’ 2024. Phim hoạt hình. Thời lượng: 7 phút.

Trong lúc đó, ‘Con kiến và hạt gạo’ (2026) lấy cảm hứng trực tiếp từ phim hoạt hình ngắn cùng tên bởi Nguyễn Thế Hội từ năm 1976. Phim theo chân một chú kiến nhỏ đang làm nhiệm vụ thường trực và đi báo cho cả tổ về một cơn bão sắp đến, đồng thời đảm bảo rằng cả đàn đã di tản trước khi về tổ mang hạt gạo của mình đi. Tuy nhiên, khác với đoạn kết có hậu ở bản phim gốc, cơn bão lại ập đến và cuốn đi hết mọi thứ. Trong lời diễn giải tác phẩm, Quế chia sẻ: “Trong quá trình làm tác phẩm, sự ám ảnh với nước, bão và lũ, đập thủy điện, và xác của những con kiến trôi lềnh bềnh trong bồn rửa chén và bồn chứa nước như một lời nhắc nhở về những tai họa mà người Việt phải chịu đựng vì thiên tai.”

‘Con kiến và hạt gạo,’ 2026. Phim hoạt hình. Thời lượng: 10 phút.

Không gian sắp đặt của ‘Nước, con kiến và hạt gạo’ (2026), hợp tác cùng Huế trong khuôn khổ chương trình Solo Marathon 2025 tại Á Space (Hà Nội).

Muỗi được xem như động vật trung gian truyền bệnh trong môi trường nước đọng, và hình ảnh muỗi “nổ tung” và gục ngã ở đoạn cuối phim như một trạng thái bất lực trước sức nặng của sự tổn thương quá lớn mà nó phải mang theo qua bao thăng trầm lịch sử. Trong khi đó, kiến được biết đến với sự chăm chỉ dù mặc cho điều kiện nguy hiểm, nhưng vẫn có thể bị cuốn đi bởi dòng nước lũ, trong hoàn cảnh mà việc di tản khỏi nước lũ hầu như bất khả thi. Tác phẩm phim gợi nhớ đến đợt lũ lụt miền Trung và miền Bắc cuối năm 2025 và vấn đề được ứng phó, cùng thời điểm Quế đang làm tác phẩm này.

Cả hai phim đều sử dụng yếu tố phi con người làm nhân vật chính, điển hình là muỗi và kiến; nói lên được những hiện tượng tưởng chừng tự nhiên nhưng thật ra bị ảnh hưởng bởi tác động con người. Một bên đào sâu vào lịch sử (bị lãng quên) của một ngôi nhà sống sót qua các cuộc chiến, và bên còn lại phản ánh sự mỏng manh và sự chật vật của tập thể khi đối diện với thảm họa môi trường.

Không gian open studio ‘Nature on the roof’ (2024) in Hà Nội, hợp tác cùng Saya Nguyễn. Được tổ chức bởi Artist-in-Residence Vietnam Network (AiRViNe)​.

Nước mang tính thích nghi, bền bỉ và linh hoạt, nhưng cũng không kém phần tàn bạo và có thể cuốn trôi đi tất cả mọi thứ. Trong thực hành của Quế, những gì tưởng như ký ức cá nhân hoặc tập thể, của những tổn thương liên thế hệ và môi trường đô thị hóa, thực chất được liên kết với những điều kiện cấu trúc lớn hơn, được định hình bởi sự bất bình đẳng và dịch chuyển xã hội: ai có quyền được di cư để có được “nguồn nước được tinh lọc” và ai là những người bị bỏ lại giữa thảm họa thiên tai. Không còn chỉ là “nguồn thiết yếu của sự sống,” nước liên kết sức khỏe toàn diện của con người với sự bất ổn định của môi trường, hé lộ cấu trúc phân bổ quyền lực và bạo lực chậm; từ đó đặt ra câu hỏi rằng, liệu chúng ta có thể tiếp tục duy trì những mảnh đời mỏng manh, khi phải cân bằng cả những chuẩn mực văn hóa giữa sự diễn biến không ngừng của thế giới.

]]>
info@saigoneer.com (An Tran. Ảnh: Quế (Nguyễn Đức Hùng).) Âm Nhạc & Nghệ Thuật Tue, 31 Mar 2026 16:59:09 +0700