Văn Hóa - Sài·gòn·eer Địa điểm ăn uống, ẩm thực ở Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Đà Lạt, cà phê, quán bar, review món ngon đường phố, kinh nghiệm du lịch, sự kiện, âm nhạc underground, review phim, review sách https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture 2026-04-04T08:26:52+07:00 Joomla! - Open Source Content Management Giải mã 'mùi Việt Kiều' bí ẩn trong ký ức tuổi thơ tôi 2026-02-27T16:00:00+07:00 2026-02-27T16:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18069-giải-mã-mùi-việt-kiều-bí-ẩn-trong-ký-ức-tuổi-thơ-tôi Khôi Phạm. Minh họa: Ngọc Tạ. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/08/aroma/00.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/27/vn-fb0.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Hồi nhỏ, thứ bánh kẹo tôi ưa nhất là Kisses của Hershey. Cục kẹo sô-cô-la nhỏ xinh, đầu teo đít to, bọc trong lớp giấy bạc đủ màu sắc làm tôi mê mẩn, không chỉ vì hương vị ngọt ngào, mà còn vì, ngày ấy, đứa nào có người thân đi nước ngoài mới có diễm phúc được ăn Kisses. Gói theo bịch Kisses đem vào lớp chia cho chúng bạn, tôi nhỏ nít cảm thấy mình đặc biệt và vinh dự hơn hẳn.</em></p> <p>Những năm tháng chiến tranh với Mỹ đã giày xéo nước ta cả về kinh tế lẫn xã hội, khiến nhiều gia đình phải ly tán và khiến cộng động người Việt lưu vong trở thành một trong những nhóm cư dân đông nhất nhiều nước phương Tây. Người ta vẫn gọi họ là Việt Kiều. Ngày còn con nít, tôi không hiểu được hết những lớp lang lịch sử phức tạp đằng sau cái danh xưng “Việt Kiều,” tôi chỉ biết rằng cô ruột mình là một Việt Kiều, và mỗi lần cô bay về thăm gia đình, tôi lại có sô-cô-la Kisses ăn, nên hằng năm tôi vẫn mong ngóng đến ngày cô về Việt Nam để có kẹo nhấm nháp.</p> <p>Thông thường, vào tối ngay ngày cô từ phi trường về, sau bữa cơm tối đầy món ăn, trái cây nhiệt đới như măng cụt, vú sữa, chúng tôi lại quây quần bên cái va-li to kềnh của cô để nhận từng túi quà được cô cẩn thận viết tên mỗi người. Qua nhiều năm, tôi không còn nhớ chính xác mình đã từng nhận được quà gì. Đương nhiên, tôi vẫn nhớ loạt kẹo Kisses đủ màu sắc, hương vị, nhưng thứ vẫn hằn sâu trong ký ức thuở thiếu thời ấy là một mùi thơm đặc trưng tỏa ra từ va-li — thứ mùi, hay thậm chí hỗn hợp các mùi khác nhau, vừa đặc trưng lại vừa thiên biến vạn hóa, khó tả thành lời, một mùi Việt Kiều bí ẩn.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/08/aroma/02.webp" /> <p class="image-caption">Kisses của Hershey đã từng là thứ kẹo “độc quyền” của con nít Việt có người thân đi nước ngoài. Ảnh: <a href="https://www.tastingtable.com/1233232/hersheys-kisses-flavors-ranked-worst-to-best/" target="_blank">Tasting Table</a>.</p> </div> <p>Trong trí nhớ của tôi, mùi Việt Kiều không giống nước hoa, cũng chẳng thuộc những nhóm mùi hương nhân tạo thường gặp như hoa cỏ, trái cây, hay thảo dược. Không phải xà bông hay đồ ăn, mùi Việt Kiều dễ nhận ra nhưng khó nhận diện. Lớn lên, tôi dần quên đi thứ mùi đặc trưng ấy, cho đến cách đây vài tuần, khi vô tình lướt qua một video TikTok quảng cáo “tinh dầu giặt sấy hương Việt Kiều.” Đoạn quảng cáo khiến tôi giật mình, vì nào giờ tôi vẫn cho rằng chỉ mình mình ngửi được mùi Việt Kiều, nhưng hóa ra người ta không những đã xác định được danh tính nó, mà còn sản xuất đem bán?</p> <p>Khi tôi kể cho bạn bè, đồng nghiệp nghe về mùi Việt Kiều, ai cũng gật gù tặc lưỡi rằng đây là hiện tượng có thật, nhưng không ai có thể đưa ra câu trả lời rằng nó ở đâu ra ngoài vài nhận xét chung chung như “ngửi là biết liền.” Phần bình luận dưới video quảng cáo có vẻ khả quan hơn, với đủ mọi giả thuyết mọi người đưa ra về nguồn gốc mùi Việt Kiều: có bạn quả quyết đó là từ giấy thơm máy sấy hiệu Bounce, còn ý kiến khác lại cho rằng đó là mùi xà bông cục Irish Spring hay kem đánh răng Aquafresh. Quyết tâm tìm được mùi hương tuổi thơ quen thuộc, tôi đã ra quyết định táo bạo: đặt hết tất cả những sản phẩm trong các giả thuyết về… hửi thử.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/08/aroma/01.webp" /> <p class="image-caption">Hình quảng cáo “mùi Việt Kiều” trên Shopee.</p> </div> <p>Tới đây, tôi cũng phải thú thật rằng đây không phải là cuộc điều tra có hồi kết, vì không thứ nào có mùi thật sự giống mùi va-li của cô tôi ngày xưa, dù rằng xuyên suốt bao năm, có nhiều lần trong đó cũng đã từng có mặt xà bông Irish Spring và tuýp kem Aquafresh. Cũng có thể nhà sản xuất đã thay đổi công thức tạo mùi sau nhiều năm, hay kí ức thuở nhỏ trong tôi đã phai nhạt nhiều, nhưng lý do khả thi nhất có lẽ là không có một mùi Việt Kiều nhất định nào cả. Với mỗi chuyến đi, hành trang về thăm nhà sẽ thay áo đôi chút, và mùi hương va-li cũng thế: một ít Hershey, chút mùi nam việt quất khô thoang thoảng, hòa quyện với mùi quần áo mới, v.v. — tất cả quyện thành một bức tranh khứu giác sinh động của nước Mỹ lạ lẫm, nhuốm màu huyền hoặc trong thâm tâm một đứa nhỏ.</p> <p>Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa, trao đổi văn hóa, và cả những bước tiến vượt bậc trong ngành vận chuyển đã thay đổi quan niệm cố hữu nhiều năm của người Việt rằng “đồ Mỹ hiếm có, cứ xài là tốt.” Chính cách tôi có thể dễ dàng đặt mua nhanh gọn tất cả những sản phẩm để làm “thí nghiệm” là minh chứng cho cục diện khác biệt ấy. Ngay cả Hershey giờ cũng đã dễ mua hơn rất nhiều, nhưng sự phát triển của nông sản Việt đã cho ra đời nhiều nhãn hàng sô-cô-la nội địa còn ngon hơn thế nhiều, nên đã nhiều năm tôi chưa ăn lại Kisses. Phải chăng những lúc thiếu thốn thì thức quà dù nhỏ nhoi đến đâu người ta cũng trân quý hơn?</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/08/aroma/03.webp" /> <p class="image-caption">Nguồn gốc mùi Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Ảnh:&nbsp;Hoàng Vũ/<a href="https://thanhnien.vn/vuong-quoc-mam-dong-noi-mien-tay-1851541717.htm" target="_blank">Thanh Niên</a>.</p> </div> <p>Ngày trước, khi gần đến ngày về Mỹ, va-li của cô tôi cũng đầy lên dần dần, nhưng lần này lại chứa đầy đồ Việt Nam để trữ trong tủ hay làm quà cho các cô các chú họ hàng bên đó: tôm khô, hạt cà phê, tranh sơn mài, áo dài lụa tơ tằm, trà Thái Nguyên, tâm sen, và nguyên bộ sưu tập mắm đủ mùi, đủ vị. Nhiều lúc tôi cũng thắc mắc rằng, khi cô trở lại nhà mình sau chuyến bay nửa vòng trái đất, đặt va-li xuống nền nhà và từ từ kéo khóa ra, liệu có một mùi hương khó tả nào bay ra không? Một mùi Việt Nam bí ẩn.</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/08/aroma/00.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/27/vn-fb0.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Hồi nhỏ, thứ bánh kẹo tôi ưa nhất là Kisses của Hershey. Cục kẹo sô-cô-la nhỏ xinh, đầu teo đít to, bọc trong lớp giấy bạc đủ màu sắc làm tôi mê mẩn, không chỉ vì hương vị ngọt ngào, mà còn vì, ngày ấy, đứa nào có người thân đi nước ngoài mới có diễm phúc được ăn Kisses. Gói theo bịch Kisses đem vào lớp chia cho chúng bạn, tôi nhỏ nít cảm thấy mình đặc biệt và vinh dự hơn hẳn.</em></p> <p>Những năm tháng chiến tranh với Mỹ đã giày xéo nước ta cả về kinh tế lẫn xã hội, khiến nhiều gia đình phải ly tán và khiến cộng động người Việt lưu vong trở thành một trong những nhóm cư dân đông nhất nhiều nước phương Tây. Người ta vẫn gọi họ là Việt Kiều. Ngày còn con nít, tôi không hiểu được hết những lớp lang lịch sử phức tạp đằng sau cái danh xưng “Việt Kiều,” tôi chỉ biết rằng cô ruột mình là một Việt Kiều, và mỗi lần cô bay về thăm gia đình, tôi lại có sô-cô-la Kisses ăn, nên hằng năm tôi vẫn mong ngóng đến ngày cô về Việt Nam để có kẹo nhấm nháp.</p> <p>Thông thường, vào tối ngay ngày cô từ phi trường về, sau bữa cơm tối đầy món ăn, trái cây nhiệt đới như măng cụt, vú sữa, chúng tôi lại quây quần bên cái va-li to kềnh của cô để nhận từng túi quà được cô cẩn thận viết tên mỗi người. Qua nhiều năm, tôi không còn nhớ chính xác mình đã từng nhận được quà gì. Đương nhiên, tôi vẫn nhớ loạt kẹo Kisses đủ màu sắc, hương vị, nhưng thứ vẫn hằn sâu trong ký ức thuở thiếu thời ấy là một mùi thơm đặc trưng tỏa ra từ va-li — thứ mùi, hay thậm chí hỗn hợp các mùi khác nhau, vừa đặc trưng lại vừa thiên biến vạn hóa, khó tả thành lời, một mùi Việt Kiều bí ẩn.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/08/aroma/02.webp" /> <p class="image-caption">Kisses của Hershey đã từng là thứ kẹo “độc quyền” của con nít Việt có người thân đi nước ngoài. Ảnh: <a href="https://www.tastingtable.com/1233232/hersheys-kisses-flavors-ranked-worst-to-best/" target="_blank">Tasting Table</a>.</p> </div> <p>Trong trí nhớ của tôi, mùi Việt Kiều không giống nước hoa, cũng chẳng thuộc những nhóm mùi hương nhân tạo thường gặp như hoa cỏ, trái cây, hay thảo dược. Không phải xà bông hay đồ ăn, mùi Việt Kiều dễ nhận ra nhưng khó nhận diện. Lớn lên, tôi dần quên đi thứ mùi đặc trưng ấy, cho đến cách đây vài tuần, khi vô tình lướt qua một video TikTok quảng cáo “tinh dầu giặt sấy hương Việt Kiều.” Đoạn quảng cáo khiến tôi giật mình, vì nào giờ tôi vẫn cho rằng chỉ mình mình ngửi được mùi Việt Kiều, nhưng hóa ra người ta không những đã xác định được danh tính nó, mà còn sản xuất đem bán?</p> <p>Khi tôi kể cho bạn bè, đồng nghiệp nghe về mùi Việt Kiều, ai cũng gật gù tặc lưỡi rằng đây là hiện tượng có thật, nhưng không ai có thể đưa ra câu trả lời rằng nó ở đâu ra ngoài vài nhận xét chung chung như “ngửi là biết liền.” Phần bình luận dưới video quảng cáo có vẻ khả quan hơn, với đủ mọi giả thuyết mọi người đưa ra về nguồn gốc mùi Việt Kiều: có bạn quả quyết đó là từ giấy thơm máy sấy hiệu Bounce, còn ý kiến khác lại cho rằng đó là mùi xà bông cục Irish Spring hay kem đánh răng Aquafresh. Quyết tâm tìm được mùi hương tuổi thơ quen thuộc, tôi đã ra quyết định táo bạo: đặt hết tất cả những sản phẩm trong các giả thuyết về… hửi thử.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/08/aroma/01.webp" /> <p class="image-caption">Hình quảng cáo “mùi Việt Kiều” trên Shopee.</p> </div> <p>Tới đây, tôi cũng phải thú thật rằng đây không phải là cuộc điều tra có hồi kết, vì không thứ nào có mùi thật sự giống mùi va-li của cô tôi ngày xưa, dù rằng xuyên suốt bao năm, có nhiều lần trong đó cũng đã từng có mặt xà bông Irish Spring và tuýp kem Aquafresh. Cũng có thể nhà sản xuất đã thay đổi công thức tạo mùi sau nhiều năm, hay kí ức thuở nhỏ trong tôi đã phai nhạt nhiều, nhưng lý do khả thi nhất có lẽ là không có một mùi Việt Kiều nhất định nào cả. Với mỗi chuyến đi, hành trang về thăm nhà sẽ thay áo đôi chút, và mùi hương va-li cũng thế: một ít Hershey, chút mùi nam việt quất khô thoang thoảng, hòa quyện với mùi quần áo mới, v.v. — tất cả quyện thành một bức tranh khứu giác sinh động của nước Mỹ lạ lẫm, nhuốm màu huyền hoặc trong thâm tâm một đứa nhỏ.</p> <p>Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa, trao đổi văn hóa, và cả những bước tiến vượt bậc trong ngành vận chuyển đã thay đổi quan niệm cố hữu nhiều năm của người Việt rằng “đồ Mỹ hiếm có, cứ xài là tốt.” Chính cách tôi có thể dễ dàng đặt mua nhanh gọn tất cả những sản phẩm để làm “thí nghiệm” là minh chứng cho cục diện khác biệt ấy. Ngay cả Hershey giờ cũng đã dễ mua hơn rất nhiều, nhưng sự phát triển của nông sản Việt đã cho ra đời nhiều nhãn hàng sô-cô-la nội địa còn ngon hơn thế nhiều, nên đã nhiều năm tôi chưa ăn lại Kisses. Phải chăng những lúc thiếu thốn thì thức quà dù nhỏ nhoi đến đâu người ta cũng trân quý hơn?</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2026/02/08/aroma/03.webp" /> <p class="image-caption">Nguồn gốc mùi Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Ảnh:&nbsp;Hoàng Vũ/<a href="https://thanhnien.vn/vuong-quoc-mam-dong-noi-mien-tay-1851541717.htm" target="_blank">Thanh Niên</a>.</p> </div> <p>Ngày trước, khi gần đến ngày về Mỹ, va-li của cô tôi cũng đầy lên dần dần, nhưng lần này lại chứa đầy đồ Việt Nam để trữ trong tủ hay làm quà cho các cô các chú họ hàng bên đó: tôm khô, hạt cà phê, tranh sơn mài, áo dài lụa tơ tằm, trà Thái Nguyên, tâm sen, và nguyên bộ sưu tập mắm đủ mùi, đủ vị. Nhiều lúc tôi cũng thắc mắc rằng, khi cô trở lại nhà mình sau chuyến bay nửa vòng trái đất, đặt va-li xuống nền nhà và từ từ kéo khóa ra, liệu có một mùi hương khó tả nào bay ra không? Một mùi Việt Nam bí ẩn.</p></div> Bên trong tháng Ramadan của cộng đồng Hồi giáo Châu Đốc 2026-02-23T12:00:00+07:00 2026-02-23T12:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17272-bên-trong-tháng-ramadan-của-cộng-đồng-hồi-giáo-châu-đốc Joanik Bellalou. Ảnh: Joanik Bellalou. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/21.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/fb-chaudoc00b.jpg" data-position="50% 10%" /></p> <p><em>Cùng lúc Việt Nam bước vào chuỗi ngày lễ quốc gia dài hơi, cộng đồng người Hồi giáo trong nước cũng bắt đầu sự kiện quan trọng nhất năm với mình: tháng Ramadan.</em></p> <p>Tôi đã đến thăm thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang để tìm hiểu những truyền thống được các cư dân nơi đây thực hành vào tháng Ramadan. Cách trung tâm thành phố chỉ 3km là làng Châu Phong, nơi tập trung sinh sống của hơn 5.000 tín đồ Hồi giáo người Chăm. Dù là kẻ ngoại đạo, tôi đã được ngôi làng giang tay chào đón, và từ đó hiểu thêm về phong tục kiêng cữ, cầu nguyện, cũng như những sinh hoạt tôn giáo khác được thực hiện cho "tháng thứ 9."</p> <p>Tôi di chuyển đến đến ngôi làng bằng một chiếc phà, lúc cập bến đã là 10 giờ sáng. Không khí lúc ấy được bao trùm bởi một cảm giác bình yên, có lẽ vì các tín đồ đều đã dành giấc sáng và trưa để nghỉ ngơi. Đến 4 giờ chiều, phố xá nơi đây dần trở nên bận rộn hơn, ai nấy đều tấp nập sửa soạn. Có người đang chỉnh lại y trang để đến thánh đường, người lại đang chuẩn bị sẵn thức ăn cho buổi "xả chay" — tức khi mặt trời lặn vào gần 6 giờ chiều.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/3.webp" /></p> <p class="image-caption">Một cậu bé lấy tay che mặt khi thấy tôi chụp ảnh. Cha em đứng sau em, anh đang mua thức ăn để dùng khi "xả chay." Ở phía đằng xa, sau cả hai, là một lá cờ Việt Nam giương cao nhân kỉ niệm ngày thống nhất đất nước</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/4.webp" alt="" /> <p class="image-caption">Một tín đồ đang đứng trước thánh đường. Không khí trong làng lúc này vẫn tĩnh lặng vì mặt trời còn treo cao, người dân đang nhịn ăn và nghỉ ngơi trong nhà.</p> </div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/5.webp" alt="" /> <p class="image-caption">Một thiếu nữ (cùng mèo của mình) đang trên đường đi gặp bạn bè sau khi mặt trời đã khuất.</p> </div> </div> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/6.webp" /></p> <p class="image-caption">Thánh đường Jamiul Azhar, một trong 15 thánh đường Hồi giáo ở Châu Đốc, thu hút đến 250 tín đồ đến tham dự vào tháng Ramadan.</p> <p class="image-caption"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/7.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Theo truyền thống, khi mặt trời lặn, cánh đàn ông sẽ chuẩn bị một món ăn gần giống súp làm từ nước cốt dừa để mọi người dùng bữa "xả chay."</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/8.webp" /></p> <p class="image-caption">Làng Châu Phong có nhiều thánh đường, trong đó có cả thánh đường dành cho phụ nữ, nhưng nhiều người vẫn có thói quen cầu nguyện tại nhà.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/9.webp" /></p> <p class="image-caption">Cánh cổng của thánh đường được xây từ năm 1730 là nhân chứng cho lịch sử và di sản Hồi giáo lâu đời tại làng Châu Phong.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/11.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Vì lý do sức khỏe, không hiếm khi các cụ già phải "xả chay" trước giờ chính thức.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/12.webp" /></p> <p class="image-caption">Một bé gái cùng các cô dì tại thánh đường dành cho phụ nữ.</p> <p class="image-caption"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/13.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Một số tín đồ sống ở những nơi khác cũng bắt phà đến làng Châu Phong để tham gia cầu nguyện.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/15.webp" /></p> <p class="image-caption">Trẻ em không cần phải nhịn ăn, nên các em vẫn được nô đùa trước nhà thay vì đến thánh đường như cha mẹ và anh chị.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/16.webp" /></p> <p class="image-caption">Cô bé này đang mua hàng từ một tiệm tạp hóa. Có lẽ là món quà vặt mà em sẽ "đánh chén" ngay khi đến giờ "xả chay."</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/17.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Hôm nay, chú Mohamad sẽ đảm nhiệm việc nấu bữa "xả chay" cho mọi người. Bữa tối lần này sẽ là món cháo mặn.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/18.webp" /></p> <p class="image-caption">Vị Imam (người lãnh đạo) của thánh đường&nbsp;Jamiul Azhar xem đồng hồ để báo giờ "xả chay."</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/19.webp" /></p> <p class="image-caption">"Xả chay" không chỉ đơn thuần là ăn. Đó có thể là ngồi nhâm nhi ly cà phê, tận hưởng gió chiều cùng bạn bè bên vỉa hè.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/21.webp" /></p> <p class="image-caption">Các em bé thắp nến vào một đêm khi tháng Ramadan gần kết thúc. Tôi được dân làng cho hay đây là truyền thống chỉ có ở Châu Phong, nến được thắp vì đẹp chứ không mang ý nghĩa sâu xa nào khác.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/23.webp" /></p> <p class="image-caption">Theo quy tắc của Hồi giáo, các tín đồ phải làm sạch bản thân bằng nước trước khi bước vào thánh đường.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/22.webp" /></p> <p class="image-caption">Giày của các tín đồ cũng phải được để bên ngoài.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/14.webp" /></p> <p class="image-caption">Một cậu bé trên đường đến thánh đường vào ngày đầu tiên sau tháng Ramadan. Những chuyển động thường ngày của ngôi làng lại bừng dậy — mọi người có thể ăn, uống và trao nhau những thức quà một cách tự do.</p> <p><strong>Joanik Bellalou là một nhiếp ảnh gia tại Việt Nam. Độc giả có thể theo dõi các tác phẩm của anh tại <a href="https://www.instagram.com/joanik.tahmer/" target="_blank">đây</a>.</strong></p> <p><em><strong>Bài viết đăng tải lần đầu vào năm 2022.</strong></em></p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/21.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/fb-chaudoc00b.jpg" data-position="50% 10%" /></p> <p><em>Cùng lúc Việt Nam bước vào chuỗi ngày lễ quốc gia dài hơi, cộng đồng người Hồi giáo trong nước cũng bắt đầu sự kiện quan trọng nhất năm với mình: tháng Ramadan.</em></p> <p>Tôi đã đến thăm thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang để tìm hiểu những truyền thống được các cư dân nơi đây thực hành vào tháng Ramadan. Cách trung tâm thành phố chỉ 3km là làng Châu Phong, nơi tập trung sinh sống của hơn 5.000 tín đồ Hồi giáo người Chăm. Dù là kẻ ngoại đạo, tôi đã được ngôi làng giang tay chào đón, và từ đó hiểu thêm về phong tục kiêng cữ, cầu nguyện, cũng như những sinh hoạt tôn giáo khác được thực hiện cho "tháng thứ 9."</p> <p>Tôi di chuyển đến đến ngôi làng bằng một chiếc phà, lúc cập bến đã là 10 giờ sáng. Không khí lúc ấy được bao trùm bởi một cảm giác bình yên, có lẽ vì các tín đồ đều đã dành giấc sáng và trưa để nghỉ ngơi. Đến 4 giờ chiều, phố xá nơi đây dần trở nên bận rộn hơn, ai nấy đều tấp nập sửa soạn. Có người đang chỉnh lại y trang để đến thánh đường, người lại đang chuẩn bị sẵn thức ăn cho buổi "xả chay" — tức khi mặt trời lặn vào gần 6 giờ chiều.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/3.webp" /></p> <p class="image-caption">Một cậu bé lấy tay che mặt khi thấy tôi chụp ảnh. Cha em đứng sau em, anh đang mua thức ăn để dùng khi "xả chay." Ở phía đằng xa, sau cả hai, là một lá cờ Việt Nam giương cao nhân kỉ niệm ngày thống nhất đất nước</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/4.webp" alt="" /> <p class="image-caption">Một tín đồ đang đứng trước thánh đường. Không khí trong làng lúc này vẫn tĩnh lặng vì mặt trời còn treo cao, người dân đang nhịn ăn và nghỉ ngơi trong nhà.</p> </div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/5.webp" alt="" /> <p class="image-caption">Một thiếu nữ (cùng mèo của mình) đang trên đường đi gặp bạn bè sau khi mặt trời đã khuất.</p> </div> </div> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/6.webp" /></p> <p class="image-caption">Thánh đường Jamiul Azhar, một trong 15 thánh đường Hồi giáo ở Châu Đốc, thu hút đến 250 tín đồ đến tham dự vào tháng Ramadan.</p> <p class="image-caption"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/7.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Theo truyền thống, khi mặt trời lặn, cánh đàn ông sẽ chuẩn bị một món ăn gần giống súp làm từ nước cốt dừa để mọi người dùng bữa "xả chay."</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/8.webp" /></p> <p class="image-caption">Làng Châu Phong có nhiều thánh đường, trong đó có cả thánh đường dành cho phụ nữ, nhưng nhiều người vẫn có thói quen cầu nguyện tại nhà.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/9.webp" /></p> <p class="image-caption">Cánh cổng của thánh đường được xây từ năm 1730 là nhân chứng cho lịch sử và di sản Hồi giáo lâu đời tại làng Châu Phong.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/11.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Vì lý do sức khỏe, không hiếm khi các cụ già phải "xả chay" trước giờ chính thức.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/12.webp" /></p> <p class="image-caption">Một bé gái cùng các cô dì tại thánh đường dành cho phụ nữ.</p> <p class="image-caption"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/13.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Một số tín đồ sống ở những nơi khác cũng bắt phà đến làng Châu Phong để tham gia cầu nguyện.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/15.webp" /></p> <p class="image-caption">Trẻ em không cần phải nhịn ăn, nên các em vẫn được nô đùa trước nhà thay vì đến thánh đường như cha mẹ và anh chị.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/16.webp" /></p> <p class="image-caption">Cô bé này đang mua hàng từ một tiệm tạp hóa. Có lẽ là món quà vặt mà em sẽ "đánh chén" ngay khi đến giờ "xả chay."</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/17.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Hôm nay, chú Mohamad sẽ đảm nhiệm việc nấu bữa "xả chay" cho mọi người. Bữa tối lần này sẽ là món cháo mặn.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/18.webp" /></p> <p class="image-caption">Vị Imam (người lãnh đạo) của thánh đường&nbsp;Jamiul Azhar xem đồng hồ để báo giờ "xả chay."</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/19.webp" /></p> <p class="image-caption">"Xả chay" không chỉ đơn thuần là ăn. Đó có thể là ngồi nhâm nhi ly cà phê, tận hưởng gió chiều cùng bạn bè bên vỉa hè.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/21.webp" /></p> <p class="image-caption">Các em bé thắp nến vào một đêm khi tháng Ramadan gần kết thúc. Tôi được dân làng cho hay đây là truyền thống chỉ có ở Châu Phong, nến được thắp vì đẹp chứ không mang ý nghĩa sâu xa nào khác.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/23.webp" /></p> <p class="image-caption">Theo quy tắc của Hồi giáo, các tín đồ phải làm sạch bản thân bằng nước trước khi bước vào thánh đường.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/22.webp" /></p> <p class="image-caption">Giày của các tín đồ cũng phải được để bên ngoài.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2022/05/10/Ramadan/14.webp" /></p> <p class="image-caption">Một cậu bé trên đường đến thánh đường vào ngày đầu tiên sau tháng Ramadan. Những chuyển động thường ngày của ngôi làng lại bừng dậy — mọi người có thể ăn, uống và trao nhau những thức quà một cách tự do.</p> <p><strong>Joanik Bellalou là một nhiếp ảnh gia tại Việt Nam. Độc giả có thể theo dõi các tác phẩm của anh tại <a href="https://www.instagram.com/joanik.tahmer/" target="_blank">đây</a>.</strong></p> <p><em><strong>Bài viết đăng tải lần đầu vào năm 2022.</strong></em></p></div> Tản mạn về ông đồ và tục cổ truyền xin chữ 2026-02-16T12:38:59+07:00 2026-02-16T12:38:59+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18060-tản-mạn-về-ông-đồ-và-tục-cổ-truyền-xin-chữ Văn Tân. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo30.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo60.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Nói Tết quy tụ những gì đẹp đẽ nhất của văn hóa Việt cũng không sai, bởi hơn cả một thời khắc chuyển giao giữa cũ và mới, đây cũng là lúc con người ta được “sống lại” với những giá trị truyền thống lúc bấy giờ.&nbsp;</em></p> <p>Đó là những phiên chợ rộn ràng để tìm thấy hương vị quê nhà; chiếc bánh chưng vuông vắn như đất, đòn bánh tét tròn tượng trưng cho trời là chút lòng thành nhưng cao quý dâng lên tổ tiên; rồi chiều 30, ai nấy dựng trước nhà một cây nêu cao treo chuông con rung rinh với ý niệm xua đuổi những điều không lành.</p> <p>Hay khi những nếp giấy đỏ bắt đầu được treo dọc khắp phố Hàng Mã, tôi lại ngẫm nghĩ về những ông đồ cho chữ trên giấy dó. Người xin xin gì nhiều hơn một câu chữ thư pháp? Còn người cho, cho gì nhiều hơn một nét mực tàu bay?</p> <h3>Áo dài, khăn đóng… ông đồ túc nho</h3> <p>Trong khoa cử Nho học, những sĩ tử đã thi qua ba kỳ thi đỗ Tú Tài sẽ được người đời gọi là ông Đồ. Họ có thể đậu những kỳ thi cấp thấp, không đỗ đạt hay chưa đủ để được nhà nước cho làm quan thì họ phải học thêm để thi những kỳ thi cao hơn sau đó như thi Hội, thi Đình… hoặc tạm kiếm sống bằng những nghề dạy học (gọi là “thầy đồ”), viết thuê.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo4.webp" /></p> <p class="image-caption">Thầy đồ ngồi đọc sách, 1915. Ảnh: Léon Busy.</p> <p>Ấn phẩm <em>Nếp Cũ Con Người Việt Nam</em>&nbsp;do tác giả Toan Ánh biên soạn có đoạn viết: “Học khai-tâm không có trường của nhà nước, nhưng tại làng xã nào cũng có một vài ông đồ dạy trẻ. Học trò thường học sách viết, sách in rất đắt, ông đồ nào cũng có một tủ sách, các học trò chép lại bài học qua những sách của ông đồ…”&nbsp;</p> <p>Thế nhưng để được gọi là ông đồ, không phải chỉ cần mặc áo dài khăn đóng biết viết. Đây là một danh xưng để gọi những người vừa giỏi chữ vừa có đạo đức và hiểu biết sâu rộng. Dù có thể chưa đỗ đạt, nhưng họ vẫn giữ phẩm hạnh, sống ngay thẳng, giữ lễ nghĩa, bởi người xưa vốn đã quan niệm việc học là không chỉ học chữ, mà phải học cả đạo làm người. Ông đồ xưa chính là biểu tượng của trí thức, đạo đức, nhân cách trong xã hội truyền thống. Người ta trọng vọng ông đồ không chỉ vì chữ đẹp, mà vì ông có tâm sáng, lòng ngay, đạo nghĩa vững.</p> <div class="quote"> <p style="text-align: center;"><strong>Tấm tắc ngợi thiên tài:</strong><br /><strong>"Hoa tay thảo những nét</strong><br /><strong>Như phượng múa, rồng bay"</strong><br /><strong>(Ông đồ - Vũ Đình Liên)</strong></p> </div> <p>Người xưa thường tìm đến ông đồ khi cần “xin chữ,” hoặc cần người có chữ nghĩa và hiểu biết giúp việc văn tự. Tục xin chữ, cho chữ cũng đã ra đời từ đây, mỗi dịp hội hè lễ Tết, sĩ tử, người hiếu học xin chữ ông đồ như một cách “lấy vía” may mắn, giỏi giang. Song để xin chữ khi ấy không đơn giản mà như một nghi thức không thành văn. Để xin chữ thầy đồ, người xin phải sắm một phần lễ vật nhỏ gồm cau trầu, chè thuốc… nhưng thành tâm đến nhà. Người cho chữ cũng luôn phải nghiêm chỉnh, tôn kính, cho đúng người trọng chữ nghĩa chứ không kiểu “học giả thích làm sang.”</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo1.webp" /></p> <p class="image-caption">Ông đồ viết chữ trên phố Hà Nội, 1913-1917. Ảnh: Léon Busy.</p> <p>Chữ được viết theo kiểu thư pháp, thường là chữ Nho và có thể viết theo nhiều cách trên nền giấy đỏ, bởi màu đỏ vốn là màu sắc đem lại sự may mắn theo quan niệm của người phương Đông. Người cho chữ tùy tâm trạng, tùy hoa tay mà tạo ra những hình thái con chữ lạ mắt, độc đáo. Mỗi chữ hiện ra dưới tay các thầy đồ không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật thư pháp, mà còn bộc lộ tấm lòng, tính cách, tâm hồn và cả sự sáng tạo của mỗi cá nhân.</p> <h3><span style="background-color: transparent; font-size: 1.17em;">Mực tàu, nghiên bút, “nhất tự thiên kim”</span></h3> <p>Người xưa có câu “nhất tự thiên kim” tức “một chữ đáng nghìn vàng,” ảnh hưởng từ Lã Bất Vi theo <em>Sử ký Tư Mã Thiên</em> (Trung Quốc). Vị Thừa tướng cho treo sách ở quốc môn và thưởng vàng cho ai có thể thêm bớt chữ. Chính bởi quyền thế nghiêng trời lệch đất, chẳng ai dám bước ra sửa sách. Từ đó, câu nói trên trở thành điển cổ để chỉ văn tự, chữ nghĩa có giá trị rất cao.</p> <p>Hơn cả sự hiện hữu về mặt hình, con chữ là cách để nhân loại lưu giữ, khai mở và kết nối. Do vậy người ta mới so sánh chữ quý như vàng. Thư pháp gia - TS Cung Khắc Lược giải thích: “Trong tư tưởng, trong tình cảm và trong tâm hồn bao giờ cũng được biểu hiện bằng lời, bằng từ vựng, bằng văn bản… Vậy thì một chữ trên văn bản, một chữ của tim, của óc nêu ra cho nhau, tặng nhau đáng nghìn vàng là vô cùng xứng đáng, quý hơn tiền của nhiều.”</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo10.webp" /></p> <p class="image-caption">Ông đồ viết chữ trước Chùa Hương, Hà Nội, 1995. Nguồn ảnh: tài khoản Flickr @<a href="https://www.flickr.com/photos/lonqueta/" target="_blank">lonqueta</a>.<a href="https://saigoneer.com/vietnam-heritage/2917-these-17-old-photos-show-life-in-vietnam-100-years-ago-with-vivid-color" target="_blank"><br /></a></p> <p>Việc xin chữ ngày một trở nên thịnh hành và trở thành phong tục đẹp của người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về. Bất kể là ai, từ miền ngược đến miền xuôi và cũng chẳng phân biệt sang nghèo, chỉ cần có sự thành tâm thì đều có thể xin chữ.</p> <p>Mỗi nét mực trên giấy của ông đồ chất chứa một nỗi niềm, một tâm tư hay một ý niệm nhất định. Xin chữ Cát Tường, Như Ý... để cầu mong sự bình an cho gia đình. Xin chữ Phát, Lộc, Tài… hy vọng việc làm ăn thành công, thuận buồm xuôi gió. Những người trẻ thì xin chữ Chí, chữ Đắc… để vững lòng trước những khó khăn.</p> <p>Cũng không còn nặng nghi lễ như xưa, không phải cứ “áo the, khăn xếp,” áo nâu, râu tóc bạc phơ mới là người cho chữ mà người viết, “ông đồ Tây,” “bà đồ"... đều có. Không chỉ đóng khung trong “mực tàu, giấy đỏ” mà đã đủ các chất liệu gỗ, đá, trúc, tre, lụa, gấm. Rồi Triện, Lệ, Khải, Thảo, Hành… cách viết nào cũng có. Người người xếp hàng và chờ đợi dọc phố, dưới các đền chùa để xin những con chữ “phượng múa, rồng bay” như một tục lệ đẹp không thể thiếu của ngày đầu năm mới.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo20.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo21.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo22.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo23.webp" alt="" /></div> </div> <p class="image-caption">Muôn hình vạn trạng ông đồ, bà đồ ngày nay. Ảnh: Alberto Prieto.</p> <p>Các “phố ông đồ” cũng ra đời nhằm tôn vinh phong tục truyền thống này. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được biết đến như “Làng sĩ tử” phía Bắc. Tục xin chữ ở Nam bộ bắt nguồn từ thế kỷ thứ 17, thời chúa Nguyễn vào khai phá vùng đất phương Nam cùng với các đợt người miền Bắc, miền Trung di cư vào theo. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ 17 khi người Hoa bắt đầu định cư và khai phá ở Biên Hoà - Đồng Nai thì tục xin chữ mới nở rộ. Chính quá trình cộng cư lâu dài của các nền văn hóa cũng ảnh hưởng ít nhiều đến nét đặc trưng riêng của tục xin chữ vùng này.</p> <p>Và tại các con phố này ngày nay, quá nửa “ông đồ” là sinh viên khoa Hán-Nôm hay người yêu nghệ thuật; người xin chữ thì đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp, ngành nghề. Nhưng không phải là trào lưu nhất thời, tôi coi đây là sự trao truyền văn hoá, bởi ai thì ai, nhưng cốt lõi của phong tục vẫn được giữ trọn. Người cho thì thả theo nét bút cái tâm, cái tài. Người xin thì tôn trọng đạo nghĩa và nét đẹp truyền thống của dân tộc.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo50.webp" /></p> <p class="image-caption">Ảnh: Alberto Prieto.</p> <p>[Ảnh bìa: Léon Busy.]</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo30.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo60.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Nói Tết quy tụ những gì đẹp đẽ nhất của văn hóa Việt cũng không sai, bởi hơn cả một thời khắc chuyển giao giữa cũ và mới, đây cũng là lúc con người ta được “sống lại” với những giá trị truyền thống lúc bấy giờ.&nbsp;</em></p> <p>Đó là những phiên chợ rộn ràng để tìm thấy hương vị quê nhà; chiếc bánh chưng vuông vắn như đất, đòn bánh tét tròn tượng trưng cho trời là chút lòng thành nhưng cao quý dâng lên tổ tiên; rồi chiều 30, ai nấy dựng trước nhà một cây nêu cao treo chuông con rung rinh với ý niệm xua đuổi những điều không lành.</p> <p>Hay khi những nếp giấy đỏ bắt đầu được treo dọc khắp phố Hàng Mã, tôi lại ngẫm nghĩ về những ông đồ cho chữ trên giấy dó. Người xin xin gì nhiều hơn một câu chữ thư pháp? Còn người cho, cho gì nhiều hơn một nét mực tàu bay?</p> <h3>Áo dài, khăn đóng… ông đồ túc nho</h3> <p>Trong khoa cử Nho học, những sĩ tử đã thi qua ba kỳ thi đỗ Tú Tài sẽ được người đời gọi là ông Đồ. Họ có thể đậu những kỳ thi cấp thấp, không đỗ đạt hay chưa đủ để được nhà nước cho làm quan thì họ phải học thêm để thi những kỳ thi cao hơn sau đó như thi Hội, thi Đình… hoặc tạm kiếm sống bằng những nghề dạy học (gọi là “thầy đồ”), viết thuê.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo4.webp" /></p> <p class="image-caption">Thầy đồ ngồi đọc sách, 1915. Ảnh: Léon Busy.</p> <p>Ấn phẩm <em>Nếp Cũ Con Người Việt Nam</em>&nbsp;do tác giả Toan Ánh biên soạn có đoạn viết: “Học khai-tâm không có trường của nhà nước, nhưng tại làng xã nào cũng có một vài ông đồ dạy trẻ. Học trò thường học sách viết, sách in rất đắt, ông đồ nào cũng có một tủ sách, các học trò chép lại bài học qua những sách của ông đồ…”&nbsp;</p> <p>Thế nhưng để được gọi là ông đồ, không phải chỉ cần mặc áo dài khăn đóng biết viết. Đây là một danh xưng để gọi những người vừa giỏi chữ vừa có đạo đức và hiểu biết sâu rộng. Dù có thể chưa đỗ đạt, nhưng họ vẫn giữ phẩm hạnh, sống ngay thẳng, giữ lễ nghĩa, bởi người xưa vốn đã quan niệm việc học là không chỉ học chữ, mà phải học cả đạo làm người. Ông đồ xưa chính là biểu tượng của trí thức, đạo đức, nhân cách trong xã hội truyền thống. Người ta trọng vọng ông đồ không chỉ vì chữ đẹp, mà vì ông có tâm sáng, lòng ngay, đạo nghĩa vững.</p> <div class="quote"> <p style="text-align: center;"><strong>Tấm tắc ngợi thiên tài:</strong><br /><strong>"Hoa tay thảo những nét</strong><br /><strong>Như phượng múa, rồng bay"</strong><br /><strong>(Ông đồ - Vũ Đình Liên)</strong></p> </div> <p>Người xưa thường tìm đến ông đồ khi cần “xin chữ,” hoặc cần người có chữ nghĩa và hiểu biết giúp việc văn tự. Tục xin chữ, cho chữ cũng đã ra đời từ đây, mỗi dịp hội hè lễ Tết, sĩ tử, người hiếu học xin chữ ông đồ như một cách “lấy vía” may mắn, giỏi giang. Song để xin chữ khi ấy không đơn giản mà như một nghi thức không thành văn. Để xin chữ thầy đồ, người xin phải sắm một phần lễ vật nhỏ gồm cau trầu, chè thuốc… nhưng thành tâm đến nhà. Người cho chữ cũng luôn phải nghiêm chỉnh, tôn kính, cho đúng người trọng chữ nghĩa chứ không kiểu “học giả thích làm sang.”</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo1.webp" /></p> <p class="image-caption">Ông đồ viết chữ trên phố Hà Nội, 1913-1917. Ảnh: Léon Busy.</p> <p>Chữ được viết theo kiểu thư pháp, thường là chữ Nho và có thể viết theo nhiều cách trên nền giấy đỏ, bởi màu đỏ vốn là màu sắc đem lại sự may mắn theo quan niệm của người phương Đông. Người cho chữ tùy tâm trạng, tùy hoa tay mà tạo ra những hình thái con chữ lạ mắt, độc đáo. Mỗi chữ hiện ra dưới tay các thầy đồ không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật thư pháp, mà còn bộc lộ tấm lòng, tính cách, tâm hồn và cả sự sáng tạo của mỗi cá nhân.</p> <h3><span style="background-color: transparent; font-size: 1.17em;">Mực tàu, nghiên bút, “nhất tự thiên kim”</span></h3> <p>Người xưa có câu “nhất tự thiên kim” tức “một chữ đáng nghìn vàng,” ảnh hưởng từ Lã Bất Vi theo <em>Sử ký Tư Mã Thiên</em> (Trung Quốc). Vị Thừa tướng cho treo sách ở quốc môn và thưởng vàng cho ai có thể thêm bớt chữ. Chính bởi quyền thế nghiêng trời lệch đất, chẳng ai dám bước ra sửa sách. Từ đó, câu nói trên trở thành điển cổ để chỉ văn tự, chữ nghĩa có giá trị rất cao.</p> <p>Hơn cả sự hiện hữu về mặt hình, con chữ là cách để nhân loại lưu giữ, khai mở và kết nối. Do vậy người ta mới so sánh chữ quý như vàng. Thư pháp gia - TS Cung Khắc Lược giải thích: “Trong tư tưởng, trong tình cảm và trong tâm hồn bao giờ cũng được biểu hiện bằng lời, bằng từ vựng, bằng văn bản… Vậy thì một chữ trên văn bản, một chữ của tim, của óc nêu ra cho nhau, tặng nhau đáng nghìn vàng là vô cùng xứng đáng, quý hơn tiền của nhiều.”</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo10.webp" /></p> <p class="image-caption">Ông đồ viết chữ trước Chùa Hương, Hà Nội, 1995. Nguồn ảnh: tài khoản Flickr @<a href="https://www.flickr.com/photos/lonqueta/" target="_blank">lonqueta</a>.<a href="https://saigoneer.com/vietnam-heritage/2917-these-17-old-photos-show-life-in-vietnam-100-years-ago-with-vivid-color" target="_blank"><br /></a></p> <p>Việc xin chữ ngày một trở nên thịnh hành và trở thành phong tục đẹp của người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về. Bất kể là ai, từ miền ngược đến miền xuôi và cũng chẳng phân biệt sang nghèo, chỉ cần có sự thành tâm thì đều có thể xin chữ.</p> <p>Mỗi nét mực trên giấy của ông đồ chất chứa một nỗi niềm, một tâm tư hay một ý niệm nhất định. Xin chữ Cát Tường, Như Ý... để cầu mong sự bình an cho gia đình. Xin chữ Phát, Lộc, Tài… hy vọng việc làm ăn thành công, thuận buồm xuôi gió. Những người trẻ thì xin chữ Chí, chữ Đắc… để vững lòng trước những khó khăn.</p> <p>Cũng không còn nặng nghi lễ như xưa, không phải cứ “áo the, khăn xếp,” áo nâu, râu tóc bạc phơ mới là người cho chữ mà người viết, “ông đồ Tây,” “bà đồ"... đều có. Không chỉ đóng khung trong “mực tàu, giấy đỏ” mà đã đủ các chất liệu gỗ, đá, trúc, tre, lụa, gấm. Rồi Triện, Lệ, Khải, Thảo, Hành… cách viết nào cũng có. Người người xếp hàng và chờ đợi dọc phố, dưới các đền chùa để xin những con chữ “phượng múa, rồng bay” như một tục lệ đẹp không thể thiếu của ngày đầu năm mới.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo20.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo21.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo22.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo23.webp" alt="" /></div> </div> <p class="image-caption">Muôn hình vạn trạng ông đồ, bà đồ ngày nay. Ảnh: Alberto Prieto.</p> <p>Các “phố ông đồ” cũng ra đời nhằm tôn vinh phong tục truyền thống này. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được biết đến như “Làng sĩ tử” phía Bắc. Tục xin chữ ở Nam bộ bắt nguồn từ thế kỷ thứ 17, thời chúa Nguyễn vào khai phá vùng đất phương Nam cùng với các đợt người miền Bắc, miền Trung di cư vào theo. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ 17 khi người Hoa bắt đầu định cư và khai phá ở Biên Hoà - Đồng Nai thì tục xin chữ mới nở rộ. Chính quá trình cộng cư lâu dài của các nền văn hóa cũng ảnh hưởng ít nhiều đến nét đặc trưng riêng của tục xin chữ vùng này.</p> <p>Và tại các con phố này ngày nay, quá nửa “ông đồ” là sinh viên khoa Hán-Nôm hay người yêu nghệ thuật; người xin chữ thì đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp, ngành nghề. Nhưng không phải là trào lưu nhất thời, tôi coi đây là sự trao truyền văn hoá, bởi ai thì ai, nhưng cốt lõi của phong tục vẫn được giữ trọn. Người cho thì thả theo nét bút cái tâm, cái tài. Người xin thì tôn trọng đạo nghĩa và nét đẹp truyền thống của dân tộc.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/ongdo/ongdo50.webp" /></p> <p class="image-caption">Ảnh: Alberto Prieto.</p> <p>[Ảnh bìa: Léon Busy.]</p></div> Nghía mâm ngũ quả Bắc, Trung, Nam để thấy Tết mỗi miền một vẻ 2026-02-14T16:37:17+07:00 2026-02-14T16:37:17+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18063-nghía-mâm-ngũ-quả-bắc,-trung,-nam-để-thấy-tết-mỗi-miền-một-vẻ Thảo Nguyên. Minh họa: Dương Trương, Mai Khanh và Ngọc Tạ. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguquaweb1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguquafb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em style="background-color: transparent;">Ngày cuối năm, lớp bụi mỏng trên bàn thờ được thổi bay sau mấy lượt mẹ huơ cây chổi lông gà lia lịa. Những sợi lông mềm quét qua từng thớ gỗ, từng chân lư hương, khe kẽ bát nhang, nhẹ như một cái chạm đánh thức căn nhà sau giấc ngủ dài.</em></p> <p>Trong bếp, mùi mứt dừa thơm phức còn ươm hơi nóng trên bếp, bọn trẻ con chúng tôi tỉ mỉ lau từng trái cây mẹ mua trong buổi chợ sớm, có trái vừa được cha cắt ngoài vườn, mong ngóng mẹ mau mau xuống bếp sắp quả vào chiếc đĩa tròn thật to. Tôi sẽ ngó thật kỹ xem trái dừa được đặt ở đâu cho vững, trái xoài vàng ươm được kê thế nào cho vừa mắt.</p> <p>“Cầu-dừa-đủ-xoài-sung” — đó là mâm ngũ quả truyền thống nhà tôi vẫn dâng lên bàn thờ gia tiên mỗi độ Tết đến xuân về. Từ thuở nhỏ, tôi đã quen với những câu chuyện về ý nghĩa của từng loại quả, được bà ngoại và mẹ chậm rãi kể lại trong những buổi chiều cuối năm, khi căn nhà thơm mùi mứt Tết và gió xuân khe khẽ lùa qua hiên.</p> <p>Ngoại tôi nói, mâm ngũ quả là lời cầu chúc không thành tiếng. “Cầu” lấy ý từ quả mãng cầu là cầu mong, là ước vọng; “dừa” đọc trại thành “vừa,” mong cuộc sống vừa đủ, không thiếu thốn; “đu đủ” là đủ đầy, no ấm quanh năm; “xoài” gần âm với “xài. ”ước mong có của để chi tiêu, không chật vật; “sung” là sung túc, viên mãn, là niềm hy vọng cho một năm mới hanh thông, phát đạt.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguqua1.webp" /></p> <p class="image-caption">Mâm ngũ quả miền Nam. Minh họa: Dương Trương.</p> <p>Từ lời ngoại, tôi nhận ra người xưa không mơ những điều quá xa xôi. Mâm ngũ quả của bà không mang tham vọng giàu sang, mà chất chứa ước mơ về cuộc sống vừa vặn với mình, biết đủ, biết ơn và còn chỗ cho hy vọng nảy nở. Mỗi lần nghe ngoại kể, tôi lại thấy những trái cây trên mâm không còn là vật vô tri. Chúng trở thành những lời chúc được gói ghém bằng tất cả sự chân thành gửi đến tổ tiên, một cuộc đối thoại giữa các thế hệ.</p> <p>Với mẹ, câu chuyện mâm ngũ quả được nối dài bằng những kinh nghiệm đời thường, chắt lọc từ tháng ngày tảo tần. Mẹ dặn phải chọn trái dừa thật tròn để làm trụ, lựa xoài chín vàng ươm rồi đặt ra phía trước cho sáng mâm, tìm quả đu đủ vừa tay để kê cho chắc, mãng cầu cũng được chọn kỹ, da còn xanh, cuống tươi rồi xếp khéo vào giữa, sung điểm xuyết để mâm quả thêm đầy đặn. Mỗi thứ một vị trí, không chỉ khoe sắc quả mà còn giữ sự hài hoà, cân đối và vững chãi.</p> <p>Khi lớn lên, rời xa mái nhà quen thuộc, có cơ hội đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, tôi mới nhận ra: mâm ngũ quả không chỉ có một cách trình bày và ý nghĩa.</p> <p>Nhóm bạn tôi, mỗi đứa một miền quê, hay ngồi lại với nhau vào những ngày cuối năm, rôm rả từ việc sắm sửa, dọn dẹp, gói ghém Tết sao cho đúng kiểu nhà mình. Và chính từ những khác biệt rất đỗi quen thương ấy, tôi bất ngờ trước sự đa dạng trong cách bày biện mâm ngũ quả của ba miền đất nước. Mỗi nơi lại có cách lựa chọn và sắp đặt rất riêng, phản ánh điều kiện tự nhiên, tập quán và cả tính cách con người nơi ấy.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguqua3.webp" /></p> <p class="image-caption">Mâm ngũ quả miền Bắc. Minh họa: Ngọc Tạ.</p> <p>Với miền Bắc, mâm ngũ quả mang vẻ trang nghiêm, cân đối và hài hòa. Chuối xanh gần như không thể thiếu, thường được đặt ở dưới cùng, xòe rộng như bàn tay nâng đỡ, che chở. Trên nền chuối là bưởi hoặc phật thủ, biểu tượng cho sự tròn đầy, phúc lộc. Xen kẽ là cam, quýt, táo, hồng… tạo nên sắc màu rực rỡ nhưng vẫn giữ được nét nền nã.</p> <p>Người Bắc không quá câu nệ số lượng đúng năm loại, mà chú trọng ý nghĩa và sự hài hòa âm dương, màu sắc. Nhìn mâm ngũ quả miền Bắc, tôi thấy thấp thoáng tính cách của con người nơi đây: chừng mực, chỉn chu và hướng nhiều về truyền thống.</p> <p>Miền Trung lại mang một câu chuyện khác. Đất đai khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên khiến trái cây không phong phú như hai miền còn lại. Bởi vậy, mâm ngũ quả miền Trung không quá đặt nặng hình thức hay tên gọi mang tính cầu chúc. Người miền Trung quan niệm “có gì dâng nấy,” quan trọng là sự thành kính.</p> <p>Trên mâm có thể là thanh long, dứa, cam, chuối, dưa hấu… những loại quả sẵn có theo mùa. Bên cạnh đó, với sự giao thoa văn hóa giữa Bắc và Nam, mâm ngũ quả của người miền Trung thường vẫn được bày đủ chuối, mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài. Cách bày biện giản dị, mộc mạc, không cầu kỳ, nhưng lại toát lên sự chân chất, bền bỉ và niềm tin rằng dù cuộc sống còn nhiều gian nan, chỉ cần lòng người ngay thẳng, điều tốt đẹp rồi sẽ đến cùng năm mới.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguqua2.webp" /></p> <p class="image-caption">Mâm ngũ quả miền Trung. Minh họa: Khanh Mai.</p> <p>Và khi được kể về mâm ngũ quả miền Nam tôi đã luôn rất hào hứng nói về cách “chơi chữ” đầy thú vị: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, ghép lại thành ước mong “cầu vừa đủ xài sung” cùng những câu chuyện mà bà và mẹ đã kể. Chuối thường không xuất hiện vì phát âm gần với “chúi nhủi,” không may mắn theo quan niệm dân gian. Bên cạnh đó còn có nhiều loại quả cũng không được phép xuất hiện trên mâm ngũ quả với ý nghĩa kiêng kỵ tương tự. Ví dụ như lê và táo bị tránh vì liên tưởng đến “lê lết”, “đổ bể”, báo hiệu sự thất bại. Cam, quýt cũng ít được chọn do gắn với câu “quýt làm cam chịu”, hàm ý vất vả, lam lũ.</p> <p>Những loại quả có gai nhọn như mít, sầu riêng,.. bị xem là mang ý nghĩa chông gai, trắc trở hay các loại quả có vị đắng, cay, chua như khổ qua, ớt, me không đem lại năng lượng tích cực cho năm mới. Ngoài ra, những quả có mùi quá nồng thì bị cho là gây khó chịu, thiếu sự thanh tịnh nơi ban thờ. Thay vào đó là dừa, đu đủ, xoài với dáng tròn đầy, màu sắc tươi tắn. Mâm ngũ quả miền Nam nhìn vào đã thấy Tết: sung túc, vui vẻ và tràn đầy hy vọng cho năm mới no đủ, làm ăn khấm khá.</p> <p>Khi nhóm bạn tôi mỗi đứa kể về mâm ngũ quả quê mình, tôi chợt nhận ra: sự khác nhau ấy không tạo nên khoảng cách, mà ngược lại, khiến câu chuyện Tết thêm phong phú. Mỗi mâm ngũ quả là một lát cắt văn hóa, là cách người Việt đối thoại với thiên nhiên và gửi gắm ước mơ cho tương lai. Đặc biệt khi tìm hiểu kỹ hơn, tôi dần hiểu rằng những điều bà và mẹ gìn giữ trong mâm ngũ quả không chỉ là kinh nghiệm truyền đời, mà còn ẩn chứa một quan niệm văn hóa lâu đời của người Việt: thuyết ngũ hành. “Ngũ quả” — năm loại trái cây không đơn thuần là con số tượng trưng, mà là cách con người gửi gắm ước mong về sự hài hòa của đất trời trong năm mới.</p> <p>Theo quan niệm dân gian, mâm ngũ quả là sự hội tụ của năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, thể hiện qua màu sắc, hình dáng và hương vị của từng loại quả. Trái xanh tượng trưng cho Mộc, mang ý nghĩa sinh sôi, khởi đầu; sắc vàng, nâu của quả chín gợi Thổ là sự bền vững, chở che; màu đỏ, cam đại diện cho Hỏa là ấm áp, may mắn; những quả có sắc trắng, ánh sáng nhạt gợi Kim là sự tinh khiết, đủ đầy; còn Thủy hiện diện qua độ mọng nước, tươi mới, biểu trưng cho dòng chảy hanh thông của cuộc sống. Khi năm yếu tố ấy cùng hiện diện trên bàn thờ, người xưa tin rằng gia đạo sẽ được cân bằng, năm mới sẽ thuận hòa, yên ấm.</p> <div class="smaller"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguqua5.gif" /></div> <p class="image-caption">Mâm ngũ quã đại diện cho triết lý ngũ hành.</p> <p>Có lẽ vì thế mà dù mỗi miền quê có cách chọn quả và bày biện khác nhau, tinh thần chung của mâm ngũ quả vẫn không đổi. Từ nải chuối xanh miền Bắc nâng đỡ cả mâm quả, đến mâm quả mộc mạc của miền Trung hay cách chơi chữ đầy lạc quan của miền Nam, tất cả đều hướng đến sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Ngũ hành trong mâm ngũ quả, suy cho cùng, không nằm ở việc đủ hay thiếu một loại quả nào, mà ở tấm lòng gửi gắm vào đó.</p> <p>Theo nhịp chảy của thời gian, của sự hiện đại và tiến bộ, mâm ngũ quả cũng chẳng thể nằm ngoài quy luật vận hành ấy. Khi mà trái cây ngoại nhập xuất hiện nhiều hơn, cách bày biện trở nên sáng tạo, thậm chí có những mâm quả được tạo hình công phu, chạm khắc độc đáo. Khi đứng trước những mâm quả ấy, tôi thấy lạ mà quen: lạ vì màu sắc rực rỡ, hình dáng mới lạ, nhưng quen vì trong từng trái quả, vẫn chất chứa sự thành tâm, vẫn hiện lên sự tỉ mỉ của những người cẩn thận chọn từng quả, xếp từng vị trí. Dẫu thời gian và hoàn cảnh đổi thay, tấm lòng con cháu gửi về tổ tiên vẫn nguyên vẹn.</p> <p>Và chừng nào, trong những ngày đầu năm, trên bàn thờ mỗi gia đình Việt còn mâm ngũ quả được bày lên bằng sự thành tâm, chừng đó Tết vẫn còn nguyên vẹn hồn cốt. Dáng Tết có thể đổi thay theo thời gian, nhưng mâm ngũ quả với tất cả ký ức, ý nghĩa và yêu thương vẫn lặng lẽ ở đó như một mùa xuân bất tận, không bao giờ cũ hay xa lạ.</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguquaweb1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguquafb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em style="background-color: transparent;">Ngày cuối năm, lớp bụi mỏng trên bàn thờ được thổi bay sau mấy lượt mẹ huơ cây chổi lông gà lia lịa. Những sợi lông mềm quét qua từng thớ gỗ, từng chân lư hương, khe kẽ bát nhang, nhẹ như một cái chạm đánh thức căn nhà sau giấc ngủ dài.</em></p> <p>Trong bếp, mùi mứt dừa thơm phức còn ươm hơi nóng trên bếp, bọn trẻ con chúng tôi tỉ mỉ lau từng trái cây mẹ mua trong buổi chợ sớm, có trái vừa được cha cắt ngoài vườn, mong ngóng mẹ mau mau xuống bếp sắp quả vào chiếc đĩa tròn thật to. Tôi sẽ ngó thật kỹ xem trái dừa được đặt ở đâu cho vững, trái xoài vàng ươm được kê thế nào cho vừa mắt.</p> <p>“Cầu-dừa-đủ-xoài-sung” — đó là mâm ngũ quả truyền thống nhà tôi vẫn dâng lên bàn thờ gia tiên mỗi độ Tết đến xuân về. Từ thuở nhỏ, tôi đã quen với những câu chuyện về ý nghĩa của từng loại quả, được bà ngoại và mẹ chậm rãi kể lại trong những buổi chiều cuối năm, khi căn nhà thơm mùi mứt Tết và gió xuân khe khẽ lùa qua hiên.</p> <p>Ngoại tôi nói, mâm ngũ quả là lời cầu chúc không thành tiếng. “Cầu” lấy ý từ quả mãng cầu là cầu mong, là ước vọng; “dừa” đọc trại thành “vừa,” mong cuộc sống vừa đủ, không thiếu thốn; “đu đủ” là đủ đầy, no ấm quanh năm; “xoài” gần âm với “xài. ”ước mong có của để chi tiêu, không chật vật; “sung” là sung túc, viên mãn, là niềm hy vọng cho một năm mới hanh thông, phát đạt.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguqua1.webp" /></p> <p class="image-caption">Mâm ngũ quả miền Nam. Minh họa: Dương Trương.</p> <p>Từ lời ngoại, tôi nhận ra người xưa không mơ những điều quá xa xôi. Mâm ngũ quả của bà không mang tham vọng giàu sang, mà chất chứa ước mơ về cuộc sống vừa vặn với mình, biết đủ, biết ơn và còn chỗ cho hy vọng nảy nở. Mỗi lần nghe ngoại kể, tôi lại thấy những trái cây trên mâm không còn là vật vô tri. Chúng trở thành những lời chúc được gói ghém bằng tất cả sự chân thành gửi đến tổ tiên, một cuộc đối thoại giữa các thế hệ.</p> <p>Với mẹ, câu chuyện mâm ngũ quả được nối dài bằng những kinh nghiệm đời thường, chắt lọc từ tháng ngày tảo tần. Mẹ dặn phải chọn trái dừa thật tròn để làm trụ, lựa xoài chín vàng ươm rồi đặt ra phía trước cho sáng mâm, tìm quả đu đủ vừa tay để kê cho chắc, mãng cầu cũng được chọn kỹ, da còn xanh, cuống tươi rồi xếp khéo vào giữa, sung điểm xuyết để mâm quả thêm đầy đặn. Mỗi thứ một vị trí, không chỉ khoe sắc quả mà còn giữ sự hài hoà, cân đối và vững chãi.</p> <p>Khi lớn lên, rời xa mái nhà quen thuộc, có cơ hội đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, tôi mới nhận ra: mâm ngũ quả không chỉ có một cách trình bày và ý nghĩa.</p> <p>Nhóm bạn tôi, mỗi đứa một miền quê, hay ngồi lại với nhau vào những ngày cuối năm, rôm rả từ việc sắm sửa, dọn dẹp, gói ghém Tết sao cho đúng kiểu nhà mình. Và chính từ những khác biệt rất đỗi quen thương ấy, tôi bất ngờ trước sự đa dạng trong cách bày biện mâm ngũ quả của ba miền đất nước. Mỗi nơi lại có cách lựa chọn và sắp đặt rất riêng, phản ánh điều kiện tự nhiên, tập quán và cả tính cách con người nơi ấy.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguqua3.webp" /></p> <p class="image-caption">Mâm ngũ quả miền Bắc. Minh họa: Ngọc Tạ.</p> <p>Với miền Bắc, mâm ngũ quả mang vẻ trang nghiêm, cân đối và hài hòa. Chuối xanh gần như không thể thiếu, thường được đặt ở dưới cùng, xòe rộng như bàn tay nâng đỡ, che chở. Trên nền chuối là bưởi hoặc phật thủ, biểu tượng cho sự tròn đầy, phúc lộc. Xen kẽ là cam, quýt, táo, hồng… tạo nên sắc màu rực rỡ nhưng vẫn giữ được nét nền nã.</p> <p>Người Bắc không quá câu nệ số lượng đúng năm loại, mà chú trọng ý nghĩa và sự hài hòa âm dương, màu sắc. Nhìn mâm ngũ quả miền Bắc, tôi thấy thấp thoáng tính cách của con người nơi đây: chừng mực, chỉn chu và hướng nhiều về truyền thống.</p> <p>Miền Trung lại mang một câu chuyện khác. Đất đai khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên khiến trái cây không phong phú như hai miền còn lại. Bởi vậy, mâm ngũ quả miền Trung không quá đặt nặng hình thức hay tên gọi mang tính cầu chúc. Người miền Trung quan niệm “có gì dâng nấy,” quan trọng là sự thành kính.</p> <p>Trên mâm có thể là thanh long, dứa, cam, chuối, dưa hấu… những loại quả sẵn có theo mùa. Bên cạnh đó, với sự giao thoa văn hóa giữa Bắc và Nam, mâm ngũ quả của người miền Trung thường vẫn được bày đủ chuối, mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài. Cách bày biện giản dị, mộc mạc, không cầu kỳ, nhưng lại toát lên sự chân chất, bền bỉ và niềm tin rằng dù cuộc sống còn nhiều gian nan, chỉ cần lòng người ngay thẳng, điều tốt đẹp rồi sẽ đến cùng năm mới.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguqua2.webp" /></p> <p class="image-caption">Mâm ngũ quả miền Trung. Minh họa: Khanh Mai.</p> <p>Và khi được kể về mâm ngũ quả miền Nam tôi đã luôn rất hào hứng nói về cách “chơi chữ” đầy thú vị: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, ghép lại thành ước mong “cầu vừa đủ xài sung” cùng những câu chuyện mà bà và mẹ đã kể. Chuối thường không xuất hiện vì phát âm gần với “chúi nhủi,” không may mắn theo quan niệm dân gian. Bên cạnh đó còn có nhiều loại quả cũng không được phép xuất hiện trên mâm ngũ quả với ý nghĩa kiêng kỵ tương tự. Ví dụ như lê và táo bị tránh vì liên tưởng đến “lê lết”, “đổ bể”, báo hiệu sự thất bại. Cam, quýt cũng ít được chọn do gắn với câu “quýt làm cam chịu”, hàm ý vất vả, lam lũ.</p> <p>Những loại quả có gai nhọn như mít, sầu riêng,.. bị xem là mang ý nghĩa chông gai, trắc trở hay các loại quả có vị đắng, cay, chua như khổ qua, ớt, me không đem lại năng lượng tích cực cho năm mới. Ngoài ra, những quả có mùi quá nồng thì bị cho là gây khó chịu, thiếu sự thanh tịnh nơi ban thờ. Thay vào đó là dừa, đu đủ, xoài với dáng tròn đầy, màu sắc tươi tắn. Mâm ngũ quả miền Nam nhìn vào đã thấy Tết: sung túc, vui vẻ và tràn đầy hy vọng cho năm mới no đủ, làm ăn khấm khá.</p> <p>Khi nhóm bạn tôi mỗi đứa kể về mâm ngũ quả quê mình, tôi chợt nhận ra: sự khác nhau ấy không tạo nên khoảng cách, mà ngược lại, khiến câu chuyện Tết thêm phong phú. Mỗi mâm ngũ quả là một lát cắt văn hóa, là cách người Việt đối thoại với thiên nhiên và gửi gắm ước mơ cho tương lai. Đặc biệt khi tìm hiểu kỹ hơn, tôi dần hiểu rằng những điều bà và mẹ gìn giữ trong mâm ngũ quả không chỉ là kinh nghiệm truyền đời, mà còn ẩn chứa một quan niệm văn hóa lâu đời của người Việt: thuyết ngũ hành. “Ngũ quả” — năm loại trái cây không đơn thuần là con số tượng trưng, mà là cách con người gửi gắm ước mong về sự hài hòa của đất trời trong năm mới.</p> <p>Theo quan niệm dân gian, mâm ngũ quả là sự hội tụ của năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, thể hiện qua màu sắc, hình dáng và hương vị của từng loại quả. Trái xanh tượng trưng cho Mộc, mang ý nghĩa sinh sôi, khởi đầu; sắc vàng, nâu của quả chín gợi Thổ là sự bền vững, chở che; màu đỏ, cam đại diện cho Hỏa là ấm áp, may mắn; những quả có sắc trắng, ánh sáng nhạt gợi Kim là sự tinh khiết, đủ đầy; còn Thủy hiện diện qua độ mọng nước, tươi mới, biểu trưng cho dòng chảy hanh thông của cuộc sống. Khi năm yếu tố ấy cùng hiện diện trên bàn thờ, người xưa tin rằng gia đạo sẽ được cân bằng, năm mới sẽ thuận hòa, yên ấm.</p> <div class="smaller"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/02/mamnguqua/mamnguqua5.gif" /></div> <p class="image-caption">Mâm ngũ quã đại diện cho triết lý ngũ hành.</p> <p>Có lẽ vì thế mà dù mỗi miền quê có cách chọn quả và bày biện khác nhau, tinh thần chung của mâm ngũ quả vẫn không đổi. Từ nải chuối xanh miền Bắc nâng đỡ cả mâm quả, đến mâm quả mộc mạc của miền Trung hay cách chơi chữ đầy lạc quan của miền Nam, tất cả đều hướng đến sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Ngũ hành trong mâm ngũ quả, suy cho cùng, không nằm ở việc đủ hay thiếu một loại quả nào, mà ở tấm lòng gửi gắm vào đó.</p> <p>Theo nhịp chảy của thời gian, của sự hiện đại và tiến bộ, mâm ngũ quả cũng chẳng thể nằm ngoài quy luật vận hành ấy. Khi mà trái cây ngoại nhập xuất hiện nhiều hơn, cách bày biện trở nên sáng tạo, thậm chí có những mâm quả được tạo hình công phu, chạm khắc độc đáo. Khi đứng trước những mâm quả ấy, tôi thấy lạ mà quen: lạ vì màu sắc rực rỡ, hình dáng mới lạ, nhưng quen vì trong từng trái quả, vẫn chất chứa sự thành tâm, vẫn hiện lên sự tỉ mỉ của những người cẩn thận chọn từng quả, xếp từng vị trí. Dẫu thời gian và hoàn cảnh đổi thay, tấm lòng con cháu gửi về tổ tiên vẫn nguyên vẹn.</p> <p>Và chừng nào, trong những ngày đầu năm, trên bàn thờ mỗi gia đình Việt còn mâm ngũ quả được bày lên bằng sự thành tâm, chừng đó Tết vẫn còn nguyên vẹn hồn cốt. Dáng Tết có thể đổi thay theo thời gian, nhưng mâm ngũ quả với tất cả ký ức, ý nghĩa và yêu thương vẫn lặng lẽ ở đó như một mùa xuân bất tận, không bao giờ cũ hay xa lạ.</p></div> Trăm năm rối cạn Tế Tiêu nuôi dưỡng tinh thần cộng đồng 2026-01-30T17:02:25+07:00 2026-01-30T17:02:25+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18051-trăm-năm-rối-cạn-tế-tiêu-nuôi-dưỡng-tinh-thần-cộng-đồng Xuân Phương. Ảnh: Xuân Phương. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roicanweb1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roicanfb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Rời trung tâm Hà Nội, tôi men theo quốc lộ 21B để đến tổ dân phố Tế Tiêu, thị&nbsp;trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức (Hà Nội). Mảnh đất trù phú ven sông Đáy này là cái nôi của&nbsp;một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo: rối cạn.</em></p> <p>Hôm ấy, phường rối có lịch diễn cho một đoàn khách vào buổi chiều. Nhưng từ&nbsp;sáng, sân đình đã rộn ràng. Người dựng phông, người kê ghế, người thử âm thanh.&nbsp;Những con rối gỗ treo lủng lẳng trong gian nhà bên chờ đến lượt lên sân khấu.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican15.webp" /></p> <p class="image-caption">Phường rối cạn Tế Tiêu có khoảng 20 thành viên, trong đó có các cô chú đã ngoài 60.</p> <p>Các thành viên phường rối, có người đã ngoài 60 tuổi, vừa trở về từ đồng ruộng. Xe&nbsp;đạp dựng ngoài sân, họ nhanh chóng thay áo dài, áo tứ thân rực rỡ màu sắc, vấn&nbsp;khăn. Từ những nông dân quen vốn “bán mặt cho đất bán lưng cho trời,” đến lúc&nbsp;biểu diễn, họ hóa thành những nghệ sĩ điêu luyện, nhịp nhàng với từng chuyển&nbsp;động và biểu cảm của quân rối.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican1.webp" /></p> <p class="image-caption">Lão Trượng, nhân vật mở màn của rối cạn Tế Tiêu.</p> <p>“Lão ra đây có cần xưng danh không nhỉ?” một giọng trầm, gằn, khỏe khoắn&nbsp;vang lên từ phía sau cánh gà. Trên sân khấu, Lão Trượng xuất hiện, áo đỏ, râu bạc,&nbsp;dáng đi khoan thai. Nếu rối nước có chú Tễu dẫn chuyện, thì rối cạn Tế Tiêu gửi&nbsp;gắm vai trò ấy vào hình ảnh một bậc cao niên phúc hậu, đại diện cho lớp người&nbsp;được kính trọng trong làng. Mọi ánh nhìn hướng về sân khấu để dõi theo những trò&nbsp;diễn.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican23.webp" /></p> <p class="image-caption">Nghệ nhân Phạm Công Bằng, trưởng phường rối cạn Tế Tiêu.</p> <p>Sau buổi diễn, nghệ nhân Phạm Công Bằng ngồi cùng tôi, kể lại câu chuyện hàng&nbsp;thế kỷ của rối cạn Tế Tiêu. Những lát cắt không chỉ gói gọn ở khía cạnh nghệ&nbsp;thuật, mà còn là ký ức và linh hồn của cả cộng đồng.</p> <h3>Rối cạn, mạch ngầm văn hóa của làng cổ Tế Tiêu</h3> <p>Múa rối ở Việt Nam gắn liền với đời sống sản xuất nông nghiệp, là nơi người nông&nbsp;dân gửi gắm tình yêu cuộc sống, đất nước, con người, thể hiện khát vọng no ấm và&nbsp;niềm tin vào điều thiện. Trong khi rối nước đã quen thuộc với nhiều người, rối cạn,&nbsp;dù ít được biết đến, vẫn âm thầm tồn tại hàng trăm năm.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican16.webp" /></p> <p class="image-caption">Nghệ nhân chuẩn bị trước giờ diễn.</p> <p>Mảnh đất Tế Tiêu có lịch sử lâu đời, là nơi cư dân Việt cổ sớm tụ cư, khai phá&nbsp;ruộng đồng và hình thành những sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú. Theo các bậc cao niên, rối&nbsp;cạn đã có mặt ở Tế Tiêu từ hơn 400 năm trước.&nbsp;Người dân kể với nhau rằng, vào năm 1573 (niên hiệu Hưng Phúc), ông&nbsp;Trần Triều Đông về đây khai hoang, lập làng, dạy dân trồng lúa, đồng thời sáng tạo&nbsp;múa rối cạn và truyền lại cho cộng đồng. Từ đó, nghệ rối bám rễ nơi này, trở thành thú&nbsp;vui tinh thần của người dân.</p> <p>Rối cạn Tế Tiêu từng trải qua nhiều thăng trầm. Chiến&nbsp;tranh và ly tán từng khiến rối cạn tưởng như lụi tàn, nhưng từ giai đoạn 1956–1960, nghệ thuật này được khôi phục, phát triển mạnh nhờ các nghệ nhân&nbsp;tiền bối như Lê Năng Nhượng, Phạm Văn Bể. Từ những nhóm diễn rải rác, năm&nbsp;1956, phường rối cạn Tế Tiêu chính thức ra đời. Đến nay, phường lưu giữ hơn 100&nbsp;tích trò và hàng nghìn con rối, với khoảng 20 thành viên.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican30_1.webp" /></p> <p class="image-caption">Nghệ nhân giao lưu với khán giả.</p> <p>Nghệ nhân Phạm Công Bằng kể, ngày xưa, múa rối tồn tại một cách tự nhiên, gắn&nbsp;với nhịp điệu của mùa vụ. Diễn rối không cần sân khấu cầu kỳ. Hết mùa gặt, khi&nbsp;nông nhàn, người làng tụ họp ở sân đình những đêm trăng sáng. Khi chưa có điện,&nbsp;ánh đèn dầu đủ để mọi người quần tụ lại với nhau, chăm chú dõi theo những câu&nbsp;chuyện được kể trên sân khấu. Nghệ nhân không sống bằng nghề biểu diễn, họ chủ&nbsp;yếu là nông dân. Ban ngày cày cấy, tối lại đứng trong buồng trò, sau phông vải. Vì&nbsp;thế, rối cạn Tế Tiêu mang đậm tính cộng đồng.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican12.webp" /></p> <p class="image-caption">Qua trăm năm, rối vẫn là hình thức giải trí mang tính cộng đồng cao.</p> <p>Trải qua hàng trăm năm, hình thức xem rối đã thay đổi, khán giả ngày nay có thể là du khách thập phương, địa điểm diễn có thể là khu du lịch, nhưng tinh thần&nbsp;cộng đồng ấy vẫn còn nguyên vẹn.</p> <h3>Tổng hòa của nhiều loại hình nghệ thuật</h3> <p>Rối cạn Tế Tiêu là sự tổng hòa của nghệ thuật chế tác quân rối, sân khấu, điều khiển rối, hát, lời thoại và âm nhạc. Chưa kể, nhiều tích trò được chuyển thể từ&nbsp;chèo, tuồng, quan họ, hát văn, tạo nên sân khấu đa dạng nhưng vô cùng gần gũi.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican22.webp" /></p> <p class="image-caption">Công việc chế tác con rối gồm nhiều bước.</p> <p>Theo anh Bằng, quy trình chế tác quân rối trải qua nhiều công đoạn nối tiếp nhau,&nbsp;đòi hỏi sự tỉ mỉ. Trước hết là khâu chuẩn bị nguyên liệu, lựa chọn chất liệu phù&nbsp;hợp, chủ yếu là gỗ sung, gỗ mít. Tiếp đó, các nghệ nhân tạo hình, chạm khắc các&nbsp;bộ phận của con rối theo từng nhân vật cụ thể. Sau khi hoàn thiện phần tạo hình,&nbsp;các bộ phận cùng hệ thống que điều khiển được lắp ráp sao cho linh hoạt, thuận&nbsp;tiện việc biểu diễn. Công đoạn tiếp theo là sơn, vẽ và trang trí mỹ thuật, nhằm&nbsp;hoàn thiện diện mạo, thần thái và đặc điểm riêng của từng nhân vật. Khi phần tạo&nbsp;hình đã hoàn chỉnh, con rối được may mặc trang phục, chỉnh sửa lần cuối trước khi&nbsp;đưa vào sử dụng trên sân khấu.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican9.webp" /></p> <p class="image-caption">Buồng trò là nơi cánh gà sân khấu.</p> <p>Trò diễn của rối cạn Tế Tiêu khai thác chất liệu từ chính hiện thực đời sống,&nbsp;nhân vật lịch sử, và phong tục tập quán, tín ngưỡng. Đó là khung cảnh&nbsp;lao động nông nghiệp như&nbsp;cày bừa, cấy lúa, xay lúa giã gạo, hái cau, với những công cụ quen thuộc như&nbsp;cày, cuốc, con trâu, con gà. Bên cạnh đó là những câu chuyện lịch sử như Thánh&nbsp;Gióng đánh giặc Ân, Lý Công Uẩn dời đô. Các cảnh sinh hoạt lễ hội, tín ngưỡng,&nbsp;phong tục như thi hái quả, đánh đu, rước kiệu, đấu vật được thể hiện bằng ngôn&nbsp;ngữ rối vô cùng sinh động, dí dỏm. Các trò rối lồng ghép bài học đạo đức, lên án tệ&nbsp;nạn, thói hư tật xấu trong cộng đồng cũng để lại nhiều suy ngẫm cho người xem.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican3.webp" /></p> <p class="image-caption">Cảnh đấu vật trong một trò rối.</p> <p>Làm sao thể hiện được hồn cốt, thông điệp của tích trò đòi hỏi người biểu diễn phải&nbsp;hiểu từng quân rối, cốt truyện để sử dụng động tác phù hợp. Các động tác thông dụng của các quân rối bao gồm đi, đứng, giơ&nbsp;tay, cúi đầu, ngồi, cầm nắm đạo cụ… Khó hơn cả là các động tác bộc lộ cảm xúc&nbsp;nội tâm như sợ hãi, vui mừng, buồn bã. Chính những chuyển động này tạo nên “hồn” cho con rối. Điều này không chỉ yêu cầu sự linh hoạt về tay chân, mà còn là&nbsp;sự thấu cảm từng tích trò, từng tính cách nhân vật.</p> <p>Một yếu tố không kém phần quan trọng là âm nhạc và lời thoại, giúp dẫn&nbsp;dắt cảm xúc, nhịp độ vở diễn — có lúc gấp gáp, giục giã, khi nhẹ nhàng, linh thiêng. Ban nhạc chơi&nbsp;cho phường rối gồm các nhạc cụ gõ như trống cái, trống con, não bạt, và các nhạc&nbsp;cụ dây gồm nhị, đàn tam. Tùy theo trò diễn, nghệ nhân sẽ phải biểu diễn những lời&nbsp;hát ở các thể loại khác nhau, từ dân ca, hát nói, hát ngâm đến tuồng, chèo, hát văn,&nbsp;quan họ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican18.webp" /></p> <p class="image-caption">Ông Nguyễn Văn Thuyết, người chơi đàn nhị trong ban nhạc.</p> <h3>Người giữ hồn rối cạn Tế Tiêu</h3> <p>Nhắc đến rối cạn, ai cũng nhớ đến cụ Phạm Văn Bể, người được xem là “cuốn từ&nbsp;điển sống” về rối cạn và là linh hồn của phường rối. Từ 8 tuổi, cụ Bể đã bộc lộ&nbsp;niềm yêu thích đặc biệt với những quân rối. Cụ đã dành cả một đời gắn bó với bộ&nbsp;môn này. Cụ làm mọi việc từ chế tác, viết kịch bản, dàn dựng, hướng dẫn và biểu&nbsp;diễn.</p> <p>Con trai cụ Bể, nghệ nhân Phạm Công Bằng, lớn lên trong tiếng đục gỗ, trong âm&nbsp;thanh của tiếng đàn nhị, tiếng trống. “Chính cuộc đời của bố đã truyền cảm hứng,&nbsp;truyền nghề cho tôi,” anh nói. Anh Bằng vẫn còn nhớ cảm giác vui sướng khi tự&nbsp;tay làm con rối đầu tiên trong đời. Đó là nhân vật Thạch Sanh. Buổi diễn đầu tiên&nbsp;đến khi anh mới 12 tuổi.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican20.webp" /></p> <p class="image-caption">&nbsp;“Đứng trong buồng&nbsp;trò, nghệ nhân nghe rõ từng tiếng cười, từng tràng vỗ tay.”</p> <p>Ngày đó, dù thấp bé nhất đoàn, anh vẫn muốn&nbsp;tham gia. Chính những trải nghiệm đầu tiên ấy đã nuôi dưỡng một tình yêu trong anh đối với di sản cha ông để lại. Khi cụ Bể qua đời, phường rối mất trụ cột, nhưng anh Bằng hiểu rằng giữ rối cạn là giữ ký ức của cả cộng đồng. “Đứng trong buồng&nbsp;trò, nghệ nhân nghe rõ từng tiếng cười, từng tràng vỗ tay, mình càng có động lực&nbsp;khi di sản của quê hương được nhiều người biết đến,” anh nói.</p> <p>Là người dẫn dắt phường rối cạn Tế Tiêu ngày nay, nỗi trăn trở lớn nhất của anh&nbsp;Bằng là làm sao giữ di sản không bị mai một, để rối cạn Tế Tiêu luôn giữ được đời&nbsp;sống của nó trong cộng đồng dân làng, và xa hơn là trở thành sản phẩm du lịch độc&nbsp;đáo tiếp cận đến du khách gần xa.</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roicanweb1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roicanfb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Rời trung tâm Hà Nội, tôi men theo quốc lộ 21B để đến tổ dân phố Tế Tiêu, thị&nbsp;trấn Đại Nghĩa, huyện Mỹ Đức (Hà Nội). Mảnh đất trù phú ven sông Đáy này là cái nôi của&nbsp;một loại hình nghệ thuật dân gian độc đáo: rối cạn.</em></p> <p>Hôm ấy, phường rối có lịch diễn cho một đoàn khách vào buổi chiều. Nhưng từ&nbsp;sáng, sân đình đã rộn ràng. Người dựng phông, người kê ghế, người thử âm thanh.&nbsp;Những con rối gỗ treo lủng lẳng trong gian nhà bên chờ đến lượt lên sân khấu.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican15.webp" /></p> <p class="image-caption">Phường rối cạn Tế Tiêu có khoảng 20 thành viên, trong đó có các cô chú đã ngoài 60.</p> <p>Các thành viên phường rối, có người đã ngoài 60 tuổi, vừa trở về từ đồng ruộng. Xe&nbsp;đạp dựng ngoài sân, họ nhanh chóng thay áo dài, áo tứ thân rực rỡ màu sắc, vấn&nbsp;khăn. Từ những nông dân quen vốn “bán mặt cho đất bán lưng cho trời,” đến lúc&nbsp;biểu diễn, họ hóa thành những nghệ sĩ điêu luyện, nhịp nhàng với từng chuyển&nbsp;động và biểu cảm của quân rối.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican1.webp" /></p> <p class="image-caption">Lão Trượng, nhân vật mở màn của rối cạn Tế Tiêu.</p> <p>“Lão ra đây có cần xưng danh không nhỉ?” một giọng trầm, gằn, khỏe khoắn&nbsp;vang lên từ phía sau cánh gà. Trên sân khấu, Lão Trượng xuất hiện, áo đỏ, râu bạc,&nbsp;dáng đi khoan thai. Nếu rối nước có chú Tễu dẫn chuyện, thì rối cạn Tế Tiêu gửi&nbsp;gắm vai trò ấy vào hình ảnh một bậc cao niên phúc hậu, đại diện cho lớp người&nbsp;được kính trọng trong làng. Mọi ánh nhìn hướng về sân khấu để dõi theo những trò&nbsp;diễn.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican23.webp" /></p> <p class="image-caption">Nghệ nhân Phạm Công Bằng, trưởng phường rối cạn Tế Tiêu.</p> <p>Sau buổi diễn, nghệ nhân Phạm Công Bằng ngồi cùng tôi, kể lại câu chuyện hàng&nbsp;thế kỷ của rối cạn Tế Tiêu. Những lát cắt không chỉ gói gọn ở khía cạnh nghệ&nbsp;thuật, mà còn là ký ức và linh hồn của cả cộng đồng.</p> <h3>Rối cạn, mạch ngầm văn hóa của làng cổ Tế Tiêu</h3> <p>Múa rối ở Việt Nam gắn liền với đời sống sản xuất nông nghiệp, là nơi người nông&nbsp;dân gửi gắm tình yêu cuộc sống, đất nước, con người, thể hiện khát vọng no ấm và&nbsp;niềm tin vào điều thiện. Trong khi rối nước đã quen thuộc với nhiều người, rối cạn,&nbsp;dù ít được biết đến, vẫn âm thầm tồn tại hàng trăm năm.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican16.webp" /></p> <p class="image-caption">Nghệ nhân chuẩn bị trước giờ diễn.</p> <p>Mảnh đất Tế Tiêu có lịch sử lâu đời, là nơi cư dân Việt cổ sớm tụ cư, khai phá&nbsp;ruộng đồng và hình thành những sinh hoạt văn hóa cộng đồng phong phú. Theo các bậc cao niên, rối&nbsp;cạn đã có mặt ở Tế Tiêu từ hơn 400 năm trước.&nbsp;Người dân kể với nhau rằng, vào năm 1573 (niên hiệu Hưng Phúc), ông&nbsp;Trần Triều Đông về đây khai hoang, lập làng, dạy dân trồng lúa, đồng thời sáng tạo&nbsp;múa rối cạn và truyền lại cho cộng đồng. Từ đó, nghệ rối bám rễ nơi này, trở thành thú&nbsp;vui tinh thần của người dân.</p> <p>Rối cạn Tế Tiêu từng trải qua nhiều thăng trầm. Chiến&nbsp;tranh và ly tán từng khiến rối cạn tưởng như lụi tàn, nhưng từ giai đoạn 1956–1960, nghệ thuật này được khôi phục, phát triển mạnh nhờ các nghệ nhân&nbsp;tiền bối như Lê Năng Nhượng, Phạm Văn Bể. Từ những nhóm diễn rải rác, năm&nbsp;1956, phường rối cạn Tế Tiêu chính thức ra đời. Đến nay, phường lưu giữ hơn 100&nbsp;tích trò và hàng nghìn con rối, với khoảng 20 thành viên.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican30_1.webp" /></p> <p class="image-caption">Nghệ nhân giao lưu với khán giả.</p> <p>Nghệ nhân Phạm Công Bằng kể, ngày xưa, múa rối tồn tại một cách tự nhiên, gắn&nbsp;với nhịp điệu của mùa vụ. Diễn rối không cần sân khấu cầu kỳ. Hết mùa gặt, khi&nbsp;nông nhàn, người làng tụ họp ở sân đình những đêm trăng sáng. Khi chưa có điện,&nbsp;ánh đèn dầu đủ để mọi người quần tụ lại với nhau, chăm chú dõi theo những câu&nbsp;chuyện được kể trên sân khấu. Nghệ nhân không sống bằng nghề biểu diễn, họ chủ&nbsp;yếu là nông dân. Ban ngày cày cấy, tối lại đứng trong buồng trò, sau phông vải. Vì&nbsp;thế, rối cạn Tế Tiêu mang đậm tính cộng đồng.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican12.webp" /></p> <p class="image-caption">Qua trăm năm, rối vẫn là hình thức giải trí mang tính cộng đồng cao.</p> <p>Trải qua hàng trăm năm, hình thức xem rối đã thay đổi, khán giả ngày nay có thể là du khách thập phương, địa điểm diễn có thể là khu du lịch, nhưng tinh thần&nbsp;cộng đồng ấy vẫn còn nguyên vẹn.</p> <h3>Tổng hòa của nhiều loại hình nghệ thuật</h3> <p>Rối cạn Tế Tiêu là sự tổng hòa của nghệ thuật chế tác quân rối, sân khấu, điều khiển rối, hát, lời thoại và âm nhạc. Chưa kể, nhiều tích trò được chuyển thể từ&nbsp;chèo, tuồng, quan họ, hát văn, tạo nên sân khấu đa dạng nhưng vô cùng gần gũi.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican22.webp" /></p> <p class="image-caption">Công việc chế tác con rối gồm nhiều bước.</p> <p>Theo anh Bằng, quy trình chế tác quân rối trải qua nhiều công đoạn nối tiếp nhau,&nbsp;đòi hỏi sự tỉ mỉ. Trước hết là khâu chuẩn bị nguyên liệu, lựa chọn chất liệu phù&nbsp;hợp, chủ yếu là gỗ sung, gỗ mít. Tiếp đó, các nghệ nhân tạo hình, chạm khắc các&nbsp;bộ phận của con rối theo từng nhân vật cụ thể. Sau khi hoàn thiện phần tạo hình,&nbsp;các bộ phận cùng hệ thống que điều khiển được lắp ráp sao cho linh hoạt, thuận&nbsp;tiện việc biểu diễn. Công đoạn tiếp theo là sơn, vẽ và trang trí mỹ thuật, nhằm&nbsp;hoàn thiện diện mạo, thần thái và đặc điểm riêng của từng nhân vật. Khi phần tạo&nbsp;hình đã hoàn chỉnh, con rối được may mặc trang phục, chỉnh sửa lần cuối trước khi&nbsp;đưa vào sử dụng trên sân khấu.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican9.webp" /></p> <p class="image-caption">Buồng trò là nơi cánh gà sân khấu.</p> <p>Trò diễn của rối cạn Tế Tiêu khai thác chất liệu từ chính hiện thực đời sống,&nbsp;nhân vật lịch sử, và phong tục tập quán, tín ngưỡng. Đó là khung cảnh&nbsp;lao động nông nghiệp như&nbsp;cày bừa, cấy lúa, xay lúa giã gạo, hái cau, với những công cụ quen thuộc như&nbsp;cày, cuốc, con trâu, con gà. Bên cạnh đó là những câu chuyện lịch sử như Thánh&nbsp;Gióng đánh giặc Ân, Lý Công Uẩn dời đô. Các cảnh sinh hoạt lễ hội, tín ngưỡng,&nbsp;phong tục như thi hái quả, đánh đu, rước kiệu, đấu vật được thể hiện bằng ngôn&nbsp;ngữ rối vô cùng sinh động, dí dỏm. Các trò rối lồng ghép bài học đạo đức, lên án tệ&nbsp;nạn, thói hư tật xấu trong cộng đồng cũng để lại nhiều suy ngẫm cho người xem.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican3.webp" /></p> <p class="image-caption">Cảnh đấu vật trong một trò rối.</p> <p>Làm sao thể hiện được hồn cốt, thông điệp của tích trò đòi hỏi người biểu diễn phải&nbsp;hiểu từng quân rối, cốt truyện để sử dụng động tác phù hợp. Các động tác thông dụng của các quân rối bao gồm đi, đứng, giơ&nbsp;tay, cúi đầu, ngồi, cầm nắm đạo cụ… Khó hơn cả là các động tác bộc lộ cảm xúc&nbsp;nội tâm như sợ hãi, vui mừng, buồn bã. Chính những chuyển động này tạo nên “hồn” cho con rối. Điều này không chỉ yêu cầu sự linh hoạt về tay chân, mà còn là&nbsp;sự thấu cảm từng tích trò, từng tính cách nhân vật.</p> <p>Một yếu tố không kém phần quan trọng là âm nhạc và lời thoại, giúp dẫn&nbsp;dắt cảm xúc, nhịp độ vở diễn — có lúc gấp gáp, giục giã, khi nhẹ nhàng, linh thiêng. Ban nhạc chơi&nbsp;cho phường rối gồm các nhạc cụ gõ như trống cái, trống con, não bạt, và các nhạc&nbsp;cụ dây gồm nhị, đàn tam. Tùy theo trò diễn, nghệ nhân sẽ phải biểu diễn những lời&nbsp;hát ở các thể loại khác nhau, từ dân ca, hát nói, hát ngâm đến tuồng, chèo, hát văn,&nbsp;quan họ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican18.webp" /></p> <p class="image-caption">Ông Nguyễn Văn Thuyết, người chơi đàn nhị trong ban nhạc.</p> <h3>Người giữ hồn rối cạn Tế Tiêu</h3> <p>Nhắc đến rối cạn, ai cũng nhớ đến cụ Phạm Văn Bể, người được xem là “cuốn từ&nbsp;điển sống” về rối cạn và là linh hồn của phường rối. Từ 8 tuổi, cụ Bể đã bộc lộ&nbsp;niềm yêu thích đặc biệt với những quân rối. Cụ đã dành cả một đời gắn bó với bộ&nbsp;môn này. Cụ làm mọi việc từ chế tác, viết kịch bản, dàn dựng, hướng dẫn và biểu&nbsp;diễn.</p> <p>Con trai cụ Bể, nghệ nhân Phạm Công Bằng, lớn lên trong tiếng đục gỗ, trong âm&nbsp;thanh của tiếng đàn nhị, tiếng trống. “Chính cuộc đời của bố đã truyền cảm hứng,&nbsp;truyền nghề cho tôi,” anh nói. Anh Bằng vẫn còn nhớ cảm giác vui sướng khi tự&nbsp;tay làm con rối đầu tiên trong đời. Đó là nhân vật Thạch Sanh. Buổi diễn đầu tiên&nbsp;đến khi anh mới 12 tuổi.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2026/01/roican/roican20.webp" /></p> <p class="image-caption">&nbsp;“Đứng trong buồng&nbsp;trò, nghệ nhân nghe rõ từng tiếng cười, từng tràng vỗ tay.”</p> <p>Ngày đó, dù thấp bé nhất đoàn, anh vẫn muốn&nbsp;tham gia. Chính những trải nghiệm đầu tiên ấy đã nuôi dưỡng một tình yêu trong anh đối với di sản cha ông để lại. Khi cụ Bể qua đời, phường rối mất trụ cột, nhưng anh Bằng hiểu rằng giữ rối cạn là giữ ký ức của cả cộng đồng. “Đứng trong buồng&nbsp;trò, nghệ nhân nghe rõ từng tiếng cười, từng tràng vỗ tay, mình càng có động lực&nbsp;khi di sản của quê hương được nhiều người biết đến,” anh nói.</p> <p>Là người dẫn dắt phường rối cạn Tế Tiêu ngày nay, nỗi trăn trở lớn nhất của anh&nbsp;Bằng là làm sao giữ di sản không bị mai một, để rối cạn Tế Tiêu luôn giữ được đời&nbsp;sống của nó trong cộng đồng dân làng, và xa hơn là trở thành sản phẩm du lịch độc&nbsp;đáo tiếp cận đến du khách gần xa.</p></div> Học cách yêu hơn cái ngổn ngang của Sài Gòn trong thời đại rác AI tràn ngập 2026-01-08T12:00:00+07:00 2026-01-08T12:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18040-học-cách-yêu-hơn-cái-ngổn-ngang-của-sài-gòn-trong-thời-đại-rác-ai-tràn-ngập Khôi Phạm. Minh họa: Dương Trương. Ảnh: Jimmy Art Devier. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/01.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/vn-00.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Sống ở Sài Gòn, người ta phải làm quen với hàng tá thứ ngổn ngang. Suy cho cùng, sự xô bồ là cái giá phải trả đối với những ai trót phải lòng một siêu đô thị hơn 10 triệu dân, vừa đông, vừa rộng lại vừa hẹp, vừa chen chúc lại vừa cô đơn. Nhưng cá nhân tôi chưa đi qua thành phố nào ngổn ngang như Sài Gòn.</em></p> <p>Ngay trên mặt đất, mỗi ngày chân ta phải loay hoay né sự bề bộn về mặt vật lý, như xe máy đậu hú họa, thùng xốp, giày dép đứt cũ, vỏ sầu riêng nhọn hoắt, đủ thứ loại ghế, và cả mạng lưới dây nhợ giăng đầy như tơ nhện. Trong bầu khí quyển, tai ta lãnh đủ “bản giao hưởng” của bề bộn âm thanh, ngày đêm kẽo kẹt, lảnh lót, chát chúa, inh ỏi, rì rầm bên lề cuộc sống.</p> <p>Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, tôi dần tập làm quen với những ngổn ngang đô thị, nhưng tuyệt nhiên, không biết tại sao tôi vẫn không tài nào chịu nổi khung cảnh thành phố đầy ô nhiễm thị giác: các biển hiệu, áp-phích, bảng quảng cáo nhốn nháo, màu sắc phối lòe loẹt nhức mắt, phông chữ thô kệch. Tôi ghét cay ghét đắng biển quảng cáo — đồ văn bản béo ú, đơn điệu, lúc nào cũng lao nhao đòi sự chú ý của mắt người.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/14.webp" /></div> <p dir="ltr">Kiểu biển hiệu vừa rối vừa đơn điệu ấy bắt đầu xuất hiện vào thập niên 2000, và từ từ lây lan khắp Sài Gòn, đặc biệt quanh những con đường buôn bán sầm uất, như loại nấm mốc ăn mòn kiến trúc bản địa và thải ra bào tử gây nhức đầu, nhức mắt. Cá nhân tôi tin rằng sự phát triển của công nghệ in ấn vừa nhanh vừa rẻ là nguyên nhân dẫn đến một Sài Gòn đầy ô nhiễm thị giác như hiện nay. Đã từng có thời từng biển hiệu là một tờ giấy trắng để họa sĩ tung hoành tô vẽ, chứ không chỉ đơn thuần là công cụ cho có như bây giờ. Từng kiểu chữ, từng gam màu, từng nét cọ đều được chăm chút qua bàn tay người thợ vẽ.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/02.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/03.webp" /></div> </div> <p dir="ltr">Nghệ thuật quảng cáo ra đời trước sự trỗi dậy của ô nhiễm biển hiệu cả vài thập kỉ, vì ngày đó, khi không có sự hỗ trợ của kỹ thuật in lấy liền, thế hệ ông bà ta phải nhờ vào <a href="https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17569-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-h%E1%BB%8Da-s%C4%A9-l%C6%B0u-gi%E1%BB%AF-k%C3%BD-%E1%BB%A9c-s%C3%A0i-g%C3%B2n-x%C6%B0a-qua-bi%E1%BB%83n-hi%E1%BB%87u-v%E1%BA%BD-tay" target="_blank">kỹ năng và con mắt nghệ thuật của các họa sĩ</a> để trang hoàng cửa hiệu của mình. Tôi luôn tự hỏi vì sao các bảng hiệu vẽ tay ngày xưa luôn thu hút mình đến vậy, và nhận ra rằng tôi yêu nét vẽ ấy không phải chỉ vì nó cũ, mà vì nó mang đậm tính người. Con người ta khác với máy móc vi tính ở sự không hoàn hảo, và những lỗi nho nhỏ ấy đều có mặt trên bảng hiệu vẽ tay xưa nếu bạn để ý kĩ: những khoảng cách không đều, nét này hơi đầy đặn hơn nét kia chút xíu, hay chiếc móc câu đầy cảm tính ngay cuối chữ “Y dài.” Chính cái không hoàn hảo khiến tranh vẽ thú vị và chân phương hơn.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/04.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/15.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/07.webp" /></div> </div> <p>Hoài niệm là một vòng lặp luân hồi. Hồi những năm 2000 và 2010, tôi hay mơ về những nét vẽ đầy trau chuốt của thập niên 1970. Còn bây giờ, tôi thấy mình lại đang nhìn lại thập niên 2000 với ánh mắt khác. Mệt mỏi thay đôi mắt loài người ngày nay khi sống trong giai đoạn rác AI đang hiện hữu trên khắp mọi xó xỉnh internet. Nhiều lúc tôi cảm thấy kiệt quệ vì phải cảnh giác 24/7, lúc nào cũng phải căng mắt soi từng bàn tay người, từng đốm lông mèo, từng diễn tiến của video xem có logic không, để phát hiện xem video đang có phải là sản phẩm AI. Và sẽ đến một lúc, khi công nghệ tiến xa đến mức trí thông minh con người của chúng ta không còn đủ khả năng phân biệt hiện thực và rác AI nữa. Gần đây, sau khi Google trình làng Nano Banana Pro, tôi sợ rằng ngày ấy đã tới.</p> <p>Vài bữa trước, tôi đi chạy bộ và dừng lại ở vạch kẻ lúc đèn đỏ. Tôi bất giác ngước lên, và ngay trước mắt tôi là một biển hiệu tiệm sửa xe, ví dụ điển hình cho phong cách phối màu thập niên 2000 với chữ đỏ nền vàng. Tuy vậy, vài chữ cái trong tên tiệm khá sứt sẹo, và bốn góc biển ố xanh màu rêu phong. Nhưng thứ đặc biệt nhất với tôi, là tấm biển ghi “sữa xe” thay vì “sửa xe.” Và tôi bật cười.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/08.webp" /></div> <p dir="ltr">Đó, nhìn đi, AI ạ. Đúng là những ngổn ngang đô thị ở Sài Gòn nhiều khi “xấu đau xấu đớn,” nhưng cũng lại rất con người. Như một nỗ lực phản kháng cuối cùng để chống lại cuộc xâm lăng của AI, tôi sẽ tập yêu tất cả các loại hình nghệ thuật đến từ tất cả thập niên, từ “thấy ghê” đến kiệt tác, miễn đó là một tác phẩm người sáng tạo. Có xấu đến mấy, thì đó cũng là đứa con tinh thần chính ta tạo ra — không ai có quyền lấy nó để làm mồi cho trí tuệ nhân tạo.</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/01.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/vn-00.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Sống ở Sài Gòn, người ta phải làm quen với hàng tá thứ ngổn ngang. Suy cho cùng, sự xô bồ là cái giá phải trả đối với những ai trót phải lòng một siêu đô thị hơn 10 triệu dân, vừa đông, vừa rộng lại vừa hẹp, vừa chen chúc lại vừa cô đơn. Nhưng cá nhân tôi chưa đi qua thành phố nào ngổn ngang như Sài Gòn.</em></p> <p>Ngay trên mặt đất, mỗi ngày chân ta phải loay hoay né sự bề bộn về mặt vật lý, như xe máy đậu hú họa, thùng xốp, giày dép đứt cũ, vỏ sầu riêng nhọn hoắt, đủ thứ loại ghế, và cả mạng lưới dây nhợ giăng đầy như tơ nhện. Trong bầu khí quyển, tai ta lãnh đủ “bản giao hưởng” của bề bộn âm thanh, ngày đêm kẽo kẹt, lảnh lót, chát chúa, inh ỏi, rì rầm bên lề cuộc sống.</p> <p>Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn, tôi dần tập làm quen với những ngổn ngang đô thị, nhưng tuyệt nhiên, không biết tại sao tôi vẫn không tài nào chịu nổi khung cảnh thành phố đầy ô nhiễm thị giác: các biển hiệu, áp-phích, bảng quảng cáo nhốn nháo, màu sắc phối lòe loẹt nhức mắt, phông chữ thô kệch. Tôi ghét cay ghét đắng biển quảng cáo — đồ văn bản béo ú, đơn điệu, lúc nào cũng lao nhao đòi sự chú ý của mắt người.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/14.webp" /></div> <p dir="ltr">Kiểu biển hiệu vừa rối vừa đơn điệu ấy bắt đầu xuất hiện vào thập niên 2000, và từ từ lây lan khắp Sài Gòn, đặc biệt quanh những con đường buôn bán sầm uất, như loại nấm mốc ăn mòn kiến trúc bản địa và thải ra bào tử gây nhức đầu, nhức mắt. Cá nhân tôi tin rằng sự phát triển của công nghệ in ấn vừa nhanh vừa rẻ là nguyên nhân dẫn đến một Sài Gòn đầy ô nhiễm thị giác như hiện nay. Đã từng có thời từng biển hiệu là một tờ giấy trắng để họa sĩ tung hoành tô vẽ, chứ không chỉ đơn thuần là công cụ cho có như bây giờ. Từng kiểu chữ, từng gam màu, từng nét cọ đều được chăm chút qua bàn tay người thợ vẽ.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/02.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/03.webp" /></div> </div> <p dir="ltr">Nghệ thuật quảng cáo ra đời trước sự trỗi dậy của ô nhiễm biển hiệu cả vài thập kỉ, vì ngày đó, khi không có sự hỗ trợ của kỹ thuật in lấy liền, thế hệ ông bà ta phải nhờ vào <a href="https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17569-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-h%E1%BB%8Da-s%C4%A9-l%C6%B0u-gi%E1%BB%AF-k%C3%BD-%E1%BB%A9c-s%C3%A0i-g%C3%B2n-x%C6%B0a-qua-bi%E1%BB%83n-hi%E1%BB%87u-v%E1%BA%BD-tay" target="_blank">kỹ năng và con mắt nghệ thuật của các họa sĩ</a> để trang hoàng cửa hiệu của mình. Tôi luôn tự hỏi vì sao các bảng hiệu vẽ tay ngày xưa luôn thu hút mình đến vậy, và nhận ra rằng tôi yêu nét vẽ ấy không phải chỉ vì nó cũ, mà vì nó mang đậm tính người. Con người ta khác với máy móc vi tính ở sự không hoàn hảo, và những lỗi nho nhỏ ấy đều có mặt trên bảng hiệu vẽ tay xưa nếu bạn để ý kĩ: những khoảng cách không đều, nét này hơi đầy đặn hơn nét kia chút xíu, hay chiếc móc câu đầy cảm tính ngay cuối chữ “Y dài.” Chính cái không hoàn hảo khiến tranh vẽ thú vị và chân phương hơn.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/04.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/15.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/07.webp" /></div> </div> <p>Hoài niệm là một vòng lặp luân hồi. Hồi những năm 2000 và 2010, tôi hay mơ về những nét vẽ đầy trau chuốt của thập niên 1970. Còn bây giờ, tôi thấy mình lại đang nhìn lại thập niên 2000 với ánh mắt khác. Mệt mỏi thay đôi mắt loài người ngày nay khi sống trong giai đoạn rác AI đang hiện hữu trên khắp mọi xó xỉnh internet. Nhiều lúc tôi cảm thấy kiệt quệ vì phải cảnh giác 24/7, lúc nào cũng phải căng mắt soi từng bàn tay người, từng đốm lông mèo, từng diễn tiến của video xem có logic không, để phát hiện xem video đang có phải là sản phẩm AI. Và sẽ đến một lúc, khi công nghệ tiến xa đến mức trí thông minh con người của chúng ta không còn đủ khả năng phân biệt hiện thực và rác AI nữa. Gần đây, sau khi Google trình làng Nano Banana Pro, tôi sợ rằng ngày ấy đã tới.</p> <p>Vài bữa trước, tôi đi chạy bộ và dừng lại ở vạch kẻ lúc đèn đỏ. Tôi bất giác ngước lên, và ngay trước mắt tôi là một biển hiệu tiệm sửa xe, ví dụ điển hình cho phong cách phối màu thập niên 2000 với chữ đỏ nền vàng. Tuy vậy, vài chữ cái trong tên tiệm khá sứt sẹo, và bốn góc biển ố xanh màu rêu phong. Nhưng thứ đặc biệt nhất với tôi, là tấm biển ghi “sữa xe” thay vì “sửa xe.” Và tôi bật cười.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/29/clutter/08.webp" /></div> <p dir="ltr">Đó, nhìn đi, AI ạ. Đúng là những ngổn ngang đô thị ở Sài Gòn nhiều khi “xấu đau xấu đớn,” nhưng cũng lại rất con người. Như một nỗ lực phản kháng cuối cùng để chống lại cuộc xâm lăng của AI, tôi sẽ tập yêu tất cả các loại hình nghệ thuật đến từ tất cả thập niên, từ “thấy ghê” đến kiệt tác, miễn đó là một tác phẩm người sáng tạo. Có xấu đến mấy, thì đó cũng là đứa con tinh thần chính ta tạo ra — không ai có quyền lấy nó để làm mồi cho trí tuệ nhân tạo.</p></div> Thuyền thúng: Nét văn hoá lâu đời của các làng chài Việt 2026-01-05T13:00:00+07:00 2026-01-05T13:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17041-thuyền-thúng-nét-văn-hoá-lâu-đời-của-các-làng-chài-việt Adrien Jean. Ảnh: Adrien Jean. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/23.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/fb-02b.jpg" data-position="70% 100%" /></p> <p><em>Nói đến các thành phố tại Việt Nam, một trong những dạng công trình dễ bắt gặp nhất là những ngôi nhà ống. Loại kiến trúc phổ biến này bắt đầu xuất hiện từ thời Hậu Lê — khi mức thuế áp cho dân chúng không căn cứ vào loại hình kinh doanh hoặc doanh số, mà chỉ dựa vào chiều rộng của ngôi nhà. Vì thế, các tiểu thương thường cho xây dựng mặt tiền thật nhỏ, ưu tiên chiều dọc để tiết kiệm chi phí.</em></p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/1.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một người phụ nữ đang đan lại chiếc lưới đánh cá.</p> <p>Cũng trong một hoàn cảnh tương tự, một vật dụng thân thuộc khác của người Việt, thúng chai, hay thuyền thúng đã ra đời. Vào thời&nbsp;Pháp thuộc, chính quyền thực dân thường đánh thuế rất nặng lên nhiều mặt hàng, trong đó có các loại tàu thuyền. Lúc bấy giờ, người dân nghèo đã nhanh trí đan những chiếc thúng để di chuyển trên sông nước mà không phải nộp thuế vô lý.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/3.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Ngư dân trở về sau một đêm đánh cá.</p> <p>Người dân lúc ấy lí lẽ rằng, thúng chai không thể tính là một chiếc thuyền thực thụ, do đó không thể nào bị đem ra đánh thuế. Nhưng dù có đúng với định nghĩa tàu thuyền hay không, chiếc thúng chai cũng dần trở thành một phương tiện hữu ích, miệt mài phục vụ nhu cầu mưu sinh và đi lại của bà con miền biển qua năm tháng.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/5.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một ngư dân chuẩn bị lưới đánh cá.</p> <p>Nghề chế tác thuyền thúng luôn đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và kỹ nghệ. Quy trình làm thuyền thống thường bắt đầu bằng việc đan các miếng nan tre, lấy dây cước buộc chặt, đóng vào vành thuyền, sau đó quét một lớp vật liệu chống nước làm từ dầu dừa, dầu hắc ín, hoặc sợi thuỷ tinh. Nếu được bảo dưỡng cẩn thận, độ bền của những chiếc thúng có thể lên đến hàng thập kỷ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/9.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Khung cảnh làng chài vào buổi hoàng hôn.</p> <p>Để điều khiển thành thạo một chiếc thuyền thúng, người ngư dân phải dành không ít thời gian để rèn luyện tay lái. Bù lại, họ có được sự tự chủ và độc lập về tài chính, thay vì phải làm việc trên những tàu đánh cá lớn ra ngoài khơi xa.&nbsp;</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/10.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một chiếc thuyền thúng vận chuyển hàng hoá từ tàu lớn về bờ.</p> <p>Thuyền thúng cũng có thể được dùng làm thuyền cứu sinh, hoặc dùng làm thuyền chở hải sản từ tàu lớn về bờ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/12.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Người dân đứng đợi để mua được những mẻ cá tươi nhất.</p> <p>Cùng&nbsp;<em>Saigoneer</em>&nbsp;xem loạt ảnh dưới đây để hiểu thêm về vai trò của thuyền thúng trong đời sống người dân ven biển Hội An:</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/19.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một người phụ nữ đang chỉ dẫn thợ của mình.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/22.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Những chiếc thuyền thúng đang rời bến.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/24.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Hải sản được chuyển sang thuyền thúng từ tàu lớn.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/25.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một ngư dân lấy cá từ trong lưới.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/27.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Thu lưới.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/29.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Giăng lưới.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/31.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Ngư dân ra khơi vào bình minh.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/34.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Thuyền thúng được chèo hoàn toàn bằng tay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/41.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">"Cô Ba."</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/45.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Phân loại mẻ cá.</p> <p class="image-caption">&nbsp;</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/23.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/fb-02b.jpg" data-position="70% 100%" /></p> <p><em>Nói đến các thành phố tại Việt Nam, một trong những dạng công trình dễ bắt gặp nhất là những ngôi nhà ống. Loại kiến trúc phổ biến này bắt đầu xuất hiện từ thời Hậu Lê — khi mức thuế áp cho dân chúng không căn cứ vào loại hình kinh doanh hoặc doanh số, mà chỉ dựa vào chiều rộng của ngôi nhà. Vì thế, các tiểu thương thường cho xây dựng mặt tiền thật nhỏ, ưu tiên chiều dọc để tiết kiệm chi phí.</em></p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/1.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một người phụ nữ đang đan lại chiếc lưới đánh cá.</p> <p>Cũng trong một hoàn cảnh tương tự, một vật dụng thân thuộc khác của người Việt, thúng chai, hay thuyền thúng đã ra đời. Vào thời&nbsp;Pháp thuộc, chính quyền thực dân thường đánh thuế rất nặng lên nhiều mặt hàng, trong đó có các loại tàu thuyền. Lúc bấy giờ, người dân nghèo đã nhanh trí đan những chiếc thúng để di chuyển trên sông nước mà không phải nộp thuế vô lý.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/3.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Ngư dân trở về sau một đêm đánh cá.</p> <p>Người dân lúc ấy lí lẽ rằng, thúng chai không thể tính là một chiếc thuyền thực thụ, do đó không thể nào bị đem ra đánh thuế. Nhưng dù có đúng với định nghĩa tàu thuyền hay không, chiếc thúng chai cũng dần trở thành một phương tiện hữu ích, miệt mài phục vụ nhu cầu mưu sinh và đi lại của bà con miền biển qua năm tháng.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/5.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một ngư dân chuẩn bị lưới đánh cá.</p> <p>Nghề chế tác thuyền thúng luôn đòi hỏi nhiều thời gian, công sức và kỹ nghệ. Quy trình làm thuyền thống thường bắt đầu bằng việc đan các miếng nan tre, lấy dây cước buộc chặt, đóng vào vành thuyền, sau đó quét một lớp vật liệu chống nước làm từ dầu dừa, dầu hắc ín, hoặc sợi thuỷ tinh. Nếu được bảo dưỡng cẩn thận, độ bền của những chiếc thúng có thể lên đến hàng thập kỷ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/9.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Khung cảnh làng chài vào buổi hoàng hôn.</p> <p>Để điều khiển thành thạo một chiếc thuyền thúng, người ngư dân phải dành không ít thời gian để rèn luyện tay lái. Bù lại, họ có được sự tự chủ và độc lập về tài chính, thay vì phải làm việc trên những tàu đánh cá lớn ra ngoài khơi xa.&nbsp;</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/10.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một chiếc thuyền thúng vận chuyển hàng hoá từ tàu lớn về bờ.</p> <p>Thuyền thúng cũng có thể được dùng làm thuyền cứu sinh, hoặc dùng làm thuyền chở hải sản từ tàu lớn về bờ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/12.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Người dân đứng đợi để mua được những mẻ cá tươi nhất.</p> <p>Cùng&nbsp;<em>Saigoneer</em>&nbsp;xem loạt ảnh dưới đây để hiểu thêm về vai trò của thuyền thúng trong đời sống người dân ven biển Hội An:</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/19.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một người phụ nữ đang chỉ dẫn thợ của mình.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/22.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Những chiếc thuyền thúng đang rời bến.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/24.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Hải sản được chuyển sang thuyền thúng từ tàu lớn.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/25.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Một ngư dân lấy cá từ trong lưới.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/27.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Thu lưới.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/29.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Giăng lưới.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/31.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Ngư dân ra khơi vào bình minh.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/34.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Thuyền thúng được chèo hoàn toàn bằng tay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/41.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">"Cô Ba."</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/21/darkroom/45.webp" alt="" /></p> <p class="image-caption">Phân loại mẻ cá.</p> <p class="image-caption">&nbsp;</p></div> Về Bắc Ninh, gặp gỡ nghệ nhân giữ gìn di sản trăm năm của làng tranh Đông Hồ 2025-12-27T09:00:00+07:00 2025-12-27T09:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18028-về-bắc-ninh,-gặp-gỡ-nghệ-nhân-giữ-gìn-di-sản-trăm-năm-của-làng-tranh-đông-hồ Saigoneer. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/web1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/web1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p style="text-align: center;"><em>“Hỡi cô thắt lưng bao xanh</em><br /><em>Có về làng Mái với anh thì về</em><br /><em>Làng Mái có lịch có lề</em><br /><em>Có sông tắm mát có nghề làm tranh.”</em></p> <p>Bắc Ninh, vùng đất Kinh Bắc xưa nay vốn nổi danh với sự hào hoa và bề dày văn hiến. Không chỉ say đắm lòng người bởi những làn điệu Quan họ, nơi đây còn là cái nôi của nhiều lễ hội và làng nghề truyền thống đặc sắc như hội Lim, hội chùa Bút Tháp… Giữa bức tranh văn hóa sinh động ấy, làng tranh Đông Hồ hiện lên như một biểu tượng nghệ thuật dân gian tiêu biểu, kết tinh những giá trị tinh hoa của đất Việt.</p> <p>“Làng Mái” trong câu ca dao xưa chính là làng Đông Hồ bên bờ sông Đuống hiền hòa. Thuở cực thịnh, nơi đây từng quy tụ 17 dòng họ cùng chung tay tô điểm cho những bức tranh dân gian. Thế nhưng, trước sức ép của thị trường và kỹ thuật in hiện đại, nghề tranh đứng trước những khúc quanh nghiệt ngã. Nhiều gia đình phải chuyển sang làm vàng mã để mưu sinh, khiến sức sống của làng nghề truyền thống dần thu hẹp lại.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/1.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Dẫu trải qua thăng trầm, tranh Đông Hồ vẫn giữ vị thế trang trọng trong tâm thức người Việt. Mỗi dịp Tết đến xuân về, người ta lại treo tranh trên vách như một cách gửi gắm ước mong hạnh phúc, no ấm. Sức hút bền bỉ của dòng tranh này nằm ở tính “thuận tự nhiên” trong chất liệu, từ giấy dó phủ bột điệp đến mực màu từ cây lá. Sự mộc mạc ấy đã sản sinh nên những nét vẽ đơn sơ nhưng giàu tính ẩn dụ, thể hiện nhân sinh quan của người lao động và ký ức văn hóa bao đời. Với giá trị tự thân độc đáo, tranh Đông Hồ đã được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.</p> <p>Sự tồn tại của dòng tranh dân gian sau hơn trăm năm không thể xảy ra nếu thiếu những con người lặng lẽ “giữ lửa.” Nổi bật trong số đó là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Oanh và Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả, những người không chỉ xem làm tranh như sự tiếp nối truyền thống gia đình, mà còn như sứ mệnh bảo tồn một phần linh hồn của xứ Kinh Bắc trước dòng chảy của thời gian.</p> <h3>Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh: Một đời nâng niu hồn tranh qua đôi tay tài hoa</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/chapter1.2.webp" /></p> <p><span style="background-color: transparent;">Sinh năm 1960, Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) Nguyễn Thị Oanh là gương mặt tiêu biểu cho sức sống bền bỉ của dòng tranh Đông Hồ trong đời sống đương đại. Là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Đăng, một trong hai gia tộc hiếm hoi còn bám trụ với nghề sau những biến động của cơ chế thị trường, bà đã dành trọn cuộc đời để giữ gìn từng bản khắc, sắc màu dân tộc.</span></p> <p><span style="background-color: transparent;">Từ thuở ấu thơ, bà đã lớn lên trong không gian phảng phất mùi giấy dó, mùi màu in tự nhiên và tiếng gõ chạm khắc. Người mẹ quá cố chính là người thầy đầu tiên dẫn dắt bà bước vào thế giới nghệ thuật dân gian. Qua những ngày quan sát mẹ tỉ mỉ pha màu, cẩn thận in từng bức vẽ, bà không chỉ học được kỹ nghệ mà còn thấm nhuần lòng trân trọng dành cho di sản cha ông. Từ đó, ý chí tiếp nối con đường của mẹ bắt đầu nhen nhóm trong lòng người thiếu nữ trẻ.</span></p> <p>Khi trưởng thành và trở thành thợ chính vững tay nghề, cái duyên lại đưa bà về làm dâu trong gia đình cố NNƯT Nguyễn Hữu Sam — một "cây đại thụ" của làng tranh.&nbsp;Những năm tháng làm việc cùng cha chồng, bà có cơ hội làm việc, tiếp xúc và lĩnh hội trực tiếp những tinh hoa quý báu trong nghề từ ông. Từ đó, bà lại càng thấm thía và nâng niu những giá trị văn hóa kết tinh trong từng tác phẩm.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/chapter1.3.2.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Suốt nhiều năm liền, bà vừa làm nghề, vừa học nghề, vừa tích lũy kinh nghiệm qua từng mùa tranh Tết.&nbsp;Từ khắc ván, in nét, pha màu cho đến phơi tranh, mỗi công đoạn đều được bà thực hiện thủ công theo đúng lối làm tranh cổ truyền.</p> <p>Thế nhưng, cùng với những biến chuyển của đời sống xã hội, tranh Đông Hồ dần mất đi vị trí quen thuộc trong sinh hoạt văn hóa của người dân. Từ chỗ là vật không thể thiếu mỗi dịp Tết đến, dòng tranh dân gian dần bị thay thế bởi các sản phẩm tranh in công nghiệp, nhu cầu giảm sút kéo theo thu nhập từ nghề ngày càng bấp bên,&nbsp;nhiều hộ gia đình lần lượt rời bỏ làng để tìm sinh kế khác. Giữa sự mai một đó, nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh vẫn chọn bám trụ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/1.2.5.webp" /></p> <p>Là một nữ nghệ nhân trực tiếp gánh vác việc gia đình, bà Oanh phải đồng thời đối mặt với áp lực mưu sinh và trách nhiệm gìn giữ nghề truyền thống. Công việc vốn dĩ nặng nhọc, từ khâu chuẩn bị giấy, mài vỏ điệp đến giã màu tự nhiên hay in tranh, tất cả đều đòi hỏi sức bền bỉ và sự tỉ mỉ vượt bậc.</p> <p>Vượt lên những khó khăn về kinh tế, hành trình của bà còn là cuộc chiến âm thầm chống lại sự lãng quên của thời đại. Giữa bối cảnh lớp trẻ không còn mặn mà với tranh dân gian và những bản khắc cổ đứng trước nguy cơ thất lạc, bà đã lặng lẽ sưu tầm, bảo tồn và duy trì kỹ thuật in ấn thủ công. Việc trở thành nữ nghệ nhân đầu tiên và duy nhất của làng Đông Hồ được phong tặng danh hiệu cao quý không chỉ là niềm tự hào cá nhân, mà còn là một trọng trách lớn lao trong việc bảo tồn hồn cốt của dòng tranh quý.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/1.7.webp" /></p> <p><span style="background-color: transparent;">Bằng đôi tay tài hoa, bà Oanh đã gìn giữ nguyên bản những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt như tranh gà, lợn, hay ‘Đám cưới chuột,’ lưu lại nét đẹp cổ truyền từ hàng trăm năm trước. Cho đến nay, gia đình bà vẫn trân trọng lưu giữ kho tàng gồm khoảng 600 bản khắc gỗ cổ.&nbsp;</span></p> <p><span style="background-color: transparent;">Không dừng lại ở việc bảo tồn, nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh còn miệt mài sáng tác với hơn 50 tác phẩm mới, phản ánh sinh động nhịp sống đương đại qua các bức: ‘Chợ tranh ngày Tết,’ ‘Chợ quê,’ ‘Hát thuyền,’ ‘Lưỡng chuột đón xuân.’ Đặc biệt, việc đưa hình ảnh các di tích quốc gia như Chùa Dâu, Đền Đô vào tranh đã góp phần mở rộng đề tài, làm phong phú thêm dòng chảy của nghệ thuật dân gian Đông Hồ. Trong đó, tác phẩm ‘Chùa Bút Tháp’ đã vinh dự nhận giải Vàng tại triển lãm sản phẩm Làng nghề truyền thống tiêu biểu trong dịp Festival Bắc Ninh 2014.</span></p> <p><span style="background-color: transparent;">Song song với đó, bà còn biến chính ngôi nhà của mình tại làng Đông Hồ thành một không gian trưng bày và giới thiệu tranh dân gian. Trong nhiều căn phòng, bà sắp xếp các bản khắc gỗ, tranh in truyền thống và những sáng tác mới để du khách có thể quan sát trọn vẹn quá trình hình thành một bức tranh.</span></p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/100.webp" /></p> <p>Theo bà, để làm nên một bức tranh Đông Hồ, trước hết phải dốc hết tâm huyết và lòng yêu nghề. Sự yêu kính ấy thể hiện qua từng công đoạn cẩn trọng, có khi bà dành ra “vài tuần đến cả tháng để nắn nót ngòi bút sao cho ra đời bức tranh đẹp nhất.” Bà chia sẻ, nét đặc trưng và cũng là thử thách lớn nhất của tranh Đông Hồ nằm ở khâu chế tác màu sắc tự nhiên và kỹ thuật khắc ván.</p> <p data-path-to-node="9">Dù đã ngoài 60 tuổi, khi sức khỏe có phần giảm sút, tuổi tác vẫn chưa bao giờ là rào cản đối với người nghệ nhân ấy. Tình yêu dành cho những bản khắc vẫn vẹn nguyên, bởi bà hiểu hơn ai hết, sự tồn tại của tranh Đông Hồ phụ thuộc vào chính những người đã chọn ở lại và tiếp nối dòng chảy di sản.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/9.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Với những nỗ lực không ngừng nghỉ của mình, bà Oanh đã được Nhà nước và các tổ chức chuyên môn vinh danh bằng nhiều danh hiệu và giải thưởng quan trọng. Năm 2020 bà được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Ưu tú.” Bà cũng là nữ nghệ nhân duy nhất trong số 62 làng nghề thủ công ở tỉnh Bắc Ninh được trao tặng danh hiệu này. Trước đó, bà từng nhận các bằng khen, huy chương từ Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cũng như các cơ quan địa phương nhằm ghi nhận vai trò của bà trong bảo tồn mỹ thuật dân gian.</p> <p>Nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh và tranh Đông Hồ đã được giới thiệu rộng rãi tại nhiều sự kiện văn hoá trong và ngoài nước: tranh của bà xuất hiện tại các liên hoan nghề truyền thống, hội chợ du lịch, không gian văn hoá di sản, và đóng góp vào các sự kiện ngoại giao văn hoá. Đặc biệt, tranh của bà đã được mang đến các quốc gia như Pháp, Đức, Cộng hoà Séc, Ấn Độ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất… trong các buổi triển lãm để quảng bá văn hoá Việt Nam; đồng thời bà từng được mời giới thiệu kỹ thuật in tranh Đông Hồ ngay tại Văn phòng Chính phủ và hướng dẫn Thủ tướng nước bạn làm tranh khi họ sang thăm Việt Nam.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/11.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Việc tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh và công nhận càng tiếp thêm cho bà động lực và niềm tin để vững bước trên con đường bảo tồn di sản. Với bà Oanh, đó không chỉ là sự ghi nhận cho giá trị của dòng tranh truyền thống, mà còn là lời nhắc nhở để bản thân tiếp tục nỗ lực, cống hiến nhiều hơn nữa, để tranh Đông Hồ ngày càng được gìn giữ, lan tỏa và sống bền vững trong đời sống.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/12.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Với ý thức rõ ràng về trách nhiệm kế thừa, bà Oanh chủ động duy trì việc truyền nghề cho thế hệ sau. Hiện nay, bà đang trực tiếp truyền dạy nghề cho con trai và con dâu, coi đó như một cách trao gửi ngọn lửa đam mê cho thế hệ kế cận. Không dừng lại ở phạm vi gia đình, bà còn dành nhiều tâm huyết hướng dẫn, giới thiệu về lịch sử, giá trị và kỹ thuật làm tranh Đông Hồ cho học sinh, sinh viên và du khách mỗi khi họ tìm đến làng tranh để tham quan, tìm hiểu.</p> <h3>Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả: Trọn một đời với văn hóa tranh Đông Hồ</h3> <h3><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/30.webp" style="background-color: transparent;" /></h3> <p>Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Quả sinh năm 1963, hiện sống và làm nghề tại làng tranh Đông Hồ, nay thuộc phường Song Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu tiếp nối sức sống của dòng tranh dân gian. Ngày nay, bên cạnh việc trực tiếp làm tranh, ông đã biến chính ngôi nhà của mình thành không gian trưng bày, tiếp đón học sinh, sinh viên và du khách đến tham quan, trải nghiệm.</p> <p>Là con trai của cố nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam, Nghệ nhân Ưu tú đầu tiên của làng Đông Hồ, ông Quả may mắn được cha trực tiếp dìu dắt và rèn giũa từ thuở thiếu thời. Tuổi thơ ông là những ngày dài gắn liền với mùi giấy dó mới phơi, tiếng mài điệp lách cách và những tấm ván khắc gỗ xếp dọc gian nhà. Lên 7, lên 8, cậu bé Quả đã say mê quan sát cha mẹ thực hiện từng công đoạn, từ pha màu, phơi giấy đến lau khuôn in.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/6.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Khoảng 10 tuổi, Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả bắt đầu tham gia trực tiếp vào các công việc đơn giản như quét điệp lên giấy, phơi tranh, xếp tranh sau khi in. Đến 12–13 tuổi, ông đã có thể tự tay in những bản nét đầu tiên dưới sự chỉ dẫn sát sao của cha là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Sam. Việc học nghề không diễn ra qua sách vở, mà bằng cách quan sát, làm đi làm lại và ghi nhớ bằng kinh nghiệm.</p> <p>Đến năm 10 tuổi, ông bắt đầu tham gia vào những công việc sơ khởi như quét điệp, phơi tranh. Khi bước sang tuổi 13, dưới sự chỉ dẫn khắt khe của cha, ông đã có thể tự tay in những bản nét đầu tiên. Ông thụ đắc kỹ nghệ không qua sách vở hàn lâm mà bằng sự quan sát, tự rèn luyện cho đến khi đôi tay thuần thục và tâm hồn cảm nhận được.</p> <p>Ở độ tuổi 18, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả đã nắm vững hầu hết các công đoạn làm tranh, từ chuẩn bị giấy, pha màu tự nhiên đến in hoàn chỉnh một bức tranh. Ông bắt đầu tham gia sản xuất tranh cùng gia đình trong các dịp Tết, thời điểm bận rộn nhất của làng nghề.</p> <p>Từ một cậu bé phụ việc, ông dần trở thành người thợ chính trong gia đình. Chính quá trình lớn lên cùng sinh hoạt của làng nghề ấy đã định hình cốt cách của nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả đến tận ngày hôm nay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/32.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Gắn bó với những mộc bản từ thuở thiếu thời, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả bước vào nghề bằng sự điềm tĩnh và kiên nhẫn tự thân của một người con làng tranh. Với ông, tranh Đông Hồ không dừng lại ở những mẫu cổ truyền mà còn là sự nhọc công phục dựng các bản khắc, các kỹ thuật làm màu vốn chỉ tồn tại trong ký ức và lời truyền miệng của dòng họ.&nbsp;</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/6.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Thế nhưng, khi thị hiếu thay đổi, những bức tranh dân gian dần vắng bóng trên vách nhà mỗi dịp Tết, đẩy làng nghề vào cảnh đìu hiu. Đã có lúc, việc in tranh chỉ còn là cách để giữ lấy cái tên Đông Hồ chứ chẳng thể đảm bảo một cuộc sống đủ đầy. Giữa bối cảnh nhiều người phải dứt áo ra đi hoặc làm thêm đủ nghề để bám trụ, ông Quả vẫn chọn ở lại với giấy dó, vỏ điệp, ông kiên quyết từ chối những cách làm giản lược hay chạy theo thị trường làm đánh mất đi bản sắc nguyên bản.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/7.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Những năm sau đó, khó khăn không chỉ đến từ kinh tế mà còn từ sự lãng quên. Lớp trẻ ít người theo học, số hộ còn làm tranh trong làng ngày càng giảm, khiến không gian nghề truyền thống dần thu hẹp. Trong hoàn cảnh đó, mỗi lần cầm ván in, mỗi bức tranh được hoàn thiện đều mang theo ý thức rõ ràng rằng nghề đang đứng trước thử thách lớn. Chính điều ấy khiến nghệ nhân càng thêm trân trọng từng công đoạn và từng giá trị cốt lõi của tranh Đông Hồ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/8.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả chọn cho mình một con đường thầm lặng mà kiên định: giữ nghề bằng chính nhịp sống thường ngày. Ông duy trì đầy đủ các công đoạn truyền thống, từ chuẩn bị giấy điệp, pha màu tự nhiên từ vỏ sò, hoa lá, đến in tranh bằng bản khắc gỗ cổ. Bên cạnh việc bảo tồn các mẫu tranh cổ, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả còn chủ động phục dựng và làm mới không gian tranh Đông Hồ để phù hợp với đời sống đương đại.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/10.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p><span style="background-color: transparent;">NNƯT Nguyễn Hữu Quả chọn cho mình một cách giữ nghề riêng: biến nó thành hơi thở trong nhịp sống thường nhật. Ông duy trì nghiêm ngặt các công đoạn thủ công, từ khâu chuẩn bị giấy điệp, pha màu từ cỏ cây hoa lá, cho đến việc kiên nhẫn in từng mộc bản cổ.&nbsp;</span>Ngôi nhà của ông vừa là xưởng họa, vừa là không gian sinh hoạt văn hóa nơi con cháu ông lớn lên.</p> <p>Đại diện cho thế hệ trẻ, nghệ nhân Nguyễn Hữu Đạo (sinh năm 1990) là minh chứng cho mạch nguồn văn hóa không bao giờ đứt đoạn. Là cháu nội của cố NNƯT Nguyễn Hữu Sam và là con trai của NNƯT Nguyễn Hữu Quả, anh lựa chọn tiếp bước cha ông sau những năm tháng được nuôi dưỡng trong không gian đậm chất truyền thống.&nbsp;Đáng chú ý hơn, con trai của Nguyễn Hữu Đạo, dù mới 7 tuổi, đã sớm bộc lộ sự yêu thích với tranh Đông Hồ. Bé thường xuyên quẩn quanh bên bàn làm việc của cha và ông và chăm chú quan sát, tìm hiểu nghề của gia đình.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/60.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Không chỉ dừng lại trong phạm vi gia đình, ông còn trực tiếp hướng dẫn du khách, học sinh, sinh viên đến tham quan, trải nghiệm các công đoạn làm tranh. Ông kể lại câu chuyện của nghề bằng những trải nghiệm cá nhân, để người nghe không chỉ hiểu cách làm tranh mà còn cảm được giá trị văn hóa dân gian.</p> <p>“Phải giữ được cái hồn dân tộc, nhưng cũng phải làm mới để tồn tại,” câu nói của ông phản ánh rõ quan niệm và tinh thần làm nghề của ông, giữ gìn “hồn” của tranh Đông Hồ giữa dòng chảy văn hóa đương đại. Từ những bản khắc gỗ, những bức tranh in trên giấy điệp cho đến dấu ấn tại các triển lãm trong và ngoài nước, thành tựu của nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả cho thấy tranh Đông Hồ không chỉ được gìn giữ như một ký ức quá khứ, mà vẫn đang hiện diện sống động trong đời sống văn hóa đương đại.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/14.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Trong gần nửa thế kỷ gắn bó với nghề tranh Đông Hồ, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả không chỉ duy trì kỹ thuật truyền thống mà còn mở rộng phạm vi sáng tạo, lưu giữ và phát triển các mẫu tranh cổ. Ông sở hữu hàng trăm bản khắc gỗ với nhiều kiểu thiết kế khác nhau, trong đó có những mẫu tranh xưa bị thất truyền được phục dựng và đưa vào sản xuất, giúp lưu giữ giá trị lịch sử và thẩm mỹ của tranh Đông Hồ. Ông cũng thường thử nghiệm các chủ đề mới, kết hợp những nét sáng tạo cá nhân nhưng vẫn trung thành với phong cách và tinh thần truyền thống, tạo nên các tác phẩm vừa có giá trị văn hóa vừa phù hợp với thị hiếu mới.</p> <p>Ông và gia đình đã tích cực giới thiệu tranh Đông Hồ tại nhiều triển lãm và sự kiện văn hóa trong nước và quốc tế. Các tác phẩm của ông từng được trưng bày tại các triển lãm quốc gia, hội chợ mỹ thuật dân gian, cũng như tại Hàn Quốc, Thái Lan và Trung Quốc, nhận được sự quan tâm và đánh giá cao từ công chúng và các nhà nghiên cứu.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/15.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Với những đóng góp đó, ông đã được trao tặng nhiều bằng khen của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Huy chương “Vì sự nghiệp Văn hóa,” và đặc biệt là danh hiệu “Nghệ nhân Ưu tú” do Chủ tịch nước phong tặng.</p> <p>Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả dành nhiều thời gian hướng dẫn con cháu trong gia đình, đồng thời mở rộng không gian tiếp cận cho học sinh, sinh viên và du khách thông qua các hoạt động trải nghiệm, tham quan, thực hành in tranh. Ông tin rằng chỉ khi người trẻ được trực tiếp chạm tay vào giấy điệp, mộc bản và màu sắc tự nhiên, họ mới thực sự cảm nhận được giá trị của tranh Đông Hồ và có thể tiếp tục câu chuyện dang dở của cha ông.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/17.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Ông chia sẻ về việc lưu truyền nghề làm tranh Đông Hồ: “Việc giữ gìn và phát triển nghề truyền thống của cha ông không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn là kết quả của sự giáo dục từ gia đình, của nếp nhà được truyền nối qua nhiều thế hệ. Bởi thế, việc tiếp nối nghề không chỉ đơn thuần là kế sinh nhai mà còn là hành trình gìn giữ một phần linh hồn dân tộc, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống.”</p> <p><em><strong>Đọc thêm về megastory “Nghệ Nhân Làng Đông Hồ: Giữ Trọn Chữ Tâm, Nâng Tầm Di Sản” tại <a href="https://nghenhandongho.framer.website/" target="_blank">đây</a>.</strong></em></p> <p style="text-align: left;"><em><strong>Bài viết được thực hiện bới của nhóm sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền</strong></em><br /><em><strong>Nội dung:&nbsp;Hiếu Linh, Lê Nhi, Ngọc Minh, Huyền My</strong></em><br /><em><strong>Đồ họa:&nbsp;Hiếu Linh, Mỹ Tâm, Mai Thảo, Hoàng Yến</strong></em><br /><em><strong>Ảnh:&nbsp;Lê Nhi, Ngọc Minh, Mỹ Tâm, Hoàng Yến</strong></em></p> <p><span style="background-color: transparent;">

<style>
@import url('https://fonts.googleapis.com/css2?family=EB+Garamond:wght@400;600;700&display=swap');

body {
    background: url('https://media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/background.webp') center center;
}

#ja-mainbody {
    font-family: 'EB Garamond', serif;
    color: #333333;
    font-weight: 600; /* Make all body text bolder */
}


.image-caption {
    font-size: 1.8em;
    font-family: 'EB Garamond', serif !important;
    font-style: italic;
    text-align: center;
    font-weight: bold; /* Make captions bold */
}

article.content a {
    font-weight: bold;
    color: #17807B;
}

article.content p {
    font-weight: bold;
}

.top-photo {
    margin: 0 !important;
}

.left, .right {
    margin: 2em;
}

.bigger video, .left video {
    max-width: 100%;
    height: auto;
}

.header .title h1 {
    padding-top: 2em;
    font-family: 'EB Garamond', serif !important;
    font-weight: bold; /* Bold title */
}

h1 a {
    font-family: 'EB Garamond', serif !important;
    color: #333333;
    font-weight: bold;
}

.item-page h2 {
    font-family: 'EB Garamond', serif !important;
    color: #333333;
    margin-top: 1em !important;
    margin-bottom: 1em !important;
    font-weight: bold; /* Bold subtitles */
}

@media only screen and (max-width: 1023px) {
    .left, .right {
        margin: 1em;
    }
}
</style>
</p></div>

<div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/web1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/web1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p style="text-align: center;"><em>“Hỡi cô thắt lưng bao xanh</em><br /><em>Có về làng Mái với anh thì về</em><br /><em>Làng Mái có lịch có lề</em><br /><em>Có sông tắm mát có nghề làm tranh.”</em></p> <p>Bắc Ninh, vùng đất Kinh Bắc xưa nay vốn nổi danh với sự hào hoa và bề dày văn hiến. Không chỉ say đắm lòng người bởi những làn điệu Quan họ, nơi đây còn là cái nôi của nhiều lễ hội và làng nghề truyền thống đặc sắc như hội Lim, hội chùa Bút Tháp… Giữa bức tranh văn hóa sinh động ấy, làng tranh Đông Hồ hiện lên như một biểu tượng nghệ thuật dân gian tiêu biểu, kết tinh những giá trị tinh hoa của đất Việt.</p> <p>“Làng Mái” trong câu ca dao xưa chính là làng Đông Hồ bên bờ sông Đuống hiền hòa. Thuở cực thịnh, nơi đây từng quy tụ 17 dòng họ cùng chung tay tô điểm cho những bức tranh dân gian. Thế nhưng, trước sức ép của thị trường và kỹ thuật in hiện đại, nghề tranh đứng trước những khúc quanh nghiệt ngã. Nhiều gia đình phải chuyển sang làm vàng mã để mưu sinh, khiến sức sống của làng nghề truyền thống dần thu hẹp lại.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/1.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Dẫu trải qua thăng trầm, tranh Đông Hồ vẫn giữ vị thế trang trọng trong tâm thức người Việt. Mỗi dịp Tết đến xuân về, người ta lại treo tranh trên vách như một cách gửi gắm ước mong hạnh phúc, no ấm. Sức hút bền bỉ của dòng tranh này nằm ở tính “thuận tự nhiên” trong chất liệu, từ giấy dó phủ bột điệp đến mực màu từ cây lá. Sự mộc mạc ấy đã sản sinh nên những nét vẽ đơn sơ nhưng giàu tính ẩn dụ, thể hiện nhân sinh quan của người lao động và ký ức văn hóa bao đời. Với giá trị tự thân độc đáo, tranh Đông Hồ đã được vinh danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.</p> <p>Sự tồn tại của dòng tranh dân gian sau hơn trăm năm không thể xảy ra nếu thiếu những con người lặng lẽ “giữ lửa.” Nổi bật trong số đó là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Oanh và Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả, những người không chỉ xem làm tranh như sự tiếp nối truyền thống gia đình, mà còn như sứ mệnh bảo tồn một phần linh hồn của xứ Kinh Bắc trước dòng chảy của thời gian.</p> <h3>Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Thị Oanh: Một đời nâng niu hồn tranh qua đôi tay tài hoa</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/chapter1.2.webp" /></p> <p><span style="background-color: transparent;">Sinh năm 1960, Nghệ nhân Ưu tú (NNƯT) Nguyễn Thị Oanh là gương mặt tiêu biểu cho sức sống bền bỉ của dòng tranh Đông Hồ trong đời sống đương đại. Là hậu duệ của dòng họ Nguyễn Đăng, một trong hai gia tộc hiếm hoi còn bám trụ với nghề sau những biến động của cơ chế thị trường, bà đã dành trọn cuộc đời để giữ gìn từng bản khắc, sắc màu dân tộc.</span></p> <p><span style="background-color: transparent;">Từ thuở ấu thơ, bà đã lớn lên trong không gian phảng phất mùi giấy dó, mùi màu in tự nhiên và tiếng gõ chạm khắc. Người mẹ quá cố chính là người thầy đầu tiên dẫn dắt bà bước vào thế giới nghệ thuật dân gian. Qua những ngày quan sát mẹ tỉ mỉ pha màu, cẩn thận in từng bức vẽ, bà không chỉ học được kỹ nghệ mà còn thấm nhuần lòng trân trọng dành cho di sản cha ông. Từ đó, ý chí tiếp nối con đường của mẹ bắt đầu nhen nhóm trong lòng người thiếu nữ trẻ.</span></p> <p>Khi trưởng thành và trở thành thợ chính vững tay nghề, cái duyên lại đưa bà về làm dâu trong gia đình cố NNƯT Nguyễn Hữu Sam — một "cây đại thụ" của làng tranh.&nbsp;Những năm tháng làm việc cùng cha chồng, bà có cơ hội làm việc, tiếp xúc và lĩnh hội trực tiếp những tinh hoa quý báu trong nghề từ ông. Từ đó, bà lại càng thấm thía và nâng niu những giá trị văn hóa kết tinh trong từng tác phẩm.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/chapter1.3.2.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Suốt nhiều năm liền, bà vừa làm nghề, vừa học nghề, vừa tích lũy kinh nghiệm qua từng mùa tranh Tết.&nbsp;Từ khắc ván, in nét, pha màu cho đến phơi tranh, mỗi công đoạn đều được bà thực hiện thủ công theo đúng lối làm tranh cổ truyền.</p> <p>Thế nhưng, cùng với những biến chuyển của đời sống xã hội, tranh Đông Hồ dần mất đi vị trí quen thuộc trong sinh hoạt văn hóa của người dân. Từ chỗ là vật không thể thiếu mỗi dịp Tết đến, dòng tranh dân gian dần bị thay thế bởi các sản phẩm tranh in công nghiệp, nhu cầu giảm sút kéo theo thu nhập từ nghề ngày càng bấp bên,&nbsp;nhiều hộ gia đình lần lượt rời bỏ làng để tìm sinh kế khác. Giữa sự mai một đó, nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh vẫn chọn bám trụ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/1.2.5.webp" /></p> <p>Là một nữ nghệ nhân trực tiếp gánh vác việc gia đình, bà Oanh phải đồng thời đối mặt với áp lực mưu sinh và trách nhiệm gìn giữ nghề truyền thống. Công việc vốn dĩ nặng nhọc, từ khâu chuẩn bị giấy, mài vỏ điệp đến giã màu tự nhiên hay in tranh, tất cả đều đòi hỏi sức bền bỉ và sự tỉ mỉ vượt bậc.</p> <p>Vượt lên những khó khăn về kinh tế, hành trình của bà còn là cuộc chiến âm thầm chống lại sự lãng quên của thời đại. Giữa bối cảnh lớp trẻ không còn mặn mà với tranh dân gian và những bản khắc cổ đứng trước nguy cơ thất lạc, bà đã lặng lẽ sưu tầm, bảo tồn và duy trì kỹ thuật in ấn thủ công. Việc trở thành nữ nghệ nhân đầu tiên và duy nhất của làng Đông Hồ được phong tặng danh hiệu cao quý không chỉ là niềm tự hào cá nhân, mà còn là một trọng trách lớn lao trong việc bảo tồn hồn cốt của dòng tranh quý.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/1.7.webp" /></p> <p><span style="background-color: transparent;">Bằng đôi tay tài hoa, bà Oanh đã gìn giữ nguyên bản những hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt như tranh gà, lợn, hay ‘Đám cưới chuột,’ lưu lại nét đẹp cổ truyền từ hàng trăm năm trước. Cho đến nay, gia đình bà vẫn trân trọng lưu giữ kho tàng gồm khoảng 600 bản khắc gỗ cổ.&nbsp;</span></p> <p><span style="background-color: transparent;">Không dừng lại ở việc bảo tồn, nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh còn miệt mài sáng tác với hơn 50 tác phẩm mới, phản ánh sinh động nhịp sống đương đại qua các bức: ‘Chợ tranh ngày Tết,’ ‘Chợ quê,’ ‘Hát thuyền,’ ‘Lưỡng chuột đón xuân.’ Đặc biệt, việc đưa hình ảnh các di tích quốc gia như Chùa Dâu, Đền Đô vào tranh đã góp phần mở rộng đề tài, làm phong phú thêm dòng chảy của nghệ thuật dân gian Đông Hồ. Trong đó, tác phẩm ‘Chùa Bút Tháp’ đã vinh dự nhận giải Vàng tại triển lãm sản phẩm Làng nghề truyền thống tiêu biểu trong dịp Festival Bắc Ninh 2014.</span></p> <p><span style="background-color: transparent;">Song song với đó, bà còn biến chính ngôi nhà của mình tại làng Đông Hồ thành một không gian trưng bày và giới thiệu tranh dân gian. Trong nhiều căn phòng, bà sắp xếp các bản khắc gỗ, tranh in truyền thống và những sáng tác mới để du khách có thể quan sát trọn vẹn quá trình hình thành một bức tranh.</span></p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/100.webp" /></p> <p>Theo bà, để làm nên một bức tranh Đông Hồ, trước hết phải dốc hết tâm huyết và lòng yêu nghề. Sự yêu kính ấy thể hiện qua từng công đoạn cẩn trọng, có khi bà dành ra “vài tuần đến cả tháng để nắn nót ngòi bút sao cho ra đời bức tranh đẹp nhất.” Bà chia sẻ, nét đặc trưng và cũng là thử thách lớn nhất của tranh Đông Hồ nằm ở khâu chế tác màu sắc tự nhiên và kỹ thuật khắc ván.</p> <p data-path-to-node="9">Dù đã ngoài 60 tuổi, khi sức khỏe có phần giảm sút, tuổi tác vẫn chưa bao giờ là rào cản đối với người nghệ nhân ấy. Tình yêu dành cho những bản khắc vẫn vẹn nguyên, bởi bà hiểu hơn ai hết, sự tồn tại của tranh Đông Hồ phụ thuộc vào chính những người đã chọn ở lại và tiếp nối dòng chảy di sản.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/9.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Với những nỗ lực không ngừng nghỉ của mình, bà Oanh đã được Nhà nước và các tổ chức chuyên môn vinh danh bằng nhiều danh hiệu và giải thưởng quan trọng. Năm 2020 bà được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu “Nghệ nhân Ưu tú.” Bà cũng là nữ nghệ nhân duy nhất trong số 62 làng nghề thủ công ở tỉnh Bắc Ninh được trao tặng danh hiệu này. Trước đó, bà từng nhận các bằng khen, huy chương từ Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch cũng như các cơ quan địa phương nhằm ghi nhận vai trò của bà trong bảo tồn mỹ thuật dân gian.</p> <p>Nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh và tranh Đông Hồ đã được giới thiệu rộng rãi tại nhiều sự kiện văn hoá trong và ngoài nước: tranh của bà xuất hiện tại các liên hoan nghề truyền thống, hội chợ du lịch, không gian văn hoá di sản, và đóng góp vào các sự kiện ngoại giao văn hoá. Đặc biệt, tranh của bà đã được mang đến các quốc gia như Pháp, Đức, Cộng hoà Séc, Ấn Độ, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất… trong các buổi triển lãm để quảng bá văn hoá Việt Nam; đồng thời bà từng được mời giới thiệu kỹ thuật in tranh Đông Hồ ngay tại Văn phòng Chính phủ và hướng dẫn Thủ tướng nước bạn làm tranh khi họ sang thăm Việt Nam.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/11.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Việc tranh dân gian Đông Hồ được UNESCO ghi danh và công nhận càng tiếp thêm cho bà động lực và niềm tin để vững bước trên con đường bảo tồn di sản. Với bà Oanh, đó không chỉ là sự ghi nhận cho giá trị của dòng tranh truyền thống, mà còn là lời nhắc nhở để bản thân tiếp tục nỗ lực, cống hiến nhiều hơn nữa, để tranh Đông Hồ ngày càng được gìn giữ, lan tỏa và sống bền vững trong đời sống.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/12.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Với ý thức rõ ràng về trách nhiệm kế thừa, bà Oanh chủ động duy trì việc truyền nghề cho thế hệ sau. Hiện nay, bà đang trực tiếp truyền dạy nghề cho con trai và con dâu, coi đó như một cách trao gửi ngọn lửa đam mê cho thế hệ kế cận. Không dừng lại ở phạm vi gia đình, bà còn dành nhiều tâm huyết hướng dẫn, giới thiệu về lịch sử, giá trị và kỹ thuật làm tranh Đông Hồ cho học sinh, sinh viên và du khách mỗi khi họ tìm đến làng tranh để tham quan, tìm hiểu.</p> <h3>Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả: Trọn một đời với văn hóa tranh Đông Hồ</h3> <h3><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/30.webp" style="background-color: transparent;" /></h3> <p>Nghệ nhân ưu tú Nguyễn Hữu Quả sinh năm 1963, hiện sống và làm nghề tại làng tranh Đông Hồ, nay thuộc phường Song Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Ông là một trong những gương mặt tiêu biểu tiếp nối sức sống của dòng tranh dân gian. Ngày nay, bên cạnh việc trực tiếp làm tranh, ông đã biến chính ngôi nhà của mình thành không gian trưng bày, tiếp đón học sinh, sinh viên và du khách đến tham quan, trải nghiệm.</p> <p>Là con trai của cố nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam, Nghệ nhân Ưu tú đầu tiên của làng Đông Hồ, ông Quả may mắn được cha trực tiếp dìu dắt và rèn giũa từ thuở thiếu thời. Tuổi thơ ông là những ngày dài gắn liền với mùi giấy dó mới phơi, tiếng mài điệp lách cách và những tấm ván khắc gỗ xếp dọc gian nhà. Lên 7, lên 8, cậu bé Quả đã say mê quan sát cha mẹ thực hiện từng công đoạn, từ pha màu, phơi giấy đến lau khuôn in.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/6.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Khoảng 10 tuổi, Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả bắt đầu tham gia trực tiếp vào các công việc đơn giản như quét điệp lên giấy, phơi tranh, xếp tranh sau khi in. Đến 12–13 tuổi, ông đã có thể tự tay in những bản nét đầu tiên dưới sự chỉ dẫn sát sao của cha là Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Sam. Việc học nghề không diễn ra qua sách vở, mà bằng cách quan sát, làm đi làm lại và ghi nhớ bằng kinh nghiệm.</p> <p>Đến năm 10 tuổi, ông bắt đầu tham gia vào những công việc sơ khởi như quét điệp, phơi tranh. Khi bước sang tuổi 13, dưới sự chỉ dẫn khắt khe của cha, ông đã có thể tự tay in những bản nét đầu tiên. Ông thụ đắc kỹ nghệ không qua sách vở hàn lâm mà bằng sự quan sát, tự rèn luyện cho đến khi đôi tay thuần thục và tâm hồn cảm nhận được.</p> <p>Ở độ tuổi 18, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả đã nắm vững hầu hết các công đoạn làm tranh, từ chuẩn bị giấy, pha màu tự nhiên đến in hoàn chỉnh một bức tranh. Ông bắt đầu tham gia sản xuất tranh cùng gia đình trong các dịp Tết, thời điểm bận rộn nhất của làng nghề.</p> <p>Từ một cậu bé phụ việc, ông dần trở thành người thợ chính trong gia đình. Chính quá trình lớn lên cùng sinh hoạt của làng nghề ấy đã định hình cốt cách của nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả đến tận ngày hôm nay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/32.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Gắn bó với những mộc bản từ thuở thiếu thời, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả bước vào nghề bằng sự điềm tĩnh và kiên nhẫn tự thân của một người con làng tranh. Với ông, tranh Đông Hồ không dừng lại ở những mẫu cổ truyền mà còn là sự nhọc công phục dựng các bản khắc, các kỹ thuật làm màu vốn chỉ tồn tại trong ký ức và lời truyền miệng của dòng họ.&nbsp;</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/6.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Thế nhưng, khi thị hiếu thay đổi, những bức tranh dân gian dần vắng bóng trên vách nhà mỗi dịp Tết, đẩy làng nghề vào cảnh đìu hiu. Đã có lúc, việc in tranh chỉ còn là cách để giữ lấy cái tên Đông Hồ chứ chẳng thể đảm bảo một cuộc sống đủ đầy. Giữa bối cảnh nhiều người phải dứt áo ra đi hoặc làm thêm đủ nghề để bám trụ, ông Quả vẫn chọn ở lại với giấy dó, vỏ điệp, ông kiên quyết từ chối những cách làm giản lược hay chạy theo thị trường làm đánh mất đi bản sắc nguyên bản.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/7.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Những năm sau đó, khó khăn không chỉ đến từ kinh tế mà còn từ sự lãng quên. Lớp trẻ ít người theo học, số hộ còn làm tranh trong làng ngày càng giảm, khiến không gian nghề truyền thống dần thu hẹp. Trong hoàn cảnh đó, mỗi lần cầm ván in, mỗi bức tranh được hoàn thiện đều mang theo ý thức rõ ràng rằng nghề đang đứng trước thử thách lớn. Chính điều ấy khiến nghệ nhân càng thêm trân trọng từng công đoạn và từng giá trị cốt lõi của tranh Đông Hồ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/8.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả chọn cho mình một con đường thầm lặng mà kiên định: giữ nghề bằng chính nhịp sống thường ngày. Ông duy trì đầy đủ các công đoạn truyền thống, từ chuẩn bị giấy điệp, pha màu tự nhiên từ vỏ sò, hoa lá, đến in tranh bằng bản khắc gỗ cổ. Bên cạnh việc bảo tồn các mẫu tranh cổ, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Hữu Quả còn chủ động phục dựng và làm mới không gian tranh Đông Hồ để phù hợp với đời sống đương đại.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/10.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p><span style="background-color: transparent;">NNƯT Nguyễn Hữu Quả chọn cho mình một cách giữ nghề riêng: biến nó thành hơi thở trong nhịp sống thường nhật. Ông duy trì nghiêm ngặt các công đoạn thủ công, từ khâu chuẩn bị giấy điệp, pha màu từ cỏ cây hoa lá, cho đến việc kiên nhẫn in từng mộc bản cổ.&nbsp;</span>Ngôi nhà của ông vừa là xưởng họa, vừa là không gian sinh hoạt văn hóa nơi con cháu ông lớn lên.</p> <p>Đại diện cho thế hệ trẻ, nghệ nhân Nguyễn Hữu Đạo (sinh năm 1990) là minh chứng cho mạch nguồn văn hóa không bao giờ đứt đoạn. Là cháu nội của cố NNƯT Nguyễn Hữu Sam và là con trai của NNƯT Nguyễn Hữu Quả, anh lựa chọn tiếp bước cha ông sau những năm tháng được nuôi dưỡng trong không gian đậm chất truyền thống.&nbsp;Đáng chú ý hơn, con trai của Nguyễn Hữu Đạo, dù mới 7 tuổi, đã sớm bộc lộ sự yêu thích với tranh Đông Hồ. Bé thường xuyên quẩn quanh bên bàn làm việc của cha và ông và chăm chú quan sát, tìm hiểu nghề của gia đình.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/60.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Không chỉ dừng lại trong phạm vi gia đình, ông còn trực tiếp hướng dẫn du khách, học sinh, sinh viên đến tham quan, trải nghiệm các công đoạn làm tranh. Ông kể lại câu chuyện của nghề bằng những trải nghiệm cá nhân, để người nghe không chỉ hiểu cách làm tranh mà còn cảm được giá trị văn hóa dân gian.</p> <p>“Phải giữ được cái hồn dân tộc, nhưng cũng phải làm mới để tồn tại,” câu nói của ông phản ánh rõ quan niệm và tinh thần làm nghề của ông, giữ gìn “hồn” của tranh Đông Hồ giữa dòng chảy văn hóa đương đại. Từ những bản khắc gỗ, những bức tranh in trên giấy điệp cho đến dấu ấn tại các triển lãm trong và ngoài nước, thành tựu của nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả cho thấy tranh Đông Hồ không chỉ được gìn giữ như một ký ức quá khứ, mà vẫn đang hiện diện sống động trong đời sống văn hóa đương đại.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/14.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Trong gần nửa thế kỷ gắn bó với nghề tranh Đông Hồ, nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả không chỉ duy trì kỹ thuật truyền thống mà còn mở rộng phạm vi sáng tạo, lưu giữ và phát triển các mẫu tranh cổ. Ông sở hữu hàng trăm bản khắc gỗ với nhiều kiểu thiết kế khác nhau, trong đó có những mẫu tranh xưa bị thất truyền được phục dựng và đưa vào sản xuất, giúp lưu giữ giá trị lịch sử và thẩm mỹ của tranh Đông Hồ. Ông cũng thường thử nghiệm các chủ đề mới, kết hợp những nét sáng tạo cá nhân nhưng vẫn trung thành với phong cách và tinh thần truyền thống, tạo nên các tác phẩm vừa có giá trị văn hóa vừa phù hợp với thị hiếu mới.</p> <p>Ông và gia đình đã tích cực giới thiệu tranh Đông Hồ tại nhiều triển lãm và sự kiện văn hóa trong nước và quốc tế. Các tác phẩm của ông từng được trưng bày tại các triển lãm quốc gia, hội chợ mỹ thuật dân gian, cũng như tại Hàn Quốc, Thái Lan và Trung Quốc, nhận được sự quan tâm và đánh giá cao từ công chúng và các nhà nghiên cứu.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/15.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Với những đóng góp đó, ông đã được trao tặng nhiều bằng khen của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Huy chương “Vì sự nghiệp Văn hóa,” và đặc biệt là danh hiệu “Nghệ nhân Ưu tú” do Chủ tịch nước phong tặng.</p> <p>Nghệ nhân Nguyễn Hữu Quả dành nhiều thời gian hướng dẫn con cháu trong gia đình, đồng thời mở rộng không gian tiếp cận cho học sinh, sinh viên và du khách thông qua các hoạt động trải nghiệm, tham quan, thực hành in tranh. Ông tin rằng chỉ khi người trẻ được trực tiếp chạm tay vào giấy điệp, mộc bản và màu sắc tự nhiên, họ mới thực sự cảm nhận được giá trị của tranh Đông Hồ và có thể tiếp tục câu chuyện dang dở của cha ông.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/17.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p>Ông chia sẻ về việc lưu truyền nghề làm tranh Đông Hồ: “Việc giữ gìn và phát triển nghề truyền thống của cha ông không chỉ là trách nhiệm cá nhân mà còn là kết quả của sự giáo dục từ gia đình, của nếp nhà được truyền nối qua nhiều thế hệ. Bởi thế, việc tiếp nối nghề không chỉ đơn thuần là kế sinh nhai mà còn là hành trình gìn giữ một phần linh hồn dân tộc, bảo tồn những giá trị văn hóa truyền thống.”</p> <p><em><strong>Đọc thêm về megastory “Nghệ Nhân Làng Đông Hồ: Giữ Trọn Chữ Tâm, Nâng Tầm Di Sản” tại <a href="https://nghenhandongho.framer.website/" target="_blank">đây</a>.</strong></em></p> <p style="text-align: left;"><em><strong>Bài viết được thực hiện bới của nhóm sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền</strong></em><br /><em><strong>Nội dung:&nbsp;Hiếu Linh, Lê Nhi, Ngọc Minh, Huyền My</strong></em><br /><em><strong>Đồ họa:&nbsp;Hiếu Linh, Mỹ Tâm, Mai Thảo, Hoàng Yến</strong></em><br /><em><strong>Ảnh:&nbsp;Lê Nhi, Ngọc Minh, Mỹ Tâm, Hoàng Yến</strong></em></p> <p><span style="background-color: transparent;">

<style>
@import url('https://fonts.googleapis.com/css2?family=EB+Garamond:wght@400;600;700&display=swap');

body {
    background: url('https://media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/12/25/dongho/background.webp') center center;
}

#ja-mainbody {
    font-family: 'EB Garamond', serif;
    color: #333333;
    font-weight: 600; /* Make all body text bolder */
}


.image-caption {
    font-size: 1.8em;
    font-family: 'EB Garamond', serif !important;
    font-style: italic;
    text-align: center;
    font-weight: bold; /* Make captions bold */
}

article.content a {
    font-weight: bold;
    color: #17807B;
}

article.content p {
    font-weight: bold;
}

.top-photo {
    margin: 0 !important;
}

.left, .right {
    margin: 2em;
}

.bigger video, .left video {
    max-width: 100%;
    height: auto;
}

.header .title h1 {
    padding-top: 2em;
    font-family: 'EB Garamond', serif !important;
    font-weight: bold; /* Bold title */
}

h1 a {
    font-family: 'EB Garamond', serif !important;
    color: #333333;
    font-weight: bold;
}

.item-page h2 {
    font-family: 'EB Garamond', serif !important;
    color: #333333;
    margin-top: 1em !important;
    margin-bottom: 1em !important;
    font-weight: bold; /* Bold subtitles */
}

@media only screen and (max-width: 1023px) {
    .left, .right {
        margin: 1em;
    }
}
</style>
</p></div> 5 món quà đậm chất Việt cho người thân mùa Giáng Sinh này 2025-12-19T16:00:00+07:00 2025-12-19T16:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18021-5-món-quà-đậm-chất-việt-cho-người-thân-mùa-giáng-sinh-này Khôi Phạm. Minh họa: Mai Khanh. info@saigoneer.com

<div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/01.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/00.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Dù Giáng Sinh không phải là dịp lễ tết truyền thống của người Việt, qua nhiều thập kỉ, xã hội Việt Nam đã thay đổi và phát triển phong tục Giáng Sinh phương Tây để phù hợp với văn hóa Việt.</em></p> <p>Các cộng đồng Công Giáo ở Sài Gòn và khắp Việt Nam vẫn giữ nguyên văn hóa đi Lễ Giáng Sinh ở nhà thờ, cầu nguyện cho năm mới, và cả truyền thống dựng hang đá. Ngoài ra, một số tập tục Noel ở Việt nam cũng còn nhiều vết tích từ văn hóa Pháp, như ăn bánh khúc cây (bûche de Noël) hay tổ chức Tiệc Nửa đêm (réveillon), nhưng phần lớn mọi người chỉ xem Giáng sinh như dịp để ăn mặc đẹp, chụp hình bên cây thông và nhà thờ, và đường nhiên không thể thiếu quà cáp.</p> <p>Nếu bạn vẫn còn băn khoăn không biết chọn mua quà gì cho người mình yêu thương, <em>Saigoneer</em> đã lên một danh sách nhỏ để giúp bạn lựa chọn dễ dàng hơn. <em>Saigoneer</em> luôn mong muốn được góp phần tôn vinh các tinh thần sáng tạo của thương hiệu Việt, nên 5 lựa chon dưới đây — với 5 ngành hàng khác nhau — phù hợp cho nhiều đối tượng khác nhau trong đời bạn.</p> <h3 dir="ltr">1. Thời trang: Easy Bad Work</h3> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/02.webp" /> <p class="image-caption">Khim Đặng trong studio tại nhà. Ảnh: Cao Nhân.</p> </div> <p>Nhà thiết kế Khim Đặng thành lập Easy Bad Work lúc đầu chỉ vì bạn bè cứ nài nỉ anh in thiết kế lên áo. Cũng không lạ, vì nét vẽ của Khim vừa chi tiết, vừa có thẩm mỹ riêng và táo bạo, lấy cảm hứng từ thiên nhiên và văn hóa Việt, nhất là qua những hình ảnh như cọp Đông Dương, phượng hoàng, và rồng. Easy Bad Work gồm ba mặt hàng chính là áo, bandana, và nón kết. Mỗi thiết ké chỉ được sản xuất theo số lượng giới hạn, bán hết cũng không tái bản, cho nên mỗi món bán ra đều có độ đặc trưng nhất định. Áo và nón đương nhiên sẽ ít kén người mặc hơn, nhưng theo tôi những chiếc bandana của Khim mới là chiếc phông phản chiếu cái tôi họa sĩ của anh rõ rệt nhất, qua từng đường nét tinh xảo và hình ảnh đối xứng đầy mê hoặc.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/03.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/04.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Gian hàng Easy Bad Work tại LÔCÔ Art Market (phải) và Show “Thả Hổ Về Trời” của Khim Đặng (trái).</p> <p>Đọc thêm về Khim Đặng và Easy Bad Work qua bài viết <a href="https://saigoneer.com/vn/ton-sur-ton/17719-%C3%B4ng-h%E1%BB%95,-c%C3%A2y-c%E1%BB%8F,-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-s%C3%A1ng-t%E1%BA%A1o-c%C3%B3-k%E1%BB%B7-lu%E1%BA%ADt-trong-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-c%E1%BB%A7a-easybadwork" target="_blank">này</a>.</p> <p dir="ltr"><strong>Liên hệ:</strong></p> <ul> <li dir="ltr">Website: <a href="http://easybadwork.com">easybadwork.com</a></li> <li dir="ltr">Instagram: <a href="https://www.instagram.com/easybadwork/" target="_blank">@easybadwork</a></li> </ul> <h3 dir="ltr">2. Đồ gia dụng: Nắng Ceramics</h3> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/05.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/06.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/07.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Ảnh: Trang Facebook Nắng Ceramics.</p> <p>Đây chỉ là cảm nhận mang tính cá nhân, nhưng tôi tin rằng đồ ăn tự nhiên sẽ ngon hơn khi được bày biện trong chén đĩa đẹp. Nếu người nhận quà cũng như tôi, có lẽ một hai món đồ gốm của Nắng Ceramics sẽ là món quà Noel rất thích hợp để khiến người ta nhớ tới bạn mỗi khi dùng bữa. Dù chỉ là một brand khá trẻ, gu thẩm mỹ của Nắng lại có nguồn gốc khá lâu đời, thuộc dòng <a href="https://tuoitre.vn/9x-mong-mang-nang-ve-lang-gom-lai-thieu-xua-202406190908181.htm" target="_blank">gốm Lái Thiêu-Sông Bé</a> nức tiếng Bình Dương một thời. Các hoa văn trên tô chén Nắng có độ chi tiết vừa phải, không quá tối giản, nhưng cũng không quá lòe loẹt để nhấn chìm vẻ đẹp tự nhiên của món ăn. Hoa lay-ơn, cá chép, cúc đại đóa, gà trống, v.v. — các mô-típ trang trí trên gốm với màu sắc nhã nhặn mang nét thôn quê dễ chịu. Chính tôi cũng sở hữu một chiếc đĩa sâu lòng từ Nắng Ceramics, một trong những món gốm yêu thích của tôi mỗi khi bới cơm.</p> <p dir="ltr"><strong>Liên hệ:</strong></p> <ul> <li dir="ltr">Instagram: <a href="https://www.instagram.com/nang.ceramic/?hl=en" target="_blank">@nang.ceramic</a></li> </ul> <h3 dir="ltr">3. Thực phẩm: Sông Cái Distillery</h3> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/08.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/09.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Ảnh: Sông Cái Distillery.</p> <p>Qua hàng thế kỷ, rượu đế đã và đang đốn tim hàng triệu người Việt hàng ngày, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Rượu là một thức uống không thể thiếu trong các chầu nhậu từ miền quê đến thành thị, tuy nhiên, ít ai lại để ý xem nguyên liệu gì đóng góp vào quá trình làm rượu. Do đó, Sông Cái Distillery, đến từ Hà Nội, ra đời như một nỗ lực trân trọng mẹ Trái Đất và các sản vật tự nhiên người đã đem lại cho người Việt. Các sản phẩm lên men của Sông Cái đều đơm hoa kết trái nhờ sự phối hợp khăng khít giữa người làm rượu, người nông dân, và các hoa trái bản địa, như trái sim trong chai Spiced Roselle Gin, hay Mẩy, chai amaro đắng Sông Cái đồng sản xuất với cộng đồng người Dao Đỏ ở miền núi phía Bắc. Có lẽ Sông Cái sẽ không hấp dẫn lắm với những ai hay uống rượu mạnh có tên tuổi, nhưng tôi nghĩ đây có thể là sự lựa chọn ổn cho người có ý thích phiêu lưu, muốn nếm thử hương vị mới mẻ.</p> <p dir="ltr"><strong>Liên hệ:</strong></p> <ul> <li dir="ltr">Website: <a href="http://songcaidistillery.com">songcaidistillery.com</a></li> <li dir="ltr">Instagram:&nbsp;<a href="https://www.instagram.com/songcaidistillery/?hl=en" target="_blank">@songcaidistillery</a></li> </ul> <h3 dir="ltr"><strong>4. Sách: Chu du Hà Nội, tác giả Lê Rin</strong></h3> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/10.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/11.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Ảnh: Thái Hà Books.</p> <p>Họa sĩ minh họa Lê Rin gây ấn tượng với bạn đọc cả nước lần đầu tiên cách đây gần 1 thập kỷ khi anh ra mắt sách tranh <em>Việt Nam miền ngon</em>, bộ sưu tập 100 tranh vẽ tay các đặc sản ẩm thực từ Bắc chí Nam. Đến tay, đầu sách đã được tái bản 11 lần và vẫn rất được độc giả khắp nơi yêu thích. Chỉ cần có tâm hồn ăn uống và có chút xíu đam mê ngắm tranh đẹp, ta dễ dàng bị nét vẽ chân phương của Lê Rin thu hút. <em>Chu du Hà Nội</em> là dự án mới nhất Lê Rin trình làng. Lần này, anh đưa độc giả theo cùng trên chuyến đi thăm thủ đô qua từng trang sách. Một chút màu ký sự, một chút màu hội họa, một chút màu khám phá văn hóa là những gam màu Lê Rin đem lại qua các tác phẩm màu nước trong <em>Chu du Hà Nội</em>. Tặng sách cho người thân đôi khi là một nước đi đầy mạo hiểm, vì người đọc nhiều hay có gu rất khó tính, còn cho ai không thường đọc nhiều thì có khi quyển sách bị xếp xó. <em>Chu du Hà Nội</em> là một tác phẩm dễ đọc, dễ cảm đối với cả hai nhóm đối tượng trên.</p> <ul> <li dir="ltr">Mua ở đâu: Các hiệu sách trên toàn quốc, hay online qua trang web của nhà xuất bản&nbsp;<a href="https://thaihabooks.com/products/chu-du-ha-noi" target="_blank">ở đây</a>.</li> </ul> <h3 dir="ltr">5. Thủ công mỹ nghệ: Tò He</h3> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/12.webp" /> <p class="image-caption">Ảnh: Website Tò He.</p> </div> <div class="one-row bigger"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/13.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/16.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/15.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Ảnh: Tò He.</p> <p dir="ltr">Trên thị trường đồ lưu niệm với hằng hà sa số những sản phẩm muôn hình vạn trạng, Tò He tạo sự khác biệt bằng tôn chỉ sáng tạo ý nghĩa và những thiết kế tươi vui, có phần nguệch ngoạc nhưng vẫn rất dễ thương. Tò He được thành lập năm 2006 như một doanh nghiệp xã hội mong muốn cải thiện đời sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở Việt Nam qua sáng tạo nghệ thuật. Tò He tổ chức các lớp hội họa miễn phí, workshop thủ công, và lớp đào tạo nghề cho trẻ em. Các tác phẩm của các em sẽ được đội ngũ thiết kế số hóa, điều chỉnh thành hoa văn sản phẩm thương mại. Các em nhỏ, cũng là tác giả tranh, được nhận một phần doanh thu là tiền bản quyền tranh. Danh sách sản phẩm của Tò He thật sự đa dạng, nên chắc chắn để tìm được món gì đó xinh xinh cho người thân không khó.</p> <p dir="ltr"><strong>Liên hệ:</strong></p> <ul> <li dir="ltr">Website: <a href="http://tohe.vn">tohe.vn</a></li> <li dir="ltr">Cửa hàng trực tuyến:&nbsp;<a href="https://www.tohe.vn/collections/collection-online" target="_blank">ở đây</a></li> </ul></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/01.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/00.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Dù Giáng Sinh không phải là dịp lễ tết truyền thống của người Việt, qua nhiều thập kỉ, xã hội Việt Nam đã thay đổi và phát triển phong tục Giáng Sinh phương Tây để phù hợp với văn hóa Việt.</em></p> <p>Các cộng đồng Công Giáo ở Sài Gòn và khắp Việt Nam vẫn giữ nguyên văn hóa đi Lễ Giáng Sinh ở nhà thờ, cầu nguyện cho năm mới, và cả truyền thống dựng hang đá. Ngoài ra, một số tập tục Noel ở Việt nam cũng còn nhiều vết tích từ văn hóa Pháp, như ăn bánh khúc cây (bûche de Noël) hay tổ chức Tiệc Nửa đêm (réveillon), nhưng phần lớn mọi người chỉ xem Giáng sinh như dịp để ăn mặc đẹp, chụp hình bên cây thông và nhà thờ, và đường nhiên không thể thiếu quà cáp.</p> <p>Nếu bạn vẫn còn băn khoăn không biết chọn mua quà gì cho người mình yêu thương, <em>Saigoneer</em> đã lên một danh sách nhỏ để giúp bạn lựa chọn dễ dàng hơn. <em>Saigoneer</em> luôn mong muốn được góp phần tôn vinh các tinh thần sáng tạo của thương hiệu Việt, nên 5 lựa chon dưới đây — với 5 ngành hàng khác nhau — phù hợp cho nhiều đối tượng khác nhau trong đời bạn.</p> <h3 dir="ltr">1. Thời trang: Easy Bad Work</h3> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/02.webp" /> <p class="image-caption">Khim Đặng trong studio tại nhà. Ảnh: Cao Nhân.</p> </div> <p>Nhà thiết kế Khim Đặng thành lập Easy Bad Work lúc đầu chỉ vì bạn bè cứ nài nỉ anh in thiết kế lên áo. Cũng không lạ, vì nét vẽ của Khim vừa chi tiết, vừa có thẩm mỹ riêng và táo bạo, lấy cảm hứng từ thiên nhiên và văn hóa Việt, nhất là qua những hình ảnh như cọp Đông Dương, phượng hoàng, và rồng. Easy Bad Work gồm ba mặt hàng chính là áo, bandana, và nón kết. Mỗi thiết ké chỉ được sản xuất theo số lượng giới hạn, bán hết cũng không tái bản, cho nên mỗi món bán ra đều có độ đặc trưng nhất định. Áo và nón đương nhiên sẽ ít kén người mặc hơn, nhưng theo tôi những chiếc bandana của Khim mới là chiếc phông phản chiếu cái tôi họa sĩ của anh rõ rệt nhất, qua từng đường nét tinh xảo và hình ảnh đối xứng đầy mê hoặc.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/03.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/04.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Gian hàng Easy Bad Work tại LÔCÔ Art Market (phải) và Show “Thả Hổ Về Trời” của Khim Đặng (trái).</p> <p>Đọc thêm về Khim Đặng và Easy Bad Work qua bài viết <a href="https://saigoneer.com/vn/ton-sur-ton/17719-%C3%B4ng-h%E1%BB%95,-c%C3%A2y-c%E1%BB%8F,-v%C3%A0-s%E1%BB%B1-s%C3%A1ng-t%E1%BA%A1o-c%C3%B3-k%E1%BB%B7-lu%E1%BA%ADt-trong-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-c%E1%BB%A7a-easybadwork" target="_blank">này</a>.</p> <p dir="ltr"><strong>Liên hệ:</strong></p> <ul> <li dir="ltr">Website: <a href="http://easybadwork.com">easybadwork.com</a></li> <li dir="ltr">Instagram: <a href="https://www.instagram.com/easybadwork/" target="_blank">@easybadwork</a></li> </ul> <h3 dir="ltr">2. Đồ gia dụng: Nắng Ceramics</h3> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/05.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/06.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/07.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Ảnh: Trang Facebook Nắng Ceramics.</p> <p>Đây chỉ là cảm nhận mang tính cá nhân, nhưng tôi tin rằng đồ ăn tự nhiên sẽ ngon hơn khi được bày biện trong chén đĩa đẹp. Nếu người nhận quà cũng như tôi, có lẽ một hai món đồ gốm của Nắng Ceramics sẽ là món quà Noel rất thích hợp để khiến người ta nhớ tới bạn mỗi khi dùng bữa. Dù chỉ là một brand khá trẻ, gu thẩm mỹ của Nắng lại có nguồn gốc khá lâu đời, thuộc dòng <a href="https://tuoitre.vn/9x-mong-mang-nang-ve-lang-gom-lai-thieu-xua-202406190908181.htm" target="_blank">gốm Lái Thiêu-Sông Bé</a> nức tiếng Bình Dương một thời. Các hoa văn trên tô chén Nắng có độ chi tiết vừa phải, không quá tối giản, nhưng cũng không quá lòe loẹt để nhấn chìm vẻ đẹp tự nhiên của món ăn. Hoa lay-ơn, cá chép, cúc đại đóa, gà trống, v.v. — các mô-típ trang trí trên gốm với màu sắc nhã nhặn mang nét thôn quê dễ chịu. Chính tôi cũng sở hữu một chiếc đĩa sâu lòng từ Nắng Ceramics, một trong những món gốm yêu thích của tôi mỗi khi bới cơm.</p> <p dir="ltr"><strong>Liên hệ:</strong></p> <ul> <li dir="ltr">Instagram: <a href="https://www.instagram.com/nang.ceramic/?hl=en" target="_blank">@nang.ceramic</a></li> </ul> <h3 dir="ltr">3. Thực phẩm: Sông Cái Distillery</h3> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/08.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/09.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Ảnh: Sông Cái Distillery.</p> <p>Qua hàng thế kỷ, rượu đế đã và đang đốn tim hàng triệu người Việt hàng ngày, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Rượu là một thức uống không thể thiếu trong các chầu nhậu từ miền quê đến thành thị, tuy nhiên, ít ai lại để ý xem nguyên liệu gì đóng góp vào quá trình làm rượu. Do đó, Sông Cái Distillery, đến từ Hà Nội, ra đời như một nỗ lực trân trọng mẹ Trái Đất và các sản vật tự nhiên người đã đem lại cho người Việt. Các sản phẩm lên men của Sông Cái đều đơm hoa kết trái nhờ sự phối hợp khăng khít giữa người làm rượu, người nông dân, và các hoa trái bản địa, như trái sim trong chai Spiced Roselle Gin, hay Mẩy, chai amaro đắng Sông Cái đồng sản xuất với cộng đồng người Dao Đỏ ở miền núi phía Bắc. Có lẽ Sông Cái sẽ không hấp dẫn lắm với những ai hay uống rượu mạnh có tên tuổi, nhưng tôi nghĩ đây có thể là sự lựa chọn ổn cho người có ý thích phiêu lưu, muốn nếm thử hương vị mới mẻ.</p> <p dir="ltr"><strong>Liên hệ:</strong></p> <ul> <li dir="ltr">Website: <a href="http://songcaidistillery.com">songcaidistillery.com</a></li> <li dir="ltr">Instagram:&nbsp;<a href="https://www.instagram.com/songcaidistillery/?hl=en" target="_blank">@songcaidistillery</a></li> </ul> <h3 dir="ltr"><strong>4. Sách: Chu du Hà Nội, tác giả Lê Rin</strong></h3> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/10.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/11.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Ảnh: Thái Hà Books.</p> <p>Họa sĩ minh họa Lê Rin gây ấn tượng với bạn đọc cả nước lần đầu tiên cách đây gần 1 thập kỷ khi anh ra mắt sách tranh <em>Việt Nam miền ngon</em>, bộ sưu tập 100 tranh vẽ tay các đặc sản ẩm thực từ Bắc chí Nam. Đến tay, đầu sách đã được tái bản 11 lần và vẫn rất được độc giả khắp nơi yêu thích. Chỉ cần có tâm hồn ăn uống và có chút xíu đam mê ngắm tranh đẹp, ta dễ dàng bị nét vẽ chân phương của Lê Rin thu hút. <em>Chu du Hà Nội</em> là dự án mới nhất Lê Rin trình làng. Lần này, anh đưa độc giả theo cùng trên chuyến đi thăm thủ đô qua từng trang sách. Một chút màu ký sự, một chút màu hội họa, một chút màu khám phá văn hóa là những gam màu Lê Rin đem lại qua các tác phẩm màu nước trong <em>Chu du Hà Nội</em>. Tặng sách cho người thân đôi khi là một nước đi đầy mạo hiểm, vì người đọc nhiều hay có gu rất khó tính, còn cho ai không thường đọc nhiều thì có khi quyển sách bị xếp xó. <em>Chu du Hà Nội</em> là một tác phẩm dễ đọc, dễ cảm đối với cả hai nhóm đối tượng trên.</p> <ul> <li dir="ltr">Mua ở đâu: Các hiệu sách trên toàn quốc, hay online qua trang web của nhà xuất bản&nbsp;<a href="https://thaihabooks.com/products/chu-du-ha-noi" target="_blank">ở đây</a>.</li> </ul> <h3 dir="ltr">5. Thủ công mỹ nghệ: Tò He</h3> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/12.webp" /> <p class="image-caption">Ảnh: Website Tò He.</p> </div> <div class="one-row bigger"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/13.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/16.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/12/16/gifts/15.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Ảnh: Tò He.</p> <p dir="ltr">Trên thị trường đồ lưu niệm với hằng hà sa số những sản phẩm muôn hình vạn trạng, Tò He tạo sự khác biệt bằng tôn chỉ sáng tạo ý nghĩa và những thiết kế tươi vui, có phần nguệch ngoạc nhưng vẫn rất dễ thương. Tò He được thành lập năm 2006 như một doanh nghiệp xã hội mong muốn cải thiện đời sống cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở Việt Nam qua sáng tạo nghệ thuật. Tò He tổ chức các lớp hội họa miễn phí, workshop thủ công, và lớp đào tạo nghề cho trẻ em. Các tác phẩm của các em sẽ được đội ngũ thiết kế số hóa, điều chỉnh thành hoa văn sản phẩm thương mại. Các em nhỏ, cũng là tác giả tranh, được nhận một phần doanh thu là tiền bản quyền tranh. Danh sách sản phẩm của Tò He thật sự đa dạng, nên chắc chắn để tìm được món gì đó xinh xinh cho người thân không khó.</p> <p dir="ltr"><strong>Liên hệ:</strong></p> <ul> <li dir="ltr">Website: <a href="http://tohe.vn">tohe.vn</a></li> <li dir="ltr">Cửa hàng trực tuyến:&nbsp;<a href="https://www.tohe.vn/collections/collection-online" target="_blank">ở đây</a></li> </ul></div>
Luận công, luận tội 'ghế nhựa hàng bia' — thiết kế nội thất khiến cả thế giới tranh cãi 2025-10-24T16:00:00+07:00 2025-10-24T16:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17980-luận-công,-luận-tội-ghế-nhựa-hàng-bia-—-thiết-kế-nội-thất-khiến-cả-thế-giới-tranh-cãi Uyên Đỗ. Minh họa: Dương Trương. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/web1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/fb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Vào năm 2024, tờ The New York Times công bố danh sách 25 thiết kế nội thất tiêu biểu của thế kỷ qua, do hội đồng gồm các nhà thiết kế, nghệ sĩ và giám tuyển từ những bảo tàng danh tiếng bình chọn. Bất ngờ thay, ghế monobloc, chiếc ghế nhựa phổ thông quen thuộc với người dân Việt Nam và nhiều quốc gia khác, cũng góp mặt trong danh sách này.<br /></em></p> <p>Khi danh sách này được công bố, báo chí trong nước tất nhiên mau chóng vào cuộc. Hầu hết các bài viết đều đi theo mô-típ rất quen thuộc: một món đồ dân dã gắn bó với đời sống địa phương nay lại được tôn vinh trên truyền thông quốc tế. Họ điểm lại vai trò “đáng kể” của chiếc ghế trong văn hóa ăn uống, tụ họp ở Việt Nam. Hình ảnh chiếc ghế xuất hiện dày đặc từ quán nhậu vỉa hè, sân nhà ngày lễ tết, đến những khung cảnh sinh hoạt khác dọc ba miền đất nước.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc7.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Thiết kế duy nhất trong danh sách không đi kèm tên tác giả. Nguồn ảnh:&nbsp;<a href="https://www.nytimes.com/2024/03/28/t-magazine/furniture-design-office-chair-shelving-unit.html" target="_blank">The New York Times</a>.</p> <p>Thế nhưng, tìm hiểu kỹ hơn những thông tin đằng sau các tựa báo, tôi nhận ra có khá nhiều luồng diễn giải trái chiều xoay quanh sự xuất hiện của ghế monobloc trong danh sách này. Khác với phần lớn những thiết kế được tôn vinh vì tính sáng tạo hay dấu ấn thẩm mỹ của tác giả, nó lại được chọn vì tính phổ biến gần như tuyệt đối. Hàng triệu, thậm chí hàng tỷ phiên bản của chiếc ghế đã được sản xuất và xuất hiện ở mọi nơi toàn cầu.</p> <p>Khi lần mò đọc bình luận diễn đàn từ tứ phương, tôi nhận ra cảm xúc dành cho ghế monobloc chia thành hai thái cực rõ rệt. Ở nhiều quốc gia, người ta ghét nó ra mặt, chê nó xấu xí, làm mất mỹ quan, gây ô nhiễm môi trường. Nhưng ở chỗ khác, như ở Việt Nam, người ta lại nói về nó bằng thái độ trìu mến. Họ khen nó rẻ, thiết thực, chắc chắn là một phần không thể thiếu của đời sống.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc20_2.webp" /></p> <p class="image-caption">Báo chí trong nước đưa tin về việc ghế monobloc được vinh danh. Nguồn ảnh: <a href="https://www.facebook.com/tintucvtv24/posts/pfbid02KNfpM3uhRPSTx1uFoymYQC3E4s57R29uPQ8Nw61HsRqeeEyfnfXc1n2DK9VKnuNKl?__cft__[0]=AZVDCfrDD1-D5j_Za5DSnRWiKgu56DIyrL7Ftlpt98xtLc2RFfZknmBZY5oXbbAITWwrhEYg6aTEz6OaZxunOwo9i5cdq3T8nv36Q5JsEkdTjucT0AFE1bJ2jS-BECHIzO1MHHRBLpv2bbrIkBBGjtyXTB9e3jYZj1RmNw2S6FIhuA&__tn__=%2CO%2CP-R">VTV24</a>.</p> <p>Điều gì đã khiến một vật dụng đơn giản đến vậy vừa được yêu thương, vừa bị ghét cay ghét đắng? Nó đẹp ở đâu? Phản cảm ở chỗ nào? Tiện dụng, hay chỉ đơn thuần là thứ rác nhựa được nguỵ trang dưới hình hài nội thất? Giữa vô số nhãn từ mà người ta gán cho nó trên khắp thế giới, đâu mới là bản chất của ghế monobloc?</p> <p>Để đi tìm câu trả lời, tôi và bạn đọc cần quay lại thời điểm chiếc ghế ra đời, dù nguồn gốc của sản phẩm này mơ hồ không kém cách người ta nhìn nhận nó ngày nay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc15_2.webp" /></p> <p>Monobloc, đúng như tên gọi, là chiếc ghế được đúc từ một khối nhựa duy nhất (“mono” nghĩa là một, “bloc” nghĩa là khối). Chất liệu phổ biến nhất để làm ra nó là polypropylene, loại nhựa nhiệt dẻo có thể dễ dàng tạo hình ở nhiệt độ cao.</p> <p>Chiếc ghế ra đời trong bối cảnh hậu Thế chiến thứ Nhất và thứ Hai, khi thế giới bước vào thời kỳ công nghiệp hóa mạnh mẽ với nhiều bước tiến trong công nghệ vật liệu. Nhựa, vào thời điểm đó, được xem là “chất liệu của tương lai” vì nhẹ và bền, lại không phụ thuộc quá nhiều vào nguồn tài nguyên truyền thống như gỗ hay kim loại, vốn trở nên khan hiếm trong và sau chiến tranh.</p> <p>Thay vì gắn bó với các chất liệu cũ, nhiều nhà thiết kế bắt đầu chuyển sang thử nghiệm với nhựa như một hướng đi mới cho thiết kế đại chúng, với kỳ vọng tạo ra những sản phẩm linh hoạt, giá thành thấp và dễ tiếp cận hơn với số đông.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc25_2.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc22.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc24.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc23.webp" alt="" /></div> </div> <p class="image-caption">Từ trái sang phải, Panton Chair, Bofinger Chair, Universale Chair,&nbsp;Fauteuil 300. Nguồn ảnh: <a href="https://www.design-museum.de/en/information.html" target="_blank">Vitra Design Museum</a>.</p> <p>Trong giai đoạn này, nhiều nhà thiết kế đã thử nghiệm với những ý tưởng tiền thân của ghế monobloc hiện đại. Chẳng hạn như năm 1967, Verner Panton giới thiệu <em>Panton Chair</em> với đường cong liền mạch. Ở Đức, Helmut Bätzner phát triển <em>Bofinger Chair</em>, mẫu ghế đầu tiên được ép khuôn từ nhựa gia cố sợi thủy tinh. Cùng thời gian đó tại Ý, Joe Colombo ra mắt <em>Universale Chair</em> với phần chân có thể tháo rời, cho phép điều chỉnh chiều cao tùy theo nhu cầu sử dụng.</p> <p>Đến năm 1972, kỹ sư người Pháp Henry Massonnet giới thiệu mẫu <em>Fauteuil 300</em>, mang dáng dấp gần gũi nhất với chiếc ghế nhựa ngày nay: mỏng manh, có tay dựa, có thể xếp chồng dễ dàng trong nhiều không gian. Bước ngoặt lớn đến vào năm 1983, khi tập đoàn Grosfillex tại Pháp tung ra Resin Garden Chair với chi phí sản xuất cực thấp, hướng đến thị trường đại chúng. Đặc biệt, thiết kế này không được đăng ký bản quyền, mở đường cho các nhà sản xuất ở khắp nơi sao chép, điều chỉnh và tạo ra vô số biến thể khác nhau, biến chiếc ghế nhựa đơn khối thành sản phẩm phổ biến toàn cầu.</p> <p>Về mặt công năng, thiết kế của chiếc ghế này được tính toán rất kỹ lưỡng. Tựa lưng có các lỗ để thoát nước khi dùng ngoài trời. Khung ghế tuy mỏng nhưng chịu lực tốt, phần lưng cong ôm theo dáng người ngồi. Chân ghế được gia cố để chịu tải nặng, đặt cách đều để có thể xếp chồng mà không bị cong vênh hay biến dạng.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc26.webp" /></p> <p class="image-caption">Bên trong một dây chuyền sản xuất ghế. Nguồn ảnh: <a href="https://worksthatwork.com/10/the-chair-thats-everywhere" target="_blank">Works That Work</a>.</p> <p>Theo sách<em> Now I Sit Me Down</em> của tác giả Witold Rybczynski, quy trình sản xuất chiếc ghế nhựa diễn ra trong chưa đến 2 phút. Hạt nhựa được trộn cùng phẩm màu và một vài phụ gia rồi nung chảy ở khoảng 220°C. Hỗn hợp nhựa lỏng này sau đó được bơm vào khuôn dưới áp suất cao. Khi vật liệu nguội đi, khuôn tách ra, cho ra đời chiếc ghế hoàn chỉnh sẵn sàng để sử dụng ngay.</p> <p>Chi phí đắt đỏ nhất trong dây chuyền này nằm ở phần khuôn đúc. Mỗi bộ khuôn có thể dùng để tạo ra hàng trăm nghìn chiếc ghế giống hệt nhau, chỉ khác về màu. Vì mỗi bộ khuôn có thể ngốn đến hàng trăm nghìn đô la, nên ngay từ đầu, chiếc ghế nhựa đơn khối đã được thiết kế với mục tiêu sản xuất hàng loạt. Chỉ sau khi làm ra và bán đi hàng trăm nghìn chiếc y hệt nhau, nhà sản xuất mới có thể gỡ vốn và kiếm lời.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc27.webp" /></p> <p class="image-caption">Một bãi biển ở Naples, Ý. Ảnh:&nbsp;<a href="https://www.anothermag.com/art-photography/gallery/4176/scugnizzi-brett-lloyd-in-naples/1" target="_blank">Brett Lloyd/Another Mag</a>.</p> <p>“Thực dụng” từ thiết kế đến kinh tế, ghế monobloc hội đủ mọi điều kiện để trở thành sản phẩm toàn cầu. Từ Pháp, nó nhanh chóng lan khắp châu Âu, rồi vượt Đại Tây Dương sang Bắc Mỹ, xuất hiện từ sân vườn, quán cà phê cho đến bãi biển hay những buổi dã ngoại cuối tuần.</p> <p>Nhưng cũng chính vì sự hiện diện đại trà mà ghế monobloc dần trở thành cái gai trong mắt nhiều người dân các nước phát triển, với tội trạng “gây bội thực về thị giác.” Theo bài viết trên <em><a href="https://www.smithsonianmag.com/arts-culture/everybody-take-a-seat-2386495/" target="_blank">Smithsonian Magazine</a></em>, nhiều nhà phê bình chỉ trích rằng chiếc ghế này là “một thiết kế tồi tệ [...] rẻ tiền, xấu xí và có mặt ở khắp nơi.”</p> <p>Tại nhiều thành phố như Bern, Zurich, Bratislava hay Barcelona, chính quyền địa phương thậm chí từng ban hành lệnh cấm sử dụng ghế monobloc ở các không gian công cộng, vì cho rằng nó làm xấu mỹ quan đô thị. Một số nhà thiết kế cũng bày tỏ quan điểm cho rằng đây là biểu tượng của chủ nghĩa tiêu dùng, đại diện cho một kiểu thẩm mỹ thấp kém, “tỷ ghế như một.”</p> <p>Ở các nước phát triển, vì giá thành rẻ, người ta thường bỏ ghế hỏng đi ngay thay vì tìm cách khắc phục, khiến nó càng bị gắn mác là món đồ dùng một lần và góp phần không nhỏ vào cuộc khủng hoảng rác thải nhựa toàn cầu.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc35.webp" /></p> <p class="image-caption">Hai chiếc ghế ở Biển Chết. Nguồn ảnh: <a href="https://www.elledecor.com/it/best-of/a45724422/story-behind-monobloc-plastic-chair/" target="_blank">Elle Decor</a>.</p> <p>Thế nhưng, hành trình của chiếc ghế nhựa ở những quốc gia đang phát triển lại mở ra viễn cảnh hoàn toàn trái ngược. Khác với cách nhìn khinh miệt ở châu Âu, phim tài liệu <em>Monobloc</em> của đạo diễn Hauke Wendler cho thấy một thực tế khác.</p> <div class="iframe sixteen-nine-ratio"><iframe title="vimeo-player" src="https://player.vimeo.com/video/545081087?h=1e339df85d" width="853" height="480" frameborder="0" referrerpolicy="strict-origin-when-cross-origin" allow="autoplay; fullscreen; picture-in-picture; clipboard-write; encrypted-media; web-share" allowfullscreen="allowfullscreen"></iframe></div> <p class="image-caption">Trailer phim tài liệu&nbsp;<a href="https://vimeo.com/545081087" target="_blank">Monobloc</a>.</p> <p>Ông dành nửa đầu phim ghi lại ý kiến của những người Đức chê bai chiếc ghế monobloc, rồi tiếp tục đến các quốc gia khác để quan sát cách nó được dùng. Càng đi xa khỏi phương Tây, ông càng nhận ra chiếc ghế ấy, thay vì bị ghét bỏ, lại được đón nhận và tận dụng theo những cách rất riêng.</p> <p>Khi đến Ấn Độ, ông gặp Harnek Singh, nhân viên tại nhà máy Supreme Industries, tập đoàn sản xuất ghế nhựa lớn nhất cả quốc gia. Singh kể rằng trước đây, nhiều gia đình nghèo ở Ấn Độ thậm chí không có nổi một chiếc ghế đúng nghĩa trong nhà. Sự xuất hiện của ghế nhựa đã thay đổi điều đó. Nhờ giá thành rẻ và dễ sản xuất, ghế monobloc nhanh chóng phổ biến rộng rãi ở Ấn Độ. Nếu phải thay 50–60% số lượng ghế này bằng gỗ, toàn bộ thảm thực vật địa phương có thể sẽ bị phá hủy.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc3.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc4.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc5.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc6.webp" alt="" /></div> </div> <p class="image-caption">Từ trái sang phải, trên xuống dưới, ghế monobloc tại Đức, Brazil, Ấn Độ, Uganda. Nguồn ảnh: Phim tài liệu <a href="https://vimeo.com/545081087" target="_blank">Monobloc</a>.</p> <p>Ở Brazil, đạo diễn Wendler tìm đến Recife, một thành phố ven biển nơi người dân ở các khu phố nghèo sống chủ yếu bằng nghề nhặt ve chai. Tại những xưởng tái chế nhỏ, ghế nhựa gãy được gom lại, băm vụn, nấu chảy rồi đúc thành những vật dụng mới. Thay vì trở thành rác thải, những chiếc ghế nhựa tiếp tục được tận dụng làm nguồn vật liệu thúc đẩy nền kinh tế địa phương.</p> <p>Ở Uganda, ghế monobloc được sử dụng làm khung cho những chiếc xe lăn giá rẻ do tổ chức <a href="https://saigoneer.com/vn/&lt;p&gt;&lt;a%20href=" https:="" www="" designboom="" com="" design="" free-wheelchair-mission-gen-1-retrofitted-white-plastic-chairs-11-14-2022="" 20target="_blank" gt="" free="" 20wheelchair="" 20mission="" lt="" a="" p="" target="_blank">Free Wheelchair Mission</a> khởi xướng. Nhờ tận dụng chiếc ghế nhựa phổ biến toàn cầu này, chi phí sản xuất mỗi xe lăn chỉ còn vài chục đô la, thấp hơn rất nhiều so với giá thành thông thường. Cấu trúc dễ lắp ráp và nguyên liệu sẵn có giúp dự án nhanh chóng mở rộng quy mô. Tính đến năm 2019, tổ chức đã trao tặng hơn 1,1 triệu xe lăn monobloc cho người khuyết tật ở hơn 90 quốc gia, trong đó có cả Việt Nam.</p> <div class="one-row smaller"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc31.webp" alt="" /> <p class="image-caption">Một chiếc ghế trên tàu lửa Việt Nam. Ảnh:&nbsp;<a href="https://adventure.com/plastic-chairs-southeast-asia-photos/" target="_blank">Chris Hilton/Adventure.com</a>.</p> </div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc32.webp" alt="" /> <p class="image-caption">Xe lăn làm từ ghế monobloc tại Đà Nẵng. Ảnh:&nbsp;<a href="https://iotilverdensende.blogspot.com/2015/09/danang-marble-mountain.html" target="_blank">iotilverdensende</a>.</p> </div> </div> <p>Xuyên suốt những câu chuyện trên, mối quan hệ của người dân với chiếc ghế nhựa phần nào phản ánh điều kiện sống của từng địa phương. Chiếc ghế nhựa, trong bối cảnh thiếu thốn, được xem như một nguồn tài nguyên hữu dụng và một mắc xích quan trọng giúp xã hội vận hành. Hiếm khi người ta bàn xem nó đẹp xấu ra sao, hay nó đại diện cho giá trị thiết kế nào.</p> <p>Trái lại, ở nhiều xã hội giàu có, sự dư dả kéo theo muôn vàn lựa chọn. Khi mọi nhu cầu cơ bản đều đã được đáp ứng, người ta có cả thời gian lẫn tiền bạc để định nghĩa bản thân qua những lựa chọn tiêu dùng. Trong bối cảnh ấy, một món đồ rẻ tiền, sản xuất đại trà như ghế monobloc khó lòng được yêu thích. Nó không gợi nên phong cách hay cá tính nào, đi ngược lại tôn chỉ về sự độc lập cá nhân mà họ đang theo đuổi.</p> <p>Dĩ nhiên, bài viết này không nhằm chỉ trích quan điểm phương Tây, hay phán xét quan điểm nào đúng quan điểm nào sai, mà chỉ để ghi nhận rằng trải nghiệm sống mỗi nơi có thể dẫn đến những cách nhìn rất khác biệt về một món đồ tưởng chừng ở đâu cũng giống nhau.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc14_2.webp" /></p> <p>Đi một vòng quanh thế giới để nghe người ta kể về cùng một chiếc ghế, vậy như đã hỏi từ đầu, bản chất của chiếc ghế này là gì?&nbsp;Tôi chỉ có thể trả lời từ trải nghiệm của mình.</p> <p>Là người Việt, cách tôi nhìn nhận chiếc ghế monobloc có vẻ như đi ngược với những luồng quan điểm về nó của truyền thông quốc tế. Ngay cả ý kiến phổ biến nhất cho rằng monobloc là thứ “thiếu bản sắc” — tôi cũng không đồng tình. Nhìn từ xa tít, tôi cũng có thể phân biệt được chiếc ghế trắng kiểu Ý mà ai đó để trên bãi biển Sicily với chiếc ghế xanh neon trong quán nhậu đầu hẻm, có logo quả táo dập sau lưng, thứ chắc khó tồn tại ở phương Tây vì vướng bản quyền.</p> <p>Tôi biết ơn chiếc ghế này theo những cách khác nhau. Chẳng hạn như cái ghế hàng xóm tôi hay để ngoài cửa nhà mà chẳng ai thèm lấy. Tôi vẫn hay ngồi lên đó để xỏ vội đôi vớ trước khi ra ngoài, hoặc thả túi đồ xuống nghỉ lấy hơi sau khi hổn hển leo hai tầng cầu thang.</p> <p>Ở một phương diện rộng hơn, tôi cũng biết ơn nó vì đã làm điểm tựa cho đồng bào tôi, từ những ông chú bụng bia ngồi hóng gió bên bờ kênh, mấy cô chú công nhân tựa lưng chợp mắt giữa ca, đến những hành khách chen chúc trên chuyến tàu Tết khi ghế nhựa được xếp thêm thành ghế phụ.&nbsp;</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc13_2.webp" /></p> <p class="image-caption">Nguồn ảnh: <a href="https://www.flickr.com/groups/those-white-plastic-chairs/pool/with/37135368362" target="_blank">Flickr</a>.</p> <p>Tất nhiên tôi hơi thiên vị, suy cho cùng, không ít bữa ăn ngon và ký ức vui vẻ của tôi đã diễn ra trên chiếc ghế này.&nbsp;Nhưng có lẽ điều tôi biết ơn nhất là ở Việt Nam, người ta chưa quá bận tâm để tranh luận về giá trị thẩm mỹ hay phẩm chất xã hội của ghế monobloc. Thật tuyệt vời làm sao khi ở đây nó chỉ là một thứ để ngồi, và là một phần hiển nhiên trong cuộc sống của bao người Việt mà thôi.</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/web1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/fb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Vào năm 2024, tờ The New York Times công bố danh sách 25 thiết kế nội thất tiêu biểu của thế kỷ qua, do hội đồng gồm các nhà thiết kế, nghệ sĩ và giám tuyển từ những bảo tàng danh tiếng bình chọn. Bất ngờ thay, ghế monobloc, chiếc ghế nhựa phổ thông quen thuộc với người dân Việt Nam và nhiều quốc gia khác, cũng góp mặt trong danh sách này.<br /></em></p> <p>Khi danh sách này được công bố, báo chí trong nước tất nhiên mau chóng vào cuộc. Hầu hết các bài viết đều đi theo mô-típ rất quen thuộc: một món đồ dân dã gắn bó với đời sống địa phương nay lại được tôn vinh trên truyền thông quốc tế. Họ điểm lại vai trò “đáng kể” của chiếc ghế trong văn hóa ăn uống, tụ họp ở Việt Nam. Hình ảnh chiếc ghế xuất hiện dày đặc từ quán nhậu vỉa hè, sân nhà ngày lễ tết, đến những khung cảnh sinh hoạt khác dọc ba miền đất nước.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc7.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Thiết kế duy nhất trong danh sách không đi kèm tên tác giả. Nguồn ảnh:&nbsp;<a href="https://www.nytimes.com/2024/03/28/t-magazine/furniture-design-office-chair-shelving-unit.html" target="_blank">The New York Times</a>.</p> <p>Thế nhưng, tìm hiểu kỹ hơn những thông tin đằng sau các tựa báo, tôi nhận ra có khá nhiều luồng diễn giải trái chiều xoay quanh sự xuất hiện của ghế monobloc trong danh sách này. Khác với phần lớn những thiết kế được tôn vinh vì tính sáng tạo hay dấu ấn thẩm mỹ của tác giả, nó lại được chọn vì tính phổ biến gần như tuyệt đối. Hàng triệu, thậm chí hàng tỷ phiên bản của chiếc ghế đã được sản xuất và xuất hiện ở mọi nơi toàn cầu.</p> <p>Khi lần mò đọc bình luận diễn đàn từ tứ phương, tôi nhận ra cảm xúc dành cho ghế monobloc chia thành hai thái cực rõ rệt. Ở nhiều quốc gia, người ta ghét nó ra mặt, chê nó xấu xí, làm mất mỹ quan, gây ô nhiễm môi trường. Nhưng ở chỗ khác, như ở Việt Nam, người ta lại nói về nó bằng thái độ trìu mến. Họ khen nó rẻ, thiết thực, chắc chắn là một phần không thể thiếu của đời sống.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc20_2.webp" /></p> <p class="image-caption">Báo chí trong nước đưa tin về việc ghế monobloc được vinh danh. Nguồn ảnh: <a href="https://www.facebook.com/tintucvtv24/posts/pfbid02KNfpM3uhRPSTx1uFoymYQC3E4s57R29uPQ8Nw61HsRqeeEyfnfXc1n2DK9VKnuNKl?__cft__[0]=AZVDCfrDD1-D5j_Za5DSnRWiKgu56DIyrL7Ftlpt98xtLc2RFfZknmBZY5oXbbAITWwrhEYg6aTEz6OaZxunOwo9i5cdq3T8nv36Q5JsEkdTjucT0AFE1bJ2jS-BECHIzO1MHHRBLpv2bbrIkBBGjtyXTB9e3jYZj1RmNw2S6FIhuA&__tn__=%2CO%2CP-R">VTV24</a>.</p> <p>Điều gì đã khiến một vật dụng đơn giản đến vậy vừa được yêu thương, vừa bị ghét cay ghét đắng? Nó đẹp ở đâu? Phản cảm ở chỗ nào? Tiện dụng, hay chỉ đơn thuần là thứ rác nhựa được nguỵ trang dưới hình hài nội thất? Giữa vô số nhãn từ mà người ta gán cho nó trên khắp thế giới, đâu mới là bản chất của ghế monobloc?</p> <p>Để đi tìm câu trả lời, tôi và bạn đọc cần quay lại thời điểm chiếc ghế ra đời, dù nguồn gốc của sản phẩm này mơ hồ không kém cách người ta nhìn nhận nó ngày nay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc15_2.webp" /></p> <p>Monobloc, đúng như tên gọi, là chiếc ghế được đúc từ một khối nhựa duy nhất (“mono” nghĩa là một, “bloc” nghĩa là khối). Chất liệu phổ biến nhất để làm ra nó là polypropylene, loại nhựa nhiệt dẻo có thể dễ dàng tạo hình ở nhiệt độ cao.</p> <p>Chiếc ghế ra đời trong bối cảnh hậu Thế chiến thứ Nhất và thứ Hai, khi thế giới bước vào thời kỳ công nghiệp hóa mạnh mẽ với nhiều bước tiến trong công nghệ vật liệu. Nhựa, vào thời điểm đó, được xem là “chất liệu của tương lai” vì nhẹ và bền, lại không phụ thuộc quá nhiều vào nguồn tài nguyên truyền thống như gỗ hay kim loại, vốn trở nên khan hiếm trong và sau chiến tranh.</p> <p>Thay vì gắn bó với các chất liệu cũ, nhiều nhà thiết kế bắt đầu chuyển sang thử nghiệm với nhựa như một hướng đi mới cho thiết kế đại chúng, với kỳ vọng tạo ra những sản phẩm linh hoạt, giá thành thấp và dễ tiếp cận hơn với số đông.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc25_2.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc22.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc24.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc23.webp" alt="" /></div> </div> <p class="image-caption">Từ trái sang phải, Panton Chair, Bofinger Chair, Universale Chair,&nbsp;Fauteuil 300. Nguồn ảnh: <a href="https://www.design-museum.de/en/information.html" target="_blank">Vitra Design Museum</a>.</p> <p>Trong giai đoạn này, nhiều nhà thiết kế đã thử nghiệm với những ý tưởng tiền thân của ghế monobloc hiện đại. Chẳng hạn như năm 1967, Verner Panton giới thiệu <em>Panton Chair</em> với đường cong liền mạch. Ở Đức, Helmut Bätzner phát triển <em>Bofinger Chair</em>, mẫu ghế đầu tiên được ép khuôn từ nhựa gia cố sợi thủy tinh. Cùng thời gian đó tại Ý, Joe Colombo ra mắt <em>Universale Chair</em> với phần chân có thể tháo rời, cho phép điều chỉnh chiều cao tùy theo nhu cầu sử dụng.</p> <p>Đến năm 1972, kỹ sư người Pháp Henry Massonnet giới thiệu mẫu <em>Fauteuil 300</em>, mang dáng dấp gần gũi nhất với chiếc ghế nhựa ngày nay: mỏng manh, có tay dựa, có thể xếp chồng dễ dàng trong nhiều không gian. Bước ngoặt lớn đến vào năm 1983, khi tập đoàn Grosfillex tại Pháp tung ra Resin Garden Chair với chi phí sản xuất cực thấp, hướng đến thị trường đại chúng. Đặc biệt, thiết kế này không được đăng ký bản quyền, mở đường cho các nhà sản xuất ở khắp nơi sao chép, điều chỉnh và tạo ra vô số biến thể khác nhau, biến chiếc ghế nhựa đơn khối thành sản phẩm phổ biến toàn cầu.</p> <p>Về mặt công năng, thiết kế của chiếc ghế này được tính toán rất kỹ lưỡng. Tựa lưng có các lỗ để thoát nước khi dùng ngoài trời. Khung ghế tuy mỏng nhưng chịu lực tốt, phần lưng cong ôm theo dáng người ngồi. Chân ghế được gia cố để chịu tải nặng, đặt cách đều để có thể xếp chồng mà không bị cong vênh hay biến dạng.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc26.webp" /></p> <p class="image-caption">Bên trong một dây chuyền sản xuất ghế. Nguồn ảnh: <a href="https://worksthatwork.com/10/the-chair-thats-everywhere" target="_blank">Works That Work</a>.</p> <p>Theo sách<em> Now I Sit Me Down</em> của tác giả Witold Rybczynski, quy trình sản xuất chiếc ghế nhựa diễn ra trong chưa đến 2 phút. Hạt nhựa được trộn cùng phẩm màu và một vài phụ gia rồi nung chảy ở khoảng 220°C. Hỗn hợp nhựa lỏng này sau đó được bơm vào khuôn dưới áp suất cao. Khi vật liệu nguội đi, khuôn tách ra, cho ra đời chiếc ghế hoàn chỉnh sẵn sàng để sử dụng ngay.</p> <p>Chi phí đắt đỏ nhất trong dây chuyền này nằm ở phần khuôn đúc. Mỗi bộ khuôn có thể dùng để tạo ra hàng trăm nghìn chiếc ghế giống hệt nhau, chỉ khác về màu. Vì mỗi bộ khuôn có thể ngốn đến hàng trăm nghìn đô la, nên ngay từ đầu, chiếc ghế nhựa đơn khối đã được thiết kế với mục tiêu sản xuất hàng loạt. Chỉ sau khi làm ra và bán đi hàng trăm nghìn chiếc y hệt nhau, nhà sản xuất mới có thể gỡ vốn và kiếm lời.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc27.webp" /></p> <p class="image-caption">Một bãi biển ở Naples, Ý. Ảnh:&nbsp;<a href="https://www.anothermag.com/art-photography/gallery/4176/scugnizzi-brett-lloyd-in-naples/1" target="_blank">Brett Lloyd/Another Mag</a>.</p> <p>“Thực dụng” từ thiết kế đến kinh tế, ghế monobloc hội đủ mọi điều kiện để trở thành sản phẩm toàn cầu. Từ Pháp, nó nhanh chóng lan khắp châu Âu, rồi vượt Đại Tây Dương sang Bắc Mỹ, xuất hiện từ sân vườn, quán cà phê cho đến bãi biển hay những buổi dã ngoại cuối tuần.</p> <p>Nhưng cũng chính vì sự hiện diện đại trà mà ghế monobloc dần trở thành cái gai trong mắt nhiều người dân các nước phát triển, với tội trạng “gây bội thực về thị giác.” Theo bài viết trên <em><a href="https://www.smithsonianmag.com/arts-culture/everybody-take-a-seat-2386495/" target="_blank">Smithsonian Magazine</a></em>, nhiều nhà phê bình chỉ trích rằng chiếc ghế này là “một thiết kế tồi tệ [...] rẻ tiền, xấu xí và có mặt ở khắp nơi.”</p> <p>Tại nhiều thành phố như Bern, Zurich, Bratislava hay Barcelona, chính quyền địa phương thậm chí từng ban hành lệnh cấm sử dụng ghế monobloc ở các không gian công cộng, vì cho rằng nó làm xấu mỹ quan đô thị. Một số nhà thiết kế cũng bày tỏ quan điểm cho rằng đây là biểu tượng của chủ nghĩa tiêu dùng, đại diện cho một kiểu thẩm mỹ thấp kém, “tỷ ghế như một.”</p> <p>Ở các nước phát triển, vì giá thành rẻ, người ta thường bỏ ghế hỏng đi ngay thay vì tìm cách khắc phục, khiến nó càng bị gắn mác là món đồ dùng một lần và góp phần không nhỏ vào cuộc khủng hoảng rác thải nhựa toàn cầu.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc35.webp" /></p> <p class="image-caption">Hai chiếc ghế ở Biển Chết. Nguồn ảnh: <a href="https://www.elledecor.com/it/best-of/a45724422/story-behind-monobloc-plastic-chair/" target="_blank">Elle Decor</a>.</p> <p>Thế nhưng, hành trình của chiếc ghế nhựa ở những quốc gia đang phát triển lại mở ra viễn cảnh hoàn toàn trái ngược. Khác với cách nhìn khinh miệt ở châu Âu, phim tài liệu <em>Monobloc</em> của đạo diễn Hauke Wendler cho thấy một thực tế khác.</p> <div class="iframe sixteen-nine-ratio"><iframe title="vimeo-player" src="https://player.vimeo.com/video/545081087?h=1e339df85d" width="853" height="480" frameborder="0" referrerpolicy="strict-origin-when-cross-origin" allow="autoplay; fullscreen; picture-in-picture; clipboard-write; encrypted-media; web-share" allowfullscreen="allowfullscreen"></iframe></div> <p class="image-caption">Trailer phim tài liệu&nbsp;<a href="https://vimeo.com/545081087" target="_blank">Monobloc</a>.</p> <p>Ông dành nửa đầu phim ghi lại ý kiến của những người Đức chê bai chiếc ghế monobloc, rồi tiếp tục đến các quốc gia khác để quan sát cách nó được dùng. Càng đi xa khỏi phương Tây, ông càng nhận ra chiếc ghế ấy, thay vì bị ghét bỏ, lại được đón nhận và tận dụng theo những cách rất riêng.</p> <p>Khi đến Ấn Độ, ông gặp Harnek Singh, nhân viên tại nhà máy Supreme Industries, tập đoàn sản xuất ghế nhựa lớn nhất cả quốc gia. Singh kể rằng trước đây, nhiều gia đình nghèo ở Ấn Độ thậm chí không có nổi một chiếc ghế đúng nghĩa trong nhà. Sự xuất hiện của ghế nhựa đã thay đổi điều đó. Nhờ giá thành rẻ và dễ sản xuất, ghế monobloc nhanh chóng phổ biến rộng rãi ở Ấn Độ. Nếu phải thay 50–60% số lượng ghế này bằng gỗ, toàn bộ thảm thực vật địa phương có thể sẽ bị phá hủy.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc3.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc4.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc5.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc6.webp" alt="" /></div> </div> <p class="image-caption">Từ trái sang phải, trên xuống dưới, ghế monobloc tại Đức, Brazil, Ấn Độ, Uganda. Nguồn ảnh: Phim tài liệu <a href="https://vimeo.com/545081087" target="_blank">Monobloc</a>.</p> <p>Ở Brazil, đạo diễn Wendler tìm đến Recife, một thành phố ven biển nơi người dân ở các khu phố nghèo sống chủ yếu bằng nghề nhặt ve chai. Tại những xưởng tái chế nhỏ, ghế nhựa gãy được gom lại, băm vụn, nấu chảy rồi đúc thành những vật dụng mới. Thay vì trở thành rác thải, những chiếc ghế nhựa tiếp tục được tận dụng làm nguồn vật liệu thúc đẩy nền kinh tế địa phương.</p> <p>Ở Uganda, ghế monobloc được sử dụng làm khung cho những chiếc xe lăn giá rẻ do tổ chức <a href="https://saigoneer.com/vn/&lt;p&gt;&lt;a%20href=" https:="" www="" designboom="" com="" design="" free-wheelchair-mission-gen-1-retrofitted-white-plastic-chairs-11-14-2022="" 20target="_blank" gt="" free="" 20wheelchair="" 20mission="" lt="" a="" p="" target="_blank">Free Wheelchair Mission</a> khởi xướng. Nhờ tận dụng chiếc ghế nhựa phổ biến toàn cầu này, chi phí sản xuất mỗi xe lăn chỉ còn vài chục đô la, thấp hơn rất nhiều so với giá thành thông thường. Cấu trúc dễ lắp ráp và nguyên liệu sẵn có giúp dự án nhanh chóng mở rộng quy mô. Tính đến năm 2019, tổ chức đã trao tặng hơn 1,1 triệu xe lăn monobloc cho người khuyết tật ở hơn 90 quốc gia, trong đó có cả Việt Nam.</p> <div class="one-row smaller"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc31.webp" alt="" /> <p class="image-caption">Một chiếc ghế trên tàu lửa Việt Nam. Ảnh:&nbsp;<a href="https://adventure.com/plastic-chairs-southeast-asia-photos/" target="_blank">Chris Hilton/Adventure.com</a>.</p> </div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc32.webp" alt="" /> <p class="image-caption">Xe lăn làm từ ghế monobloc tại Đà Nẵng. Ảnh:&nbsp;<a href="https://iotilverdensende.blogspot.com/2015/09/danang-marble-mountain.html" target="_blank">iotilverdensende</a>.</p> </div> </div> <p>Xuyên suốt những câu chuyện trên, mối quan hệ của người dân với chiếc ghế nhựa phần nào phản ánh điều kiện sống của từng địa phương. Chiếc ghế nhựa, trong bối cảnh thiếu thốn, được xem như một nguồn tài nguyên hữu dụng và một mắc xích quan trọng giúp xã hội vận hành. Hiếm khi người ta bàn xem nó đẹp xấu ra sao, hay nó đại diện cho giá trị thiết kế nào.</p> <p>Trái lại, ở nhiều xã hội giàu có, sự dư dả kéo theo muôn vàn lựa chọn. Khi mọi nhu cầu cơ bản đều đã được đáp ứng, người ta có cả thời gian lẫn tiền bạc để định nghĩa bản thân qua những lựa chọn tiêu dùng. Trong bối cảnh ấy, một món đồ rẻ tiền, sản xuất đại trà như ghế monobloc khó lòng được yêu thích. Nó không gợi nên phong cách hay cá tính nào, đi ngược lại tôn chỉ về sự độc lập cá nhân mà họ đang theo đuổi.</p> <p>Dĩ nhiên, bài viết này không nhằm chỉ trích quan điểm phương Tây, hay phán xét quan điểm nào đúng quan điểm nào sai, mà chỉ để ghi nhận rằng trải nghiệm sống mỗi nơi có thể dẫn đến những cách nhìn rất khác biệt về một món đồ tưởng chừng ở đâu cũng giống nhau.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc14_2.webp" /></p> <p>Đi một vòng quanh thế giới để nghe người ta kể về cùng một chiếc ghế, vậy như đã hỏi từ đầu, bản chất của chiếc ghế này là gì?&nbsp;Tôi chỉ có thể trả lời từ trải nghiệm của mình.</p> <p>Là người Việt, cách tôi nhìn nhận chiếc ghế monobloc có vẻ như đi ngược với những luồng quan điểm về nó của truyền thông quốc tế. Ngay cả ý kiến phổ biến nhất cho rằng monobloc là thứ “thiếu bản sắc” — tôi cũng không đồng tình. Nhìn từ xa tít, tôi cũng có thể phân biệt được chiếc ghế trắng kiểu Ý mà ai đó để trên bãi biển Sicily với chiếc ghế xanh neon trong quán nhậu đầu hẻm, có logo quả táo dập sau lưng, thứ chắc khó tồn tại ở phương Tây vì vướng bản quyền.</p> <p>Tôi biết ơn chiếc ghế này theo những cách khác nhau. Chẳng hạn như cái ghế hàng xóm tôi hay để ngoài cửa nhà mà chẳng ai thèm lấy. Tôi vẫn hay ngồi lên đó để xỏ vội đôi vớ trước khi ra ngoài, hoặc thả túi đồ xuống nghỉ lấy hơi sau khi hổn hển leo hai tầng cầu thang.</p> <p>Ở một phương diện rộng hơn, tôi cũng biết ơn nó vì đã làm điểm tựa cho đồng bào tôi, từ những ông chú bụng bia ngồi hóng gió bên bờ kênh, mấy cô chú công nhân tựa lưng chợp mắt giữa ca, đến những hành khách chen chúc trên chuyến tàu Tết khi ghế nhựa được xếp thêm thành ghế phụ.&nbsp;</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/24/monobloc/monobloc13_2.webp" /></p> <p class="image-caption">Nguồn ảnh: <a href="https://www.flickr.com/groups/those-white-plastic-chairs/pool/with/37135368362" target="_blank">Flickr</a>.</p> <p>Tất nhiên tôi hơi thiên vị, suy cho cùng, không ít bữa ăn ngon và ký ức vui vẻ của tôi đã diễn ra trên chiếc ghế này.&nbsp;Nhưng có lẽ điều tôi biết ơn nhất là ở Việt Nam, người ta chưa quá bận tâm để tranh luận về giá trị thẩm mỹ hay phẩm chất xã hội của ghế monobloc. Thật tuyệt vời làm sao khi ở đây nó chỉ là một thứ để ngồi, và là một phần hiển nhiên trong cuộc sống của bao người Việt mà thôi.</p></div> Điểm lại những 'chị đẹp đạp gió rẽ sóng' trong cổ tích Việt Nam 2025-10-20T11:00:00+07:00 2025-10-20T11:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17976-điểm-lại-những-chị-đẹp-đạp-gió-rẽ-sóng-trong-cổ-tích-việt-nam Đình Phúc. Minh họa: Ngọc Tạ. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/chidepweb1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/chidepfb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Đạp cơn gió định kiến, cưỡi con sóng lề lối lễ nghi, giai thoại về các nữ nhân xưa có sức mạnh vượt thời đại, gửi gắm tiếng nói nữ quyền đến tâm hồn hậu thế khát khao bình đẳng.<br /></em></p> <p>Ngày nhỏ, tôi từng tin một cách rất ngây ngô rằng chỉ những người như Thánh Gióng, Thạch Sanh hay Sơn Tinh mới xứng làm nhân vật chính, vì chỉ họ mới có sức mạnh trời cho để cứu dân khỏi cảnh lầm than. Niềm tin trẻ con ấy phần nào phản ánh ảnh hưởng của mô-típ cổ tích quen thuộc,&nbsp;thường lấy nam giới làm đại diện cho khía cạnh mạnh mẽ và chính nghĩa của con người.</p> <p>Nhưng khi lớn hơn một chút, tôi mới dần nhận ra kho tàng cổ tích nước mình sâu rộng đến nhường nào. Trong những mẩu truyện đã đi qua đời tôi,&nbsp;thấp thoáng bóng dáng của những người phụ nữ tài trí và kiên cường, vượt lên nghịch cảnh để tung bay trên đôi cánh tự do.</p> <p>Có người tự chọn cho mình một cuộc đời độc lập, không màng những khuôn phép hà khắc. Có người lại mang trong mình tinh thần quả cảm, sẵn sàng gánh vác cả giang sơn, xã tắc. Họ là những bóng hồng truyền cảm hứng, đại diện cho khát vọng được sống, được lựa chọn và được làm chủ chính mình.&nbsp;</p> <h3>Âu Cơ: Vị tổ mẫu quyền uy từ những lựa chọn quyết liệt</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/auco.webp" /></p> <p><span style="background-color: transparent;">Trong ‘Con Rồng Cháu Tiên,’ Âu Cơ hiện lên với tầm vóc của một quốc mẫu, người mẹ khai sinh bọc trăm trứng khởi đầu giống nòi Việt. Nhưng bên cạnh biểu tượng thiêng liêng ấy, hình tượng Âu Cơ còn ẩn chứa tinh thần tự chủ và khí chất lãnh đạo mẫu hệ từ thuở hồng hoang.</span></p> <p>Ngay từ khi xuất hiện trong những áng văn cổ, cái tên Âu Cơ đã ghi dấu bằng chính lựa chọn của mình. Là một nữ nhân phương Bắc chu du xuống phương Nam, Âu Cơ đem lòng yêu mến dung mạo và chí khí của Lạc Long Quân, quyết định ở lại và nên duyên vợ chồng cùng vị thần này. Đến khi bọc trăm trứng nở trăm con, nàng lại vì cảnh đơn chiếc, thiếu vắng chồng, khi Lạc Long Quân mải miết ở Thủy Quốc, mà quyết định đưa các con trở về quê cũ. Tin tưởng ở lại vì lý tưởng tình yêu, Âu Cơ cũng đủ dũng khí để rời đi khi mối tình ấy ngày càng phai nhạt.</p> <p>Sự quyết liệt đó của nàng đã mở ra bước ngoặt mang tính biểu tượng trong truyền thuyết: cuộc chia ly giữa hai bậc Tiên-Rồng, chia đôi trăm con theo lời Lạc Long Quân. Dù các bản dịch<em> Lĩnh Nam chích quái</em> có khác biệt câu chữ, tất cả đều ghi lại lời trách thẳng thắn của Âu Cơ dành cho vị tổ phụ nước Việt:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Thiếp vốn là người nước Bắc, ở với vua, sinh hạ được trăm con trai, vua bỏ thiếp mà đi, <br />không cùng thiếp nuôi con, làm người vô phu vô phụ, chỉ biết thương mình.”<br /> (bản dịch Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San)</div> <p>Âu Cơ đã đặt vị thế bản thân ngang hàng với Lạc Long Quân trong cuộc hôn nhân. Nàng không phải kẻ phụ thuộc, mà sẵn sàng chất vấn trách nhiệm của chồng mình trong việc đồng hành dựng xây gia đình, nuôi dạy con cái. Để rồi khi không thể dung hòa lối sống, Âu Cơ đã đồng thuận trong việc “ly hôn,” mang 50 con về với cội nguồn giống Tiên, về với bản thể tự do, thanh cao của mình.</p> <p>Ở chốn núi non, nàng là một người mẹ tự quyết con đường nuôi dạy con cái, sẵn sàng suy tôn con trai trưởng trở thành vị lãnh đạo đầu tiên của quốc gia. Công mở đường cho thời đại Hùng Vương rực rỡ khiến Âu Cơ không chỉ là nhân vật mang bản lĩnh cá nhân, mà còn là biểu tượng cho hình ảnh người phụ nữ chủ động lãnh đạo và dám kiến tạo bản sắc văn hóa Việt.</p> <h3>Tiên Dung: Công chúa kiến tạo vận mệnh bởi khí khái bất phàm</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/tiendung.webp" /></p> <p>Câu chuyện về Tiên Dung vốn được biết đến qua mối duyên kỳ ngộ với Chử Đồng Tử, người sau này được tôn làm một trong “Tứ bất tử.” Nhưng đằng sau bóng dáng người vợ tào khang ấy là một cá tính tự do và kiêu hãnh, một người phụ nữ có hành trình rực rỡ và tự chủ chẳng kém bất kỳ bậc anh hùng nào.</p> <p>Là con gái vua Hùng, Tiên Dung mang tư chất vượt thời đại, khác hẳn hình tượng công chúa khuôn phép thường thấy. Nàng ưa ngao du, say mê trời biển, mây gió. Trong khi các Mị Nương khác được gả đi để trọn đạo chính trị, Tiên Dung lại nguyện không lấy chồng, chỉ mong được sống theo ý mình giữa trời bể bao la.</p> <p>Nhưng điều đó không khiến mối duyên giữa nàng và Chử Đồng Tử trở nên mâu thuẫn. Trái lại, nó thể hiện rõ nhất tinh thần tự do mà Tiên Dung tin tưởng: tự do chọn người mình yêu. Bởi vậy, khi vô tình thấy thân thể trần truồng của Chử Đồng Tử, nàng không hổ thẹn thoái thác, mà dám đứng ra nhận trách nhiệm cho định mệnh, cho đúng với lý tưởng hôn nhân tự do mà nàng hằng tin. Dẫu Chử Đồng Tử e ngại vì thân phận cơ hàn, Tiên Dung vẫn kiên định:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Việc này tự trời tác hợp, việc gì mà từ chối?” <br />(bản dịch Lê Hữu Mục)</div> <p>Với nàng, “thuận theo trời” không có nghĩa là phó mặc, mà là dám lắng nghe lòng mình.</p> <p>Sự sáng suốt ấy giúp Tiên Dung vững vàng vượt qua những chỉ trích của vua cha và cả hệ thống lễ nghi cung đình. Mặc kệ thân phận nghèo hàn của Chử Đồng Tử, nàng quyết cùng chồng gây dựng cuộc sống mới: lập chợ, buôn bán, mở mang giao thương, một hành trình khởi nghiệp của hai tâm hồn tự do.</p> <p>Vượt khỏi khuôn phép “tề gia nội trợ,” Tiên Dung cùng chồng tu tập, tự định đoạt con đường tâm linh của mình, rồi cùng đắc đạo. Khi vua cha nổi giận muốn trừng phạt, nàng không trốn tránh mà bình thản đối mặt, để rồi cảm động trời đất, cả hai hóa thân thăng thiên giữa hào quang huyền diệu.</p> <p>Phép lạ của Tiên Dung không chỉ là thoát khỏi gươm giáo vua cha, mà còn là minh chứng cho sức mạnh của người phụ nữ dám lựa chọn và kiến tạo vận mệnh. Hình ảnh ấy vang lên như khúc ca về tự do, khi người phụ nữ không còn là cái bóng của ai, mà chính là người cầm lái con thuyền đời mình giữa muôn trùng sóng gió.</p> <h3>Tấm: Bản tuyên ngôn tự quyết thân phận bằng muôn lần tái sinh</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/tam1.webp" /></p> <p>Trong tâm khảm của người Việt Nam, những khổ ải của nàng Tấm đã quá đỗi thân thuộc. Nhưng Tấm không chỉ là một thân phận nhỏ bé bị vần vũ bởi lễ giáo và thứ bậc. Điều làm nên huyền thoại của nàng chính là những khoảnh khắc vượt thoát, những lần nàng tự mình viết lại số phận bằng những hình thức biến hóa kỳ lạ và kiên cường.</p> <p>Kể từ khi được Bụt giúp đỡ thành công thoát khỏi gia đình của mẹ ghẻ, bước chân vào lầu son gác tía với thân phận hoàng hậu, hành trình của Tấm là một chuỗi những phép màu do chính nàng tạo ra, nhằm phản kháng mạnh mẽ trước tà ác rình rập. Bao lần bị tước đoạt mất mạng sống, Tấm vẫn không ngừng tái sinh, như một lời khẳng định đanh thép cho khát vọng được tự quyết số phận. Những hình tượng mà Tấm biến hóa cũng khôn lường, từ con vật, đồ vật đến cây cối đều có đủ. Nàng không chỉ quyết định về khoảnh khắc tái sinh, mà thậm chí tự vẽ nên những hình thái, dáng vẻ của chính mình.</p> <p>Mỗi lần biến thân tuy khác nhau, nhưng tinh thần phản kháng của Tấm vẫn vẹn nguyên và mạnh mẽ. Đó là con chim vàng anh xẵng giọng đe dọa:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Phơi áo chồng tao phơi lao phơi sào<br />Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao.” <br />(bản chép Nguyễn Đổng Chi)</div> <p style="text-align: left;">Là khung cửi cót két sẵn sàng mỉa mai:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Cót ca cót két<br /><span style="background-color: transparent;">Lấy tranh chồng chị<br /></span><span style="background-color: transparent;">Chị khoét mắt ra.” <br />(bản chép Nguyễn Đổng Chi).</span></div> <p>Cô Tấm ngoan hiền chỉ có thể khóc rấm rứt tủi thân của ngày xưa đã biến mất, thay vào đó là một nàng Tấm không cam chịu, sẵn sàng đáp trả, giành lại những gì xứng đáng thuộc về mình.</p> <p>Tấm không phải “hắc hóa” mà để ngọn lửa hận thù cuốn trôi đi nhân tính của mình hoàn toàn. Con chim ấy tuy lên giọng với Cám, nhưng lại hiền dịu đậu vào tay áo của người chồng yêu thương. Khung cửi tuy cót két giọng điệu chua chát, nhưng lại dệt cho vua gấm áo lụa là. Quả thị tuy nhỏ bé nhưng biết đáp đền công ơn người hái đã cưu mang. Chính bởi giữ được ánh sáng thiện lương trong từng lần hóa thân, Tấm mới có đủ sức mạnh để dưỡng nuôi ý chí phản kháng đến cuối con đường.</p> <p>Nhưng hơn hết, mỗi lần tái sinh còn là một lần nàng bảo lưu nhân phẩm, là một lần nàng khẳng định rằng cái chết hay sự áp đặt không thể xóa đi quyền được sống trọn vẹn. Tấm trở thành hình ảnh phảng phất những mong ước vượt thoát định mệnh, mong ước của muôn vàn phụ nữ: được tự chủ, được công bằng, và được đi theo tiếng gọi của lòng mình.</p> <h3>Cô Út: Hình mẫu của lòng tin và sức mạnh nội tại của phụ nữ</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/cout1.webp" /></p> <p>Trong câu chuyện ‘Sọ Dừa,’ chàng trai kỳ dị ấy hiện lên như một vị thần giáng thế, hóa thân xấu xí để thử lòng người đời. Với cha mẹ nghèo khó đã hết mực yêu thương, chàng đáp lại bằng phú quý, nhà cao cửa rộng. Với cô Út, người duy nhất không chê thân phận hèn mọn, chàng trao tặng vinh hiển, địa vị và cả sự sống khi nàng đối diện lằn ranh sinh tử.</p> <p>Nhưng nếu nhìn câu chuyện ở một góc nhìn bình đẳng hơn, ta thấy cô Út không phải chỉ là một người được Sọ Dừa “cứu chuộc” mà chính những phẩm chất đáng quý của nàng mới nâng đỡ cuộc đời chính mình. Khi Sọ Dừa xin được chăn trâu cho nhà phú ông, trong ba người con gái, chỉ có cô Út là đối đãi chàng tử tế. Để rồi một ngày tình cờ nghe được tiếng sáo giữa đồng trâu, nhìn thấy tướng mạo chàng khôi ngô, nàng bèn sinh lòng cảm mến Sọ Dừa, tin tưởng chàng không phải người phàm trần.</p> <p>Có thể xem nhân dạng xấu xí của Sọ Dừa như ẩn dụ cho những giới hạn mà con người bị trói buộc: ngoại hình, giai cấp, địa vị. Hai cô chị hắt hủi chàng là tiếng vọng của những bất công cố hữu, còn cô Út là người dám đi ngược lại lề thói, dám tin vào cái thiện trong nội tâm của chàng. Nhờ lòng tin và sự tử tế ấy, Sọ Dừa sẵn sàng hóa thân, sống thật với chính mình, và tình cảm của họ nảy nở từ đó.</p> <p>Chính chọn lựa ấy đã mở ra mối duyên vợ chồng từ lòng tin và nghị lực của đôi bên. Nhưng hai cô chị, như những cơn sóng dữ của định mệnh, đã nhân lúc Sọ Dừa lên kinh đi sứ, mà đẩy ngã em mình xuống biển. Trôi lạc một mình giữa ngàn khơi, cô Út đã dùng bản lĩnh của mình để vượt qua hiểm nguy và sinh tồn nhờ những đồ mà Sọ Dừa để lại: con dao mổ bụng cá kình, hòn đá đánh lửa, đôi trứng nở thành gà bầu bạn cùng cô giữa đảo hoang. Và rồi một buổi bình minh, con gà đã cất tiếng gáy khải hoàn:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Ò…ó…o<br />Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.” <br />(bản chép Nguyễn Đổng Chi)</div> <p>Bình minh của cô Út đã đến bằng niềm vui đoàn tụ cùng người chồng đầu ắp tay gối, nhưng hơn hết đó là cả một chiến thắng của một người phụ nữ nhân hậu và thông tuệ. Từ niềm tin chân thành để tự quyết cuộc hôn nhân với Sọ Dừa, cô Út cũng giữ vững lòng tin ấy khi đối mặt hiểm nguy. Sự sinh tồn của nàng, sau tất cả, trở thành hình mẫu cho nghị lực tự thân của người phụ nữ vượt qua mọi nghịch cảnh.</p> <h3>Kết</h3> <p>Truyện cổ tích vốn là chiếc đĩa than ghi lại tất thảy những mong ước của người xưa gửi gắm trong những phép lạ của cõi trần thế. Và trong những giai điệu ngàn năm đó, sự hiện diện của người phụ nữ là tiếng vọng thống thiết nhất của hàng vạn số phận, mong mỏi được thoát khỏi những bất công, khuôn phép đã giam hãm họ trong chiếc lồng son của “tam tòng, tứ đức.”</p> <p>Những tiếng vọng đó biến những phụ nữ trong truyện cổ tích Việt Nam trở thành những hình bóng mạnh mẽ bằng tất cả nỗ lực tự quyết định, nghị lực sinh tồn, năng lực kiến tạo và tinh thần phản kháng. Dù nằm trong khuôn khổ huyền thoại và dân gian, những Âu Cơ, Tiên Dung, cô Tấm, nàng Út hay hằng hà sa số nhân vật nữ&nbsp;đã gieo vào văn hóa dân tộc hạt mầm của tinh thần bình đẳng và nguồn cảm hứng vượt thời gian về giá trị của phái nữ.</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/chidepweb1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/chidepfb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Đạp cơn gió định kiến, cưỡi con sóng lề lối lễ nghi, giai thoại về các nữ nhân xưa có sức mạnh vượt thời đại, gửi gắm tiếng nói nữ quyền đến tâm hồn hậu thế khát khao bình đẳng.<br /></em></p> <p>Ngày nhỏ, tôi từng tin một cách rất ngây ngô rằng chỉ những người như Thánh Gióng, Thạch Sanh hay Sơn Tinh mới xứng làm nhân vật chính, vì chỉ họ mới có sức mạnh trời cho để cứu dân khỏi cảnh lầm than. Niềm tin trẻ con ấy phần nào phản ánh ảnh hưởng của mô-típ cổ tích quen thuộc,&nbsp;thường lấy nam giới làm đại diện cho khía cạnh mạnh mẽ và chính nghĩa của con người.</p> <p>Nhưng khi lớn hơn một chút, tôi mới dần nhận ra kho tàng cổ tích nước mình sâu rộng đến nhường nào. Trong những mẩu truyện đã đi qua đời tôi,&nbsp;thấp thoáng bóng dáng của những người phụ nữ tài trí và kiên cường, vượt lên nghịch cảnh để tung bay trên đôi cánh tự do.</p> <p>Có người tự chọn cho mình một cuộc đời độc lập, không màng những khuôn phép hà khắc. Có người lại mang trong mình tinh thần quả cảm, sẵn sàng gánh vác cả giang sơn, xã tắc. Họ là những bóng hồng truyền cảm hứng, đại diện cho khát vọng được sống, được lựa chọn và được làm chủ chính mình.&nbsp;</p> <h3>Âu Cơ: Vị tổ mẫu quyền uy từ những lựa chọn quyết liệt</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/auco.webp" /></p> <p><span style="background-color: transparent;">Trong ‘Con Rồng Cháu Tiên,’ Âu Cơ hiện lên với tầm vóc của một quốc mẫu, người mẹ khai sinh bọc trăm trứng khởi đầu giống nòi Việt. Nhưng bên cạnh biểu tượng thiêng liêng ấy, hình tượng Âu Cơ còn ẩn chứa tinh thần tự chủ và khí chất lãnh đạo mẫu hệ từ thuở hồng hoang.</span></p> <p>Ngay từ khi xuất hiện trong những áng văn cổ, cái tên Âu Cơ đã ghi dấu bằng chính lựa chọn của mình. Là một nữ nhân phương Bắc chu du xuống phương Nam, Âu Cơ đem lòng yêu mến dung mạo và chí khí của Lạc Long Quân, quyết định ở lại và nên duyên vợ chồng cùng vị thần này. Đến khi bọc trăm trứng nở trăm con, nàng lại vì cảnh đơn chiếc, thiếu vắng chồng, khi Lạc Long Quân mải miết ở Thủy Quốc, mà quyết định đưa các con trở về quê cũ. Tin tưởng ở lại vì lý tưởng tình yêu, Âu Cơ cũng đủ dũng khí để rời đi khi mối tình ấy ngày càng phai nhạt.</p> <p>Sự quyết liệt đó của nàng đã mở ra bước ngoặt mang tính biểu tượng trong truyền thuyết: cuộc chia ly giữa hai bậc Tiên-Rồng, chia đôi trăm con theo lời Lạc Long Quân. Dù các bản dịch<em> Lĩnh Nam chích quái</em> có khác biệt câu chữ, tất cả đều ghi lại lời trách thẳng thắn của Âu Cơ dành cho vị tổ phụ nước Việt:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Thiếp vốn là người nước Bắc, ở với vua, sinh hạ được trăm con trai, vua bỏ thiếp mà đi, <br />không cùng thiếp nuôi con, làm người vô phu vô phụ, chỉ biết thương mình.”<br /> (bản dịch Đinh Gia Khánh và Nguyễn Ngọc San)</div> <p>Âu Cơ đã đặt vị thế bản thân ngang hàng với Lạc Long Quân trong cuộc hôn nhân. Nàng không phải kẻ phụ thuộc, mà sẵn sàng chất vấn trách nhiệm của chồng mình trong việc đồng hành dựng xây gia đình, nuôi dạy con cái. Để rồi khi không thể dung hòa lối sống, Âu Cơ đã đồng thuận trong việc “ly hôn,” mang 50 con về với cội nguồn giống Tiên, về với bản thể tự do, thanh cao của mình.</p> <p>Ở chốn núi non, nàng là một người mẹ tự quyết con đường nuôi dạy con cái, sẵn sàng suy tôn con trai trưởng trở thành vị lãnh đạo đầu tiên của quốc gia. Công mở đường cho thời đại Hùng Vương rực rỡ khiến Âu Cơ không chỉ là nhân vật mang bản lĩnh cá nhân, mà còn là biểu tượng cho hình ảnh người phụ nữ chủ động lãnh đạo và dám kiến tạo bản sắc văn hóa Việt.</p> <h3>Tiên Dung: Công chúa kiến tạo vận mệnh bởi khí khái bất phàm</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/tiendung.webp" /></p> <p>Câu chuyện về Tiên Dung vốn được biết đến qua mối duyên kỳ ngộ với Chử Đồng Tử, người sau này được tôn làm một trong “Tứ bất tử.” Nhưng đằng sau bóng dáng người vợ tào khang ấy là một cá tính tự do và kiêu hãnh, một người phụ nữ có hành trình rực rỡ và tự chủ chẳng kém bất kỳ bậc anh hùng nào.</p> <p>Là con gái vua Hùng, Tiên Dung mang tư chất vượt thời đại, khác hẳn hình tượng công chúa khuôn phép thường thấy. Nàng ưa ngao du, say mê trời biển, mây gió. Trong khi các Mị Nương khác được gả đi để trọn đạo chính trị, Tiên Dung lại nguyện không lấy chồng, chỉ mong được sống theo ý mình giữa trời bể bao la.</p> <p>Nhưng điều đó không khiến mối duyên giữa nàng và Chử Đồng Tử trở nên mâu thuẫn. Trái lại, nó thể hiện rõ nhất tinh thần tự do mà Tiên Dung tin tưởng: tự do chọn người mình yêu. Bởi vậy, khi vô tình thấy thân thể trần truồng của Chử Đồng Tử, nàng không hổ thẹn thoái thác, mà dám đứng ra nhận trách nhiệm cho định mệnh, cho đúng với lý tưởng hôn nhân tự do mà nàng hằng tin. Dẫu Chử Đồng Tử e ngại vì thân phận cơ hàn, Tiên Dung vẫn kiên định:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Việc này tự trời tác hợp, việc gì mà từ chối?” <br />(bản dịch Lê Hữu Mục)</div> <p>Với nàng, “thuận theo trời” không có nghĩa là phó mặc, mà là dám lắng nghe lòng mình.</p> <p>Sự sáng suốt ấy giúp Tiên Dung vững vàng vượt qua những chỉ trích của vua cha và cả hệ thống lễ nghi cung đình. Mặc kệ thân phận nghèo hàn của Chử Đồng Tử, nàng quyết cùng chồng gây dựng cuộc sống mới: lập chợ, buôn bán, mở mang giao thương, một hành trình khởi nghiệp của hai tâm hồn tự do.</p> <p>Vượt khỏi khuôn phép “tề gia nội trợ,” Tiên Dung cùng chồng tu tập, tự định đoạt con đường tâm linh của mình, rồi cùng đắc đạo. Khi vua cha nổi giận muốn trừng phạt, nàng không trốn tránh mà bình thản đối mặt, để rồi cảm động trời đất, cả hai hóa thân thăng thiên giữa hào quang huyền diệu.</p> <p>Phép lạ của Tiên Dung không chỉ là thoát khỏi gươm giáo vua cha, mà còn là minh chứng cho sức mạnh của người phụ nữ dám lựa chọn và kiến tạo vận mệnh. Hình ảnh ấy vang lên như khúc ca về tự do, khi người phụ nữ không còn là cái bóng của ai, mà chính là người cầm lái con thuyền đời mình giữa muôn trùng sóng gió.</p> <h3>Tấm: Bản tuyên ngôn tự quyết thân phận bằng muôn lần tái sinh</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/tam1.webp" /></p> <p>Trong tâm khảm của người Việt Nam, những khổ ải của nàng Tấm đã quá đỗi thân thuộc. Nhưng Tấm không chỉ là một thân phận nhỏ bé bị vần vũ bởi lễ giáo và thứ bậc. Điều làm nên huyền thoại của nàng chính là những khoảnh khắc vượt thoát, những lần nàng tự mình viết lại số phận bằng những hình thức biến hóa kỳ lạ và kiên cường.</p> <p>Kể từ khi được Bụt giúp đỡ thành công thoát khỏi gia đình của mẹ ghẻ, bước chân vào lầu son gác tía với thân phận hoàng hậu, hành trình của Tấm là một chuỗi những phép màu do chính nàng tạo ra, nhằm phản kháng mạnh mẽ trước tà ác rình rập. Bao lần bị tước đoạt mất mạng sống, Tấm vẫn không ngừng tái sinh, như một lời khẳng định đanh thép cho khát vọng được tự quyết số phận. Những hình tượng mà Tấm biến hóa cũng khôn lường, từ con vật, đồ vật đến cây cối đều có đủ. Nàng không chỉ quyết định về khoảnh khắc tái sinh, mà thậm chí tự vẽ nên những hình thái, dáng vẻ của chính mình.</p> <p>Mỗi lần biến thân tuy khác nhau, nhưng tinh thần phản kháng của Tấm vẫn vẹn nguyên và mạnh mẽ. Đó là con chim vàng anh xẵng giọng đe dọa:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Phơi áo chồng tao phơi lao phơi sào<br />Chớ phơi bờ rào rách áo chồng tao.” <br />(bản chép Nguyễn Đổng Chi)</div> <p style="text-align: left;">Là khung cửi cót két sẵn sàng mỉa mai:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Cót ca cót két<br /><span style="background-color: transparent;">Lấy tranh chồng chị<br /></span><span style="background-color: transparent;">Chị khoét mắt ra.” <br />(bản chép Nguyễn Đổng Chi).</span></div> <p>Cô Tấm ngoan hiền chỉ có thể khóc rấm rứt tủi thân của ngày xưa đã biến mất, thay vào đó là một nàng Tấm không cam chịu, sẵn sàng đáp trả, giành lại những gì xứng đáng thuộc về mình.</p> <p>Tấm không phải “hắc hóa” mà để ngọn lửa hận thù cuốn trôi đi nhân tính của mình hoàn toàn. Con chim ấy tuy lên giọng với Cám, nhưng lại hiền dịu đậu vào tay áo của người chồng yêu thương. Khung cửi tuy cót két giọng điệu chua chát, nhưng lại dệt cho vua gấm áo lụa là. Quả thị tuy nhỏ bé nhưng biết đáp đền công ơn người hái đã cưu mang. Chính bởi giữ được ánh sáng thiện lương trong từng lần hóa thân, Tấm mới có đủ sức mạnh để dưỡng nuôi ý chí phản kháng đến cuối con đường.</p> <p>Nhưng hơn hết, mỗi lần tái sinh còn là một lần nàng bảo lưu nhân phẩm, là một lần nàng khẳng định rằng cái chết hay sự áp đặt không thể xóa đi quyền được sống trọn vẹn. Tấm trở thành hình ảnh phảng phất những mong ước vượt thoát định mệnh, mong ước của muôn vàn phụ nữ: được tự chủ, được công bằng, và được đi theo tiếng gọi của lòng mình.</p> <h3>Cô Út: Hình mẫu của lòng tin và sức mạnh nội tại của phụ nữ</h3> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/20/chidep/cout1.webp" /></p> <p>Trong câu chuyện ‘Sọ Dừa,’ chàng trai kỳ dị ấy hiện lên như một vị thần giáng thế, hóa thân xấu xí để thử lòng người đời. Với cha mẹ nghèo khó đã hết mực yêu thương, chàng đáp lại bằng phú quý, nhà cao cửa rộng. Với cô Út, người duy nhất không chê thân phận hèn mọn, chàng trao tặng vinh hiển, địa vị và cả sự sống khi nàng đối diện lằn ranh sinh tử.</p> <p>Nhưng nếu nhìn câu chuyện ở một góc nhìn bình đẳng hơn, ta thấy cô Út không phải chỉ là một người được Sọ Dừa “cứu chuộc” mà chính những phẩm chất đáng quý của nàng mới nâng đỡ cuộc đời chính mình. Khi Sọ Dừa xin được chăn trâu cho nhà phú ông, trong ba người con gái, chỉ có cô Út là đối đãi chàng tử tế. Để rồi một ngày tình cờ nghe được tiếng sáo giữa đồng trâu, nhìn thấy tướng mạo chàng khôi ngô, nàng bèn sinh lòng cảm mến Sọ Dừa, tin tưởng chàng không phải người phàm trần.</p> <p>Có thể xem nhân dạng xấu xí của Sọ Dừa như ẩn dụ cho những giới hạn mà con người bị trói buộc: ngoại hình, giai cấp, địa vị. Hai cô chị hắt hủi chàng là tiếng vọng của những bất công cố hữu, còn cô Út là người dám đi ngược lại lề thói, dám tin vào cái thiện trong nội tâm của chàng. Nhờ lòng tin và sự tử tế ấy, Sọ Dừa sẵn sàng hóa thân, sống thật với chính mình, và tình cảm của họ nảy nở từ đó.</p> <p>Chính chọn lựa ấy đã mở ra mối duyên vợ chồng từ lòng tin và nghị lực của đôi bên. Nhưng hai cô chị, như những cơn sóng dữ của định mệnh, đã nhân lúc Sọ Dừa lên kinh đi sứ, mà đẩy ngã em mình xuống biển. Trôi lạc một mình giữa ngàn khơi, cô Út đã dùng bản lĩnh của mình để vượt qua hiểm nguy và sinh tồn nhờ những đồ mà Sọ Dừa để lại: con dao mổ bụng cá kình, hòn đá đánh lửa, đôi trứng nở thành gà bầu bạn cùng cô giữa đảo hoang. Và rồi một buổi bình minh, con gà đã cất tiếng gáy khải hoàn:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">“Ò…ó…o<br />Phải thuyền quan trạng rước cô tôi về.” <br />(bản chép Nguyễn Đổng Chi)</div> <p>Bình minh của cô Út đã đến bằng niềm vui đoàn tụ cùng người chồng đầu ắp tay gối, nhưng hơn hết đó là cả một chiến thắng của một người phụ nữ nhân hậu và thông tuệ. Từ niềm tin chân thành để tự quyết cuộc hôn nhân với Sọ Dừa, cô Út cũng giữ vững lòng tin ấy khi đối mặt hiểm nguy. Sự sinh tồn của nàng, sau tất cả, trở thành hình mẫu cho nghị lực tự thân của người phụ nữ vượt qua mọi nghịch cảnh.</p> <h3>Kết</h3> <p>Truyện cổ tích vốn là chiếc đĩa than ghi lại tất thảy những mong ước của người xưa gửi gắm trong những phép lạ của cõi trần thế. Và trong những giai điệu ngàn năm đó, sự hiện diện của người phụ nữ là tiếng vọng thống thiết nhất của hàng vạn số phận, mong mỏi được thoát khỏi những bất công, khuôn phép đã giam hãm họ trong chiếc lồng son của “tam tòng, tứ đức.”</p> <p>Những tiếng vọng đó biến những phụ nữ trong truyện cổ tích Việt Nam trở thành những hình bóng mạnh mẽ bằng tất cả nỗ lực tự quyết định, nghị lực sinh tồn, năng lực kiến tạo và tinh thần phản kháng. Dù nằm trong khuôn khổ huyền thoại và dân gian, những Âu Cơ, Tiên Dung, cô Tấm, nàng Út hay hằng hà sa số nhân vật nữ&nbsp;đã gieo vào văn hóa dân tộc hạt mầm của tinh thần bình đẳng và nguồn cảm hứng vượt thời gian về giá trị của phái nữ.</p></div> Bên trong một trong những 'xóm tiền âm phủ' cuối cùng của Sài Gòn 2025-10-06T15:00:00+07:00 2025-10-06T15:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17963-bên-trong-một-trong-những-xóm-tiền-âm-phủ-cuối-cùng-của-sài-gòn Uyên Đỗ. Ảnh: Alberto Prieto và Hạo Lê. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/web1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/fb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Dân gian ta có quan niệm “trần sao âm vậy”: người âm cũng cần chi tiêu, sinh hoạt như người dương. Vì thế, thân nhân của người đã khuất thường đốt tiền âm phủ để họ có chút vốn liếng sử dụng ở thế giới bên kia.<br /></em></p> <p>Trong <em>Việt Nam phong tục</em>, Phan Kế Bính viết rằng tục đốt tiền mã bắt nguồn từ Trung Quốc thời Đường, rồi theo chân cộng đồng người Hoa di cư du nhập vào Việt Nam. Từ đó đến nay, tập tục này xuất hiện phổ biến trong các sinh hoạt tâm linh của người Việt, chủ yếu vào các dịp như cúng giỗ, rằm tháng Bảy, hay tảo mộ.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien1.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien2.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien3.webp" alt="" /></div> </div> <p>Từ cuối những năm 1980, khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và nới lỏng các quy định về tín ngưỡng, nhu cầu sử dụng các loại vàng mã mau chóng nở rộ. Nhiều cơ sở được thành lập ở các khu vực như Chợ Lớn để phục vụ nhu cầu tiêu thụ khổng lồ tại các đô thị.</p> <p>Tuy vậy, trong những năm gần đây, quan điểm xã hội về việc cúng kiếng đã đảo chiều. Người dân có xu hướng cắt giảm các nghi lễ mang tính hình thức, nhiều địa phương cũng chủ trương hạn chế vàng mã để tránh lãng phí. Dù vậy, vẫn có những người thợ chọn tiếp tục công việc, ngay cả khi những niềm tin và phong tục gắn bó với nghề của họ đã và đang dần biến mất.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien4.webp" /></p> <p>Nhìn từ ngoài vào, xưởng tiền âm phủ của vợ chồng chú Súng-cô Mì nổi bật với những chồng giấy nguyên liệu cao ngút, xếp chi chít che gần kín cả mặt tiền.</p> <p>Bên trong, không gian rộng rãi được tận dụng triệt để: máy in, máy cắt kê sát nhau; giấy cuộn và phẩm màu phủ kín các mặt phẳng. Không khí sản xuất diễn rất khẩn trương, gần như chẳng ai ngơi tay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien25.webp" /></p> <p>Xưởng tọa lạc tại một khu dân cư cạnh Kênh Đôi, thuộc địa phận quận 8 cũ, nơi từng có đông đúc người Hoa sinh sống và hành các nghề thủ công như làm nhang, in giấy cúng.&nbsp;Theo lời kể của người lớn tuổi nơi đây, giai đoạn hưng thịnh, gần như tất cả các hộ trong xóm đều tham gia hoạt động sản xuất và phân phối tiền âm phủ. Ngày này, cô chú là một trong những gia đình hiếm hoi còn bám trụ tại đây trong khi đa phần đã chuyển đi nơi khác hoặc ngừng hẳn.</p> <div class="one-row smaller"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien10.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien11.webp" alt="" /></div> </div> <p>Mỗi ngày, công việc bắt đầu từ tám giờ sáng và kéo dài đến chiều muộn. Giấy nguyên liệu được đặt theo cuộn lớn, chủ yếu là các loại giấy mỏng màu trắng, vàng hoặc đỏ, dễ bắt lửa, cháy sạch và ít để lại tàn tro.</p> <div class="one-row smaller"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien7.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien17.webp" alt="" /></div> </div> <p>Giấy sau khi xả cuộn sẽ đưa vào máy in để dập họa tiết bằng khuôn đúc sẵn.&nbsp;Trên từng xấp giấy lần lượt hiện ra hoa văn phong thủy như đinh vàng, thiên quan, địa quan, cùng các đoạn Kinh Phật. Mỗi loại tiền đều có quy cách và màu sắc riêng, mang ý nghĩa tâm linh khác nhau, có loại dùng để cầu an, có loại chuyên để cúng tài lộc.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien14.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien13.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien12.webp" alt="" /></div> </div> <p>Từ máy in, giấy được chuyển sang bàn cắt, dù có máy móc giúp đỡ nhưng đa phần vẫn làm thủ công. Mỗi xấp giấy được cắt theo khuôn, rồi xếp lại thành từng chồng đều tăm tắp. Mỗi tờ phải ngay ngắn, không xô lệch, để khi bó lại không bị cong mép hay rách cạnh.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien22.webp" /></p> <p>Thành phẩm sau đó được buộc thành từng kiện lớn, chuẩn bị chuyển ra chợ đầu mối trong thành phố hoặc đi xa hơn về các tỉnh miền Trung và miền Nam.&nbsp;Những mẫu in dày đặc chữ Hán, thường được gọi là “tiền chuỗi,” xuất hiện nhiều trong các lễ cúng ở Huế, Đà Lạt hoặc Nha Trang. Các tỉnh miền Tây lại ưa chuộng những tờ in đơn giản hơn, ít họa tiết.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien5.webp" /></p> <p>Giữa cái nóng oi ả của Sài Gòn, xưởng luôn kín bưng, mùi phẩm màu và giấy mới xộc lên nồng nặc. Dù chỉ là những thao tác đơn giản nhưng vẫn đòi hỏi thể chất bền bỉ cũng như độ tập trung cao.&nbsp;</p> <p>Phải thật cẩn thận khi dùng máy cắt, bởi chỉ cần sơ ý một chút là lưỡi dao có thể chém trật, làm hỏng cả xấp giấy hoặc tệ hơn là gây chấn thương nghiêm trọng.&nbsp;Người thợ phải luôn đứng nghiêng người đúng góc, nhấn nhả tay đều nhịp, cứ thế hàng chục lần mỗi ngày. Thợ xếp phải ngồi hàng giờ trong cùng một tư thế gò bó, những chuyển động lặp đi lặp lại khiến cổ tay dễ tê, lưng ê ẩm.</p> <div class="one-row smaller"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien21.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien20.webp" alt="" /></div> </div> <p>Vất vả là vậy, lại thêm chuyện sức mua cứ giảm dần theo năm tháng, nên nghề in tiền âm phủ chẳng còn nhiều tương lai.&nbsp;“Con nó học công nghệ thông tin, hỏi có chịu làm không thì nó lắc đầu. Nó sinh 2007, thấy màu mè quá là nó sợ rồi,” chú Súng nói nửa đùa nửa thật.&nbsp;</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien24.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Chú Súng.</p> <p>Việc thay đổi tập tục là lẽ tự nhiên trong dòng chảy xã hội, nên khó có thể nói sự mai một của tiền âm phủ là một diễn biến hoàn toàn tốt hay xấu. Dẫu còn nhiều tranh cãi, điều không nên phủ nhận là giá trị tinh thần mà tập quán này mang lại cho những ai mang đức tin, cũng như công sức lao động mà các nghệ nhân dành để duy trì thứ nghề cũ ở chặng đường cuối cùng của nó.</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/web1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/fb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Dân gian ta có quan niệm “trần sao âm vậy”: người âm cũng cần chi tiêu, sinh hoạt như người dương. Vì thế, thân nhân của người đã khuất thường đốt tiền âm phủ để họ có chút vốn liếng sử dụng ở thế giới bên kia.<br /></em></p> <p>Trong <em>Việt Nam phong tục</em>, Phan Kế Bính viết rằng tục đốt tiền mã bắt nguồn từ Trung Quốc thời Đường, rồi theo chân cộng đồng người Hoa di cư du nhập vào Việt Nam. Từ đó đến nay, tập tục này xuất hiện phổ biến trong các sinh hoạt tâm linh của người Việt, chủ yếu vào các dịp như cúng giỗ, rằm tháng Bảy, hay tảo mộ.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien1.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien2.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien3.webp" alt="" /></div> </div> <p>Từ cuối những năm 1980, khi Việt Nam chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường và nới lỏng các quy định về tín ngưỡng, nhu cầu sử dụng các loại vàng mã mau chóng nở rộ. Nhiều cơ sở được thành lập ở các khu vực như Chợ Lớn để phục vụ nhu cầu tiêu thụ khổng lồ tại các đô thị.</p> <p>Tuy vậy, trong những năm gần đây, quan điểm xã hội về việc cúng kiếng đã đảo chiều. Người dân có xu hướng cắt giảm các nghi lễ mang tính hình thức, nhiều địa phương cũng chủ trương hạn chế vàng mã để tránh lãng phí. Dù vậy, vẫn có những người thợ chọn tiếp tục công việc, ngay cả khi những niềm tin và phong tục gắn bó với nghề của họ đã và đang dần biến mất.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien4.webp" /></p> <p>Nhìn từ ngoài vào, xưởng tiền âm phủ của vợ chồng chú Súng-cô Mì nổi bật với những chồng giấy nguyên liệu cao ngút, xếp chi chít che gần kín cả mặt tiền.</p> <p>Bên trong, không gian rộng rãi được tận dụng triệt để: máy in, máy cắt kê sát nhau; giấy cuộn và phẩm màu phủ kín các mặt phẳng. Không khí sản xuất diễn rất khẩn trương, gần như chẳng ai ngơi tay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien25.webp" /></p> <p>Xưởng tọa lạc tại một khu dân cư cạnh Kênh Đôi, thuộc địa phận quận 8 cũ, nơi từng có đông đúc người Hoa sinh sống và hành các nghề thủ công như làm nhang, in giấy cúng.&nbsp;Theo lời kể của người lớn tuổi nơi đây, giai đoạn hưng thịnh, gần như tất cả các hộ trong xóm đều tham gia hoạt động sản xuất và phân phối tiền âm phủ. Ngày này, cô chú là một trong những gia đình hiếm hoi còn bám trụ tại đây trong khi đa phần đã chuyển đi nơi khác hoặc ngừng hẳn.</p> <div class="one-row smaller"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien10.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien11.webp" alt="" /></div> </div> <p>Mỗi ngày, công việc bắt đầu từ tám giờ sáng và kéo dài đến chiều muộn. Giấy nguyên liệu được đặt theo cuộn lớn, chủ yếu là các loại giấy mỏng màu trắng, vàng hoặc đỏ, dễ bắt lửa, cháy sạch và ít để lại tàn tro.</p> <div class="one-row smaller"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien7.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien17.webp" alt="" /></div> </div> <p>Giấy sau khi xả cuộn sẽ đưa vào máy in để dập họa tiết bằng khuôn đúc sẵn.&nbsp;Trên từng xấp giấy lần lượt hiện ra hoa văn phong thủy như đinh vàng, thiên quan, địa quan, cùng các đoạn Kinh Phật. Mỗi loại tiền đều có quy cách và màu sắc riêng, mang ý nghĩa tâm linh khác nhau, có loại dùng để cầu an, có loại chuyên để cúng tài lộc.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien14.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien13.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien12.webp" alt="" /></div> </div> <p>Từ máy in, giấy được chuyển sang bàn cắt, dù có máy móc giúp đỡ nhưng đa phần vẫn làm thủ công. Mỗi xấp giấy được cắt theo khuôn, rồi xếp lại thành từng chồng đều tăm tắp. Mỗi tờ phải ngay ngắn, không xô lệch, để khi bó lại không bị cong mép hay rách cạnh.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien22.webp" /></p> <p>Thành phẩm sau đó được buộc thành từng kiện lớn, chuẩn bị chuyển ra chợ đầu mối trong thành phố hoặc đi xa hơn về các tỉnh miền Trung và miền Nam.&nbsp;Những mẫu in dày đặc chữ Hán, thường được gọi là “tiền chuỗi,” xuất hiện nhiều trong các lễ cúng ở Huế, Đà Lạt hoặc Nha Trang. Các tỉnh miền Tây lại ưa chuộng những tờ in đơn giản hơn, ít họa tiết.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien5.webp" /></p> <p>Giữa cái nóng oi ả của Sài Gòn, xưởng luôn kín bưng, mùi phẩm màu và giấy mới xộc lên nồng nặc. Dù chỉ là những thao tác đơn giản nhưng vẫn đòi hỏi thể chất bền bỉ cũng như độ tập trung cao.&nbsp;</p> <p>Phải thật cẩn thận khi dùng máy cắt, bởi chỉ cần sơ ý một chút là lưỡi dao có thể chém trật, làm hỏng cả xấp giấy hoặc tệ hơn là gây chấn thương nghiêm trọng.&nbsp;Người thợ phải luôn đứng nghiêng người đúng góc, nhấn nhả tay đều nhịp, cứ thế hàng chục lần mỗi ngày. Thợ xếp phải ngồi hàng giờ trong cùng một tư thế gò bó, những chuyển động lặp đi lặp lại khiến cổ tay dễ tê, lưng ê ẩm.</p> <div class="one-row smaller"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien21.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien20.webp" alt="" /></div> </div> <p>Vất vả là vậy, lại thêm chuyện sức mua cứ giảm dần theo năm tháng, nên nghề in tiền âm phủ chẳng còn nhiều tương lai.&nbsp;“Con nó học công nghệ thông tin, hỏi có chịu làm không thì nó lắc đầu. Nó sinh 2007, thấy màu mè quá là nó sợ rồi,” chú Súng nói nửa đùa nửa thật.&nbsp;</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/10/05/tien/tien24.webp" style="background-color: transparent;" /></p> <p class="image-caption">Chú Súng.</p> <p>Việc thay đổi tập tục là lẽ tự nhiên trong dòng chảy xã hội, nên khó có thể nói sự mai một của tiền âm phủ là một diễn biến hoàn toàn tốt hay xấu. Dẫu còn nhiều tranh cãi, điều không nên phủ nhận là giá trị tinh thần mà tập quán này mang lại cho những ai mang đức tin, cũng như công sức lao động mà các nghệ nhân dành để duy trì thứ nghề cũ ở chặng đường cuối cùng của nó.</p></div> Về An Giang xem lễ hội đua bò truyền thống của người Khmer 2025-09-27T12:00:00+07:00 2025-09-27T12:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17034-về-an-giang-xem-lễ-hội-đua-bò-truyền-thống-của-người-khmer Uyên Đỗ. Ảnh: An Bùi. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/14.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/fb.jpg" data-position="20% 60%" /></p> <p><em>Cứ mỗi tháng 8 âm lịch hằng năm, người dân tứ xứ lại có dịp tụ hội về vùng đất Bảy Núi để hòa vào không khí rộn ràng của trường đua dân dã và cổ vũ cho các “chiến ngưu” mà mình yêu thích.</em></p> <p><strong>&nbsp;</strong></p> <div class="right"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/15.webp" alt="" /></div> <p>Từ lâu, An Giang đã là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc do có nền đất phù sa màu mỡ, phù hợp để canh tác lúa nước. Trong đó, người Khmer là cộng đồng dân tộc thiểu số lớn nhất địa bàn, chiếm <a href="http://web.cema.gov.vn/modules.php?name=News&op=detailsnews&mid=2783">khoảng 4%</a>&nbsp;dân số toàn tỉnh, chủ yếu tập trung ở hai huyện ven vùng <a href="https://www.bienphong.com.vn/hanh-trinh-kham-pha-vung-dat-that-son-bay-nui-post436449.html">Bảy Núi</a> là Tri Tôn và Tịnh Biên.</p> <p>Tại đây, đồng bào dân tộc Khmer vẫn lưu giữ được các tập tục truyền thống giàu giá trị văn hóa, trong đó phải kể đến các nếp sinh hoạt trong mùa lễ <a href="https://vov.vn/van-hoa/nghe-si/le-sene-dolta-cua-dong-bao-khmer-958932.vov">Sene Dolta</a>, diễn ra vào tháng 8 và tháng 9 âm lịch hàng năm. Đây có thể xem là ngày Tết của người Khmer, là dịp để người còn sống thể hiện lòng biết ơn với ông bà, tổ tiên và những người đã khuất.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/10.webp" alt="" /></p> <p>Vào ngày lễ này, người Khmer theo truyền thống Phật giáo thường mang lễ vật đến dâng cho các nhà sư để cầu cho các linh hồn đã lìa thế gian sớm được siêu thoát. <a href="https://www.angiang.dcs.vn/Lists/TheThaoDuLich/DispForm.aspx?ID=15&PageIndex=7">Tương truyền rằng</a> vào mùa Dolta xưa, các nông dân cũng thường hay mang bò đến cày cuốc cho ruộng của chùa như một cách làm công ích.</p> <p>Sau những buổi cày bừa, người nông dân thường hay bắt cặp các đôi bò với nhau để tranh tài, xem bò của ai lực lưỡng, nhanh nhẹn và dẻo dai hơn. Thấy được điều này, các sư thầy đã trao thưởng cho bò bằng những sợi dây nài hoặc những vòng lục lạc đẹp mắt. Qua năm tháng, thú đua bò đã trở thành một tập quán của người Khmer An Giang vào những ngày tết Dolta.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/01.webp" alt="" /></p> <p>Ngày nay, lễ hội đua bò được tổ chức <a href="https://nhandan.vn/dong-chay/khong-to-chuc-hoi-dua-bo-bay-nui-615676/">thường niên</a> ở huyện Tri Tôn, thu hút hàng ngàn người đến xem và cổ vũ. Trường đua cũng được xây dựng với quy mô lớn hơn, với các thí sinh được tăng cường tập luyện và chăm sóc bằng chế độ ăn đặc biệt để đạt phong độ tốt nhất.</p> <div class="biggest"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/12.webp" alt="" /></div> <p>Theo thể thức thi đấu hiện đại, các cặp bò sẽ tranh loại trực tiếp với nhau. Cặp bò nào về đích trước và thắng cuộc sẽ được tiếp tục tranh chức vô địch. Những người đua bò, hay còn gọi là “nài” hay “tài xế,” sẽ đứng trên một chiếc bừa để điều khiển đôi bò tranh tài.</p> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/14.webp" alt="" /></div> <p>Để thắng cuộc, người điều khiển không chỉ cần có thể lực tốt mà phải có “tay lái” hết sức khéo léo, bởi nếu để đôi bò của mình bước lên chiếc bừa của đối thủ, hoặc phóng ra ngoài vòng đua, cặp thí sinh sẽ lập tức bị loại.</p> <div class=""><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/07.webp" alt="" /></div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/02.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/04.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/08.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/13.webp" alt="" /></div> </div> <p>Theo <a href="https://www.angiang.dcs.vn/Lists/TheThaoDuLich/DispForm.aspx?ID=15&PageIndex=7">quan niệm</a> của người Khmer, việc có đôi bò thắng giải là một điềm may, nên sau khi thắng cuộc, đôi bò sẽ không bị giết thịt hay bán đi. Ngược lại, các “nhà vô địch” sẽ được dân làng giữ gìn như tài sản quý, được chăm sóc kỹ lưỡng để tham gia cuộc đua kế tiếp, như lời gửi gắm hy vọng cho một năm mới nhiều mùa màng bội thu và ấm no gia đình.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/11.webp" alt="" /></p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/16.webp" alt="" /></p> <p><strong>Darkroom là một series kể chuyện bằng hình ảnh về vẻ đẹp của cảnh vật, con người Việt Nam và châu Á trên những hành trình xê dịch. Bạn là một phó nháy thích đi đây đó? Hãy gửi ý tưởng về cho <em>Saigoneer</em> qua hòm thư <a href="mailto:contribute@saigoneer.com.">contribute@saigoneer.com</a>.</strong></p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/14.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/fb.jpg" data-position="20% 60%" /></p> <p><em>Cứ mỗi tháng 8 âm lịch hằng năm, người dân tứ xứ lại có dịp tụ hội về vùng đất Bảy Núi để hòa vào không khí rộn ràng của trường đua dân dã và cổ vũ cho các “chiến ngưu” mà mình yêu thích.</em></p> <p><strong>&nbsp;</strong></p> <div class="right"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/15.webp" alt="" /></div> <p>Từ lâu, An Giang đã là nơi sinh sống của nhiều đồng bào dân tộc do có nền đất phù sa màu mỡ, phù hợp để canh tác lúa nước. Trong đó, người Khmer là cộng đồng dân tộc thiểu số lớn nhất địa bàn, chiếm <a href="http://web.cema.gov.vn/modules.php?name=News&op=detailsnews&mid=2783">khoảng 4%</a>&nbsp;dân số toàn tỉnh, chủ yếu tập trung ở hai huyện ven vùng <a href="https://www.bienphong.com.vn/hanh-trinh-kham-pha-vung-dat-that-son-bay-nui-post436449.html">Bảy Núi</a> là Tri Tôn và Tịnh Biên.</p> <p>Tại đây, đồng bào dân tộc Khmer vẫn lưu giữ được các tập tục truyền thống giàu giá trị văn hóa, trong đó phải kể đến các nếp sinh hoạt trong mùa lễ <a href="https://vov.vn/van-hoa/nghe-si/le-sene-dolta-cua-dong-bao-khmer-958932.vov">Sene Dolta</a>, diễn ra vào tháng 8 và tháng 9 âm lịch hàng năm. Đây có thể xem là ngày Tết của người Khmer, là dịp để người còn sống thể hiện lòng biết ơn với ông bà, tổ tiên và những người đã khuất.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/10.webp" alt="" /></p> <p>Vào ngày lễ này, người Khmer theo truyền thống Phật giáo thường mang lễ vật đến dâng cho các nhà sư để cầu cho các linh hồn đã lìa thế gian sớm được siêu thoát. <a href="https://www.angiang.dcs.vn/Lists/TheThaoDuLich/DispForm.aspx?ID=15&PageIndex=7">Tương truyền rằng</a> vào mùa Dolta xưa, các nông dân cũng thường hay mang bò đến cày cuốc cho ruộng của chùa như một cách làm công ích.</p> <p>Sau những buổi cày bừa, người nông dân thường hay bắt cặp các đôi bò với nhau để tranh tài, xem bò của ai lực lưỡng, nhanh nhẹn và dẻo dai hơn. Thấy được điều này, các sư thầy đã trao thưởng cho bò bằng những sợi dây nài hoặc những vòng lục lạc đẹp mắt. Qua năm tháng, thú đua bò đã trở thành một tập quán của người Khmer An Giang vào những ngày tết Dolta.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/01.webp" alt="" /></p> <p>Ngày nay, lễ hội đua bò được tổ chức <a href="https://nhandan.vn/dong-chay/khong-to-chuc-hoi-dua-bo-bay-nui-615676/">thường niên</a> ở huyện Tri Tôn, thu hút hàng ngàn người đến xem và cổ vũ. Trường đua cũng được xây dựng với quy mô lớn hơn, với các thí sinh được tăng cường tập luyện và chăm sóc bằng chế độ ăn đặc biệt để đạt phong độ tốt nhất.</p> <div class="biggest"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/12.webp" alt="" /></div> <p>Theo thể thức thi đấu hiện đại, các cặp bò sẽ tranh loại trực tiếp với nhau. Cặp bò nào về đích trước và thắng cuộc sẽ được tiếp tục tranh chức vô địch. Những người đua bò, hay còn gọi là “nài” hay “tài xế,” sẽ đứng trên một chiếc bừa để điều khiển đôi bò tranh tài.</p> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/14.webp" alt="" /></div> <p>Để thắng cuộc, người điều khiển không chỉ cần có thể lực tốt mà phải có “tay lái” hết sức khéo léo, bởi nếu để đôi bò của mình bước lên chiếc bừa của đối thủ, hoặc phóng ra ngoài vòng đua, cặp thí sinh sẽ lập tức bị loại.</p> <div class=""><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/07.webp" alt="" /></div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/02.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/04.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/08.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/13.webp" alt="" /></div> </div> <p>Theo <a href="https://www.angiang.dcs.vn/Lists/TheThaoDuLich/DispForm.aspx?ID=15&PageIndex=7">quan niệm</a> của người Khmer, việc có đôi bò thắng giải là một điềm may, nên sau khi thắng cuộc, đôi bò sẽ không bị giết thịt hay bán đi. Ngược lại, các “nhà vô địch” sẽ được dân làng giữ gìn như tài sản quý, được chăm sóc kỹ lưỡng để tham gia cuộc đua kế tiếp, như lời gửi gắm hy vọng cho một năm mới nhiều mùa màng bội thu và ấm no gia đình.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/11.webp" alt="" /></p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2021/09/29/cow-race/16.webp" alt="" /></p> <p><strong>Darkroom là một series kể chuyện bằng hình ảnh về vẻ đẹp của cảnh vật, con người Việt Nam và châu Á trên những hành trình xê dịch. Bạn là một phó nháy thích đi đây đó? Hãy gửi ý tưởng về cho <em>Saigoneer</em> qua hòm thư <a href="mailto:contribute@saigoneer.com.">contribute@saigoneer.com</a>.</strong></p></div> Di sản trăm năm của làng gốm Bát Tràng giữa thời đại công nghiệp hóa 2025-09-03T18:02:14+07:00 2025-09-03T18:02:14+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17945-di-sản-trăm-năm-của-làng-gốm-bát-tràng-giữa-thời-đại-công-nghiệp-hóa Nat Wilkins. Ảnh: Nat Wilkins. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/12.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/00.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p dir="ltr"><em>Làng gốm Bát Tràng mang trong mình di sản hơn 700 năm, nhưng nổi bật hơn cả là những thập niên gần đây, khi sự phát triển của ngôi làng này phản chiếu rõ nét tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.</em></p> <p dir="ltr">Từ chỗ chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và khu vực, Bát Tràng nay đã trở thành điểm sản xuất gốm sứ toàn cầu, vừa xuất khẩu sản phẩm đi khắp thế giới, vừa đón hơn 100.000 du khách mỗi năm đến tham quan bảo tàng, mua sắm và trải nghiệm làm gốm.</p> <p>Điều gây ấn tượng nhất về ngôi làng chính là sự đan xen giữa nhiều quy mô sản xuất: bên cạnh những nhà máy lớn là hơn 1.000 xưởng gốm gia đình. Trên những con ngõ hẹp, ta có cảm giác cả làng đều gắn bó với nghề: nhà thì trộn đất, nhà thì đốt lò, chất hàng lên xe máy. Việc làm gốm len lỏi vào từng sân, từng ngõ, từ gian bếp cho tới mặt tiền cửa hàng.</p> <p>Bộ ảnh này ghi lại hành trình của gốm,&nbsp;từ nguyên vật liệu thô cho đến thành phẩm hoàn thiện, khắc họa sự chuyển mình của một làng nghề đang đứng ở điểm giao thời đại, giữa truyền thống và hiện đại.</p> <p>Có thể thấy, Bát Tràng là một lát cắt thu nhỏ của kinh tế Việt Nam: tăng trưởng nhanh nhưng vẫn giữ được gốc rễ. Từ một nắm đất vô tri, người thợ làm ra những tạo phẩm không chỉ đẹp và hữu dụng, mà còn mang những giá trị tinh thần quý giá. Một quá trình bền bỉ, được các nghệ nhân “trui rèn” mỗi ngày hàng thế kỷ qua.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/01.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Bát Tràng có những con ngõ nhỏ quanh co như mê cung. Người dân nơi đây bám trụ với nghề, vừa bảo tồn những kỹ nghệ truyền thống, vừa cải tiến công nghệ để đáp ứng như cầu thị trường.</p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/02.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Vài nhà xưởng cũ kỹ thấp thoáng dưới bóng những nhà máy hiện đại.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/03.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Đất được đổ vào bồn trộn. Tiếng máy quay ồn ã mở đầu cho cả quá trình làm gốm.</p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/04.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Đất sét thô được nén chặt rồi "hô biến" thành sản phẩm. Có thứ thành đồ gốm công nghiệp, có thứ thành tác phẩm thủ công tinh xảo. Dù khác nhau, tất cả đều bắt đầu từ cùng một khối đất.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/05.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Người thợ lấy tấm đất vừa ép ra khỏi máy, chuẩn bị cho công đoạn tiếp theo.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/06.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Người thợ già dặn khéo léo nắn đất sét thành bức tượng nhỏ.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/07.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Một công nhân bưng chiếc chum lớn từ lò nung ra để đưa vào kho.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/08.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Một góc yên tĩnh hiếm hoi trong nhà xưởng. Ở đây, những người thợ thường tranh thủ ngồi uống chén trà, cốc cà phê, nghỉ ngơi giữa bạt ngàn gốm sứ.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/09.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Những hũ men màu xếp sẵn, đang chờ để được phủ lên sản phẩm.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/10.webp" /> <p class="image-caption"><span style="background-color: transparent;">Người trợ dùng thiết bị chuyên dụng để tráng men chiếc cốc. Máy móc xuất hiện ngày càng nhiều trong quy trình sản xuất.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/11.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Đất nung, dụng cụ nằm chen chúc.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/12.webp" /> <p class="image-caption"><span style="background-color: transparent;">Người thợ kiên nhẫn ngồi nặn chiếc chum theo kiểu dáng truyền thống. Cả làng giờ chỉ còn ít xưởng làm ra mẫu mã như thế này.</span></p> </div></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/12.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/00.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p dir="ltr"><em>Làng gốm Bát Tràng mang trong mình di sản hơn 700 năm, nhưng nổi bật hơn cả là những thập niên gần đây, khi sự phát triển của ngôi làng này phản chiếu rõ nét tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam.</em></p> <p dir="ltr">Từ chỗ chủ yếu phục vụ thị trường trong nước và khu vực, Bát Tràng nay đã trở thành điểm sản xuất gốm sứ toàn cầu, vừa xuất khẩu sản phẩm đi khắp thế giới, vừa đón hơn 100.000 du khách mỗi năm đến tham quan bảo tàng, mua sắm và trải nghiệm làm gốm.</p> <p>Điều gây ấn tượng nhất về ngôi làng chính là sự đan xen giữa nhiều quy mô sản xuất: bên cạnh những nhà máy lớn là hơn 1.000 xưởng gốm gia đình. Trên những con ngõ hẹp, ta có cảm giác cả làng đều gắn bó với nghề: nhà thì trộn đất, nhà thì đốt lò, chất hàng lên xe máy. Việc làm gốm len lỏi vào từng sân, từng ngõ, từ gian bếp cho tới mặt tiền cửa hàng.</p> <p>Bộ ảnh này ghi lại hành trình của gốm,&nbsp;từ nguyên vật liệu thô cho đến thành phẩm hoàn thiện, khắc họa sự chuyển mình của một làng nghề đang đứng ở điểm giao thời đại, giữa truyền thống và hiện đại.</p> <p>Có thể thấy, Bát Tràng là một lát cắt thu nhỏ của kinh tế Việt Nam: tăng trưởng nhanh nhưng vẫn giữ được gốc rễ. Từ một nắm đất vô tri, người thợ làm ra những tạo phẩm không chỉ đẹp và hữu dụng, mà còn mang những giá trị tinh thần quý giá. Một quá trình bền bỉ, được các nghệ nhân “trui rèn” mỗi ngày hàng thế kỷ qua.</p> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/01.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Bát Tràng có những con ngõ nhỏ quanh co như mê cung. Người dân nơi đây bám trụ với nghề, vừa bảo tồn những kỹ nghệ truyền thống, vừa cải tiến công nghệ để đáp ứng như cầu thị trường.</p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/02.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Vài nhà xưởng cũ kỹ thấp thoáng dưới bóng những nhà máy hiện đại.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/03.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Đất được đổ vào bồn trộn. Tiếng máy quay ồn ã mở đầu cho cả quá trình làm gốm.</p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/04.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Đất sét thô được nén chặt rồi "hô biến" thành sản phẩm. Có thứ thành đồ gốm công nghiệp, có thứ thành tác phẩm thủ công tinh xảo. Dù khác nhau, tất cả đều bắt đầu từ cùng một khối đất.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/05.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Người thợ lấy tấm đất vừa ép ra khỏi máy, chuẩn bị cho công đoạn tiếp theo.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/06.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Người thợ già dặn khéo léo nắn đất sét thành bức tượng nhỏ.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/07.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Một công nhân bưng chiếc chum lớn từ lò nung ra để đưa vào kho.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/08.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Một góc yên tĩnh hiếm hoi trong nhà xưởng. Ở đây, những người thợ thường tranh thủ ngồi uống chén trà, cốc cà phê, nghỉ ngơi giữa bạt ngàn gốm sứ.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/09.webp" style="display: block; margin-left: auto; margin-right: auto;" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Những hũ men màu xếp sẵn, đang chờ để được phủ lên sản phẩm.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/10.webp" /> <p class="image-caption"><span style="background-color: transparent;">Người trợ dùng thiết bị chuyên dụng để tráng men chiếc cốc. Máy móc xuất hiện ngày càng nhiều trong quy trình sản xuất.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/11.webp" /> <p class="image-caption" style="text-align: center;"><span style="background-color: transparent;">Đất nung, dụng cụ nằm chen chúc.</span></p> </div> <div class="centered"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2025/05/14/bat-trang/12.webp" /> <p class="image-caption"><span style="background-color: transparent;">Người thợ kiên nhẫn ngồi nặn chiếc chum theo kiểu dáng truyền thống. Cả làng giờ chỉ còn ít xưởng làm ra mẫu mã như thế này.</span></p> </div></div> Tiếng cạp cạp thuở nhỏ và bầy vịt miền Tây của má tôi 2025-08-22T14:00:00+07:00 2025-08-22T14:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17939-tiếng-cạp-cạp-thuở-nhỏ-và-bầy-vịt-miền-tây-của-má-tôi Mai HD. Ảnh: Mai Khanh. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/ducks1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/ducks1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Hôm rồi, đi dạo quanh khu nhà, tôi gặp một ông chú trung niên người nước ngoài đang dắt chó cưng đi chơi. Tôi mon men bắt chuyện làm quen. Nghe tới hai tiếng “Việt Nam,” mắt chú sáng rỡ, chú cười rồi buột miệng: “Mekong Delta [Đồng bằng sông Cửu Long]. Vịt.”</em></p> <p>“Sao mà người ta nuôi quá trời vịt,” chú nói tiếp. “Giờ nghĩ lại trong đầu vẫn còn nghe tiếng cạp cạp.”</p> <div class="biggest"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d2.webp" /> <p class="image-caption">Cạp cạp. Ảnh: Alberto Prieto.</p> </div> <h3>Vịt thả vườn</h3> <p>Miền Tây sông rạch giăng giăng, ruộng lúa thì mênh mông, xóm làng lúc nào cũng rợp bóng cây. Vịt ở đây nhiều vô kể. Nhà nào cũng thả vài con trong sân. Ngoại tôi cũng vậy, nuôi vịt để dành cho mấy bữa giỗ, Tết, hay có dịp gì cần tới. Người miền Tây quen xoay xở sao thì vịt cũng rành y vậy. Đàn vịt nhà ngoại hay tha lá chuối khô, chất đầy trong bụi chuối rậm để làm ổ. Ăn trứng luộc, trứng chiên riết cũng ngán, cỡ chừng 28 ngày sau đã thấy mấy con vịt con vàng khè, lông tơ bông xù, lúp xúp chạy theo mẹ ra ao tập bơi.</p> <p>Má tôi cũng nuôi vịt, vừa để đỡ tốn tiền chợ, vừa kiếm thêm chút đỉnh. Nhưng vịt nhà má đâu có kịp đẻ trứng. Mập mập một chút là má bắt đem ra chợ liền. Má bỏ vô hai cái giỏ đan bằng lát chắc nịch, mỗi bên ba con. Vịt nằm chồng lên nhau, im ru, chỉ ló cái đầu ra ngoài, mắt tròn xoe, coi bộ như đã chịu số phận sắp bị làm thịt, vặt lông. Mấy con không bị đem đi chợ thì cũng sớm muộn có mặt trên mâm cơm nhà tôi.</p> <div class="full-width"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d1.webp" /> <p class="image-caption">Đen nhủi. Ảnh: Alberto Prieto.</p> </div> <p>Hồi nhỏ, một trong mấy việc tôi phải làm là cho vịt ăn ngày hai bận. Nhìn tụi nó bu lại ăn lấy ăn để, rồi ung dung lạch bạch đi chỗ khác, um sùm như cái hội chợ. Thức ăn thì có bèo tấm, hoặc rau muống bằm nhỏ trộn với cám gạo và nước. Nhưng món tụi nó mê nhất là ốc gạo. Ăn lẹ tới mức ốc chưa kịp sinh sôi trong cái ao má tôi vừa vớt về đã hết sạch. Không được thả vịt rong ngoài sân, vì hễ đi ngang cái gì là mổ lia lịa cái đó. Thỉnh thoảng, ba tôi còn ra ruộng lúa bắt thêm ốc đem về cho vịt. Gặp ốc là tụi nó giành nhau, ăn được bao nhiêu cũng không chừa. Ăn no nê rồi, cả bầy lại nằm dài dưới bụi chuối bên mé ao. Nước ao trong veo, tôm cá côn trùng không còn dụ được tụi nó nữa.</p> <h3>Vịt chầu ông bà</h3> <p>Má tôi đâu có thương vịt gì cho cam, nhưng mỗi lần làm thịt thì má cũng có cái lệ riêng. Má vuốt cái đầu nó, nói nhỏ: “Thôi, ráng đầu thai sang kiếp khác nghe con.” Rồi má nhổ mớ lông nhỏ ngay cổ, sát dưới cái đầu, chừa ra một chỗ trống. Ở đó má khứa nhẹ bằng cây dao làm thịt, cây dao má lúc nào cũng mài bén ngót sau mỗi lần xong việc.</p> <p>Má khứa xong, hứng tiết chảy vô cái chén sứ trắng có rải sẵn ít nếp. Khi giọt cuối cùng nhiễu xuống, má bưng con vịt qua nồi nước sôi mà tôi được giao canh sẵn. Cái đầu vô hồn của nó lắc qua lắc lại, lòng thòng trên thân lông trắng đục.</p> <p>Tôi thấy tội lắm. Con vịt mình nuôi, ngày nào cũng chăm mấy tháng trời, nay tận mắt nhìn bị mần thịt. Tôi nhớ rõ từng con hồi còn bé xíu, lông vàng óng, lăng xăng chạy lại mỗi khi thấy tôi bưng thau đồ ăn trên tay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d9.webp" /></p> <p class="image-caption">Ảnh: Alberto Prieto.</p> <p>Mấy lúc đó tôi với má im ru. Cái gì cũng thiếu nên chẳng có gì bỏ phí, từng phần của con vịt đều được tận dụng: nào tim, mề, gan, ruột… cho tới lông, đầu, chân, và dĩ nhiên cả huyết. Lông vịt thì đem phơi nắng, rồi bỏ vô bịch nilông để dành bán cho mấy người ve chai. Họ thường chạy xe đạp cọc cạch dọc theo xóm, gần như lúc nào cũng ngay giờ trưa, khi cả nhà đang nằm võng lim dim. Vừa đạp vừa rao: “Ai ve chai, lông vịt bán hông?”</p> <h3>Vịt mần thịt</h3> <p>Mỗi năm, khi mai vàng nở trước sân, má lại nấu nồi thịt ba rọi kho hột vịt. Phải chờ tới Tết cả nhà mới được ăn món này. Má hay nói: “Vậy mới ngon. Ăn quài thì biết chờ gì nữa.” Má luộc hột vịt cho chín, rồi kho chung với thịt ba rọi bằng nước dừa. Kho riết, nước dừa sánh lại, óng ánh vàng nhẹ, thấm vô trứng vô thịt. Hột vịt thì giòn giòn, còn thịt thì mềm tới mức rục rã.</p> <p>Ngoài món đặc biệt mỗi năm chỉ có một lần đó, má còn có thực đơn vịt không giống ai, chắc đầu bếp Michelin cũng khó nghĩ ra. Có bữa má nấu cà ri vịt, bỏ bột nghệ cho dậy màu, thêm cà rốt, khoai lang, chan ngập nước cốt dừa béo ngậy. Có bữa má kho vịt với nước màu dừa, nước mắm và cả đống gừng. Ăn vô cay nồng mùi gừng, ấm bụng dễ chịu. Bí quyết nằm ở chỗ gừng phải cắt hai kiểu: sợi thì nhai sần sật, thơm cay; bằm nhuyễn thì thấm vô thịt cho nhanh.</p> <p>Theo y học cổ truyền, thịt vịt có tính hàn, nên khi nấu thường bỏ thêm gừng cho ấm người, ăn vô thấy cân bằng hơn. Ngoại kể, hồi ngoại còn nhỏ đã quen mùi gừng từ mấy nồi vịt kho trong xóm, thành ra tới đời con cháu cũng cứ vậy mà theo. Ngoại dặn, gừng với tỏi phải xắt trên thớt gỗ mới dậy mùi. Tôi nhớ lời ngoại, đem bày lại cho chồng. Ảnh nghe xong thì khoái, bữa cơm nào trong bếp cũng phảng phất mùi tỏi gừng.</p> <p>Má hứng tiết vịt vô chén nếp sống, quậy cho đều rồi để cho mặt nếp se lại, sau đó luộc trong nồi đang sôi. Khi thì cháo, khi cà ri, có khi là món kho. Chín tới, miếng tiết đông lại như thạch, có màu nâu thẫm. Hột nếp lấm tấm bên trong, ăn dẻo dẻo, lại có vị ngọt nhẹ. Tới bữa, cả nhà ăn chung với thịt vịt, chấm nước mắm gừng.</p> <p>Thỉnh thoảng, má nấu cháo vịt đãi cả nhà. Mấy bữa đó, ai cũng luôn tay luôn chân. Má rượt con vịt mập nhất, làm thịt rồi chặt đôi, thả vô nồi nước sôi với gạo rang. Vịt vừa mềm, má vớt ra dĩa cho nguội, gỡ từng thớ thịt. Tôi với chị chạy ra vườn, chặt cây chuối non, hái thêm rau răm để làm gỏi. Thịt xé trộn vô, ăn kèm nồi cháo vịt nóng hổi, chấm chén nước mắm gừng. Tôi húp cạn tô cháo, bụng vẫn còn đói cồn cào, thầm ước mai má lại nấu nữa. Cả nhà cũng vậy.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d4.webp" /></p> <p class="image-caption">Vịt quay. Ảnh:&nbsp;Alberto Prieto.</p> <p>Tôi mê nhất là vịt quay, món má chỉ làm mỗi dịp giỗ nội. Má thường đem vịt ra lò gần nhà để quay. Tới bữa, phải chờ nhang trên bàn thờ tàn hết mới được ăn, cúng nội ăn trước. Nội cười hiền, bận cái áo nhung đỏ mận mà sinh thời nội chưa từng bận lần nào. Vịt quay da giòn rụm, vàng óng, thịt thơm lựng. Ăn một miếng lớn chưa đã thèm, tôi còn mút sạch đầu ngón tay. Mùi vịt lẩn quẩn trong nhà mấy bữa chưa hết.</p> <h3>Vịt ngoài chợ</h3> <p>Chợ quê lúc nào cũng náo nhiệt, trái cây rau củ ê hề, người mua kẻ bán chen lấn, tiếng rao hòa lẫn tiếng xe máy inh ỏi. Giữa chợ búa ồn ào, chỉ cần nghe tiếng vịt kêu oai oái là biết ngay đâu là sạp vịt. Vịt thì đủ loại: nuôi thả vườn cũng có, nuôi nhốt cũng có. Nào là vịt xiêm, vịt cỏ, vịt Bắc Kinh… muốn mua kiểu nào cũng có. Người ta bày con vịt đã mần sẵn, để nguyên lòng ruột, nằm trên cái mâm bự như lá sen khổng lồ. Ai thích vịt sống thì cứ lựa một con cho ưng bụng, đi chợ xong xuôi rồi quay lại lấy.</p> <p>Hồi còn ở một thân một mình, nửa con vịt cũng đủ tôi ăn trong hai ngày. Cả con thì chắc dư sức cầm cự lâu hơn, nhưng với cái khí trời nóng hầm hập, không có tủ lạnh thì nó sớm sình lên, nhớp nháp như con ếch dưới ao. Tôi thường nhờ cô bán vịt chặt giùm nửa con thành từng miếng nhỏ vừa ăn. Cô làm lẹ làng, xoẹt mấy đường kéo bén ngót như dao mổ. Hôm nào quên dặn, tôi lại phải lôi con dao để xó ra, chặt loạng choạng, miếng to miếng nhỏ.</p> <p>Để đỡ tốn công, tôi cũng kho vịt. Bắt chước má, tôi ướp thịt với nước màu dừa, nước mắm, dĩ nhiên không thể thiếu gừng. Xong xuôi, tôi đậy nắp để lửa riu riu, rồi lo chuyện khác. Chừng nghe trong nồi xèo xèo là biết vịt đã chín tới.</p> <h3>Vịt lộn</h3> <p>Ngay bên mấy cô bán vịt là mấy cô bán trứng. Rổ trứng đủ cỡ, đủ màu, chất cao ngồn ngộn, chờ mấy bà nội trợ kỹ tính ghé lựa. Trứng gà, trứng vịt, trứng cút… trứng mới đẻ cũng có, mà trứng có cồ cũng có. Mà trứng có cồ thì lúc nào cũng là trứng vịt với trứng cút.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d5.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d6.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Hột vịt lộn.&nbsp;Ảnh: Brandon Coleman.</p> <p>Hột vịt lộn từ xưa đã là món khoái khẩu. Người lớn kêu nó bổ lắm: nào sắt, nào canxi, thậm chí còn vitamin C gì đó nữa. Chưa thấy sách vở nào nói, mà thiên hạ cứ truyền miệng nhau từ đời này tới đời kia. Còn tụi nhỏ thì đơn giản lắm, ăn vì khoái, vì vui, đi chơi đêm nào không có thì thấy thiếu thiếu.</p> <p>Hồi cấp ba, tôi và đám bạn còn bày ra trò “thi ăn hột vịt lộn.” Ai xử được nhiều nhất thì thắng, phần thưởng chẳng có gì ngoài tiếng vỗ tay rần rần của cả đám, coi vậy chứ còn quý hơn lời khen của thầy cô, ba má. Có bữa thằng bạn tôi làm liền sáu trái, còn tôi lặc lè tới cái thứ hai là bỏ cuộc. Bữa đó tôi thề chắc một năm không dám đụng tới nữa. Ấy vậy mà mới một tuần sau, tôi lại ngồi bên quán cóc, húp hột vịt lộn chung với đám bạn như chưa từng có chuyện gì.</p> <p>Ăn hột vịt lộn cũng có “nghi thức” riêng. Trước hết, lấy muỗng gõ nhẹ đầu to, bóc cho hở một chút, húp cái thứ nước ngọt ngọt mằn mặn bên trong. Rồi tiếp tục lột vỏ, gặp tới lòng đỏ vàng chắc, xen mấy sợi gân máu đã chín. Xúc một muỗng, chấm vô chén muối tiêu chanh đâm ớt đỏ, kèm vài cọng rau răm. Vị béo bùi, giòn dai, lại thêm chua cay mặn ngọt hòa vô nhau; lá rau răm cay nồng, thơm hăng, ăn xong nóng cả người, thông cả mũi. Tới khi phần vịt non hiện ra, đôi mắt bé xíu như nhìn tôi trối chết, mà tôi cũng chỉ cười, rồi múc thêm miếng nữa. Xương nó đã thành, nhưng mềm rệu, nhai rốp là tan.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d77.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d88.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Một tiệm hột vịt lộn <a href="https://saigoneer.com/vn/food/17441-h%E1%BA%BBm-gems-ch%C3%A9n-c%C3%BAt-l%E1%BB%99n-s%E1%BB%91t-me-%E1%BB%9F-b%C3%A0n-c%E1%BB%9D-k%C3%AC-di%E1%BB%87u-gi%C3%BAp-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-s%C3%A0i-g%C3%B2n-qu%C3%AAn-v%E1%BA%ADn-xui" target="_blank">nổi tiếng ở Sài Gòn</a>. Ảnh: Cao Nhân.</p> <h3>Vịt ơi vịt</h3> <p>Vịt không chỉ có mặt trên mâm cơm mà còn len vô cả lời ăn tiếng nói hằng ngày. Má tôi thì khỏi nói, cả một kho thành ngữ dính tới vịt. Thời thằng em tôi chưa đẻ, ba tôi cứ buồn buồn vì quanh bạn bè ai cũng có con trai nối dõi, còn nhà mình chỉ toàn con gái. Mấy lúc tụi tôi chẳng giúp gì được mấy việc nặng nhọc của đàn ông, má lại cười khúc khích mà nói: “Nhà này toàn vịt trời không hà.”</p> <p>Hễ tôi lì, không chịu nghe lời, má lại than: “Y như nước đổ đầu vịt.” Sau này tôi mới biết bên tiếng Anh cũng có câu giống vậy, đại loại là “nước đổ lưng vịt.”&nbsp;Có khi tôi ngơ ngác không hiểu má nói gì, má lại lắc đầu: “Như vịt nghe sấm.”&nbsp;Làm việc gì chậm chạp, má liền hối: “Lẹ lên coi! Lạch bạch như vịt bầu.” Rồi để thúc sấp nhỏ ráng học hành cho có tương lai, má còn hù: “Không lo học, sau này đi chăn vịt ráng chịu nghen.”</p> <p>Nhưng chăn vịt đâu có dễ. Người ta phải lùa cả ngàn con, hết đồng này qua đồng khác, chỗ gặt xong còn sót lại cua, ốc, châu chấu, hạt lúa cho vịt ăn. Chiều xuống, mặt trời vừa tắt, người chăn lại gom bầy vịt về chỗ nghỉ. Chân họ lúc nào cũng lem luốc bùn đất, ngủ thì khi ngoài trời sao, khi may mắn có cái chòi ọp ẹp bên bầy vịt để canh chừng, sợ vịt lạc hay đổ bệnh. Vịt đi tới đâu đẻ tới đó, họ lại phải lượm trứng đem về. Cực khổ vậy mà tiền công không được bao nhiêu. Hiểu cảnh đó, anh em tôi đồng thanh tuyên bố: làm nông đã ngán, ai mà dám chăn vịt.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d3.webp" /></p> <p class="image-caption">Ảnh: Alberto Prieto.</p> <p>Quay lại chuyện ông chú dễ thương đã gợi nhắc tôi về quê nhà. Chú nói: “Chú sẽ còn về miền Tây nữa.” Nhưng lại thề: “Hột vịt lộn thì không bao giờ ăn nữa. Nhất định không.”</p> <p>Thấy tội cho trải nghiệm ẩm thực không vui của chú, tôi cười nói: “Tháng 12 vừa rồi, Taste Atlas có công bố danh sách mười món ăn đường phố kinh dị nhất. Hột vịt lộn đứng hạng nhì đó chú.”</p> <p>“Thấy chưa!” — ông chú khoái chí gật gù.</p> <p>Bất chợt, từ trên cao vọng lại tiếng quạc quạc liên hồi. Ngẩng lên, tôi thấy hai con ngỗng Ai Cập bay qua. Chắc chúng đang tìm đường về nhà, khi màn đêm sắp phủ kín bầu trời.</p> <p>Một nỗi nhớ bỗng dâng tràn. Tôi nhớ bầy vịt miền Tây tung tăng ngày nào. Và nhớ má thiệt nhiều.</p> <p>[Ảnh bìa: Bill Yeaton/<a href="https://photocontest.smithsonianmag.com/photocontest/detail/a-motorbike-full-of-happy-ducks-goes-for-a-ride-in-the-mekong-delta-area-of/" target="_blank">Smithsonian Magazine</a>]</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/ducks1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/ducks1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Hôm rồi, đi dạo quanh khu nhà, tôi gặp một ông chú trung niên người nước ngoài đang dắt chó cưng đi chơi. Tôi mon men bắt chuyện làm quen. Nghe tới hai tiếng “Việt Nam,” mắt chú sáng rỡ, chú cười rồi buột miệng: “Mekong Delta [Đồng bằng sông Cửu Long]. Vịt.”</em></p> <p>“Sao mà người ta nuôi quá trời vịt,” chú nói tiếp. “Giờ nghĩ lại trong đầu vẫn còn nghe tiếng cạp cạp.”</p> <div class="biggest"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d2.webp" /> <p class="image-caption">Cạp cạp. Ảnh: Alberto Prieto.</p> </div> <h3>Vịt thả vườn</h3> <p>Miền Tây sông rạch giăng giăng, ruộng lúa thì mênh mông, xóm làng lúc nào cũng rợp bóng cây. Vịt ở đây nhiều vô kể. Nhà nào cũng thả vài con trong sân. Ngoại tôi cũng vậy, nuôi vịt để dành cho mấy bữa giỗ, Tết, hay có dịp gì cần tới. Người miền Tây quen xoay xở sao thì vịt cũng rành y vậy. Đàn vịt nhà ngoại hay tha lá chuối khô, chất đầy trong bụi chuối rậm để làm ổ. Ăn trứng luộc, trứng chiên riết cũng ngán, cỡ chừng 28 ngày sau đã thấy mấy con vịt con vàng khè, lông tơ bông xù, lúp xúp chạy theo mẹ ra ao tập bơi.</p> <p>Má tôi cũng nuôi vịt, vừa để đỡ tốn tiền chợ, vừa kiếm thêm chút đỉnh. Nhưng vịt nhà má đâu có kịp đẻ trứng. Mập mập một chút là má bắt đem ra chợ liền. Má bỏ vô hai cái giỏ đan bằng lát chắc nịch, mỗi bên ba con. Vịt nằm chồng lên nhau, im ru, chỉ ló cái đầu ra ngoài, mắt tròn xoe, coi bộ như đã chịu số phận sắp bị làm thịt, vặt lông. Mấy con không bị đem đi chợ thì cũng sớm muộn có mặt trên mâm cơm nhà tôi.</p> <div class="full-width"><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d1.webp" /> <p class="image-caption">Đen nhủi. Ảnh: Alberto Prieto.</p> </div> <p>Hồi nhỏ, một trong mấy việc tôi phải làm là cho vịt ăn ngày hai bận. Nhìn tụi nó bu lại ăn lấy ăn để, rồi ung dung lạch bạch đi chỗ khác, um sùm như cái hội chợ. Thức ăn thì có bèo tấm, hoặc rau muống bằm nhỏ trộn với cám gạo và nước. Nhưng món tụi nó mê nhất là ốc gạo. Ăn lẹ tới mức ốc chưa kịp sinh sôi trong cái ao má tôi vừa vớt về đã hết sạch. Không được thả vịt rong ngoài sân, vì hễ đi ngang cái gì là mổ lia lịa cái đó. Thỉnh thoảng, ba tôi còn ra ruộng lúa bắt thêm ốc đem về cho vịt. Gặp ốc là tụi nó giành nhau, ăn được bao nhiêu cũng không chừa. Ăn no nê rồi, cả bầy lại nằm dài dưới bụi chuối bên mé ao. Nước ao trong veo, tôm cá côn trùng không còn dụ được tụi nó nữa.</p> <h3>Vịt chầu ông bà</h3> <p>Má tôi đâu có thương vịt gì cho cam, nhưng mỗi lần làm thịt thì má cũng có cái lệ riêng. Má vuốt cái đầu nó, nói nhỏ: “Thôi, ráng đầu thai sang kiếp khác nghe con.” Rồi má nhổ mớ lông nhỏ ngay cổ, sát dưới cái đầu, chừa ra một chỗ trống. Ở đó má khứa nhẹ bằng cây dao làm thịt, cây dao má lúc nào cũng mài bén ngót sau mỗi lần xong việc.</p> <p>Má khứa xong, hứng tiết chảy vô cái chén sứ trắng có rải sẵn ít nếp. Khi giọt cuối cùng nhiễu xuống, má bưng con vịt qua nồi nước sôi mà tôi được giao canh sẵn. Cái đầu vô hồn của nó lắc qua lắc lại, lòng thòng trên thân lông trắng đục.</p> <p>Tôi thấy tội lắm. Con vịt mình nuôi, ngày nào cũng chăm mấy tháng trời, nay tận mắt nhìn bị mần thịt. Tôi nhớ rõ từng con hồi còn bé xíu, lông vàng óng, lăng xăng chạy lại mỗi khi thấy tôi bưng thau đồ ăn trên tay.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d9.webp" /></p> <p class="image-caption">Ảnh: Alberto Prieto.</p> <p>Mấy lúc đó tôi với má im ru. Cái gì cũng thiếu nên chẳng có gì bỏ phí, từng phần của con vịt đều được tận dụng: nào tim, mề, gan, ruột… cho tới lông, đầu, chân, và dĩ nhiên cả huyết. Lông vịt thì đem phơi nắng, rồi bỏ vô bịch nilông để dành bán cho mấy người ve chai. Họ thường chạy xe đạp cọc cạch dọc theo xóm, gần như lúc nào cũng ngay giờ trưa, khi cả nhà đang nằm võng lim dim. Vừa đạp vừa rao: “Ai ve chai, lông vịt bán hông?”</p> <h3>Vịt mần thịt</h3> <p>Mỗi năm, khi mai vàng nở trước sân, má lại nấu nồi thịt ba rọi kho hột vịt. Phải chờ tới Tết cả nhà mới được ăn món này. Má hay nói: “Vậy mới ngon. Ăn quài thì biết chờ gì nữa.” Má luộc hột vịt cho chín, rồi kho chung với thịt ba rọi bằng nước dừa. Kho riết, nước dừa sánh lại, óng ánh vàng nhẹ, thấm vô trứng vô thịt. Hột vịt thì giòn giòn, còn thịt thì mềm tới mức rục rã.</p> <p>Ngoài món đặc biệt mỗi năm chỉ có một lần đó, má còn có thực đơn vịt không giống ai, chắc đầu bếp Michelin cũng khó nghĩ ra. Có bữa má nấu cà ri vịt, bỏ bột nghệ cho dậy màu, thêm cà rốt, khoai lang, chan ngập nước cốt dừa béo ngậy. Có bữa má kho vịt với nước màu dừa, nước mắm và cả đống gừng. Ăn vô cay nồng mùi gừng, ấm bụng dễ chịu. Bí quyết nằm ở chỗ gừng phải cắt hai kiểu: sợi thì nhai sần sật, thơm cay; bằm nhuyễn thì thấm vô thịt cho nhanh.</p> <p>Theo y học cổ truyền, thịt vịt có tính hàn, nên khi nấu thường bỏ thêm gừng cho ấm người, ăn vô thấy cân bằng hơn. Ngoại kể, hồi ngoại còn nhỏ đã quen mùi gừng từ mấy nồi vịt kho trong xóm, thành ra tới đời con cháu cũng cứ vậy mà theo. Ngoại dặn, gừng với tỏi phải xắt trên thớt gỗ mới dậy mùi. Tôi nhớ lời ngoại, đem bày lại cho chồng. Ảnh nghe xong thì khoái, bữa cơm nào trong bếp cũng phảng phất mùi tỏi gừng.</p> <p>Má hứng tiết vịt vô chén nếp sống, quậy cho đều rồi để cho mặt nếp se lại, sau đó luộc trong nồi đang sôi. Khi thì cháo, khi cà ri, có khi là món kho. Chín tới, miếng tiết đông lại như thạch, có màu nâu thẫm. Hột nếp lấm tấm bên trong, ăn dẻo dẻo, lại có vị ngọt nhẹ. Tới bữa, cả nhà ăn chung với thịt vịt, chấm nước mắm gừng.</p> <p>Thỉnh thoảng, má nấu cháo vịt đãi cả nhà. Mấy bữa đó, ai cũng luôn tay luôn chân. Má rượt con vịt mập nhất, làm thịt rồi chặt đôi, thả vô nồi nước sôi với gạo rang. Vịt vừa mềm, má vớt ra dĩa cho nguội, gỡ từng thớ thịt. Tôi với chị chạy ra vườn, chặt cây chuối non, hái thêm rau răm để làm gỏi. Thịt xé trộn vô, ăn kèm nồi cháo vịt nóng hổi, chấm chén nước mắm gừng. Tôi húp cạn tô cháo, bụng vẫn còn đói cồn cào, thầm ước mai má lại nấu nữa. Cả nhà cũng vậy.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d4.webp" /></p> <p class="image-caption">Vịt quay. Ảnh:&nbsp;Alberto Prieto.</p> <p>Tôi mê nhất là vịt quay, món má chỉ làm mỗi dịp giỗ nội. Má thường đem vịt ra lò gần nhà để quay. Tới bữa, phải chờ nhang trên bàn thờ tàn hết mới được ăn, cúng nội ăn trước. Nội cười hiền, bận cái áo nhung đỏ mận mà sinh thời nội chưa từng bận lần nào. Vịt quay da giòn rụm, vàng óng, thịt thơm lựng. Ăn một miếng lớn chưa đã thèm, tôi còn mút sạch đầu ngón tay. Mùi vịt lẩn quẩn trong nhà mấy bữa chưa hết.</p> <h3>Vịt ngoài chợ</h3> <p>Chợ quê lúc nào cũng náo nhiệt, trái cây rau củ ê hề, người mua kẻ bán chen lấn, tiếng rao hòa lẫn tiếng xe máy inh ỏi. Giữa chợ búa ồn ào, chỉ cần nghe tiếng vịt kêu oai oái là biết ngay đâu là sạp vịt. Vịt thì đủ loại: nuôi thả vườn cũng có, nuôi nhốt cũng có. Nào là vịt xiêm, vịt cỏ, vịt Bắc Kinh… muốn mua kiểu nào cũng có. Người ta bày con vịt đã mần sẵn, để nguyên lòng ruột, nằm trên cái mâm bự như lá sen khổng lồ. Ai thích vịt sống thì cứ lựa một con cho ưng bụng, đi chợ xong xuôi rồi quay lại lấy.</p> <p>Hồi còn ở một thân một mình, nửa con vịt cũng đủ tôi ăn trong hai ngày. Cả con thì chắc dư sức cầm cự lâu hơn, nhưng với cái khí trời nóng hầm hập, không có tủ lạnh thì nó sớm sình lên, nhớp nháp như con ếch dưới ao. Tôi thường nhờ cô bán vịt chặt giùm nửa con thành từng miếng nhỏ vừa ăn. Cô làm lẹ làng, xoẹt mấy đường kéo bén ngót như dao mổ. Hôm nào quên dặn, tôi lại phải lôi con dao để xó ra, chặt loạng choạng, miếng to miếng nhỏ.</p> <p>Để đỡ tốn công, tôi cũng kho vịt. Bắt chước má, tôi ướp thịt với nước màu dừa, nước mắm, dĩ nhiên không thể thiếu gừng. Xong xuôi, tôi đậy nắp để lửa riu riu, rồi lo chuyện khác. Chừng nghe trong nồi xèo xèo là biết vịt đã chín tới.</p> <h3>Vịt lộn</h3> <p>Ngay bên mấy cô bán vịt là mấy cô bán trứng. Rổ trứng đủ cỡ, đủ màu, chất cao ngồn ngộn, chờ mấy bà nội trợ kỹ tính ghé lựa. Trứng gà, trứng vịt, trứng cút… trứng mới đẻ cũng có, mà trứng có cồ cũng có. Mà trứng có cồ thì lúc nào cũng là trứng vịt với trứng cút.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d5.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d6.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Hột vịt lộn.&nbsp;Ảnh: Brandon Coleman.</p> <p>Hột vịt lộn từ xưa đã là món khoái khẩu. Người lớn kêu nó bổ lắm: nào sắt, nào canxi, thậm chí còn vitamin C gì đó nữa. Chưa thấy sách vở nào nói, mà thiên hạ cứ truyền miệng nhau từ đời này tới đời kia. Còn tụi nhỏ thì đơn giản lắm, ăn vì khoái, vì vui, đi chơi đêm nào không có thì thấy thiếu thiếu.</p> <p>Hồi cấp ba, tôi và đám bạn còn bày ra trò “thi ăn hột vịt lộn.” Ai xử được nhiều nhất thì thắng, phần thưởng chẳng có gì ngoài tiếng vỗ tay rần rần của cả đám, coi vậy chứ còn quý hơn lời khen của thầy cô, ba má. Có bữa thằng bạn tôi làm liền sáu trái, còn tôi lặc lè tới cái thứ hai là bỏ cuộc. Bữa đó tôi thề chắc một năm không dám đụng tới nữa. Ấy vậy mà mới một tuần sau, tôi lại ngồi bên quán cóc, húp hột vịt lộn chung với đám bạn như chưa từng có chuyện gì.</p> <p>Ăn hột vịt lộn cũng có “nghi thức” riêng. Trước hết, lấy muỗng gõ nhẹ đầu to, bóc cho hở một chút, húp cái thứ nước ngọt ngọt mằn mặn bên trong. Rồi tiếp tục lột vỏ, gặp tới lòng đỏ vàng chắc, xen mấy sợi gân máu đã chín. Xúc một muỗng, chấm vô chén muối tiêu chanh đâm ớt đỏ, kèm vài cọng rau răm. Vị béo bùi, giòn dai, lại thêm chua cay mặn ngọt hòa vô nhau; lá rau răm cay nồng, thơm hăng, ăn xong nóng cả người, thông cả mũi. Tới khi phần vịt non hiện ra, đôi mắt bé xíu như nhìn tôi trối chết, mà tôi cũng chỉ cười, rồi múc thêm miếng nữa. Xương nó đã thành, nhưng mềm rệu, nhai rốp là tan.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d77.webp" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d88.webp" /></div> </div> <p class="image-caption">Một tiệm hột vịt lộn <a href="https://saigoneer.com/vn/food/17441-h%E1%BA%BBm-gems-ch%C3%A9n-c%C3%BAt-l%E1%BB%99n-s%E1%BB%91t-me-%E1%BB%9F-b%C3%A0n-c%E1%BB%9D-k%C3%AC-di%E1%BB%87u-gi%C3%BAp-ng%C6%B0%E1%BB%9Di-s%C3%A0i-g%C3%B2n-qu%C3%AAn-v%E1%BA%ADn-xui" target="_blank">nổi tiếng ở Sài Gòn</a>. Ảnh: Cao Nhân.</p> <h3>Vịt ơi vịt</h3> <p>Vịt không chỉ có mặt trên mâm cơm mà còn len vô cả lời ăn tiếng nói hằng ngày. Má tôi thì khỏi nói, cả một kho thành ngữ dính tới vịt. Thời thằng em tôi chưa đẻ, ba tôi cứ buồn buồn vì quanh bạn bè ai cũng có con trai nối dõi, còn nhà mình chỉ toàn con gái. Mấy lúc tụi tôi chẳng giúp gì được mấy việc nặng nhọc của đàn ông, má lại cười khúc khích mà nói: “Nhà này toàn vịt trời không hà.”</p> <p>Hễ tôi lì, không chịu nghe lời, má lại than: “Y như nước đổ đầu vịt.” Sau này tôi mới biết bên tiếng Anh cũng có câu giống vậy, đại loại là “nước đổ lưng vịt.”&nbsp;Có khi tôi ngơ ngác không hiểu má nói gì, má lại lắc đầu: “Như vịt nghe sấm.”&nbsp;Làm việc gì chậm chạp, má liền hối: “Lẹ lên coi! Lạch bạch như vịt bầu.” Rồi để thúc sấp nhỏ ráng học hành cho có tương lai, má còn hù: “Không lo học, sau này đi chăn vịt ráng chịu nghen.”</p> <p>Nhưng chăn vịt đâu có dễ. Người ta phải lùa cả ngàn con, hết đồng này qua đồng khác, chỗ gặt xong còn sót lại cua, ốc, châu chấu, hạt lúa cho vịt ăn. Chiều xuống, mặt trời vừa tắt, người chăn lại gom bầy vịt về chỗ nghỉ. Chân họ lúc nào cũng lem luốc bùn đất, ngủ thì khi ngoài trời sao, khi may mắn có cái chòi ọp ẹp bên bầy vịt để canh chừng, sợ vịt lạc hay đổ bệnh. Vịt đi tới đâu đẻ tới đó, họ lại phải lượm trứng đem về. Cực khổ vậy mà tiền công không được bao nhiêu. Hiểu cảnh đó, anh em tôi đồng thanh tuyên bố: làm nông đã ngán, ai mà dám chăn vịt.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2023/02/24/d3.webp" /></p> <p class="image-caption">Ảnh: Alberto Prieto.</p> <p>Quay lại chuyện ông chú dễ thương đã gợi nhắc tôi về quê nhà. Chú nói: “Chú sẽ còn về miền Tây nữa.” Nhưng lại thề: “Hột vịt lộn thì không bao giờ ăn nữa. Nhất định không.”</p> <p>Thấy tội cho trải nghiệm ẩm thực không vui của chú, tôi cười nói: “Tháng 12 vừa rồi, Taste Atlas có công bố danh sách mười món ăn đường phố kinh dị nhất. Hột vịt lộn đứng hạng nhì đó chú.”</p> <p>“Thấy chưa!” — ông chú khoái chí gật gù.</p> <p>Bất chợt, từ trên cao vọng lại tiếng quạc quạc liên hồi. Ngẩng lên, tôi thấy hai con ngỗng Ai Cập bay qua. Chắc chúng đang tìm đường về nhà, khi màn đêm sắp phủ kín bầu trời.</p> <p>Một nỗi nhớ bỗng dâng tràn. Tôi nhớ bầy vịt miền Tây tung tăng ngày nào. Và nhớ má thiệt nhiều.</p> <p>[Ảnh bìa: Bill Yeaton/<a href="https://photocontest.smithsonianmag.com/photocontest/detail/a-motorbike-full-of-happy-ducks-goes-for-a-ride-in-the-mekong-delta-area-of/" target="_blank">Smithsonian Magazine</a>]</p></div> Phong cách làm đẹp của phụ nữ Việt Nam trên ảnh quảng cáo qua các thời kỳ 2025-08-06T12:01:00+07:00 2025-08-06T12:01:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/16751-phong-cách-làm-đẹp-của-phụ-nữ-việt-nam-trên-ảnh-quảng-cáo-qua-các-thời-kỳ Khanh Tran. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2018/06/1950s_ads_double.jpg" /></p> <p><em>Qua những trang bìa tạp chí cũ hay quảng cáo mỹ phẩm đăng trên báo xưa còn lưu giữ tới ngày nay, ta thấy được chân dung phụ nữ Việt Nam qua mỗi thời kỳ.</em></p> <p>&nbsp;</p> <h3><span id="docs-internal-guid-4c1f510c-7fff-c7f3-ba95-a58927545ffd">Truyền thống và Chủ nghĩa thực dân</span></h3> <p>Những hình ảnh đầu tiên của ngành công nghiệp mỹ phẩm nước ta xuất hiện từ hơn một thế kỷ trước, khi đất nước vẫn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp, đến những năm 1920. Ở thời kỳ này, các quảng cáo mỹ phẩm chưa thật sự hiện diện, phần vì chủ nghĩa bảo thủ xã hội bao trùm nước Pháp từ cuối những năm 1870 dưới sự dẫn dắt của chính quyền Tổng thống <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Patrice_de_MacMahon,_Duke_of_Magenta" target="_blank">Patrice de MacMahon</a>, phần vì tham vọng bành trướng của Thủ tướng <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/%C3%89mile_Loubet" target="_blank">Emile Loubet</a> đầu thế kỷ 20. Ngay từ câu <a href="http://www.richardsterling.me/c/saigon-adieu/lb34440/bardinets-saigon" target="_blank">khẩu hiệu bằng tiếng Latin</a> mà thực dân Pháp đặt cho Sài Gòn lúc bấy giờ — “Paulatim Crescam” hay “Từ từ ta gầy dựng” — đã phản ánh rõ cái nhìn của thực dân về thuộc địa: một vùng đất lạc hậu, xa lạ và kém phát triển.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/legacy/gT6C3e3.jpg" /></p> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Trái: Bìa tờ Exposition de Hanoi số tháng 11/1902. Ảnh: người dùng Flickr<a href="https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/9465847839/in/album-72157624897089232/" target="_blank"> manhhai</a>. Phải: Quảng cáo sản phẩm Creme Siamoise của hãng Lucien Berthet & Cie.<br /> Ảnh: Báo Phụ Nữ Tân Văn, qua<a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=HtCq19290509&e=-------vi-20--1--img-txIN------" target="_blank"> Thư viện Quốc gia Việt Nam.</a></p> <p>Một ví dụ cho giai đoạn này là hình bìa của <em>Exposition de Hanoi,</em> cuốn catalogue quảng bá sự kiện triển lãm thế giới cùng tên diễn ra từ tháng 11/1902 đến tháng 2/1903 tại Hà Nội. Trong hình là cách ăn mặc thường gặp của những người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ: sắc diện đơn giản không cầu kỳ, trên người mặc bộ áo ngũ thân. Đằng sau cô gái là dòng sông yên ả và rặng chuối xanh mướt, tất cả vẽ nên khung cảnh cuộc sống thôn quê quen thuộc của<a href="http://worldpopulationreview.com/countries/vietnam-population/" target="_blank">&nbsp;13 triệu người dân </a>Việt Nam đầu những năm 1900.</p> <p>Một hình ảnh khác là quảng cáo sản phẩm dưỡng da của thương hiệu Lucien Berthet & Cie, được in trong một số báo của tờ Phụ Nữ Tân Văn. Người sáng lập nhãn hàng đã tạo ra Crème Siamoise, một loại kem dưỡng có công dụng làm da trắng mịn không tì vết. Có thể suy luận được rằng, những người phụ nữ thuộc tầng lớp trung lưu ở Việt Nam lúc này ưa chuộng làn da trắng trẻo, mịn màng hơn bất cứ kiểu tô son điểm phấn cầu kỳ nào. Một điều cần nhấn mạnh đó là nước da “trắng như sứ” là một tiêu chuẩn cái đẹp vẫn luôn tồn tại ở Việt Nam cho đến ngày nay.</p> <p>Nước da trắng ngần đã được ưa chuộng từ thời phong kiến và xuất hiện nhiều trong thi ca Việt Nam ở giai đoạn này, như bài thơ “Khúc hát hái sen” (“Thái liên khúc”) của<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Chi_Lan" target="_blank"> Ngô Chi Lan</a>, một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông vào thế kỷ thứ 15:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">Liên hoa viễn cận hương,<br />Thái thái tổng sơn nương.<br />Mạc khiển phong xuy mấn,<br />Băng cơ nguyên tự hương.</div> <p style="text-align: center;">Dịch nghĩa:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">Hương sen thoang thoảng tỏa chung quanh,<br />Cô em ở chốn quê hái nơi này sang nơi khác<br ch="" ng="" c="" n="" gi="" th="" i="" l="" m="" t="" br="" />Vì riêng làn da trắng thôi đã tự mát mẻ.</div> <p>Trong nghiên cứu mang tên <a href="https://dukespace.lib.duke.edu/dspace/bitstream/handle/10161/7559/Elysia%20Pan,%20Beautiful%20White.pdf?sequence=1&isAllowed=y" target="_blank"><em>Beautiful White: an illumination of Asian skin-whitening culture</em> </a>(tạm dịch: Làn da trắng nõn: lý giải văn hóa dưỡng trắng da của người châu Á), học giả Elysia Pan đến từ trường đại học Duke University cho hay sự ưu ái dành cho làn da trắng trong văn hóa Châu Á có ý nghĩa về cả mặt xã hội lẫn thực tiễn.</p> <p>Tác giả Elysia liên hệ sắc da trắng với đặc điểm đời sống kinh tế - xã hội như sau: “Giai cấp thống trị thường ở trong nhà và có cuộc sống nhàn nhã, họ ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nên da không bị đen sạm. […] Người Trung Hoa cũng áp suy nghĩ này lên những người da trắng đặt chân tới đất nước của họ, góp phần hình thành cách nhìn nhận về văn minh phương Tây (Occidentalism) cũng như sự ngưỡng mộ dành cho ngoại hình của người phương Tây.”</p> <p>Tiếp đến là những năm 1930-1945, một giai đoạn mang tính cột mốc trong lịch sử Việt Nam.</p> <h3>Nét thanh lịch giữa bối cảnh rối ren toàn cầu</h3> <p>Khi cả thế giới bị cuốn vào những vấn đề vĩ mô như soạn thảo hiến pháp, danh tính quốc gia con người và Thế Chiến thứ Hai, không khó hiểu khi việc trang điểm cầu kỳ không còn được ưa chuộng nữa. Thế nhưng cũng cùng lúc đó, ở Việt Nam lại chứng kiến sự đổ bộ ồ ạt của những thương hiệu mỹ phẩm bên ngoài nước Pháp, cũng như những thương hiệu trong nước mà điển hình là<a href="https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/17360-g%E1%BA%B7p-di%E1%BB%87u-linh,-c%C3%B4-ngh%E1%BB%87-nh%C3%A2n-8-n%C4%83m-mi%E1%BB%87t-m%C3%A0i-kho%C3%A1c-%C3%A1o-da-cho-nh%E1%BB%AFng-quy%E1%BB%83n-s%C3%A1ch" target="_blank"> xà bông Cô Ba.</a> Theo <a href="http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k6542643z.r=voguesaigon%20saigon?rk=536483;2" target="_blank">một mẩu tin quảng cáo </a>in trên tờ Vogue của Pháp năm 1940, những tên tuổi đình đám như Elizabeth Arden cũng đã mở một cửa hiệu ở Sài Gòn trong giai đoạn này.</p> <p><span id="docs-internal-guid-d05fbec7-7fff-45b8-d6f0-efc8d43228ae">Mẩu tin viết: “Khi kết hợp với trang phục có màu xám đậm, xanh đậm hay đen, Elizabeth Arden khuyên bạn nên dùng cây son màu <em>Stop Red.</em>"&nbsp;</span>Chi tiết chứng tỏ những thiếu nữ Sài Gòn, lúc này, đã quen dùng màu son đỏ hiện đại, vốn là màu sắc mà từ những năm 1930 đổ về trước chỉ sử dụng cho nghệ sĩ hát tuồng.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/legacy/J5xz6q5.jpg" /></p> <p class="image-caption">Trái: Quảng cáo của Elizabeth Arden cho son Stop Red. Phải: Quảng cáo của Elizabeth Arden cho dòng sản phẩm dưỡng da Matin Au Soir. Nguồn ảnh: <a href="http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k6542643z.r=voguesaigon%20saigon?rk=536483;2" target="_blank">Thư viện Quốc gia Pháp.</a></p> <p><span id="docs-internal-guid-6080f03b-7fff-2b73-54d0-9f54e99da08b">Thế chiến ập đến, phụ nữ thế giới cũng quay về với những phương thức làm đẹp tối giản và ít cầu kỳ hơn. Sau năm 1940, thế trận tại Châu Âu và nhiều nơi khác đã khiến việc sở hữu mỹ phẩm trở nên vô cùng xa xỉ. Tình trạng này được nhắc đến trong cuốn sách<a href="https://www.amazon.com/Compacts-Cosmetics-Beauty-Victorian-Present/dp/1473822947" target="_blank"><em> Compacts and Cosmetics: Beauty from Victorian Times to the Present Day</em></a> (tạm dịch: Hộp phấn Trang điểm và Mỹ phẩm: Việc làm đẹp từ thời Victoria đến nay) của nhà sử học người Anh Madeleine Marsh.</span></p> <p>“Không có mấy quảng cáo mỹ phẩm được 'lên sóng' vào giai đoạn này, nếu có thì cũng chỉ là để rối rít xin lỗi công chúng,” tác giả Madeleine miêu tả thế lưỡng nan mà các nhãn hàng gặp phải vào thập niên năm 1940. “<a href="https://www.peggysage.com/fr-FR/" target="_blank">Peggy Sage</a>&nbsp;rất&nbsp;mong các sản phẩm sơn móng tay có thể sớm quay lại kệ hàng,” hay “Elizabeth Arden mong muốn được đồng hành với chị em trong thời chiến, nhưng salon của chúng tôi cũng bị 'cấm vận' như ai kia.”&nbsp;Ngay cả những người phụ nữ khá giả hơn cũng khó cầm được trên tay một món mỹ phẩm nào. Theo&nbsp;<a href="http://www.thedarnellcollection.com/2017/10/rouge-beauty-and-rationing-during-ww11.html" target="_blank">ghi chép</a>, thương hiệu Bourjois từng phải đính kèm trong&nbsp; hộp phấn má hồng của mình thông điệp ngắn sau: “Chúng tôi rất tiếc không thể tặng kèm miếng dặm phấn vì khan hiếm do chiến tranh.”</p> <p>Thiếu hụt các sản phẩm mới, nên dù có nhiều thay đổi trong thị hiếu và thẩm mỹ, chẳng hạn như sự nở rộ của kiến trúc Art Deco, thì các xu hướng làm đẹp tại Sài Gòn vẫn dậm chân tại chỗ, phần lớn vẫn bị ảnh hưởng bởi phong cách truyền thống.&nbsp;Tuy nhiên trong hai thập kỉ tiếp theo, hành trình làm đẹp của phụ nữ hai miền Nam Bắc sẽ rẽ sang hai hướng tách biệt hoàn toàn vì công cuộc thống nhất đất nước.</p> <h3>Xu hướng làm đẹp trong hai mươi năm chia cắt</h3> <p><span id="docs-internal-guid-dea366d3-7fff-db57-d957-f5cba00f956a"><span face="Arial">Sau khi đất nước bị chia cắt vào năm 1954, cuộc sống của phụ nữ Việt ở hai miền có nhiều sự khác biệt — miền Bắc mộc mạc, bình dị và miền Nam phồn hoa, rực rỡ.</span></span></p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/legacy/e3i0eeL.jpg" /></p> <p class="image-caption">Trái: Quảng cáo thuốc lá Cotab. Nguồn ảnh:<a href="https://www.pinterest.com/pin/331507222556468486/?lp=true" target="_blank"> Pinterest</a>. Phải: Bìa báo Thanh Xuân năm 1951 tại Sài Gòn. Nguồn ảnh: <a href="http://www.thanhniennews.com/arts-culture/these-7-classic-magazine-covers-give-a-rare-glimpse-of-springtime-saigon-in-1950s-39037.html" target="_blank"><em>Thanh Niên</em></a>.</p> <p>Sự khác biệt này được thể hiện vô cùng rõ nét trong các mẫu quảng cáo tại Sài Gòn lúc bấy giờ. Bên cạnh phần nội dung được lấy trực tiếp từ bản gốc của phương Tây, các mẫu quảng cáo như thế này sử dụng hình ảnh người Việt Nam, tập trung vào hình tượng những cô gái thanh lịch, nữ tính. Một ví dụ là quảng cáo <a href="https://www.pinterest.com/pin/331507222556468486/?lp=true" target="_blank">thuốc lá Cotab</a> khi khai thác hình tượng người phụ nữ tự tin với mái tóc uốn phồng và cặp lông mày đậm màu theo phong cách của nữ minh tinh <a href="http://www.instyle.com/beauty/eyes/history-eyebrows#599561" target="_blank">Marlene Dietrich.</a> Nhân vật trong tranh cũng gợi nhớ tới hình ảnh<a href="https://saigoneer.com/saigon-arts-culture/arts-culture-categories/13141-the-unsolved-riddle-behind-c%C3%B4-m%C3%ADa,-vietnam-s-sugarcane-juice-muse" target="_blank"> “cô Mía”</a> trên những chiếc xe bán nước mía của Sài Gòn. Đây có thể nói là vẻ đẹp đại diện cho phong cách Sài Gòn những năm 50.</p> <p>Một mẩu quảng cáo khác in trên bìa tạp chí <a href="http://www.thanhniennews.com/arts-culture/these-7-classic-magazine-covers-give-a-rare-glimpse-of-springtime-saigon-in-1950s-39037.html" target="_blank"><em>Việt Thanh Xuân</em></a> xuất bản năm 1951, cũng cho thấy rằng ngoài các xu hướng làm đẹp trên, son môi đỏ tươi và sắc má hồng khỏe khoắn cũng là trào lưu&nbsp; được ưa chuộng bởi những cô gái thành thị.</p> <p>Có thể nói, thị hiếu làm đẹp của Sài Gòn lúc bấy giờ phản ánh rõ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây thông qua điện ảnh quốc tế khi <a href="https://saigoneer.com/saigon-buildings/2630-the-cinemas-of-old-saigon" target="_blank">hàng loạt rạp chiếu bóng</a> mở cửa như rạp Rex, Long Vân hay Dakao. Những bộ phim Hollywood thập niên 1950 được người Sài Gòn đón nhận nồng nhiệt. Các nhà sử học nhìn nhận thập kỷ này là giai đoạn phục hồi quan trọng sau sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh thế giới, cũng là lúc phụ nữ khắp nơi thử nghiệm với các sản phẩm làm đẹp nhiều hơn bao giờ hết.</p> <p>Trong sách của mình, Madeleine nói về sự bùng nổ của xu hướng trang điểm “lồng lộn” của thế hệ<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_h%E1%BB%87_b%C3%B9ng_n%E1%BB%95_tr%E1%BA%BB_s%C6%A1_sinh" target="_blank"><em> baby boomers</em> </a>tại Mỹ: “Vào thời chiến, phụ nữ phải làm công việc của đàn ông và mặc những bộ trang phục nam tính. Khi đàn ông quay về từ chiến trường, phụ nữ về lại với bếp núc, ‘thời bao cấp’ hậu chiến kết thúc, họ hân hoan dắt tay nhau vào giường, cơn sốt sinh nở cứ thế mà bùng nổ.”</p> <p>Nếu Sài Gòn của những năm 1950 mang vẻ đẹp thanh lịch, thì hai thập kỷ sau đó là giai đoạn mà phụ nữ trẻ tạm bỏ qua những nguyên tắc làm đẹp bất hủ, và hướng đến những phá cách ấn tượng. Các cô gái ngày càng chú trọng đến mái tóc của mình để trở nên “sành điệu” hơn. Khác với mái tóc phồng to từng là xu hướng của thập kỷ trước, những năm 1960 lại “phát cuồng” với mái tóc búi kiểu sau đầu, như trong một mẫu quảng nước giải khát Bireley’s được đăng trong tạp chí <em><a href="https://saigoneer.com/old-saigon/old-saigon-categories/3963-photos-inside-the-pages-of-saigon-roundup" target="_blank">Saigon Roundup</a></em> dành riêng cho khách du lịch đến thăm thành phố.</p> <p>Mặt khác, rất ít quảng cáo mỹ phẩm xuất hiện tại miền Bắc. Nguyên nhân có thể là do những lý tưởng và đường lối cách mạng đang chiếm trọn bầu không khí miền Bắc lúc này. Một bài viết năm 1961 trên <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/My_Fair_Princess" target="_blank"><em>Báo Nhân Dân</em> </a>có tựa đề “Về việc Phát huy Tiềm năng và Phát triển Nhận thức Văn hóa của Phụ nữ” là một ví dụ điển hình cho lời kêu gọi phụ nữ tham gia phong trào thống nhất đất nước. Điều này tạo nên những khác biệt lớn giữa cuộc sống của phụ nữ miền Bắc và miền Nam.</p> <p><span id="docs-internal-guid-f9e9c20e-7fff-a337-2918-92248dc1bc0d">Tuy nhiên, các xu thế làm không phải là không tồn tại ở miền Bắc. Giáo sư lịch sử Liam Kelly của trường Đại học Hawaii tại Manoa cung cấp <a href="https://leminhkhai.wordpress.com/2012/07/24/competing-representations-of-the-nation-in-1970s-vietnam/" target="_blank">bằng chứng</a>:</span></p> <p>“Nhiều trang bìa tạp chí có in hình những người phụ nữ trẻ, nhưng cách thức thể hiện thì rất khác,” Liam so sánh cách phụ nữ hai miền của Việt Nam được mô tả trong giai đoạn chiến tranh. “Trái với những hình ảnh ngoài Bắc, tạp chí của miền Nam Việt Nam lại mang lại cảm giác như thể không hề có cuộc chiến nào đang xảy ra. Bạn cũng không thấy bất kỳ hình ảnh nào của người lao động.”&nbsp;</p> <h3>Những năm chiến tranh trước giai đoạn Đổi Mới</h3> <div class="smaller" style="text-align: center;"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/10/28/vietnamesebeauty/russia13.webp" /></div> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Mẫu quảng cáo ba kiểu tóc phổ biến tại Liên bang Xô Viết in trên một số Báo Phụ Nữ Sài Gòn năm 1985. <br />Ảnh: Tâm Minh, thủ thư tại Thư viện Khoa học Tổng hợp, Sài Gòn.</p> <p>Từ sự kiện thống nhất năm 1975 đến tới loạt cải cách kinh tế quan trọng năm 1986, Việt Nam đã tăng tốc để trở thành trung tâm sản xuất hàng may mặc. Đất nước bước vào công cuộc công nghiệp hoá, phụ nữ Việt Nam quay trở về với vẻ ngoài mộc mạc và tự nhiên hơn.</p> <p>Trong những năm dẫn đến cải cách kinh tế, các ấn phẩm báo chí hướng đến đối tượng đọc giả nữ như <em>Báo Phụ Nữ Sài Gòn</em>&nbsp;đã giới thiệu “trend” mới nhất từ nền công nghiệp làm đẹp của Liên Xô. Trong mục tư vấn của số báo in vào năm 1985 được lưu giữ tại Thư viện Khoa học Tổng hợp ở Sài Gòn, có một đoạn được ban biên tập gửi gắm đến độc giả: “Vài lời khuyên về mái tóc của bạn.”</p> <p>Xuất hiện trong phần quảng cáo là hình ảnh ba cô gái người Nga với mái tóc uốn lọn cầu kỳ và phần mái dày vô cùng phổ biến vào những năm 80. Dù hầu hết phụ nữ Việt Nam trong thập niên này chủ yếu ăn vận rất đơn sơ, những ai có điều kiện và thời gian đều muốn thử nghiệm với những bộ tóc kiểu phá cách, thức thời thế này.</p> <p>Và rồi, bước ngoặt của kinh tế đất nước xảy ra. Chính sách Đổi Mới năm 1986 đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển và hưởng ứng những xu hướng làm đẹp trong và ngoài nước.</p> <h3>Làn sóng văn hóa Hồng Kông, <em>Tân dòng sông ly biệt</em> và những tông màu trầm</h3> <p>Tua nhanh đến thập niên 90, dòng chảy văn hóa lại một lần nữa chuyển dịch. Việt Nam lúc này tiêu thụ âm nhạc, phim ảnh và các văn hóa phẩm ở mức độ mà chỉ mười năm trước vẫn là điều không tưởng. Song song đó tại Trung Quốc, một làn sóng văn hóa đại chúng đang lan tỏa mạnh mẽ trong cả âm nhạc lẫn phim ảnh; Hoàn Châu Cách Cách (1998-1999), bộ phim dài tập liên tục được chiếu đi chiếu lại trên màn ảnh nhỏ và Tân Dòng sông Ly biệt (2001) là hai trong số những ví dụ tiêu biểu của làn sóng này trong giai đoạn chuyển giao của thiên niên kỷ.&nbsp;</p> <p>Một ví dụ cho sức ảnh hưởng của nền văn hóa nói tiếng Trung lên thời trang Việt Nam có thể được thấy trong một mẫu quảng cáo váy cưới in trên Báo Phụ Nữ Sài Gòn số tháng 1 năm 1996. Những mái tóc uốn lọn bồng bềnh hay kiểu tóc phồng to đã hết thời, nhường chỗ cho làn tóc duỗi thẳng óng mượt và sành điệu, thường đi kèm với bộ mái lấy cảm hứng từ ngôi sao<a href="https://i.pinimg.com/originals/81/9a/b5/819ab5797c272b99482ea9aced04b357.jpg" target="_blank"> Châu Huệ Mẫn.</a></p> <p><span id="docs-internal-guid-96999c73-7fff-8e0e-fb09-93209c49283e">Một thay đổi nhỏ khác trong xu hướng làm đẹp của phụ nữ Việt Nam trong thập niên này là sự xuất hiện của những màu son trầm hoặc nude. Một chuyên mục gợi ý phối màu in trong<em> Báo Phụ Nữ Sài Gòn</em> có tựa đề như sau: “Khuynh hướng trang điểm hiện nay: nâu sô-cô-la!” </span></p> <p>Màu sắc là yếu tố quan trọng không chỉ với phụ nữ Việt Nam mà còn đối với bất cứ tín đồ làm đẹp nào. Bước sang thế kỷ mới, các chuyên gia làm đẹp trên thế giới đã tạo ra những màu son tôn lên sắc môi tự nhiên, như Lisa Eldridge nhận định trong sách<a href="https://www.amazon.com/Face-Paint-Makeup-Lisa-Eldridge/dp/1419717960" target="_blank"><em> Face Paint: The Story of Makeup</em></a> (tạm dịch: Họa Mặt: Câu chuyện trang điểm).</p> <p>“Ở thời điểm đó, phong cách trang điểm vẫn khá lòe loẹt với những lớp phấn tạo khối dày cộm thiếu tinh tế và đôi môi đỏ theo xu hướng những năm 80. Bobbi Brown lại chuộng những phong cách khỏe khoắn và tự nhiên hơn, khác hẳn với các sản phẩm được bán trên thị trường. ”—&nbsp; Cô viết dựa trên kinh nghiệm làm việc trong ngành công nghiệp làm đẹp. Nếu như xu hướng trước đó là những gam màu táo bạo, thì đến thập niên 90 và đầu những năm 2000, phụ nữ Việt Nam và thế giới lại thích lớp trang điểm tông nude tự nhiên, để hoàn thiện vẻ đẹp vốn có của gương mặt mình.&nbsp;</p> <p>Trong một chuyên mục về màu son nâu sô-cô-la, Báo Phụ Nữ đã “mách” cho độc giả nữ những thương hiệu có màu son “trendy” này: “Maybelline (Mỹ): son bóng 75.000VNĐ/cây; son bột 83.000VNĐ/cây." Nhờ những chuyên mục đề xuất thế này, phụ nữ trong nước có một phương thức để tiếp cận những loại mỹ mới dễ dàng hơn, mở ra một thời đại mới cho nền công nghiệp làm đẹp ở Việt Nam.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/legacy/mUZQ8pU.jpg" /></p> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Trái: Quảng cáo cửa hàng áo cưới. Phải: Chuyên mục chia sẻ lời khuyên về những xu hướng màu sắc mới nhất của thập niên 1990. <br />Ảnh: Tâm Minh, thủ thư tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM.&nbsp;</p> <p>[Ảnh bìa trái: <a href="https://www.pinterest.com/pin/331507222556468486/?lp=true" target="_blank">Pinterest</a>; ảnh bìa phải: <a href="http://www.thanhniennews.com/arts-culture/these-7-classic-magazine-covers-give-a-rare-glimpse-of-springtime-saigon-in-1950s-39037.html" target="_blank">Thanh Niên</a>.]</p> <hr /> <div id="_mcePaste" class="mcePaste" data-mce-bogus="1" style="position: absolute; left: 0px; top: 2491px; width: 1px; height: 1px; overflow: hidden;"><span id="docs-internal-guid-e62534b7-7fff-2171-feb5-6304bb0aa6f9"> <p dir="ltr" style="line-height: 1.2; margin-top: 0pt; margin-bottom: 0pt;"><span style="font-size: 11pt; font-family: Arial; background-color: transparent; font-variant-numeric: normal; font-variant-east-asian: normal; vertical-align: baseline; white-space: pre-wrap;">Nước da trắng ngần đã được ưa chuộng từ thời phong kiến và xuất hiện nhiều trong thi ca Việt Nam ở giai đoạn này, như bài thơ “Khúc hát hái sen” (“Thái liên khúc”) của Ngô Chi Lan, một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông vào thế kỷ thứ 15:</span></p> <p><span style="font-size: 11pt; font-family: Arial; background-color: transparent; font-variant-numeric: normal; font-variant-east-asian: normal; vertical-align: baseline; white-space: pre-wrap;"></span></p> </span></div></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/2018/06/1950s_ads_double.jpg" /></p> <p><em>Qua những trang bìa tạp chí cũ hay quảng cáo mỹ phẩm đăng trên báo xưa còn lưu giữ tới ngày nay, ta thấy được chân dung phụ nữ Việt Nam qua mỗi thời kỳ.</em></p> <p>&nbsp;</p> <h3><span id="docs-internal-guid-4c1f510c-7fff-c7f3-ba95-a58927545ffd">Truyền thống và Chủ nghĩa thực dân</span></h3> <p>Những hình ảnh đầu tiên của ngành công nghiệp mỹ phẩm nước ta xuất hiện từ hơn một thế kỷ trước, khi đất nước vẫn chịu sự đô hộ của thực dân Pháp, đến những năm 1920. Ở thời kỳ này, các quảng cáo mỹ phẩm chưa thật sự hiện diện, phần vì chủ nghĩa bảo thủ xã hội bao trùm nước Pháp từ cuối những năm 1870 dưới sự dẫn dắt của chính quyền Tổng thống <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/Patrice_de_MacMahon,_Duke_of_Magenta" target="_blank">Patrice de MacMahon</a>, phần vì tham vọng bành trướng của Thủ tướng <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/%C3%89mile_Loubet" target="_blank">Emile Loubet</a> đầu thế kỷ 20. Ngay từ câu <a href="http://www.richardsterling.me/c/saigon-adieu/lb34440/bardinets-saigon" target="_blank">khẩu hiệu bằng tiếng Latin</a> mà thực dân Pháp đặt cho Sài Gòn lúc bấy giờ — “Paulatim Crescam” hay “Từ từ ta gầy dựng” — đã phản ánh rõ cái nhìn của thực dân về thuộc địa: một vùng đất lạc hậu, xa lạ và kém phát triển.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/legacy/gT6C3e3.jpg" /></p> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Trái: Bìa tờ Exposition de Hanoi số tháng 11/1902. Ảnh: người dùng Flickr<a href="https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/9465847839/in/album-72157624897089232/" target="_blank"> manhhai</a>. Phải: Quảng cáo sản phẩm Creme Siamoise của hãng Lucien Berthet & Cie.<br /> Ảnh: Báo Phụ Nữ Tân Văn, qua<a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=HtCq19290509&e=-------vi-20--1--img-txIN------" target="_blank"> Thư viện Quốc gia Việt Nam.</a></p> <p>Một ví dụ cho giai đoạn này là hình bìa của <em>Exposition de Hanoi,</em> cuốn catalogue quảng bá sự kiện triển lãm thế giới cùng tên diễn ra từ tháng 11/1902 đến tháng 2/1903 tại Hà Nội. Trong hình là cách ăn mặc thường gặp của những người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ: sắc diện đơn giản không cầu kỳ, trên người mặc bộ áo ngũ thân. Đằng sau cô gái là dòng sông yên ả và rặng chuối xanh mướt, tất cả vẽ nên khung cảnh cuộc sống thôn quê quen thuộc của<a href="http://worldpopulationreview.com/countries/vietnam-population/" target="_blank">&nbsp;13 triệu người dân </a>Việt Nam đầu những năm 1900.</p> <p>Một hình ảnh khác là quảng cáo sản phẩm dưỡng da của thương hiệu Lucien Berthet & Cie, được in trong một số báo của tờ Phụ Nữ Tân Văn. Người sáng lập nhãn hàng đã tạo ra Crème Siamoise, một loại kem dưỡng có công dụng làm da trắng mịn không tì vết. Có thể suy luận được rằng, những người phụ nữ thuộc tầng lớp trung lưu ở Việt Nam lúc này ưa chuộng làn da trắng trẻo, mịn màng hơn bất cứ kiểu tô son điểm phấn cầu kỳ nào. Một điều cần nhấn mạnh đó là nước da “trắng như sứ” là một tiêu chuẩn cái đẹp vẫn luôn tồn tại ở Việt Nam cho đến ngày nay.</p> <p>Nước da trắng ngần đã được ưa chuộng từ thời phong kiến và xuất hiện nhiều trong thi ca Việt Nam ở giai đoạn này, như bài thơ “Khúc hát hái sen” (“Thái liên khúc”) của<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C3%B4_Chi_Lan" target="_blank"> Ngô Chi Lan</a>, một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông vào thế kỷ thứ 15:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">Liên hoa viễn cận hương,<br />Thái thái tổng sơn nương.<br />Mạc khiển phong xuy mấn,<br />Băng cơ nguyên tự hương.</div> <p style="text-align: center;">Dịch nghĩa:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">Hương sen thoang thoảng tỏa chung quanh,<br />Cô em ở chốn quê hái nơi này sang nơi khác<br ch="" ng="" c="" n="" gi="" th="" i="" l="" m="" t="" br="" />Vì riêng làn da trắng thôi đã tự mát mẻ.</div> <p>Trong nghiên cứu mang tên <a href="https://dukespace.lib.duke.edu/dspace/bitstream/handle/10161/7559/Elysia%20Pan,%20Beautiful%20White.pdf?sequence=1&isAllowed=y" target="_blank"><em>Beautiful White: an illumination of Asian skin-whitening culture</em> </a>(tạm dịch: Làn da trắng nõn: lý giải văn hóa dưỡng trắng da của người châu Á), học giả Elysia Pan đến từ trường đại học Duke University cho hay sự ưu ái dành cho làn da trắng trong văn hóa Châu Á có ý nghĩa về cả mặt xã hội lẫn thực tiễn.</p> <p>Tác giả Elysia liên hệ sắc da trắng với đặc điểm đời sống kinh tế - xã hội như sau: “Giai cấp thống trị thường ở trong nhà và có cuộc sống nhàn nhã, họ ít tiếp xúc với ánh nắng mặt trời nên da không bị đen sạm. […] Người Trung Hoa cũng áp suy nghĩ này lên những người da trắng đặt chân tới đất nước của họ, góp phần hình thành cách nhìn nhận về văn minh phương Tây (Occidentalism) cũng như sự ngưỡng mộ dành cho ngoại hình của người phương Tây.”</p> <p>Tiếp đến là những năm 1930-1945, một giai đoạn mang tính cột mốc trong lịch sử Việt Nam.</p> <h3>Nét thanh lịch giữa bối cảnh rối ren toàn cầu</h3> <p>Khi cả thế giới bị cuốn vào những vấn đề vĩ mô như soạn thảo hiến pháp, danh tính quốc gia con người và Thế Chiến thứ Hai, không khó hiểu khi việc trang điểm cầu kỳ không còn được ưa chuộng nữa. Thế nhưng cũng cùng lúc đó, ở Việt Nam lại chứng kiến sự đổ bộ ồ ạt của những thương hiệu mỹ phẩm bên ngoài nước Pháp, cũng như những thương hiệu trong nước mà điển hình là<a href="https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/17360-g%E1%BA%B7p-di%E1%BB%87u-linh,-c%C3%B4-ngh%E1%BB%87-nh%C3%A2n-8-n%C4%83m-mi%E1%BB%87t-m%C3%A0i-kho%C3%A1c-%C3%A1o-da-cho-nh%E1%BB%AFng-quy%E1%BB%83n-s%C3%A1ch" target="_blank"> xà bông Cô Ba.</a> Theo <a href="http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k6542643z.r=voguesaigon%20saigon?rk=536483;2" target="_blank">một mẩu tin quảng cáo </a>in trên tờ Vogue của Pháp năm 1940, những tên tuổi đình đám như Elizabeth Arden cũng đã mở một cửa hiệu ở Sài Gòn trong giai đoạn này.</p> <p><span id="docs-internal-guid-d05fbec7-7fff-45b8-d6f0-efc8d43228ae">Mẩu tin viết: “Khi kết hợp với trang phục có màu xám đậm, xanh đậm hay đen, Elizabeth Arden khuyên bạn nên dùng cây son màu <em>Stop Red.</em>"&nbsp;</span>Chi tiết chứng tỏ những thiếu nữ Sài Gòn, lúc này, đã quen dùng màu son đỏ hiện đại, vốn là màu sắc mà từ những năm 1930 đổ về trước chỉ sử dụng cho nghệ sĩ hát tuồng.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/legacy/J5xz6q5.jpg" /></p> <p class="image-caption">Trái: Quảng cáo của Elizabeth Arden cho son Stop Red. Phải: Quảng cáo của Elizabeth Arden cho dòng sản phẩm dưỡng da Matin Au Soir. Nguồn ảnh: <a href="http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k6542643z.r=voguesaigon%20saigon?rk=536483;2" target="_blank">Thư viện Quốc gia Pháp.</a></p> <p><span id="docs-internal-guid-6080f03b-7fff-2b73-54d0-9f54e99da08b">Thế chiến ập đến, phụ nữ thế giới cũng quay về với những phương thức làm đẹp tối giản và ít cầu kỳ hơn. Sau năm 1940, thế trận tại Châu Âu và nhiều nơi khác đã khiến việc sở hữu mỹ phẩm trở nên vô cùng xa xỉ. Tình trạng này được nhắc đến trong cuốn sách<a href="https://www.amazon.com/Compacts-Cosmetics-Beauty-Victorian-Present/dp/1473822947" target="_blank"><em> Compacts and Cosmetics: Beauty from Victorian Times to the Present Day</em></a> (tạm dịch: Hộp phấn Trang điểm và Mỹ phẩm: Việc làm đẹp từ thời Victoria đến nay) của nhà sử học người Anh Madeleine Marsh.</span></p> <p>“Không có mấy quảng cáo mỹ phẩm được 'lên sóng' vào giai đoạn này, nếu có thì cũng chỉ là để rối rít xin lỗi công chúng,” tác giả Madeleine miêu tả thế lưỡng nan mà các nhãn hàng gặp phải vào thập niên năm 1940. “<a href="https://www.peggysage.com/fr-FR/" target="_blank">Peggy Sage</a>&nbsp;rất&nbsp;mong các sản phẩm sơn móng tay có thể sớm quay lại kệ hàng,” hay “Elizabeth Arden mong muốn được đồng hành với chị em trong thời chiến, nhưng salon của chúng tôi cũng bị 'cấm vận' như ai kia.”&nbsp;Ngay cả những người phụ nữ khá giả hơn cũng khó cầm được trên tay một món mỹ phẩm nào. Theo&nbsp;<a href="http://www.thedarnellcollection.com/2017/10/rouge-beauty-and-rationing-during-ww11.html" target="_blank">ghi chép</a>, thương hiệu Bourjois từng phải đính kèm trong&nbsp; hộp phấn má hồng của mình thông điệp ngắn sau: “Chúng tôi rất tiếc không thể tặng kèm miếng dặm phấn vì khan hiếm do chiến tranh.”</p> <p>Thiếu hụt các sản phẩm mới, nên dù có nhiều thay đổi trong thị hiếu và thẩm mỹ, chẳng hạn như sự nở rộ của kiến trúc Art Deco, thì các xu hướng làm đẹp tại Sài Gòn vẫn dậm chân tại chỗ, phần lớn vẫn bị ảnh hưởng bởi phong cách truyền thống.&nbsp;Tuy nhiên trong hai thập kỉ tiếp theo, hành trình làm đẹp của phụ nữ hai miền Nam Bắc sẽ rẽ sang hai hướng tách biệt hoàn toàn vì công cuộc thống nhất đất nước.</p> <h3>Xu hướng làm đẹp trong hai mươi năm chia cắt</h3> <p><span id="docs-internal-guid-dea366d3-7fff-db57-d957-f5cba00f956a"><span face="Arial">Sau khi đất nước bị chia cắt vào năm 1954, cuộc sống của phụ nữ Việt ở hai miền có nhiều sự khác biệt — miền Bắc mộc mạc, bình dị và miền Nam phồn hoa, rực rỡ.</span></span></p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/legacy/e3i0eeL.jpg" /></p> <p class="image-caption">Trái: Quảng cáo thuốc lá Cotab. Nguồn ảnh:<a href="https://www.pinterest.com/pin/331507222556468486/?lp=true" target="_blank"> Pinterest</a>. Phải: Bìa báo Thanh Xuân năm 1951 tại Sài Gòn. Nguồn ảnh: <a href="http://www.thanhniennews.com/arts-culture/these-7-classic-magazine-covers-give-a-rare-glimpse-of-springtime-saigon-in-1950s-39037.html" target="_blank"><em>Thanh Niên</em></a>.</p> <p>Sự khác biệt này được thể hiện vô cùng rõ nét trong các mẫu quảng cáo tại Sài Gòn lúc bấy giờ. Bên cạnh phần nội dung được lấy trực tiếp từ bản gốc của phương Tây, các mẫu quảng cáo như thế này sử dụng hình ảnh người Việt Nam, tập trung vào hình tượng những cô gái thanh lịch, nữ tính. Một ví dụ là quảng cáo <a href="https://www.pinterest.com/pin/331507222556468486/?lp=true" target="_blank">thuốc lá Cotab</a> khi khai thác hình tượng người phụ nữ tự tin với mái tóc uốn phồng và cặp lông mày đậm màu theo phong cách của nữ minh tinh <a href="http://www.instyle.com/beauty/eyes/history-eyebrows#599561" target="_blank">Marlene Dietrich.</a> Nhân vật trong tranh cũng gợi nhớ tới hình ảnh<a href="https://saigoneer.com/saigon-arts-culture/arts-culture-categories/13141-the-unsolved-riddle-behind-c%C3%B4-m%C3%ADa,-vietnam-s-sugarcane-juice-muse" target="_blank"> “cô Mía”</a> trên những chiếc xe bán nước mía của Sài Gòn. Đây có thể nói là vẻ đẹp đại diện cho phong cách Sài Gòn những năm 50.</p> <p>Một mẩu quảng cáo khác in trên bìa tạp chí <a href="http://www.thanhniennews.com/arts-culture/these-7-classic-magazine-covers-give-a-rare-glimpse-of-springtime-saigon-in-1950s-39037.html" target="_blank"><em>Việt Thanh Xuân</em></a> xuất bản năm 1951, cũng cho thấy rằng ngoài các xu hướng làm đẹp trên, son môi đỏ tươi và sắc má hồng khỏe khoắn cũng là trào lưu&nbsp; được ưa chuộng bởi những cô gái thành thị.</p> <p>Có thể nói, thị hiếu làm đẹp của Sài Gòn lúc bấy giờ phản ánh rõ ảnh hưởng của văn hóa phương Tây thông qua điện ảnh quốc tế khi <a href="https://saigoneer.com/saigon-buildings/2630-the-cinemas-of-old-saigon" target="_blank">hàng loạt rạp chiếu bóng</a> mở cửa như rạp Rex, Long Vân hay Dakao. Những bộ phim Hollywood thập niên 1950 được người Sài Gòn đón nhận nồng nhiệt. Các nhà sử học nhìn nhận thập kỷ này là giai đoạn phục hồi quan trọng sau sự tàn phá của hai cuộc chiến tranh thế giới, cũng là lúc phụ nữ khắp nơi thử nghiệm với các sản phẩm làm đẹp nhiều hơn bao giờ hết.</p> <p>Trong sách của mình, Madeleine nói về sự bùng nổ của xu hướng trang điểm “lồng lộn” của thế hệ<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BA%BF_h%E1%BB%87_b%C3%B9ng_n%E1%BB%95_tr%E1%BA%BB_s%C6%A1_sinh" target="_blank"><em> baby boomers</em> </a>tại Mỹ: “Vào thời chiến, phụ nữ phải làm công việc của đàn ông và mặc những bộ trang phục nam tính. Khi đàn ông quay về từ chiến trường, phụ nữ về lại với bếp núc, ‘thời bao cấp’ hậu chiến kết thúc, họ hân hoan dắt tay nhau vào giường, cơn sốt sinh nở cứ thế mà bùng nổ.”</p> <p>Nếu Sài Gòn của những năm 1950 mang vẻ đẹp thanh lịch, thì hai thập kỷ sau đó là giai đoạn mà phụ nữ trẻ tạm bỏ qua những nguyên tắc làm đẹp bất hủ, và hướng đến những phá cách ấn tượng. Các cô gái ngày càng chú trọng đến mái tóc của mình để trở nên “sành điệu” hơn. Khác với mái tóc phồng to từng là xu hướng của thập kỷ trước, những năm 1960 lại “phát cuồng” với mái tóc búi kiểu sau đầu, như trong một mẫu quảng nước giải khát Bireley’s được đăng trong tạp chí <em><a href="https://saigoneer.com/old-saigon/old-saigon-categories/3963-photos-inside-the-pages-of-saigon-roundup" target="_blank">Saigon Roundup</a></em> dành riêng cho khách du lịch đến thăm thành phố.</p> <p>Mặt khác, rất ít quảng cáo mỹ phẩm xuất hiện tại miền Bắc. Nguyên nhân có thể là do những lý tưởng và đường lối cách mạng đang chiếm trọn bầu không khí miền Bắc lúc này. Một bài viết năm 1961 trên <a href="https://en.wikipedia.org/wiki/My_Fair_Princess" target="_blank"><em>Báo Nhân Dân</em> </a>có tựa đề “Về việc Phát huy Tiềm năng và Phát triển Nhận thức Văn hóa của Phụ nữ” là một ví dụ điển hình cho lời kêu gọi phụ nữ tham gia phong trào thống nhất đất nước. Điều này tạo nên những khác biệt lớn giữa cuộc sống của phụ nữ miền Bắc và miền Nam.</p> <p><span id="docs-internal-guid-f9e9c20e-7fff-a337-2918-92248dc1bc0d">Tuy nhiên, các xu thế làm không phải là không tồn tại ở miền Bắc. Giáo sư lịch sử Liam Kelly của trường Đại học Hawaii tại Manoa cung cấp <a href="https://leminhkhai.wordpress.com/2012/07/24/competing-representations-of-the-nation-in-1970s-vietnam/" target="_blank">bằng chứng</a>:</span></p> <p>“Nhiều trang bìa tạp chí có in hình những người phụ nữ trẻ, nhưng cách thức thể hiện thì rất khác,” Liam so sánh cách phụ nữ hai miền của Việt Nam được mô tả trong giai đoạn chiến tranh. “Trái với những hình ảnh ngoài Bắc, tạp chí của miền Nam Việt Nam lại mang lại cảm giác như thể không hề có cuộc chiến nào đang xảy ra. Bạn cũng không thấy bất kỳ hình ảnh nào của người lao động.”&nbsp;</p> <h3>Những năm chiến tranh trước giai đoạn Đổi Mới</h3> <div class="smaller" style="text-align: center;"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/10/28/vietnamesebeauty/russia13.webp" /></div> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Mẫu quảng cáo ba kiểu tóc phổ biến tại Liên bang Xô Viết in trên một số Báo Phụ Nữ Sài Gòn năm 1985. <br />Ảnh: Tâm Minh, thủ thư tại Thư viện Khoa học Tổng hợp, Sài Gòn.</p> <p>Từ sự kiện thống nhất năm 1975 đến tới loạt cải cách kinh tế quan trọng năm 1986, Việt Nam đã tăng tốc để trở thành trung tâm sản xuất hàng may mặc. Đất nước bước vào công cuộc công nghiệp hoá, phụ nữ Việt Nam quay trở về với vẻ ngoài mộc mạc và tự nhiên hơn.</p> <p>Trong những năm dẫn đến cải cách kinh tế, các ấn phẩm báo chí hướng đến đối tượng đọc giả nữ như <em>Báo Phụ Nữ Sài Gòn</em>&nbsp;đã giới thiệu “trend” mới nhất từ nền công nghiệp làm đẹp của Liên Xô. Trong mục tư vấn của số báo in vào năm 1985 được lưu giữ tại Thư viện Khoa học Tổng hợp ở Sài Gòn, có một đoạn được ban biên tập gửi gắm đến độc giả: “Vài lời khuyên về mái tóc của bạn.”</p> <p>Xuất hiện trong phần quảng cáo là hình ảnh ba cô gái người Nga với mái tóc uốn lọn cầu kỳ và phần mái dày vô cùng phổ biến vào những năm 80. Dù hầu hết phụ nữ Việt Nam trong thập niên này chủ yếu ăn vận rất đơn sơ, những ai có điều kiện và thời gian đều muốn thử nghiệm với những bộ tóc kiểu phá cách, thức thời thế này.</p> <p>Và rồi, bước ngoặt của kinh tế đất nước xảy ra. Chính sách Đổi Mới năm 1986 đã tạo điều kiện cho phụ nữ Việt Nam phát triển và hưởng ứng những xu hướng làm đẹp trong và ngoài nước.</p> <h3>Làn sóng văn hóa Hồng Kông, <em>Tân dòng sông ly biệt</em> và những tông màu trầm</h3> <p>Tua nhanh đến thập niên 90, dòng chảy văn hóa lại một lần nữa chuyển dịch. Việt Nam lúc này tiêu thụ âm nhạc, phim ảnh và các văn hóa phẩm ở mức độ mà chỉ mười năm trước vẫn là điều không tưởng. Song song đó tại Trung Quốc, một làn sóng văn hóa đại chúng đang lan tỏa mạnh mẽ trong cả âm nhạc lẫn phim ảnh; Hoàn Châu Cách Cách (1998-1999), bộ phim dài tập liên tục được chiếu đi chiếu lại trên màn ảnh nhỏ và Tân Dòng sông Ly biệt (2001) là hai trong số những ví dụ tiêu biểu của làn sóng này trong giai đoạn chuyển giao của thiên niên kỷ.&nbsp;</p> <p>Một ví dụ cho sức ảnh hưởng của nền văn hóa nói tiếng Trung lên thời trang Việt Nam có thể được thấy trong một mẫu quảng cáo váy cưới in trên Báo Phụ Nữ Sài Gòn số tháng 1 năm 1996. Những mái tóc uốn lọn bồng bềnh hay kiểu tóc phồng to đã hết thời, nhường chỗ cho làn tóc duỗi thẳng óng mượt và sành điệu, thường đi kèm với bộ mái lấy cảm hứng từ ngôi sao<a href="https://i.pinimg.com/originals/81/9a/b5/819ab5797c272b99482ea9aced04b357.jpg" target="_blank"> Châu Huệ Mẫn.</a></p> <p><span id="docs-internal-guid-96999c73-7fff-8e0e-fb09-93209c49283e">Một thay đổi nhỏ khác trong xu hướng làm đẹp của phụ nữ Việt Nam trong thập niên này là sự xuất hiện của những màu son trầm hoặc nude. Một chuyên mục gợi ý phối màu in trong<em> Báo Phụ Nữ Sài Gòn</em> có tựa đề như sau: “Khuynh hướng trang điểm hiện nay: nâu sô-cô-la!” </span></p> <p>Màu sắc là yếu tố quan trọng không chỉ với phụ nữ Việt Nam mà còn đối với bất cứ tín đồ làm đẹp nào. Bước sang thế kỷ mới, các chuyên gia làm đẹp trên thế giới đã tạo ra những màu son tôn lên sắc môi tự nhiên, như Lisa Eldridge nhận định trong sách<a href="https://www.amazon.com/Face-Paint-Makeup-Lisa-Eldridge/dp/1419717960" target="_blank"><em> Face Paint: The Story of Makeup</em></a> (tạm dịch: Họa Mặt: Câu chuyện trang điểm).</p> <p>“Ở thời điểm đó, phong cách trang điểm vẫn khá lòe loẹt với những lớp phấn tạo khối dày cộm thiếu tinh tế và đôi môi đỏ theo xu hướng những năm 80. Bobbi Brown lại chuộng những phong cách khỏe khoắn và tự nhiên hơn, khác hẳn với các sản phẩm được bán trên thị trường. ”—&nbsp; Cô viết dựa trên kinh nghiệm làm việc trong ngành công nghiệp làm đẹp. Nếu như xu hướng trước đó là những gam màu táo bạo, thì đến thập niên 90 và đầu những năm 2000, phụ nữ Việt Nam và thế giới lại thích lớp trang điểm tông nude tự nhiên, để hoàn thiện vẻ đẹp vốn có của gương mặt mình.&nbsp;</p> <p>Trong một chuyên mục về màu son nâu sô-cô-la, Báo Phụ Nữ đã “mách” cho độc giả nữ những thương hiệu có màu son “trendy” này: “Maybelline (Mỹ): son bóng 75.000VNĐ/cây; son bột 83.000VNĐ/cây." Nhờ những chuyên mục đề xuất thế này, phụ nữ trong nước có một phương thức để tiếp cận những loại mỹ mới dễ dàng hơn, mở ra một thời đại mới cho nền công nghiệp làm đẹp ở Việt Nam.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/saigoneer/article-images/legacy/mUZQ8pU.jpg" /></p> <p class="image-caption" style="text-align: center;">Trái: Quảng cáo cửa hàng áo cưới. Phải: Chuyên mục chia sẻ lời khuyên về những xu hướng màu sắc mới nhất của thập niên 1990. <br />Ảnh: Tâm Minh, thủ thư tại Thư viện Khoa học Tổng hợp TP. HCM.&nbsp;</p> <p>[Ảnh bìa trái: <a href="https://www.pinterest.com/pin/331507222556468486/?lp=true" target="_blank">Pinterest</a>; ảnh bìa phải: <a href="http://www.thanhniennews.com/arts-culture/these-7-classic-magazine-covers-give-a-rare-glimpse-of-springtime-saigon-in-1950s-39037.html" target="_blank">Thanh Niên</a>.]</p> <hr /> <div id="_mcePaste" class="mcePaste" data-mce-bogus="1" style="position: absolute; left: 0px; top: 2491px; width: 1px; height: 1px; overflow: hidden;"><span id="docs-internal-guid-e62534b7-7fff-2171-feb5-6304bb0aa6f9"> <p dir="ltr" style="line-height: 1.2; margin-top: 0pt; margin-bottom: 0pt;"><span style="font-size: 11pt; font-family: Arial; background-color: transparent; font-variant-numeric: normal; font-variant-east-asian: normal; vertical-align: baseline; white-space: pre-wrap;">Nước da trắng ngần đã được ưa chuộng từ thời phong kiến và xuất hiện nhiều trong thi ca Việt Nam ở giai đoạn này, như bài thơ “Khúc hát hái sen” (“Thái liên khúc”) của Ngô Chi Lan, một nữ sĩ dưới triều vua Lê Thánh Tông vào thế kỷ thứ 15:</span></p> <p><span style="font-size: 11pt; font-family: Arial; background-color: transparent; font-variant-numeric: normal; font-variant-east-asian: normal; vertical-align: baseline; white-space: pre-wrap;"></span></p> </span></div></div> Sau 1 thế kỷ du nhập, văn hóa nhảy đầm cho thấy gì về tư tưởng xã hội ở Việt Nam? 2025-06-17T10:00:00+07:00 2025-06-17T10:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17425-sau-1-thế-kỷ-du-nhập,-văn-hóa-nhảy-đầm-cho-thấy-gì-về-tư-tưởng-xã-hội-ở-việt-nam Đồng Thanh Thủy. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/web1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/fb1b.jpg" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Trước khi trở thành hoạt động phổ biến với mọi tầng lớp xã hội, nhảy đầm đã trải qua nhiều phen ba chìm bảy nổi.</em></p> <h3>Thời điểm nhảy đầm du nhập vào Việt Nam và những “người chơi” đầu tiên</h3> <p>Thực chất bộ môn nhảy đầm đã xuất hiện ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19. Năm 1883, triều đình nhà Nguyễn ký kết&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%B2a_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Qu%C3%BD_M%C3%B9i,_1883" target="_blank">Hòa ước Quý Mùi</a>&nbsp;với nước Cộng hòa Pháp, đánh dấu thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam. Một năm sau, <a href="http://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Phong-su-Ky-su/508766/nhay-dam-o-ha-thanh" target="_blank">Tòa Lãnh sự Pháp khánh thành</a>.&nbsp;Tại đây diễn ra nhiều hoạt động, từ công việc hành chính đến các bữa tiệc lớn vào cuối tuần, và dĩ nhiên có cả những màn khiêu vũ hay còn gọi là nhảy đầm.</p> <p>Cứ mỗi cuối tuần, âm thanh từ dàn kèn đồng, ánh đèn nhiều sắc màu, những chiếc quần tây hay bộ váy lấp lánh xoay vòng trên điệu valse lại lấp đầy không gian tòa Lãnh sự Pháp, nay là số nhà 33 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Khi ấy, các vũ hội dành riêng cho các viên chức Pháp và gia đình, nên nhảy đầm chỉ phổ biến trong cộng đồng người Pháp tại Việt Nam.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/%20%20nhaydam11.webp" /></p> <p class="image-caption">Khiêu vũ là một hoạt động phổ biến tại các sự kiện xã hội ở Pháp vào thế kỷ 19. Nguồn: Alamy.</p> <p>Phải đến vài chục năm sau đó, vào thập niên 30, nhảy đầm mới dần tiếp cận người Việt. Những “người chơi” đầu tiên của bộ môn này là các du học sinh Việt Nam tại Pháp, đa phần là con nhà có điều kiện. Họ chi tiền tổ chức tiệc tại gia, mời các du học sinh khác đến góp vui với vài điệu nhảy. Giới thượng lưu, học thức lúc này ưa chuộng hoạt động nhảy đầm, vì đối với họ, biết nhảy đầm tức là văn minh, là <a href="https://zingnews.vn/nhay-dam-tung-bi-cho-la-xau-post1141807.html" target="_blank">biết phép lịch sự</a>.</p> <p>Không chỉ dừng lại ở các bữa tiệc tư gia, nhảy đầm nhanh chóng lan rộng khắp Hà Nội với sự xuất hiện của hàng loạt khu phố ăn chơi nổi tiếng. Nổi bật nhất trong số đó là con phố Khâm Thiên với nhiều nhà hát <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4_%C4%91%E1%BA%A7u" target="_blank">cô đầu</a>, nơi mà dân chơi hay giới nghệ sĩ thường hay lui tới giao lưu, uống rượu và nghe nhạc.</p> <p>Địa điểm đắt khách nhất là sàn nhảy số 96 phố Khâm Thiên thuộc sở hữu của<a href="https://phunutoday.vn/co-doc-sao-ky-nu-chung-tinh-nhat-ha-thanh-d15409.html" target="_blank">&nbsp;Cô Đốc Sao</a>, một kỹ nữ “hạng sang” thuở ấy. Đó là năm 1936 khi sàn nhảy đầu tiên của Hà Nội xuất hiện, đánh dấu thời điểm nhảy đầm trở thành thú tiêu khiển thời thượng tại mảnh đất kinh kỳ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam8.webp" /></p> <p class="image-caption">Phố Khâm Thiên nơi xuất hiện sàn nhảy đầu tiên ở Hà Nội. Nguồn: Thanh Niên.</p> <p>Về sau, một yếu tố khác góp phần lan rộng bộ môn nhảy đầm là sức ảnh hưởng của các thể loại Tây phương lên nền âm nhạc Việt Nam. Các nhạc sĩ Việt Nam bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm thuộc thể loại tango, rumba hay slow rất phù hợp với nhảy đầm, có thể kể đến ca khúc ‘Nhạc sầu tương tư’ (1953) hay ‘Dừng bước giang hồ’ (1953). Những bản nhạc này đã “Việt Nam hóa” nhảy đầm, khiến nó trở nên gần gũi và dễ tiếp cận hơn.</p> <h3>Nhảy đầm trong bối cảnh chuyển giao văn hóa xã hội</h3> <p>Tuy vậy, đối với xã hội Việt Nam, một hoạt động đậm nét văn hóa phương Tây như nhảy đầm vẫn là thứ gì đó lạ lẫm và “không hợp thuần phong mỹ tục.” Như từ “nhảy đầm”, “đầm” ở đây bắt nguồn từ cụm “ông Tây bà đầm,” tức là thuộc về phương Tây chứ không gần gũi với người Việt.</p> <p>Xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Nho giáo với nhiều đạo lý, trong đó có quan niệm “Nam nữ thụ thụ bất thân.” Theo <a href="https://kinhtedothi.vn/thong-diep-tu-lich-su-cau-chuyen-nam-nu-thu-thu-bat-than-thoi-xua.html" target="_blank">quan niệm</a> này, “Người nam và người nữ, không được phép ngồi chung hỗn độn, quần áo không được treo chung trên cùng một giá treo áo; từng mỗi người tự có khăn lược của riêng mình, không được phép dùng lẫn lộn; đưa đồ vật cũng không được phép chính tay chuyền cho.”</p> <p>Đặc biệt dưới thời Nguyễn, triều đại gần nhất khi đó thì sự hạn chế tiếp xúc giữa hai giới càng gắt gao. Theo sử sách, hai nhà ngoại giao Nguyễn Thành Ý và Nguyễn Tăng Doãn sau khi từ Pháp về đã <a href="https://kinhtedothi.vn/thong-diep-tu-lich-su-cau-chuyen-nam-nu-thu-thu-bat-than-thoi-xua.html" target="_blank">mô tả hoạt động nhảy đầm</a> cho vua Tự Đức. Kết quả, nhà vua cách chức Nguyễn Thành Ý và giáng cấp Nguyễn Tăng Doãn vì cho rằng đó chỉ là “nói hão.”</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam5.webp" /></p> <p class="image-caption">Bức hoạ 'Nhảy Đầm' theo phong cách Đông Hồ khắc họa hoạt động khiêu vũ của người Pháp, người Việt trong một tụ điểm lúc bấy giờ.</p> <p>Cũng vì luồng suy nghĩ đó mà đến tận 30 năm sau, một hoạt động có tính thân mật cao như nhảy đầm vẫn khó được chấp nhận. Cảnh tượng người nam cùng người nữ đứng sát nhau, tay trong tay nhảy trên điệu nhạc bị cho là dâm ô, trái với luân thường đạo lý và bị kỳ thị bởi xã hội. Nhà thơ Song Ngư phẫn nộ bởi cảnh “cốc rượu say sưa đổi vợ chồng,” “nhảy trai lưng sút, gái quần long” đã <a href="https://kinhtedothi.vn/nam-gioi-chuan-muc-va-su-so-hai-sac-dep.html" target="_blank">mỉa mai</a> gọi nhảy đầm là “bốn cẳng văn minh mới lạ lùng.”</p> <p>Báo chí thời đó tranh cãi rất gay gắt về nhảy đầm, trong đó những bài viết phản đối chiếm áp đảo. Trong một <a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=HtCq19330831&e=-------vi-20--1--img-txIN------" target="_blank" style="background-color: transparent;">bài đăng</a><span style="background-color: transparent;"> trên <em>Phụ nữ tân văn</em>, số ra ngày 31/8/1933, tác giả đã bày tỏ: “Nó cũng giống như một thú hàng nhập — càng không thích hợp với người bản xứ, hay một vật trang sức, mà dẫu bước đầu có người thấy mới lạ, vì tính hiếu kỳ đua nhau mua mặc, sau trông lại, thấy hoặc cộc quá hoặc chướng quá thì cũng đến phải bỏ só, vứt đi. Nhảy đầm rồi sẽ chết!”</span></p> <p>Tờ <em>Ngọ báo</em> (số ra ngày 10/5/1934) cũng đăng tải một <a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=Rhc19340510&e=-------vi-20--1--img-txIN------" target="_blank">bức biếm họa</a> khung cảnh nhảy đầm trong một gia đình nọ. Trong khi ông bà chủ say sưa khiêu vũ, nhân vật con sen và thằng bếp lại cho rằng hai người đang xô xát, phản ánh suy nghĩ về nhảy đầm của xã hội đương thời.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam9.webp" /></p> <p class="image-caption">“Này Sen ơn, có lẽ cậu mợ bất bình gì, tao thấy đang đánh vựt nhau.” Nguồn: Thư viện Quốc gia.</p> <p>Bên cạnh sự phản đối, cũng có ý kiến ủng hộ nhảy đầm và cho rằng đây là xu hướng cần cổ động. Trong một bài viết đăng tải trên <em>Hà Thành ngọ báo</em>, tác giả Đông Viên phê phán thói đạo đức giả và bênh vực các vũ nữ vốn bị xã hội coi thường. Ông viết: “Các ông bạn trẻ rất đạo đức của tôi ơi, các ông quả không biết gì về nhảy đầm mà dám công kích nhảy đầm, thật các ông đã lạm dụng quyền ngôn luận vậy. Đi xem nhảy đầm cũng như đọc một quyển sách, nếu học lực mình chưa thấu triệt nổi, thì bình phẩm làm sao?”</p> <p>Những người cổ động nhảy đầm đa phần là giới thanh niên du học, như một du học sinh từng kể với học giả Phạm Quỳnh, rằng người đó học nhảy đầm là để “cho Tây bên ấy họ biết rằng mình đã thạo những cách lịch sự ở Paris.” Đối với nhiều người, nhảy đầm là cách tiếp cận tầng lớp thượng lưu hay thậm chí là “<a href="https://zingnews.vn/nhay-dam-tung-bi-cho-la-xau-post1141807.html" target="_blank">một tấm giấy thông hành dự phần vào thế giới văn minh của giới cai trị.</a>”</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam12.webp" /></p> <p class="image-caption">Lệnh cấm nhảy đầm của Thị trường Hà Nội Phan Xuân Đài. Nguồn: Thư viện Quốc gia.</p> <p>Tuy thế, sự ủng hộ dành cho nhảy đầm chỉ đến từ một bộ phận nhỏ của xã hội Việt Nam, còn các phương tiện truyền thông đại chúng vẫn bị bao trùm bởi sự phản đối gay gắt. Năm 1949, thị trưởng Hà Nội là Phan Xuân Đài đã đăng tải <a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=WOIt19490604&e=-------vi-20--1--img-txIN------" target="_blank">lệnh cấm nhảy đầm</a>,&nbsp;đặc biệt nhấn mạnh rằng thú vui chơi này không phù hợp với hoàn cảnh đất nước bấy giờ. Theo đó, bất kỳ sàn nhảy nào có người Việt Nam sẽ bị đóng cửa, còn người khiêu vũ bị phạt rất nặng.</p> <h3>Hành trình “Nam tiến” và lệnh cấm tiếp diễn</h3> <p>Đến năm 1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết chia cắt hai miền đất nước, nhảy đầm ở miền Bắc dần thoái trào. Những vũ công có tiếng một thời giờ cất váy vóc, giày nhảy vào dưới đáy vali và chuyển sang làm nghề khác, các trường khiêu vũ cũng đóng cửa. Cả miền Bắc tập trung vào kháng chiến nên không còn chỗ cho những thú tiêu khiển như nhảy đầm.</p> <p>Mặt khác, do một bộ phận người đất Bắc di cư vào Sài Gòn nên nhảy đầm cũng theo đó mà mở rộng vào miền trong. Các trường khiêu vũ lại mọc lên và hoạt động sôi nổi, tiêu biểu như vũ trường&nbsp;<a href="https://vietnamnet.vn/cai-chet-bi-thuong-cua-nu-hoang-vu-truong-nuc-tieng-sai-gon-332587.html" target="_blank">Kim Sơn</a>&nbsp;hay <a href="https://vnexpress.net/dai-the-gioi-noi-hoi-tu-dan-an-choi-bac-nhat-sai-gon-xua-3353075.html" target="_blank">vũ trường Grand Mond</a>. Nhiều vũ nữ trẻ tuổi bắt đầu nổi danh, trong đó có “nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung với vẻ nóng bỏng quyến rũ bao người.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam16.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam2.webp" alt="" /></div> </div> <p class="image-caption">Trái: Các vị khách nhảy đầm tại hộp đêm Maxim's. Nguồn: Thanh Niên. Phải: Bên ngoài hộp đêm Maxim's. Nguồn: người dùng Flickr <a href="https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/32089516836/in/photolist-2nhr1fS-2nhoACo-2nhoACt-QTDanE-QPjC6W-wrVXcY-2n6VMQJ-2kQqz4K-2nhJ8Un-2kQqVRh-2n6Do2S-2nePJs3-2ngQNK6-QPjC6A-2ngQPcP-2m1Q5YV-2mNkVTt-2neWev3-2kNqJgq-2nsKJ1k-2mNhKV6-2nTzG2b-2mNjQey-2mNbiDw-2mNcjQL-RHHVDi-2mNcjQq-qFNACH-2mNcjQ5-2dpPAuR-RPEVCW-2m5fJdi-wrVX5d-HHdBMB-2mzdspQ-2iDoaBa-EJqJ1x-QEp9QK-2mNbiCz-PdKBdT-2kNp3cf-2mJbLnd-2myd5Ea-wrVXbA-jMPwM6-RPEVDC-2kbYpXi-9BxLoE-2ichx5Q-2mjH7Ln" target="_blank">manhhai</a>.</p> <p>Thế nhưng các vũ trường đều vận hành một cách kín đáo, bởi chính quyền Sài Gòn khi đó, cũng như chính quyền Hà Nội, đã ban lệnh cấm nhảy đầm, mở đầu là lệnh cấm năm 1955 của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Bảy năm sau, “<a href="https://plo.vn/luat-bao-ve-luan-ly-post264085.html" target="_blank">Luật Bảo vệ luân lý</a>” ra đời và liệt nhảy đầm vào những hành vi làm bại hoại luân thường đạo lý, cùng với đánh bạc, chọi gà, mê tín dị đoan, mại dâm hay cả môn võ quyền Anh. Theo đó, nhảy đầm dù ở vũ trường ở nhà cũng đều là có tội, không chỉ người Việt Nam mà người nước ngoài nhảy đầm ở Việt Nam cũng đều bị xử phạt.</p> <p>Nhìn chung trong gần 20 năm sau đó đến tận cuối thập niên 70, số phận của nhảy đầm vẫn trồi sụt vì bị cho là “không phù hợp văn hóa và bối cảnh hiện tại.” Phong trào nhảy đầm tại cả hai miền Nam, Bắc diễn ra âm thầm và dần lụi tàn.</p> <h3>Thập niên 80: Nhảy đầm hồi sinh và chứng tỏ tầm quan trọng trong ngoại giao</h3> <p>Sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, nền kinh tế dần phục hồi thì các hoạt động văn hóa-xã hội lại có đất phát triển.</p> <p>Năm 1983 được coi là dấu mốc đánh dấu <a href="https://docs.google.com/viewerng/viewer?url=http://minhha.vn/forum/uploadfiles/KVSG.pdf" target="_blank">sự hồi sinh</a> của nhảy đầm tại cả hai miền Nam, Bắc khi chính quyền đẩy mạnh <a href="https://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=3375" target="_blank">phong trào</a>&nbsp;thanh thiếu niên. Nhảy đầm bắt đầu xuất hiện trong hoạt động tuyên truyền của phong trào thanh niên cộng sản, có lẽ vì quen mặt với giới trẻ, cộng thêm tính chất giao lưu mạnh mẽ của nó.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam4.webp" /></p> <p class="image-caption">Nhảy đầm trở lại dưới những thể loại mới, chẳng hạn như nhảy disco vào thập niên 80. Nguồn: Hạt giống tâm hồn.</p> <p>Ở Sài Gòn, hoạt động nhảy đầm được tổ chức ở Câu lạc bộ khiêu vũ thể nghiệm, khi đó gọi là “múa đôi” để tránh từ “nhảy đầm,” bởi cái nhìn của xã hội vẫn phần nào nhuốm màu sắc tiêu cực. Ủy ban Nhân dân Thành phố chỉ cho phép các nhà văn hóa tổ chức khiêu vũ <a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=UyRi19881224.2.5&srpos=7&e=-------vi-20--1--img-txIN-khi%c3%aau+v%c5%a9+-----" target="_blank">một tuần một lần</a>, ngoài ra không được bán vé vào cửa. Dù bị giới hạn về mặt thời gian và không gian hoạt động, nhưng không thể phủ nhận sự trở lại của bộ môn này.</p> <p>Tương tự, ở Hà Nội cũng chứng kiến nhiều vũ công năm xưa quay lại với nghề, họ mở lớp dạy nhảy và thu hút hàng trăm học viên đến học. Các vũ trường cũng hoạt động trở lại, sàn nhảy được thiết kế hiện đại và khang trang hơn. Những điệu nhảy mới được du nhập vào, người ta không chỉ nhảy điệu valse, tango truyền thống mà còn có cả disco, dòng nhạc rất thịnh hành trong thập niên 80.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam13.webp" /></p> <p class="image-caption">Không còn lệnh cấm, các vũ sư có thể quay lại với nghề. Nguồn: Thanh Niên.</p> <p>Không chỉ sống lại trong quần chúng, nhảy đầm cũng có mặt trong các sự kiện chính thống, đặc biệt là ngoại giao. Vì là hoạt động phổ biến ở phương Tây, khi các chính khách từ các quốc gia này đến thăm, trong tiệc chiêu đãi không thể không có tiết mục khiêu vũ. Tại trụ sở Đại sứ quán các nước cũng diễn ra vũ hội với khách mời là các vũ công có tiếng ở Việt Nam. Ông Trương Văn Hiếu, vũ sư từng theo học tại Trường Cao đẳng thể dục Phan Thiết, nổi tiếng với khả năng cảm âm, là một trong những khách mời quen thuộc, tham gia dẫn nhảy cho các quan chức ngoại giao nước ngoài.</p> <h3>Từ đặc quyền của giới thượng lưu tới phong trào bình dân</h3> <p>Ngày nay, nhảy đầm không còn là hoạt động riêng của giới thượng lưu mà trở thành hoạt động bình dân, dành cho tất cả mọi người. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến đã từng viết trên tờ <em>Hà Nội mới</em>: “Khiêu vũ trở thành thứ văn hóa bình dân đến mức trước khi ra chợ cóc mua rau, không ít các bà, các cô tranh thủ tạt vào sàn nhảy vài điệu cho dẻo chân. Lại có người đến sàn cốt để khoe bộ đầm mới hay tìm kiếm thứ gì đó họ đang thiếu.”</p> <p>Có thể dễ dàng bắt gặp người dân đang tập nhảy ở bất cứ đâu, từ Nhà văn hóa Thanh niên, Cung Văn hóa Hữu Nghị ở Hà Nội đến Cung Văn hóa Lao động ở TP. Hồ Chí Minh hay Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Thừa Thiên-Huế. Thậm chí tại công viên hay quán cà phê cũng tổ chức hoạt động nhảy đầm để thu hút người dân, như CLB Khiêu vũ dưỡng sinh ngoài trời ở Công viên Lê Thị Riêng có đến 80 học viên sinh hoạt mỗi tuần.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam1.webp" /></p> <p class="image-caption">Ngày nay, nhảy đầm/khiêu vũ là một trong những hoạt động giải trí phổ biến nhất ở các không gian công cộng. Nguồn: VnExpress.</p> <p>Không chỉ người trung niên và người cao tuổi, <a href="https://saigoneer.com/vn/parks-and-rec/17361-t%C3%B4i-%C4%91i-nh%E1%BA%A3y-%C4%91%E1%BA%A7m-trong-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-qu%E1%BA%A9y-tung-n%C3%B3c-c%E1%BB%A7a-jazz-dance" target="_blank">các bạn trẻ trong độ tuổi 20 cũng đi học nhảy đầm</a>. Theo một bài viết trên báo <em>Tiền phong</em>, tại một cơ sở dạy nhảy trên phố Hoàng Quốc Việt, học viên theo học thuộc nhiều lứa tuổi nhưng đông nhất vẫn là thanh niên, phải mở thêm lớp mới đủ. Nhiều bạn tham gia vừa để giao lưu, vừa để cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần, đặc biệt trong bối cảnh cuộc sống hối hả như hiện tại.</p> <p>Kể từ ngày mới du nhập vào Việt Nam qua những buổi dạ vũ tại Lãnh sự quán Pháp, nhảy đầm đã trải qua hơn một thế kỷ thăng trầm, biến chuyển từ thứ chỉ dành cho giới nhà giàu thành một bộ môn giao lưu dành cho mọi người.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam18.webp" /></p> <p class="image-caption">Một thế hệ người trẻ mới đang tiếp cận bộ môn nhảy đầm. Ảnh: Lê Thái Hoàng Nguyên.</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/web1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/fb1b.jpg" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Trước khi trở thành hoạt động phổ biến với mọi tầng lớp xã hội, nhảy đầm đã trải qua nhiều phen ba chìm bảy nổi.</em></p> <h3>Thời điểm nhảy đầm du nhập vào Việt Nam và những “người chơi” đầu tiên</h3> <p>Thực chất bộ môn nhảy đầm đã xuất hiện ở Việt Nam từ cuối thế kỷ 19. Năm 1883, triều đình nhà Nguyễn ký kết&nbsp;<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%B2a_%C6%B0%E1%BB%9Bc_Qu%C3%BD_M%C3%B9i,_1883" target="_blank">Hòa ước Quý Mùi</a>&nbsp;với nước Cộng hòa Pháp, đánh dấu thời kỳ đô hộ của thực dân Pháp ở Việt Nam. Một năm sau, <a href="http://hanoimoi.com.vn/tin-tuc/Phong-su-Ky-su/508766/nhay-dam-o-ha-thanh" target="_blank">Tòa Lãnh sự Pháp khánh thành</a>.&nbsp;Tại đây diễn ra nhiều hoạt động, từ công việc hành chính đến các bữa tiệc lớn vào cuối tuần, và dĩ nhiên có cả những màn khiêu vũ hay còn gọi là nhảy đầm.</p> <p>Cứ mỗi cuối tuần, âm thanh từ dàn kèn đồng, ánh đèn nhiều sắc màu, những chiếc quần tây hay bộ váy lấp lánh xoay vòng trên điệu valse lại lấp đầy không gian tòa Lãnh sự Pháp, nay là số nhà 33 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội. Khi ấy, các vũ hội dành riêng cho các viên chức Pháp và gia đình, nên nhảy đầm chỉ phổ biến trong cộng đồng người Pháp tại Việt Nam.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/%20%20nhaydam11.webp" /></p> <p class="image-caption">Khiêu vũ là một hoạt động phổ biến tại các sự kiện xã hội ở Pháp vào thế kỷ 19. Nguồn: Alamy.</p> <p>Phải đến vài chục năm sau đó, vào thập niên 30, nhảy đầm mới dần tiếp cận người Việt. Những “người chơi” đầu tiên của bộ môn này là các du học sinh Việt Nam tại Pháp, đa phần là con nhà có điều kiện. Họ chi tiền tổ chức tiệc tại gia, mời các du học sinh khác đến góp vui với vài điệu nhảy. Giới thượng lưu, học thức lúc này ưa chuộng hoạt động nhảy đầm, vì đối với họ, biết nhảy đầm tức là văn minh, là <a href="https://zingnews.vn/nhay-dam-tung-bi-cho-la-xau-post1141807.html" target="_blank">biết phép lịch sự</a>.</p> <p>Không chỉ dừng lại ở các bữa tiệc tư gia, nhảy đầm nhanh chóng lan rộng khắp Hà Nội với sự xuất hiện của hàng loạt khu phố ăn chơi nổi tiếng. Nổi bật nhất trong số đó là con phố Khâm Thiên với nhiều nhà hát <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4_%C4%91%E1%BA%A7u" target="_blank">cô đầu</a>, nơi mà dân chơi hay giới nghệ sĩ thường hay lui tới giao lưu, uống rượu và nghe nhạc.</p> <p>Địa điểm đắt khách nhất là sàn nhảy số 96 phố Khâm Thiên thuộc sở hữu của<a href="https://phunutoday.vn/co-doc-sao-ky-nu-chung-tinh-nhat-ha-thanh-d15409.html" target="_blank">&nbsp;Cô Đốc Sao</a>, một kỹ nữ “hạng sang” thuở ấy. Đó là năm 1936 khi sàn nhảy đầu tiên của Hà Nội xuất hiện, đánh dấu thời điểm nhảy đầm trở thành thú tiêu khiển thời thượng tại mảnh đất kinh kỳ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam8.webp" /></p> <p class="image-caption">Phố Khâm Thiên nơi xuất hiện sàn nhảy đầu tiên ở Hà Nội. Nguồn: Thanh Niên.</p> <p>Về sau, một yếu tố khác góp phần lan rộng bộ môn nhảy đầm là sức ảnh hưởng của các thể loại Tây phương lên nền âm nhạc Việt Nam. Các nhạc sĩ Việt Nam bắt đầu sáng tác nhiều tác phẩm thuộc thể loại tango, rumba hay slow rất phù hợp với nhảy đầm, có thể kể đến ca khúc ‘Nhạc sầu tương tư’ (1953) hay ‘Dừng bước giang hồ’ (1953). Những bản nhạc này đã “Việt Nam hóa” nhảy đầm, khiến nó trở nên gần gũi và dễ tiếp cận hơn.</p> <h3>Nhảy đầm trong bối cảnh chuyển giao văn hóa xã hội</h3> <p>Tuy vậy, đối với xã hội Việt Nam, một hoạt động đậm nét văn hóa phương Tây như nhảy đầm vẫn là thứ gì đó lạ lẫm và “không hợp thuần phong mỹ tục.” Như từ “nhảy đầm”, “đầm” ở đây bắt nguồn từ cụm “ông Tây bà đầm,” tức là thuộc về phương Tây chứ không gần gũi với người Việt.</p> <p>Xã hội Việt Nam chịu ảnh hưởng sâu sắc từ Nho giáo với nhiều đạo lý, trong đó có quan niệm “Nam nữ thụ thụ bất thân.” Theo <a href="https://kinhtedothi.vn/thong-diep-tu-lich-su-cau-chuyen-nam-nu-thu-thu-bat-than-thoi-xua.html" target="_blank">quan niệm</a> này, “Người nam và người nữ, không được phép ngồi chung hỗn độn, quần áo không được treo chung trên cùng một giá treo áo; từng mỗi người tự có khăn lược của riêng mình, không được phép dùng lẫn lộn; đưa đồ vật cũng không được phép chính tay chuyền cho.”</p> <p>Đặc biệt dưới thời Nguyễn, triều đại gần nhất khi đó thì sự hạn chế tiếp xúc giữa hai giới càng gắt gao. Theo sử sách, hai nhà ngoại giao Nguyễn Thành Ý và Nguyễn Tăng Doãn sau khi từ Pháp về đã <a href="https://kinhtedothi.vn/thong-diep-tu-lich-su-cau-chuyen-nam-nu-thu-thu-bat-than-thoi-xua.html" target="_blank">mô tả hoạt động nhảy đầm</a> cho vua Tự Đức. Kết quả, nhà vua cách chức Nguyễn Thành Ý và giáng cấp Nguyễn Tăng Doãn vì cho rằng đó chỉ là “nói hão.”</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam5.webp" /></p> <p class="image-caption">Bức hoạ 'Nhảy Đầm' theo phong cách Đông Hồ khắc họa hoạt động khiêu vũ của người Pháp, người Việt trong một tụ điểm lúc bấy giờ.</p> <p>Cũng vì luồng suy nghĩ đó mà đến tận 30 năm sau, một hoạt động có tính thân mật cao như nhảy đầm vẫn khó được chấp nhận. Cảnh tượng người nam cùng người nữ đứng sát nhau, tay trong tay nhảy trên điệu nhạc bị cho là dâm ô, trái với luân thường đạo lý và bị kỳ thị bởi xã hội. Nhà thơ Song Ngư phẫn nộ bởi cảnh “cốc rượu say sưa đổi vợ chồng,” “nhảy trai lưng sút, gái quần long” đã <a href="https://kinhtedothi.vn/nam-gioi-chuan-muc-va-su-so-hai-sac-dep.html" target="_blank">mỉa mai</a> gọi nhảy đầm là “bốn cẳng văn minh mới lạ lùng.”</p> <p>Báo chí thời đó tranh cãi rất gay gắt về nhảy đầm, trong đó những bài viết phản đối chiếm áp đảo. Trong một <a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=HtCq19330831&e=-------vi-20--1--img-txIN------" target="_blank" style="background-color: transparent;">bài đăng</a><span style="background-color: transparent;"> trên <em>Phụ nữ tân văn</em>, số ra ngày 31/8/1933, tác giả đã bày tỏ: “Nó cũng giống như một thú hàng nhập — càng không thích hợp với người bản xứ, hay một vật trang sức, mà dẫu bước đầu có người thấy mới lạ, vì tính hiếu kỳ đua nhau mua mặc, sau trông lại, thấy hoặc cộc quá hoặc chướng quá thì cũng đến phải bỏ só, vứt đi. Nhảy đầm rồi sẽ chết!”</span></p> <p>Tờ <em>Ngọ báo</em> (số ra ngày 10/5/1934) cũng đăng tải một <a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=Rhc19340510&e=-------vi-20--1--img-txIN------" target="_blank">bức biếm họa</a> khung cảnh nhảy đầm trong một gia đình nọ. Trong khi ông bà chủ say sưa khiêu vũ, nhân vật con sen và thằng bếp lại cho rằng hai người đang xô xát, phản ánh suy nghĩ về nhảy đầm của xã hội đương thời.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam9.webp" /></p> <p class="image-caption">“Này Sen ơn, có lẽ cậu mợ bất bình gì, tao thấy đang đánh vựt nhau.” Nguồn: Thư viện Quốc gia.</p> <p>Bên cạnh sự phản đối, cũng có ý kiến ủng hộ nhảy đầm và cho rằng đây là xu hướng cần cổ động. Trong một bài viết đăng tải trên <em>Hà Thành ngọ báo</em>, tác giả Đông Viên phê phán thói đạo đức giả và bênh vực các vũ nữ vốn bị xã hội coi thường. Ông viết: “Các ông bạn trẻ rất đạo đức của tôi ơi, các ông quả không biết gì về nhảy đầm mà dám công kích nhảy đầm, thật các ông đã lạm dụng quyền ngôn luận vậy. Đi xem nhảy đầm cũng như đọc một quyển sách, nếu học lực mình chưa thấu triệt nổi, thì bình phẩm làm sao?”</p> <p>Những người cổ động nhảy đầm đa phần là giới thanh niên du học, như một du học sinh từng kể với học giả Phạm Quỳnh, rằng người đó học nhảy đầm là để “cho Tây bên ấy họ biết rằng mình đã thạo những cách lịch sự ở Paris.” Đối với nhiều người, nhảy đầm là cách tiếp cận tầng lớp thượng lưu hay thậm chí là “<a href="https://zingnews.vn/nhay-dam-tung-bi-cho-la-xau-post1141807.html" target="_blank">một tấm giấy thông hành dự phần vào thế giới văn minh của giới cai trị.</a>”</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam12.webp" /></p> <p class="image-caption">Lệnh cấm nhảy đầm của Thị trường Hà Nội Phan Xuân Đài. Nguồn: Thư viện Quốc gia.</p> <p>Tuy thế, sự ủng hộ dành cho nhảy đầm chỉ đến từ một bộ phận nhỏ của xã hội Việt Nam, còn các phương tiện truyền thông đại chúng vẫn bị bao trùm bởi sự phản đối gay gắt. Năm 1949, thị trưởng Hà Nội là Phan Xuân Đài đã đăng tải <a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=WOIt19490604&e=-------vi-20--1--img-txIN------" target="_blank">lệnh cấm nhảy đầm</a>,&nbsp;đặc biệt nhấn mạnh rằng thú vui chơi này không phù hợp với hoàn cảnh đất nước bấy giờ. Theo đó, bất kỳ sàn nhảy nào có người Việt Nam sẽ bị đóng cửa, còn người khiêu vũ bị phạt rất nặng.</p> <h3>Hành trình “Nam tiến” và lệnh cấm tiếp diễn</h3> <p>Đến năm 1954, sau khi Hiệp định Genève được ký kết chia cắt hai miền đất nước, nhảy đầm ở miền Bắc dần thoái trào. Những vũ công có tiếng một thời giờ cất váy vóc, giày nhảy vào dưới đáy vali và chuyển sang làm nghề khác, các trường khiêu vũ cũng đóng cửa. Cả miền Bắc tập trung vào kháng chiến nên không còn chỗ cho những thú tiêu khiển như nhảy đầm.</p> <p>Mặt khác, do một bộ phận người đất Bắc di cư vào Sài Gòn nên nhảy đầm cũng theo đó mà mở rộng vào miền trong. Các trường khiêu vũ lại mọc lên và hoạt động sôi nổi, tiêu biểu như vũ trường&nbsp;<a href="https://vietnamnet.vn/cai-chet-bi-thuong-cua-nu-hoang-vu-truong-nuc-tieng-sai-gon-332587.html" target="_blank">Kim Sơn</a>&nbsp;hay <a href="https://vnexpress.net/dai-the-gioi-noi-hoi-tu-dan-an-choi-bac-nhat-sai-gon-xua-3353075.html" target="_blank">vũ trường Grand Mond</a>. Nhiều vũ nữ trẻ tuổi bắt đầu nổi danh, trong đó có “nữ hoàng vũ trường” Cẩm Nhung với vẻ nóng bỏng quyến rũ bao người.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam16.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam2.webp" alt="" /></div> </div> <p class="image-caption">Trái: Các vị khách nhảy đầm tại hộp đêm Maxim's. Nguồn: Thanh Niên. Phải: Bên ngoài hộp đêm Maxim's. Nguồn: người dùng Flickr <a href="https://www.flickr.com/photos/13476480@N07/32089516836/in/photolist-2nhr1fS-2nhoACo-2nhoACt-QTDanE-QPjC6W-wrVXcY-2n6VMQJ-2kQqz4K-2nhJ8Un-2kQqVRh-2n6Do2S-2nePJs3-2ngQNK6-QPjC6A-2ngQPcP-2m1Q5YV-2mNkVTt-2neWev3-2kNqJgq-2nsKJ1k-2mNhKV6-2nTzG2b-2mNjQey-2mNbiDw-2mNcjQL-RHHVDi-2mNcjQq-qFNACH-2mNcjQ5-2dpPAuR-RPEVCW-2m5fJdi-wrVX5d-HHdBMB-2mzdspQ-2iDoaBa-EJqJ1x-QEp9QK-2mNbiCz-PdKBdT-2kNp3cf-2mJbLnd-2myd5Ea-wrVXbA-jMPwM6-RPEVDC-2kbYpXi-9BxLoE-2ichx5Q-2mjH7Ln" target="_blank">manhhai</a>.</p> <p>Thế nhưng các vũ trường đều vận hành một cách kín đáo, bởi chính quyền Sài Gòn khi đó, cũng như chính quyền Hà Nội, đã ban lệnh cấm nhảy đầm, mở đầu là lệnh cấm năm 1955 của Tổng thống Ngô Đình Diệm. Bảy năm sau, “<a href="https://plo.vn/luat-bao-ve-luan-ly-post264085.html" target="_blank">Luật Bảo vệ luân lý</a>” ra đời và liệt nhảy đầm vào những hành vi làm bại hoại luân thường đạo lý, cùng với đánh bạc, chọi gà, mê tín dị đoan, mại dâm hay cả môn võ quyền Anh. Theo đó, nhảy đầm dù ở vũ trường ở nhà cũng đều là có tội, không chỉ người Việt Nam mà người nước ngoài nhảy đầm ở Việt Nam cũng đều bị xử phạt.</p> <p>Nhìn chung trong gần 20 năm sau đó đến tận cuối thập niên 70, số phận của nhảy đầm vẫn trồi sụt vì bị cho là “không phù hợp văn hóa và bối cảnh hiện tại.” Phong trào nhảy đầm tại cả hai miền Nam, Bắc diễn ra âm thầm và dần lụi tàn.</p> <h3>Thập niên 80: Nhảy đầm hồi sinh và chứng tỏ tầm quan trọng trong ngoại giao</h3> <p>Sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, nền kinh tế dần phục hồi thì các hoạt động văn hóa-xã hội lại có đất phát triển.</p> <p>Năm 1983 được coi là dấu mốc đánh dấu <a href="https://docs.google.com/viewerng/viewer?url=http://minhha.vn/forum/uploadfiles/KVSG.pdf" target="_blank">sự hồi sinh</a> của nhảy đầm tại cả hai miền Nam, Bắc khi chính quyền đẩy mạnh <a href="https://quochoi.vn/tulieuquochoi/anpham/Pages/anpham.aspx?AnPhamItemID=3375" target="_blank">phong trào</a>&nbsp;thanh thiếu niên. Nhảy đầm bắt đầu xuất hiện trong hoạt động tuyên truyền của phong trào thanh niên cộng sản, có lẽ vì quen mặt với giới trẻ, cộng thêm tính chất giao lưu mạnh mẽ của nó.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam4.webp" /></p> <p class="image-caption">Nhảy đầm trở lại dưới những thể loại mới, chẳng hạn như nhảy disco vào thập niên 80. Nguồn: Hạt giống tâm hồn.</p> <p>Ở Sài Gòn, hoạt động nhảy đầm được tổ chức ở Câu lạc bộ khiêu vũ thể nghiệm, khi đó gọi là “múa đôi” để tránh từ “nhảy đầm,” bởi cái nhìn của xã hội vẫn phần nào nhuốm màu sắc tiêu cực. Ủy ban Nhân dân Thành phố chỉ cho phép các nhà văn hóa tổ chức khiêu vũ <a href="http://baochi.nlv.gov.vn/baochi/cgi-bin/baochi?a=d&d=UyRi19881224.2.5&srpos=7&e=-------vi-20--1--img-txIN-khi%c3%aau+v%c5%a9+-----" target="_blank">một tuần một lần</a>, ngoài ra không được bán vé vào cửa. Dù bị giới hạn về mặt thời gian và không gian hoạt động, nhưng không thể phủ nhận sự trở lại của bộ môn này.</p> <p>Tương tự, ở Hà Nội cũng chứng kiến nhiều vũ công năm xưa quay lại với nghề, họ mở lớp dạy nhảy và thu hút hàng trăm học viên đến học. Các vũ trường cũng hoạt động trở lại, sàn nhảy được thiết kế hiện đại và khang trang hơn. Những điệu nhảy mới được du nhập vào, người ta không chỉ nhảy điệu valse, tango truyền thống mà còn có cả disco, dòng nhạc rất thịnh hành trong thập niên 80.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam13.webp" /></p> <p class="image-caption">Không còn lệnh cấm, các vũ sư có thể quay lại với nghề. Nguồn: Thanh Niên.</p> <p>Không chỉ sống lại trong quần chúng, nhảy đầm cũng có mặt trong các sự kiện chính thống, đặc biệt là ngoại giao. Vì là hoạt động phổ biến ở phương Tây, khi các chính khách từ các quốc gia này đến thăm, trong tiệc chiêu đãi không thể không có tiết mục khiêu vũ. Tại trụ sở Đại sứ quán các nước cũng diễn ra vũ hội với khách mời là các vũ công có tiếng ở Việt Nam. Ông Trương Văn Hiếu, vũ sư từng theo học tại Trường Cao đẳng thể dục Phan Thiết, nổi tiếng với khả năng cảm âm, là một trong những khách mời quen thuộc, tham gia dẫn nhảy cho các quan chức ngoại giao nước ngoài.</p> <h3>Từ đặc quyền của giới thượng lưu tới phong trào bình dân</h3> <p>Ngày nay, nhảy đầm không còn là hoạt động riêng của giới thượng lưu mà trở thành hoạt động bình dân, dành cho tất cả mọi người. Nhà văn Nguyễn Ngọc Tiến đã từng viết trên tờ <em>Hà Nội mới</em>: “Khiêu vũ trở thành thứ văn hóa bình dân đến mức trước khi ra chợ cóc mua rau, không ít các bà, các cô tranh thủ tạt vào sàn nhảy vài điệu cho dẻo chân. Lại có người đến sàn cốt để khoe bộ đầm mới hay tìm kiếm thứ gì đó họ đang thiếu.”</p> <p>Có thể dễ dàng bắt gặp người dân đang tập nhảy ở bất cứ đâu, từ Nhà văn hóa Thanh niên, Cung Văn hóa Hữu Nghị ở Hà Nội đến Cung Văn hóa Lao động ở TP. Hồ Chí Minh hay Trung tâm Văn hóa Thông tin tỉnh Thừa Thiên-Huế. Thậm chí tại công viên hay quán cà phê cũng tổ chức hoạt động nhảy đầm để thu hút người dân, như CLB Khiêu vũ dưỡng sinh ngoài trời ở Công viên Lê Thị Riêng có đến 80 học viên sinh hoạt mỗi tuần.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam1.webp" /></p> <p class="image-caption">Ngày nay, nhảy đầm/khiêu vũ là một trong những hoạt động giải trí phổ biến nhất ở các không gian công cộng. Nguồn: VnExpress.</p> <p>Không chỉ người trung niên và người cao tuổi, <a href="https://saigoneer.com/vn/parks-and-rec/17361-t%C3%B4i-%C4%91i-nh%E1%BA%A3y-%C4%91%E1%BA%A7m-trong-th%E1%BA%BF-gi%E1%BB%9Bi-qu%E1%BA%A9y-tung-n%C3%B3c-c%E1%BB%A7a-jazz-dance" target="_blank">các bạn trẻ trong độ tuổi 20 cũng đi học nhảy đầm</a>. Theo một bài viết trên báo <em>Tiền phong</em>, tại một cơ sở dạy nhảy trên phố Hoàng Quốc Việt, học viên theo học thuộc nhiều lứa tuổi nhưng đông nhất vẫn là thanh niên, phải mở thêm lớp mới đủ. Nhiều bạn tham gia vừa để giao lưu, vừa để cải thiện sức khỏe thể chất và tinh thần, đặc biệt trong bối cảnh cuộc sống hối hả như hiện tại.</p> <p>Kể từ ngày mới du nhập vào Việt Nam qua những buổi dạ vũ tại Lãnh sự quán Pháp, nhảy đầm đã trải qua hơn một thế kỷ thăng trầm, biến chuyển từ thứ chỉ dành cho giới nhà giàu thành một bộ môn giao lưu dành cho mọi người.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/12/21/nhaydam/nhaydam18.webp" /></p> <p class="image-caption">Một thế hệ người trẻ mới đang tiếp cận bộ môn nhảy đầm. Ảnh: Lê Thái Hoàng Nguyên.</p></div> Tản mạn về những trò chơi dân gian đã nuôi lớn tuổi thơ chúng ta 2025-06-01T16:00:00+07:00 2025-06-01T16:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17883-tản-mạn-về-những-trò-chơi-dân-gian-đã-nuôi-lớn-tuổi-thơ-chúng-ta Thảo Nguyên. Minh họa: Ngọc Tạ. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/gameweb1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/gamefb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Mùa này, chò bay khắp lối, những cánh chò nhỏ xíu xoay tít trong gió, rơi lả tả trên lối đi quen, như có ai đó cố tình gieo vào không gian chút hoài niệm. Tôi đứng dưới hiên nhà, nhìn từng cánh chò nghiêng nghiêng bay xuống, bất giác nhớ về khoảng sân xưa từng rộn rã tiếng cười của đám trẻ con rủ nhau chơi đủ trò, nào là nhảy dây, bịt mắt bắt dê, ô ăn quan, bắn bi. Mùa hè ùa về, không chỉ bằng cái nắng chói chang, mà bằng những cánh chò bay đầy trời, bằng tiếng ve râm ran suốt trưa, và cả những trò chơi hồn nhiên, vụng dại của đám trẻ quê ngày ấy.<br /></em></p> <p>Sân nhà những chiều nắng nhạt, xuyên qua tán lá, trải dài xuống sân đất còn ẩm mùi mưa. Tiếng ve kêu râm ran trong những tán cây xanh, quyện với tiếng chó sủa xen lẫn tiếng lũ trẻ ríu rít gọi nhau: “Ra chơi đi, tụi tao có mặt cả rồi.”</p> <p>Sân chơi của chúng tôi ngày ấy chẳng có gì ngoài một khoảng đất trống trước hay sau nhà, hàng rào tre xiêu vẹo, gốc ổi già thỉnh thoảng rụng xuống mấy quả chín thơm nức. Nhưng chỉ chừng đó thôi cũng đủ để những trò chơi cứ thế nối nhau, chơi hoài không biết chán. Đủ để lũ trẻ con chúng tôi được sống hết mình trong những buổi chiều rực rỡ và ngắn ngủi ấy.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game2.webp" /></p> <p class="image-caption">Bắn bi.</p> <p>Những trận tụ họp diễn ra một cách ngẫu nhiên, không có trò chơi nào được quyết định ngay từ đầu — đứa mang theo dây để nhảy, đứa xách theo lon sữa bò cũ để chơi tạt lon, đứa cuộn chiếc lá chuối khô thành con châu chấu, hay xách theo hũ bi ve xanh vàng để chiến trò bắn bi.</p> <p>Khi đã có mặt đông đủ, cả bọn sẽ biểu quyết xem hôm nay chơi trò gì trước tiên, chán rồi lại bày đến trò khác. Có trò còn chẳng cần đạo cụ gì, như rồng rắn lên mây, hay trốn tìm, cứ vậy cả đám cười phá lên, chạy loanh quanh có khi còn tản ra khắp xóm.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game1.webp" /></p> <p class="image-caption">Nhảy dây.</p> <p>Những trò chơi truyền thống của chúng tôi như một lát cắt phản ánh đời sống giản đơn của người Việt ngày ấy. Chúng mộc mạc như chính cuộc sống làng quê. Không cần phải hiện đại hay cầu kỳ, sự sáng tạo và trí tuệ dân gian đã tạo nên những thú tiêu khiển đậm bản sắc và đầy tính giáo dục. Ở đó, ta thấy cả một xã hội thu nhỏ, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên, biết tận dụng mọi vật dụng quanh mình để tạo ra niềm vui.</p> <p>Chiếc khăn rằn biến thành dây bịt mắt trong trò bịt mắt bắt dê, vài viên sỏi ngoài sân trở thành bàn cờ trong ô ăn quan, hay một khúc tre ngắn cũng có thể trở thành “thanh gươm” thiện chiến cho buổi đánh trận giả đầy khí thế. Mỗi trò chơi đều mang theo bóng dáng của cuộc sống lao động, của phong tục, tập quán, và tinh thần dân tộc.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game5.webp" /></p> <p class="image-caption">Ô ăn quan.</p> <p>Như trò ô ăn quan chẳng hạn, mấy nhỏ chúng tôi ngày đó cũng phải căng não học cách tính toán, vun vén để ăn được nhiều “quân” và thắng được “quan” nhanh nhất. Trò kéo co thì dạy cho tinh thần đoàn kết, vì nếu không đồng sức đồng lòng kéo thì cả đội sẽ thua. Mà tinh thần ấy cũng chính là thứ mà người lớn vẫn luôn gìn giữ trong công việc đồng áng, xây nhà, đắp đê, v.v.</p> <p>Và dù khi chơi trò gì cũng vậy, sẽ học được cách nhẫn nại, chờ đến lượt, tuân theo luật chơi, không giành phần thắng bằng mọi giá — từ đó hình thành sự kỷ luật, lòng trung thực và tình bạn trong sáng. Những trò chơi dân gian, dù đơn sơ, nhưng lại là nơi rèn luyện nhân cách cho tụi trẻ con một cách tự nhiên và gần gũi nhất.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game6.webp" /></p> <p class="image-caption">Rồng rắn lên mây.</p> <p>Những trò chơi dân gian không chỉ gắn liền với ký ức bằng hình ảnh, mà còn bằng âm thanh qua những bài đồng dao chẳng ai biết đã ra đời từ bao giờ, được truyền miệng qua biết bao thế hệ, đứa con nít thôn quê nào cũng thuộc nằm lòng. Mỗi trò chơi như gắn với một giai điệu riêng, một nhịp đập riêng của tuổi thơ. Những bài đồng dao gắn với các trò chơi dân gian thường không có vần luật phức tạp, dễ thuộc, dễ nhớ và cứ thế gieo vào đầu óc non nớt những âm vang dịu dàng và ấm áp.</p> <p>Đến giờ tôi vẫn nhớ mấy câu khi chơi trò rồng rắn lên mây mà hồi đó đứa nào cũng tranh nhau đọc thật to:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">Rồng rắn lên mây<br />Có cái cây lúc lắc<br />Hỏi thăm ông chủ<br />Có ở nhà hay không?</div> <p>Hay khi đã chạy mệt rã rời, đám trẻ con lại ngồi quay quần êm ru dưới gốc cây bàng, xòe bàn tay trước mặt và chơi trò úp lá khoai:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">Úp lá khoai<br />Mười hai chong chóng<br />Đứa mặc áo trắng<br />Đứa mặc áo đen<br />Đứa xách lồng đèn<br />Đứa cầm ống thụt<br />Thụt ra thụt vô<br />Có thằng té xuống giếng<br />Có thằng té xuống xình<br />Úi chà, úi da</div> <p>Không có công nghệ, không điện thoại, chỉ là những buổi trưa nắng chang chang, những khoảng sân đất, vài vật dụng đơn sơ, thế mà chúng tôi có thể chơi hàng giờ không biết chán. Chúng tôi lớn lên trong tiếng cười, bụi đất, mồ hôi và cả những vết xước đầu gối, nhưng điều đó khiến tuổi thơ trở nên thật chân thật.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game4.webp" /></p> <p class="image-caption">Úp lá khoai.</p> <p>Xã hội hôm nay đã đổi thay nhiều, và trẻ em hôm nay có những niềm vui mới, những công cụ mới để phát triển. Nhưng tôi vẫn tin rằng, có những điều không thể thay thế đó là trải nghiệm thực, là sự va chạm với thế giới thật. Và trò chơi dân gian, tuy giản dị, lại là chất keo gắn kết cộng đồng, là thế giới đầu tiên của cảm xúc, của trí tuệ và đạo đức. Chấp nhận rằng mọi thứ đều có thời của nó. Trò chơi dân gian cũng vậy.&nbsp;Chúng sinh từ cuộc sống giản dị, nên khi đời sống thay đổi, không gian cho chúng cũng dần biến mất. Có những trò chơi giờ chỉ còn được nhắc đến trong sách, hoặc xuất hiện vài lần trong các lễ hội trường học như một thứ hoài niệm.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game3.webp" /></p> <p class="image-caption">Bịt mắt bắt dê.</p> <p>Nhưng tôi vẫn mong, mong một chiều nào đó nắng vàng nhẹ tênh, sẽ có đứa trẻ bước ra khỏi màn hình, cúi xuống nhặt một viên bi, rủ bạn cùng chơi. Mong sẽ có ai đó buộc lại sợi dây thừng cũ, xoay vài vòng và cười vang khi nhảy trúng nhịp. Chỉ cần thế thôi để thấy rằng, niềm vui chẳng ở đâu xa. Nó nằm trong tiếng cười trong trẻo, trong giọt mồ hôi lấm tấm, và cả những vết trầy nho nhỏ của một tuổi thơ được sống trọn vẹn.</p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/gameweb1.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/gamefb1.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Mùa này, chò bay khắp lối, những cánh chò nhỏ xíu xoay tít trong gió, rơi lả tả trên lối đi quen, như có ai đó cố tình gieo vào không gian chút hoài niệm. Tôi đứng dưới hiên nhà, nhìn từng cánh chò nghiêng nghiêng bay xuống, bất giác nhớ về khoảng sân xưa từng rộn rã tiếng cười của đám trẻ con rủ nhau chơi đủ trò, nào là nhảy dây, bịt mắt bắt dê, ô ăn quan, bắn bi. Mùa hè ùa về, không chỉ bằng cái nắng chói chang, mà bằng những cánh chò bay đầy trời, bằng tiếng ve râm ran suốt trưa, và cả những trò chơi hồn nhiên, vụng dại của đám trẻ quê ngày ấy.<br /></em></p> <p>Sân nhà những chiều nắng nhạt, xuyên qua tán lá, trải dài xuống sân đất còn ẩm mùi mưa. Tiếng ve kêu râm ran trong những tán cây xanh, quyện với tiếng chó sủa xen lẫn tiếng lũ trẻ ríu rít gọi nhau: “Ra chơi đi, tụi tao có mặt cả rồi.”</p> <p>Sân chơi của chúng tôi ngày ấy chẳng có gì ngoài một khoảng đất trống trước hay sau nhà, hàng rào tre xiêu vẹo, gốc ổi già thỉnh thoảng rụng xuống mấy quả chín thơm nức. Nhưng chỉ chừng đó thôi cũng đủ để những trò chơi cứ thế nối nhau, chơi hoài không biết chán. Đủ để lũ trẻ con chúng tôi được sống hết mình trong những buổi chiều rực rỡ và ngắn ngủi ấy.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game2.webp" /></p> <p class="image-caption">Bắn bi.</p> <p>Những trận tụ họp diễn ra một cách ngẫu nhiên, không có trò chơi nào được quyết định ngay từ đầu — đứa mang theo dây để nhảy, đứa xách theo lon sữa bò cũ để chơi tạt lon, đứa cuộn chiếc lá chuối khô thành con châu chấu, hay xách theo hũ bi ve xanh vàng để chiến trò bắn bi.</p> <p>Khi đã có mặt đông đủ, cả bọn sẽ biểu quyết xem hôm nay chơi trò gì trước tiên, chán rồi lại bày đến trò khác. Có trò còn chẳng cần đạo cụ gì, như rồng rắn lên mây, hay trốn tìm, cứ vậy cả đám cười phá lên, chạy loanh quanh có khi còn tản ra khắp xóm.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game1.webp" /></p> <p class="image-caption">Nhảy dây.</p> <p>Những trò chơi truyền thống của chúng tôi như một lát cắt phản ánh đời sống giản đơn của người Việt ngày ấy. Chúng mộc mạc như chính cuộc sống làng quê. Không cần phải hiện đại hay cầu kỳ, sự sáng tạo và trí tuệ dân gian đã tạo nên những thú tiêu khiển đậm bản sắc và đầy tính giáo dục. Ở đó, ta thấy cả một xã hội thu nhỏ, nơi con người sống chan hòa với thiên nhiên, biết tận dụng mọi vật dụng quanh mình để tạo ra niềm vui.</p> <p>Chiếc khăn rằn biến thành dây bịt mắt trong trò bịt mắt bắt dê, vài viên sỏi ngoài sân trở thành bàn cờ trong ô ăn quan, hay một khúc tre ngắn cũng có thể trở thành “thanh gươm” thiện chiến cho buổi đánh trận giả đầy khí thế. Mỗi trò chơi đều mang theo bóng dáng của cuộc sống lao động, của phong tục, tập quán, và tinh thần dân tộc.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game5.webp" /></p> <p class="image-caption">Ô ăn quan.</p> <p>Như trò ô ăn quan chẳng hạn, mấy nhỏ chúng tôi ngày đó cũng phải căng não học cách tính toán, vun vén để ăn được nhiều “quân” và thắng được “quan” nhanh nhất. Trò kéo co thì dạy cho tinh thần đoàn kết, vì nếu không đồng sức đồng lòng kéo thì cả đội sẽ thua. Mà tinh thần ấy cũng chính là thứ mà người lớn vẫn luôn gìn giữ trong công việc đồng áng, xây nhà, đắp đê, v.v.</p> <p>Và dù khi chơi trò gì cũng vậy, sẽ học được cách nhẫn nại, chờ đến lượt, tuân theo luật chơi, không giành phần thắng bằng mọi giá — từ đó hình thành sự kỷ luật, lòng trung thực và tình bạn trong sáng. Những trò chơi dân gian, dù đơn sơ, nhưng lại là nơi rèn luyện nhân cách cho tụi trẻ con một cách tự nhiên và gần gũi nhất.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game6.webp" /></p> <p class="image-caption">Rồng rắn lên mây.</p> <p>Những trò chơi dân gian không chỉ gắn liền với ký ức bằng hình ảnh, mà còn bằng âm thanh qua những bài đồng dao chẳng ai biết đã ra đời từ bao giờ, được truyền miệng qua biết bao thế hệ, đứa con nít thôn quê nào cũng thuộc nằm lòng. Mỗi trò chơi như gắn với một giai điệu riêng, một nhịp đập riêng của tuổi thơ. Những bài đồng dao gắn với các trò chơi dân gian thường không có vần luật phức tạp, dễ thuộc, dễ nhớ và cứ thế gieo vào đầu óc non nớt những âm vang dịu dàng và ấm áp.</p> <p>Đến giờ tôi vẫn nhớ mấy câu khi chơi trò rồng rắn lên mây mà hồi đó đứa nào cũng tranh nhau đọc thật to:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">Rồng rắn lên mây<br />Có cái cây lúc lắc<br />Hỏi thăm ông chủ<br />Có ở nhà hay không?</div> <p>Hay khi đã chạy mệt rã rời, đám trẻ con lại ngồi quay quần êm ru dưới gốc cây bàng, xòe bàn tay trước mặt và chơi trò úp lá khoai:</p> <div class="quote" style="text-align: center;">Úp lá khoai<br />Mười hai chong chóng<br />Đứa mặc áo trắng<br />Đứa mặc áo đen<br />Đứa xách lồng đèn<br />Đứa cầm ống thụt<br />Thụt ra thụt vô<br />Có thằng té xuống giếng<br />Có thằng té xuống xình<br />Úi chà, úi da</div> <p>Không có công nghệ, không điện thoại, chỉ là những buổi trưa nắng chang chang, những khoảng sân đất, vài vật dụng đơn sơ, thế mà chúng tôi có thể chơi hàng giờ không biết chán. Chúng tôi lớn lên trong tiếng cười, bụi đất, mồ hôi và cả những vết xước đầu gối, nhưng điều đó khiến tuổi thơ trở nên thật chân thật.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game4.webp" /></p> <p class="image-caption">Úp lá khoai.</p> <p>Xã hội hôm nay đã đổi thay nhiều, và trẻ em hôm nay có những niềm vui mới, những công cụ mới để phát triển. Nhưng tôi vẫn tin rằng, có những điều không thể thay thế đó là trải nghiệm thực, là sự va chạm với thế giới thật. Và trò chơi dân gian, tuy giản dị, lại là chất keo gắn kết cộng đồng, là thế giới đầu tiên của cảm xúc, của trí tuệ và đạo đức. Chấp nhận rằng mọi thứ đều có thời của nó. Trò chơi dân gian cũng vậy.&nbsp;Chúng sinh từ cuộc sống giản dị, nên khi đời sống thay đổi, không gian cho chúng cũng dần biến mất. Có những trò chơi giờ chỉ còn được nhắc đến trong sách, hoặc xuất hiện vài lần trong các lễ hội trường học như một thứ hoài niệm.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2025/05/31/game/game3.webp" /></p> <p class="image-caption">Bịt mắt bắt dê.</p> <p>Nhưng tôi vẫn mong, mong một chiều nào đó nắng vàng nhẹ tênh, sẽ có đứa trẻ bước ra khỏi màn hình, cúi xuống nhặt một viên bi, rủ bạn cùng chơi. Mong sẽ có ai đó buộc lại sợi dây thừng cũ, xoay vài vòng và cười vang khi nhảy trúng nhịp. Chỉ cần thế thôi để thấy rằng, niềm vui chẳng ở đâu xa. Nó nằm trong tiếng cười trong trẻo, trong giọt mồ hôi lấm tấm, và cả những vết trầy nho nhỏ của một tuổi thơ được sống trọn vẹn.</p></div> Giao thoa văn hoá Ấn-Việt tại đền Mariamman, ngôi đền Ấn giáo trăm tuổi ở Sài Gòn 2025-05-26T12:00:00+07:00 2025-05-26T12:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17397-giao-thoa-văn-hoá-ấn-việt-tại-đền-mariamman,-ngôi-đền-ấn-giáo-trăm-tuổi-ở-sài-gòn Thư Trịnh. Ảnh: Lê Thái Hoàng Nguyên. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/01.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/03m.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Nhắc đến kiến trúc Ấn Độ Giáo tại Việt Nam, ta thường nghĩ đến những tòa&nbsp;<a href="https://saigoneer.com/vn/vietnam-travel/17061-v%E1%BA%BB-%C4%91%E1%BA%B9p-m%C3%AA-ho%E1%BA%B7c-nh%C3%ACn-t%E1%BB%AB-tr%C3%AAn-cao-c%E1%BB%A7a-th%C3%A1p-ch%C4%83m-b%C3%ACnh-%C4%91%E1%BB%8Bnh" target="_blank">tháp nguy nga</a>&nbsp;của người Chăm còn sót lại ở Nam Trung Bộ, hoặc những <a href="https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17267-%C4%91%C3%B3n-giao-th%E1%BB%ABa-v%C3%A0o-th%C3%A1ng-4,-th%E1%BA%A5y-l%C3%A1t-c%E1%BA%AFt-c%E1%BB%A7a-v%C4%83n-h%C3%B3a-khmer-gi%E1%BB%AFa-l%C3%B2ng-s%C3%A0i-g%C3%B2n" target="_blank">chùa Khmer</a> rực rỡ tại Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, đó không phải là tất cả. Tọa lạc giữa lòng quận 1, đền Mariamman, hay còn được người địa phượng gọi bằng chùa Bà Ấn Mariamman, là một trong ba ngôi đền Ấn Độ giáo nổi tiếng tại Sài Gòn.&nbsp;<br /></em></p> <h3>Dấu tích văn hóa Ấn</h3> <p>Trong văn hoá Ấn Độ,&nbsp;Mariamman là một vị thần mang ba nhiệm vụ: bảo trợ làng xã, bảo trợ gia đình và chữa bệnh cho người dân. Với đặc tính như một người mẹ, nữ thần có vị trí quan trọng trong hoạt động tín ngưỡng của người dân Nam Ấn Độ; tín ngưỡng này đã theo chân cộng đồng thương nhân người Ấn đến Việt Nam vào những năm 70 của thế kỷ 19.</p> <p>Đến giữa thế kỷ 20, cộng đồng người Ấn tại Sài Gòn càng lớn mạnh, họ bắt đầu tái xây dựng, trùng tu những cơ sở tôn giáo còn khiêm tốn thành những đền thờ khang trang, theo phong cách kiến trúc Nam Ấn.&nbsp;Cùng với đền <a href="https://saigoneer.com/vn/Subramaniam%20Swamy" target="_blank">Subramariamman Swamy</a>, đền&nbsp;Mariamman là một trong những công trình được họ xây dựng trong thời kỳ này.</p> <div class="full-width"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/07.webp" alt="" /></div> <p>Đi qua cánh cổng nhỏ màu ngọc lục bảo, ta bước vào thế giới thần thoại với vô số thần linh, đầy ắp triết lý thâm trầm của nền tôn giáo cổ xưa nhất nền văn minh nhân loại. Tại góc tường phía Nam,&nbsp;ngay sát cổng vào, ta sẽ bắt gặp một tấm gương cỡ lớn đại diện cho nữ thần Lakshmi, nữ thần của sự giàu có và thịnh vượng. Chung quanh gương là một cụm ba chiếc chuông gồm một chuông lớn và hai chuông nhỏ.</p> <p>Một tín hữu phụng vụ tại đền cho hay, khi tiến hành tu dưỡng đền, cặp chuông ấy chỉ còn lại hai chiếc giá treo. Mặc dù không xác định rõ vai trò của cặp chuông, ban quan trị quyết định gắn lại hai chiếc chuông mới vào vị trí đó nhằm khôi phục nguyên trạng nhất có thể kiến trúc của đền.</p> <div class="half-width right"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/36.webp" alt="" /></div> <p>Những bức tường cao và kín, ban đầu được xây dựng với mục đích bảo vệ người dân khỏi nạn xâm lăng, đã dần dần trở thành đặc trưng của đền thờ Nam Ấn. Hai cánh cổng nhỏ mở về hướng đông là lối di chuyển duy nhất để vào đền. Các cửa hông và cửa sổ đều được bịt kín, trên các bức tường cao và dày là các ô cửa thông gió be bé, chỉ lọt vừa vài tia sáng tạo nên một không gian yên tĩnh và trang nghiêm.&nbsp;</p> <p>Trong tập sách&nbsp;<a href="https://nxbxaydung.com.vn/van-hoa-va-kien-truc-phuong-dong-b6441.html" target="_blank"><em>Văn hóa và kiến trúc phương Đông</em></a>, tác giả lý giải kiến trúc Ấn Độ theo triết lý tôn giáo và quan niệm phong thủy Ấn Độ rằng cửa hướng Đông là cửa của sự sống, là lối đi dành cho người phàm. Các cửa còn lại, tuy có khung, nhưng đều bị bịt kín, gọi là cửa dụ. Do đó, hướng cửa chính có thể thay đổi tùy vào bản tính của vị thần được thờ trong đền, nhưng thường sẽ tránh hướng Nam.</p> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/54.webp" alt="" /></div> <p>Trung tâm của sảnh là điện thờ chính để thờ Bà và điện thờ phụ hai bên trái phải, thờ hai vị thần bảo hộ của Bà gọi là “Cô” và “Cậu.” Điện thờ được xây như một căn phòng nhỏ, không có cửa sổ, trong đó đặt tượng thờ. Sau khi cầu kinh, tín hữu Ấn giáo sẽ phải đi xung quanh điện theo chiều kim đồng hồ, mang ý nghĩa đi về hướng đông.&nbsp;</p> <p>Tuy nhiên, tín hữu Ấn giáo ngày nay, đặc biệt là tín hữu người Việt, thường không còn tuân theo “nghi thức xoay phải” này. Lối đi xung quanh điện được làm thấp hơn chính điện, được lát đá giống như nền điện thờ và được trang trí bằng 18 bức tượng cỡ nhỏ, là các hóa thân của thần Shiva.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/14.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/15.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/16.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/17.webp" alt="" /></div> </div> <div class="full-width"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/52.webp" alt="" /></div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/55.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/56.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/57.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/58.webp" alt="" /></div> </div> <p>Phía trước điện thờ chính là biểu tượng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Linga" target="_blank">Linga</a>-<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yoni" target="_blank">Yoni</a> tượng trưng cho triết lý âm dương của Ấn Độ. Theo thần thoại về thần Shiva, thần xuất hiện lần đầu dưới dạng cột lửa hình dương vật. Biểu tượng Linga và Yoni biểu hiện đặc tính âm-dương của thần, sự sáng tạo và sinh sôi của vạn vật. Quan niệm âm dương vì thế được thể hiện qua kiến trúc của đền thờ. Các đền thờ Ấn Độ giáo vì thế được xây dựng theo cấu trúc hình vuông Mandala — tượng trưng cho vũ trụ và hiện thân của con người. Vị trí thờ Linga-Yoni chính là trung tâm của Mandala, là vị trí rốn của thần Brahma hoặc sinh thực khí của nữ thần.</p> <p>Tập sách <a href="https://www.goodreads.com/book/show/21525688-legends-of-devi" target="_blank"><em>Legends of Devi</em></a>&nbsp;về một số huyền thoại Ấn Độ kể rằng, sông Hằng sinh ra từ tóc của nữ thần Ganga và được gót chân thần Shiva đỡ lấy, vì vậy dòng sông là dòng nước thánh chảy từ thiên giới. Từ đó, người Ấn Độ thường xây dựng các đền thờ tại vị trí hợp lưu của các con sông. Trong trường hợp đền được xây dựng vị trí trí không có sông, giếng hoặc hồ nước nhỏ được xây dựng để thay cho nguồn nước từ sông.</p> <p>Vì vị trí không phù hợp để đào giếng hay xây hồ, người ta đặt tại đền Mariamman một hòn non bộ ở đằng sau điện thờ chính, mô phỏng núi Meru và đại dương vào thời hỗn mang để minh họa cho truyền thuyết về nguồn gốc của Tam vị nhất thể tối cao của Ấn giáo — Brahman (đấng tạo hóa), Vishnu (đấng bảo hộ) và Shiva (đấng hủy diệt). Meru là một dãy núi có nhiều đỉnh, thần Vishnu ngự ở đỉnh cao nhất và các vị thần khác sẽ ngự ở các dãy thấp hơn. Hình ảnh núi Meru còn được mô phỏng trong kiến trúc tháp dạng kim tự tháp đỉnh bằng của các đền.</p> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/50.webp" alt="" /></div> <div class="one-row bigger"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/47.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/48.webp" alt="" /></div> </div> <h3>Không gian văn hóa của người Việt</h3> <p>Đền thờ có một chiếc bàn nhỏ trưng bày các loại sách về văn hóa Ấn Độ cùng thánh điển của Ấn Độ giáo và Phật giáo. Tại đó, du khách có thể đọc sách và ghi lại ý kiến, cảm nhận của mình vào một cuốn sổ. Với khách người Việt, họ chủ yếu ghi lại lời nguyện xin, nhiều hơn cả là lời cầu bình an cho gia đình, cầu hạnh phúc và tình duyên. Vì nữ thần có nhiều hóa thân và một trong số đó là thần bảo trợ hạnh phúc nên ngoài cầu bình an cho gia đình, người Việt cũng cầu tìm thấy đối tượng kết hôn phù hợp.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/39.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/41.webp" alt="" /></div> </div> <p>Khi được hỏi về nguồn gốc của lời truyền miệng “cầu tình duyên ở đây linh lắm,” một tín hữu phụng vụ tại đó chia sẻ với tôi rằng: “Người ta thường đến cầu bình an cho gia đình. Nhiều người xin rồi được ơn Bà, ghi lại trong sổ. Nhưng nói chung ai xin cái gì cũng được, quan trọng là phải có lòng tin.”</p> <p>Trong khi đi đó, các vị khách Ấn thường ghi lại trong sổ những cảm xúc khi đến thăm đền, phần lớn vì không khí nơi đây khiến họ nhớ về quê hương. Du khách đến từ những nơi khác thì cảm thấy ngạc nhiên với phong cách trang trí và những thông tin vô cùng chi tiết, hình ảnh minh họa sinh động tại các bảng giới thiệu về tôn giáo và triết học Ấn Độ.</p> <div class="full-width"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/53.webp" alt="" /></div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/28.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/42.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/43.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/25.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/21.webp" alt="" /></div> </div> <p>Đền thờ Mariamman là nơi đánh dấu sự dung hợp văn hóa giữa người Ấn và cư dân Nam Bộ trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Đến thăm ngôi đền vào một ngày thứ sáu của tháng 10, đền Mariamman có phần đông đúc hơn mọi ngày với các lượt khách ra vào không ngớt. Ấn Độ giáo dành riêng ngày thứ Sáu hàng tuần để thờ phụng Nữ thần của sự sống — Mẹ Thiên nhiên.</p> <p>Bên cạnh đó, do phần lớn tín hữu lui tới đền là Phật tử, họ bắt đầu cử hành thêm các lễ vào mồng Một và Rằm âm lịch. Trái cây, hoa tươi, gạo, đường, dầu ăn là những vật phẩm được phát cho tín hữu dùng cho nghi thức cúng bái. Vật phẩm không thể thiếu là trái dừa, biểu tượng cho sự tinh khiết, bên ngoài thô cứng nhưng bên trong ngọt ngào, tượng trưng cho sự khiêm tốn và tao nhã.&nbsp;</p> <p>Tín hữu được khuyên không nên mua lễ vật bên ngoài vì “thiếu tinh khiết.” Suốt tuần lễ vía Bà vào tháng 10 hàng năm, đền được trang trí bằng lá dừa khô được bện thành dây, treo xung quanh sảnh thờ chính. Mỗi tín hữu đến thăm đền còn được nhận lại phẩm, gọi là lộc của Bà, bao gồm vòng hoa, gạo và muối, tượng trưng cho sự ấm no, đủ đầy và may mắn. Chịu trách nhiệm cho việc thờ cúng và cử hành các nghi lễ là một thần tư tế biết tiếng Phạn và tiếng Hindi.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/08.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/12.webp" alt="" /></div> </div> <p>Tín hữu đến đền thường thực hiện một nghi thức độc đáo là úp mặt vào phía sau điện thờ, chạm và vỗ nhẹ vào đá để cầu nguyện. Một vị Phật tự phụ giúp tại đền chia sẻ rằng: “Chi có người Việt mình mới làm vậy thôi, còn người Ấn đa phần chỉ hành lễ ở phía trước điện thờ trung tâm, rồi đi thắp hương xung quanh là được.”</p> <p>Có lẽ vì người Việt quan niệm tiếp xúc gần thần linh là cách thể hiện đức tin và sự thành tâm nên thường cố gắng để được đến càng gần càng tốt. Một tín hữu người Việt nói với tôi rằng: “Chị thấy nhiều người làm nên chị cũng làm theo, mà làm vậy chị cũng thấy vững tin hơn.” Tượng sư tử đặt ngay cổng, là vật cưỡi của nữ thần, cũng được người dân thành kính cúng bái.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/44.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/31.webp" alt="" /></div> </div> <p>Theo suy đoán cá nhân của tôi, có lẽ người Việt đã khá quen thuộc với&nbsp;<a href="http://dsvh.gov.vn/thuc-hanh-tin-nguong-tho-mau-tam-phu-cua-nguoi-viet-tro-thanh-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-1536" target="_blank">tín ngưỡng thờ Mẫu</a>, nên việc thờ phụng nữ thần Mariamman đã được họ dễ dàng tiếp nhận. Từ đó, nó được dần biến đổi để phù hợp với văn hóa và thói quen thực hành tín ngưỡng của địa phương. Sau nhiều thập niên tồn tại, từ một ngôi đền phục vụ cho việc thực hành tôn giáo của người Ấn Độ tha hương, đền Mariamman giờ đây, với dáng vẻ của một ngôi đền Ấn giáo, đã trở thành nơi để cầu bình an, cầu may mắn của đông đảo người dân Sài Gòn đa văn hoá và tín ngưỡng.</p> <p><strong>Đề&nbsp;Mariamman toạ lạc tại số 45 Trương Định, phường Bến Thành, quận 1, TP. HCM.</strong></p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/01.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/03m.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Nhắc đến kiến trúc Ấn Độ Giáo tại Việt Nam, ta thường nghĩ đến những tòa&nbsp;<a href="https://saigoneer.com/vn/vietnam-travel/17061-v%E1%BA%BB-%C4%91%E1%BA%B9p-m%C3%AA-ho%E1%BA%B7c-nh%C3%ACn-t%E1%BB%AB-tr%C3%AAn-cao-c%E1%BB%A7a-th%C3%A1p-ch%C4%83m-b%C3%ACnh-%C4%91%E1%BB%8Bnh" target="_blank">tháp nguy nga</a>&nbsp;của người Chăm còn sót lại ở Nam Trung Bộ, hoặc những <a href="https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17267-%C4%91%C3%B3n-giao-th%E1%BB%ABa-v%C3%A0o-th%C3%A1ng-4,-th%E1%BA%A5y-l%C3%A1t-c%E1%BA%AFt-c%E1%BB%A7a-v%C4%83n-h%C3%B3a-khmer-gi%E1%BB%AFa-l%C3%B2ng-s%C3%A0i-g%C3%B2n" target="_blank">chùa Khmer</a> rực rỡ tại Tây Nam Bộ. Tuy nhiên, đó không phải là tất cả. Tọa lạc giữa lòng quận 1, đền Mariamman, hay còn được người địa phượng gọi bằng chùa Bà Ấn Mariamman, là một trong ba ngôi đền Ấn Độ giáo nổi tiếng tại Sài Gòn.&nbsp;<br /></em></p> <h3>Dấu tích văn hóa Ấn</h3> <p>Trong văn hoá Ấn Độ,&nbsp;Mariamman là một vị thần mang ba nhiệm vụ: bảo trợ làng xã, bảo trợ gia đình và chữa bệnh cho người dân. Với đặc tính như một người mẹ, nữ thần có vị trí quan trọng trong hoạt động tín ngưỡng của người dân Nam Ấn Độ; tín ngưỡng này đã theo chân cộng đồng thương nhân người Ấn đến Việt Nam vào những năm 70 của thế kỷ 19.</p> <p>Đến giữa thế kỷ 20, cộng đồng người Ấn tại Sài Gòn càng lớn mạnh, họ bắt đầu tái xây dựng, trùng tu những cơ sở tôn giáo còn khiêm tốn thành những đền thờ khang trang, theo phong cách kiến trúc Nam Ấn.&nbsp;Cùng với đền <a href="https://saigoneer.com/vn/Subramaniam%20Swamy" target="_blank">Subramariamman Swamy</a>, đền&nbsp;Mariamman là một trong những công trình được họ xây dựng trong thời kỳ này.</p> <div class="full-width"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/07.webp" alt="" /></div> <p>Đi qua cánh cổng nhỏ màu ngọc lục bảo, ta bước vào thế giới thần thoại với vô số thần linh, đầy ắp triết lý thâm trầm của nền tôn giáo cổ xưa nhất nền văn minh nhân loại. Tại góc tường phía Nam,&nbsp;ngay sát cổng vào, ta sẽ bắt gặp một tấm gương cỡ lớn đại diện cho nữ thần Lakshmi, nữ thần của sự giàu có và thịnh vượng. Chung quanh gương là một cụm ba chiếc chuông gồm một chuông lớn và hai chuông nhỏ.</p> <p>Một tín hữu phụng vụ tại đền cho hay, khi tiến hành tu dưỡng đền, cặp chuông ấy chỉ còn lại hai chiếc giá treo. Mặc dù không xác định rõ vai trò của cặp chuông, ban quan trị quyết định gắn lại hai chiếc chuông mới vào vị trí đó nhằm khôi phục nguyên trạng nhất có thể kiến trúc của đền.</p> <div class="half-width right"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/36.webp" alt="" /></div> <p>Những bức tường cao và kín, ban đầu được xây dựng với mục đích bảo vệ người dân khỏi nạn xâm lăng, đã dần dần trở thành đặc trưng của đền thờ Nam Ấn. Hai cánh cổng nhỏ mở về hướng đông là lối di chuyển duy nhất để vào đền. Các cửa hông và cửa sổ đều được bịt kín, trên các bức tường cao và dày là các ô cửa thông gió be bé, chỉ lọt vừa vài tia sáng tạo nên một không gian yên tĩnh và trang nghiêm.&nbsp;</p> <p>Trong tập sách&nbsp;<a href="https://nxbxaydung.com.vn/van-hoa-va-kien-truc-phuong-dong-b6441.html" target="_blank"><em>Văn hóa và kiến trúc phương Đông</em></a>, tác giả lý giải kiến trúc Ấn Độ theo triết lý tôn giáo và quan niệm phong thủy Ấn Độ rằng cửa hướng Đông là cửa của sự sống, là lối đi dành cho người phàm. Các cửa còn lại, tuy có khung, nhưng đều bị bịt kín, gọi là cửa dụ. Do đó, hướng cửa chính có thể thay đổi tùy vào bản tính của vị thần được thờ trong đền, nhưng thường sẽ tránh hướng Nam.</p> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/54.webp" alt="" /></div> <p>Trung tâm của sảnh là điện thờ chính để thờ Bà và điện thờ phụ hai bên trái phải, thờ hai vị thần bảo hộ của Bà gọi là “Cô” và “Cậu.” Điện thờ được xây như một căn phòng nhỏ, không có cửa sổ, trong đó đặt tượng thờ. Sau khi cầu kinh, tín hữu Ấn giáo sẽ phải đi xung quanh điện theo chiều kim đồng hồ, mang ý nghĩa đi về hướng đông.&nbsp;</p> <p>Tuy nhiên, tín hữu Ấn giáo ngày nay, đặc biệt là tín hữu người Việt, thường không còn tuân theo “nghi thức xoay phải” này. Lối đi xung quanh điện được làm thấp hơn chính điện, được lát đá giống như nền điện thờ và được trang trí bằng 18 bức tượng cỡ nhỏ, là các hóa thân của thần Shiva.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/14.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/15.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/16.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/17.webp" alt="" /></div> </div> <div class="full-width"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/52.webp" alt="" /></div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/55.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/56.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/57.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/58.webp" alt="" /></div> </div> <p>Phía trước điện thờ chính là biểu tượng <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Linga" target="_blank">Linga</a>-<a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Yoni" target="_blank">Yoni</a> tượng trưng cho triết lý âm dương của Ấn Độ. Theo thần thoại về thần Shiva, thần xuất hiện lần đầu dưới dạng cột lửa hình dương vật. Biểu tượng Linga và Yoni biểu hiện đặc tính âm-dương của thần, sự sáng tạo và sinh sôi của vạn vật. Quan niệm âm dương vì thế được thể hiện qua kiến trúc của đền thờ. Các đền thờ Ấn Độ giáo vì thế được xây dựng theo cấu trúc hình vuông Mandala — tượng trưng cho vũ trụ và hiện thân của con người. Vị trí thờ Linga-Yoni chính là trung tâm của Mandala, là vị trí rốn của thần Brahma hoặc sinh thực khí của nữ thần.</p> <p>Tập sách <a href="https://www.goodreads.com/book/show/21525688-legends-of-devi" target="_blank"><em>Legends of Devi</em></a>&nbsp;về một số huyền thoại Ấn Độ kể rằng, sông Hằng sinh ra từ tóc của nữ thần Ganga và được gót chân thần Shiva đỡ lấy, vì vậy dòng sông là dòng nước thánh chảy từ thiên giới. Từ đó, người Ấn Độ thường xây dựng các đền thờ tại vị trí hợp lưu của các con sông. Trong trường hợp đền được xây dựng vị trí trí không có sông, giếng hoặc hồ nước nhỏ được xây dựng để thay cho nguồn nước từ sông.</p> <p>Vì vị trí không phù hợp để đào giếng hay xây hồ, người ta đặt tại đền Mariamman một hòn non bộ ở đằng sau điện thờ chính, mô phỏng núi Meru và đại dương vào thời hỗn mang để minh họa cho truyền thuyết về nguồn gốc của Tam vị nhất thể tối cao của Ấn giáo — Brahman (đấng tạo hóa), Vishnu (đấng bảo hộ) và Shiva (đấng hủy diệt). Meru là một dãy núi có nhiều đỉnh, thần Vishnu ngự ở đỉnh cao nhất và các vị thần khác sẽ ngự ở các dãy thấp hơn. Hình ảnh núi Meru còn được mô phỏng trong kiến trúc tháp dạng kim tự tháp đỉnh bằng của các đền.</p> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/50.webp" alt="" /></div> <div class="one-row bigger"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/47.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/48.webp" alt="" /></div> </div> <h3>Không gian văn hóa của người Việt</h3> <p>Đền thờ có một chiếc bàn nhỏ trưng bày các loại sách về văn hóa Ấn Độ cùng thánh điển của Ấn Độ giáo và Phật giáo. Tại đó, du khách có thể đọc sách và ghi lại ý kiến, cảm nhận của mình vào một cuốn sổ. Với khách người Việt, họ chủ yếu ghi lại lời nguyện xin, nhiều hơn cả là lời cầu bình an cho gia đình, cầu hạnh phúc và tình duyên. Vì nữ thần có nhiều hóa thân và một trong số đó là thần bảo trợ hạnh phúc nên ngoài cầu bình an cho gia đình, người Việt cũng cầu tìm thấy đối tượng kết hôn phù hợp.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/39.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/41.webp" alt="" /></div> </div> <p>Khi được hỏi về nguồn gốc của lời truyền miệng “cầu tình duyên ở đây linh lắm,” một tín hữu phụng vụ tại đó chia sẻ với tôi rằng: “Người ta thường đến cầu bình an cho gia đình. Nhiều người xin rồi được ơn Bà, ghi lại trong sổ. Nhưng nói chung ai xin cái gì cũng được, quan trọng là phải có lòng tin.”</p> <p>Trong khi đi đó, các vị khách Ấn thường ghi lại trong sổ những cảm xúc khi đến thăm đền, phần lớn vì không khí nơi đây khiến họ nhớ về quê hương. Du khách đến từ những nơi khác thì cảm thấy ngạc nhiên với phong cách trang trí và những thông tin vô cùng chi tiết, hình ảnh minh họa sinh động tại các bảng giới thiệu về tôn giáo và triết học Ấn Độ.</p> <div class="full-width"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/53.webp" alt="" /></div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/28.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/42.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/43.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/25.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/21.webp" alt="" /></div> </div> <p>Đền thờ Mariamman là nơi đánh dấu sự dung hợp văn hóa giữa người Ấn và cư dân Nam Bộ trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Đến thăm ngôi đền vào một ngày thứ sáu của tháng 10, đền Mariamman có phần đông đúc hơn mọi ngày với các lượt khách ra vào không ngớt. Ấn Độ giáo dành riêng ngày thứ Sáu hàng tuần để thờ phụng Nữ thần của sự sống — Mẹ Thiên nhiên.</p> <p>Bên cạnh đó, do phần lớn tín hữu lui tới đền là Phật tử, họ bắt đầu cử hành thêm các lễ vào mồng Một và Rằm âm lịch. Trái cây, hoa tươi, gạo, đường, dầu ăn là những vật phẩm được phát cho tín hữu dùng cho nghi thức cúng bái. Vật phẩm không thể thiếu là trái dừa, biểu tượng cho sự tinh khiết, bên ngoài thô cứng nhưng bên trong ngọt ngào, tượng trưng cho sự khiêm tốn và tao nhã.&nbsp;</p> <p>Tín hữu được khuyên không nên mua lễ vật bên ngoài vì “thiếu tinh khiết.” Suốt tuần lễ vía Bà vào tháng 10 hàng năm, đền được trang trí bằng lá dừa khô được bện thành dây, treo xung quanh sảnh thờ chính. Mỗi tín hữu đến thăm đền còn được nhận lại phẩm, gọi là lộc của Bà, bao gồm vòng hoa, gạo và muối, tượng trưng cho sự ấm no, đủ đầy và may mắn. Chịu trách nhiệm cho việc thờ cúng và cử hành các nghi lễ là một thần tư tế biết tiếng Phạn và tiếng Hindi.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/08.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/12.webp" alt="" /></div> </div> <p>Tín hữu đến đền thường thực hiện một nghi thức độc đáo là úp mặt vào phía sau điện thờ, chạm và vỗ nhẹ vào đá để cầu nguyện. Một vị Phật tự phụ giúp tại đền chia sẻ rằng: “Chi có người Việt mình mới làm vậy thôi, còn người Ấn đa phần chỉ hành lễ ở phía trước điện thờ trung tâm, rồi đi thắp hương xung quanh là được.”</p> <p>Có lẽ vì người Việt quan niệm tiếp xúc gần thần linh là cách thể hiện đức tin và sự thành tâm nên thường cố gắng để được đến càng gần càng tốt. Một tín hữu người Việt nói với tôi rằng: “Chị thấy nhiều người làm nên chị cũng làm theo, mà làm vậy chị cũng thấy vững tin hơn.” Tượng sư tử đặt ngay cổng, là vật cưỡi của nữ thần, cũng được người dân thành kính cúng bái.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/44.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/11/04/mariamman/31.webp" alt="" /></div> </div> <p>Theo suy đoán cá nhân của tôi, có lẽ người Việt đã khá quen thuộc với&nbsp;<a href="http://dsvh.gov.vn/thuc-hanh-tin-nguong-tho-mau-tam-phu-cua-nguoi-viet-tro-thanh-di-san-van-hoa-phi-vat-the-dai-dien-cua-nhan-loai-1536" target="_blank">tín ngưỡng thờ Mẫu</a>, nên việc thờ phụng nữ thần Mariamman đã được họ dễ dàng tiếp nhận. Từ đó, nó được dần biến đổi để phù hợp với văn hóa và thói quen thực hành tín ngưỡng của địa phương. Sau nhiều thập niên tồn tại, từ một ngôi đền phục vụ cho việc thực hành tôn giáo của người Ấn Độ tha hương, đền Mariamman giờ đây, với dáng vẻ của một ngôi đền Ấn giáo, đã trở thành nơi để cầu bình an, cầu may mắn của đông đảo người dân Sài Gòn đa văn hoá và tín ngưỡng.</p> <p><strong>Đề&nbsp;Mariamman toạ lạc tại số 45 Trương Định, phường Bến Thành, quận 1, TP. HCM.</strong></p></div> Đón giao thừa vào tháng 4, thấy một thoáng văn hóa Khmer giữa lòng Sài Gòn 2025-04-28T11:00:00+07:00 2025-04-28T11:00:00+07:00 https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17267-đón-giao-thừa-vào-tháng-4,-thấy-lát-cắt-của-văn-hóa-khmer-giữa-lòng-sài-gòn Uyên Đỗ. Ảnh: Alberto Prieto. info@saigoneer.com <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/17.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/fb1m.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Dưới cái nắng, cái gió giao mùa của tháng 4, khuôn viên chùa Candaransi lại trở nên rộn ràng và tấp nập hơn vẻ nghiêm trang thường ngày. Tiếng chuông và tiếng gõ mõ vang lên, quyện cùng tiếng cười của sư thầy và Phật tử, tạo thành một bản hòa ca nô nức. Ai ai cũng ngóng trông kim đồng hồ điểm thời khắc giao thừa, báo hiệu năm mới Khmer đã đến.</em></p> <p>Diễn ra vào giữa tháng 4 hàng năm, Chôl Chnăm Thmây&nbsp;là sự kiện mang ý nghĩa trọng đại đối với đời sống tinh thần và tâm linh của người Khmer. Khởi phát từ Campuchia vào thế kỷ thứ 7, các truyền thống của Chôl Chnăm Thmây được các cộng đồng Khmer trên khắp thế giới gìn giữ và tiếp nối cho đến nay.</p> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/05.webp" alt="" /></div> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/07.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/09.webp" alt="" /></div> </div> <p>Truyền thông Việt Nam thường gọi Chôl Chnăm Thmây là một ngày "Tết" cổ truyền vì một số điểm tương đồng với Tết Nguyên Đán: cùng là dịp đánh dấu bước chuyển giao giữa năm mới và năm cũ, một khoảng thời gian để các gia đình sum vầy, thể hiện lòng biết ơn với những người đi trước và đã khuất, cũng như để ăn mừng những thành quả lao động đã gặt hái.</p> <p>Nhưng khác với người Kinh, xã hội của dân tộc Khmer có sự gắn bó mật thiết với đức tin, cụ thể là niềm tin vào Phật giáo Nam Tông. Từ các sinh hoạt thường ngày đến những ngày lễ quốc gia, hình ảnh hoặc tượng của Đức Phật đều được đặt ở vị trí <a href="http://tapchimattran.vn/dai-doan-ket/vi-tri-vai-tro-cua-phat-giao-nam-tong-khmer-o-tay-nam-bo-mot-so-van-de-dat-ra-va-giai-phap-39423.html">trang trọng</a> nhất. Chôl Chnăm Thmây, không ngoại lệ, cũng mang đậm màu sắc tín ngưỡng như vậy.</p> <p>Lễ hội được tiến hành dựa trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_l%E1%BB%8Bch">Phật lịch</a>. Các lễ nghi và tập tục liên quan đều được xây dựng dựa trên truyền thuyết Phật giáo. Việc tập trung, cúng viếng, và làm công đức tại chùa chiền vào những ngày này cũng là những hoạt động không thể thiếu.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/33.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/44.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/35.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/43.webp" alt="" /></div> </div> <p>Được thành lập vào năm 1946, chùa Candaransi là một trong hai "thành trì" của Phật giáo Nam Tông ở Sài Gòn. Tại đây, các lễ nghi tôn giáo, lớp học tiếng và sinh hoạt lễ hội quan trọng của đồng bào Khmer được tổ chức thường kỳ. Chùa không chỉ phục vụ cộng đồng hơn 24,000 người Khmer đang sinh sống tại thành phố, mà còn chào đón các bạn bè dân tộc khác đến tham quan và tìm hiểu.&nbsp;Mỗi dịp Chôl Chnăm Thmây, chùa Candaransi trở thành điểm hẹn để người dân tề tựu, cùng nhau đón mừng năm mới theo phong tục Khmer.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/16.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/10-02.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/15.webp" alt="" /></div> </div> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/12.webp" alt="" /></div> <p>Tập tục ăn năm mới vào tháng 4 của người Khmer được ấn định vào thời kỳ hoàng kim của đế quốc Angkor. Đức vua Khmer bấy giờ đã ra sắc lệnh dời "ngày Tết" của dân tộc từ tháng 11 sang tháng 5 âm lịch, tức tháng 4 dương lịch. Theo <a href="https://ethnomed.org/resource/khmer-new-year/#:~:text=Khmer%20people%20can%20find%20free,Cambodia%20to%20celebrate%20New%20Year." target="_blank">giả thuyết</a>, vị vua này có thể là Suriyavarman II, người đã cho xây dựng Angkor Wat hoặc Jayavaraman VII, vị vua Khmer đầu tiên theo Phật giáo.</p> <p>Ngày đầu tiên của đại lễ, mang tên Sangkran Thmây, đánh dấu thời khắc giao thừa quan trọng. Theo Hòa thượng Danh Lung, chủ trì chùa Candaransi, người Khmer quan niệm giao thừa không phải là khoảnh khắc "0 giờ 0 phút" như Tết Dương lịch hay Tết Nguyên Đán, mà là khi một vị Chư Thiên — tức một trong bảy người con gái của đấng sáng tạo Maha Prum — giáng trần. Các Chư Thiên sẽ lần lượt xuống hạ giới với trọng trách thay vị thần năm cũ cai quản chúng sinh.</p> <div class="left half-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/37.webp" alt="" /></div> <div> <p class="image-caption">Tượng Maha Prum, đấng sáng tạo với bốn khuôn mặt trong truyền thuyết Khmer.</p> </div> </div> <p>Nghi lễ quan trọng nhất của ngày hôm đó vì vậy cũng chính là lễ đón Chư Thiên. Buổi sáng ngày Sangkran Thmây, đồng bào Khmer vận lên những trang phục tươm tất và tụ họp tại khuôn viên chùa Candaransi. Tại đây, các chư tăng và Phật tử cùng nhau dâng hương đến Đức Phật và cầu mong Chư Thiên ban cho một năm giàu phước lành. Lễ đón chư thiên mỗi năm có thời gian khác nhau, được tính theo chu kỳ của mặt trăng, và lấy thời gian của năm trước cộng thêm 6 giờ.</p> <p>Trong suốt nghi lễ đón Chư Thiên, vị đại hòa thượng dành thời gian để thuyết giảng về những sự tích Phật giáo gắn liền với thực hành Chôl Chnăm Thmây. Trong đám đông lắng nghe thuyết pháp, có thể bắt gặp không chỉ những gương mặt Khmer, mà còn cả người Thái Lan, Lào và Myanmar đang học tập và làm việc tại Sài Gòn. Cũng có không ít những đồng bào người Kinh, Hoa, Chăm,… đến để chung vui và góp sức cho ngày trọng đại của dân tộc bạn.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/18.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/28.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/22.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/25.webp" alt="" /></div> </div> <p>Chư Thiên được miêu tả mỗi năm với hình ảnh, màu sắc và biểu tượng riêng, tùy theo năm âm lịch. Một số năm, vị thần có thể đứng trên lưng voi, mặc áo màu xanh đậm, tay cầm vòng và súng; các món ăn tượng trưng cũng thay đổi, có năm là mè và đậu, có năm lại là các loại thực phẩm khác.</p> <p>Những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu của kiều bào không thể trực tiếp về quê nhà, nghi lễ đón Chư Thiên tại chùa còn được phát trực tiếp qua các nền tảng mạng xã hội, giúp mọi người dù ở xa vẫn có thể hòa mình vào không khí thiêng liêng của ngày lễ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/27.webp" alt="" /></p> <p>Sau lễ đón Chư Thiên, các vị khách ùa dần vào phòng thờ để thực hiện nghi lễ cúng dường, tức lễ dâng cơm và sính phẩm cho các sư thầy. Đây là hành động mang ý nghĩa tri ân, bày tỏ lòng tôn kính đến những người giữ gìn đức tin Phật giáo. Các vật phẩm đều là do các Phật tử tự nguyện dâng tặng. Những gia đình chịu trách nhiệm chuẩn bị đồ cúng chính được gọi là "đăng cai," trong khi những ai phụ giúp được gọi là "sớt bát." Trước khi dùng bữa, các sư thầy và Phật tử cùng nhau làm lễ dâng hương và cầu kinh cho tổ tiên và những linh hồn đã khuất.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/45.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/51.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/49.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/50.webp" alt="" /></div> </div> <p>Trong số những người dâng lễ, không phải ai cũng là người Khmer. Họ đơn thuần có mối liên hệ cá nhận, tinh thần mạnh mẽ với những tập tục được thực hiện tại Chùa. "Ông xã nhà chị từng sống ở Campuchia, và có một người chị từng mất bên đó. Mẹ chồng dặn mỗi năm tới Tết [Khmer], cả nhà nhớ sớt bát để cúng cho chị ấy. Một năm chỉ có một ngày, nên chị cũng cố canh tất niên. Cơm với canh, cái gì chị gắng làm được thì làm," chị Ngọc Lan, một trong những người tham gia sớt bát chia sẻ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/52.webp" alt="" /></p> <p>Kết thúc buổi sáng giao thừa, sự nghiêm trang từ chuỗi nghi lễ như tan biến để nhường chỗ cho tiếng nói, tiếng cười của đám đông. Một cảm giác nồng ấm như bao bọc không gian từ những cái ôm, cái bắt tay của những người đồng hương, từ những con người từ mọi hoàn cảnh, dân tộc cùng về chung vui cho một dịp đặc biệt.</p> <p>Lễ vật đã được dâng gửi thánh thần, bữa ăn thịnh soạn đã được bày biện để chư vị thưởng thức. Trên không trung, những lá cờ Phật giáo tung bay, báo hiệu cho cơn gió mang những lời mừng chúc năm mới Khmer đi khắp đất trời.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/39.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/47.webp" alt="" /></div> </div> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/02.webp" /></div> <p><em><strong>Bài viết đăng tải lần đầu vào năm 2022.&nbsp;</strong></em></p></div> <div class="feed-description"><p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/17.webp" data-og-image="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/fb1m.webp" data-position="50% 50%" /></p> <p><em>Dưới cái nắng, cái gió giao mùa của tháng 4, khuôn viên chùa Candaransi lại trở nên rộn ràng và tấp nập hơn vẻ nghiêm trang thường ngày. Tiếng chuông và tiếng gõ mõ vang lên, quyện cùng tiếng cười của sư thầy và Phật tử, tạo thành một bản hòa ca nô nức. Ai ai cũng ngóng trông kim đồng hồ điểm thời khắc giao thừa, báo hiệu năm mới Khmer đã đến.</em></p> <p>Diễn ra vào giữa tháng 4 hàng năm, Chôl Chnăm Thmây&nbsp;là sự kiện mang ý nghĩa trọng đại đối với đời sống tinh thần và tâm linh của người Khmer. Khởi phát từ Campuchia vào thế kỷ thứ 7, các truyền thống của Chôl Chnăm Thmây được các cộng đồng Khmer trên khắp thế giới gìn giữ và tiếp nối cho đến nay.</p> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/05.webp" alt="" /></div> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/07.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/09.webp" alt="" /></div> </div> <p>Truyền thông Việt Nam thường gọi Chôl Chnăm Thmây là một ngày "Tết" cổ truyền vì một số điểm tương đồng với Tết Nguyên Đán: cùng là dịp đánh dấu bước chuyển giao giữa năm mới và năm cũ, một khoảng thời gian để các gia đình sum vầy, thể hiện lòng biết ơn với những người đi trước và đã khuất, cũng như để ăn mừng những thành quả lao động đã gặt hái.</p> <p>Nhưng khác với người Kinh, xã hội của dân tộc Khmer có sự gắn bó mật thiết với đức tin, cụ thể là niềm tin vào Phật giáo Nam Tông. Từ các sinh hoạt thường ngày đến những ngày lễ quốc gia, hình ảnh hoặc tượng của Đức Phật đều được đặt ở vị trí <a href="http://tapchimattran.vn/dai-doan-ket/vi-tri-vai-tro-cua-phat-giao-nam-tong-khmer-o-tay-nam-bo-mot-so-van-de-dat-ra-va-giai-phap-39423.html">trang trọng</a> nhất. Chôl Chnăm Thmây, không ngoại lệ, cũng mang đậm màu sắc tín ngưỡng như vậy.</p> <p>Lễ hội được tiến hành dựa trên <a href="https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%ADt_l%E1%BB%8Bch">Phật lịch</a>. Các lễ nghi và tập tục liên quan đều được xây dựng dựa trên truyền thuyết Phật giáo. Việc tập trung, cúng viếng, và làm công đức tại chùa chiền vào những ngày này cũng là những hoạt động không thể thiếu.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/33.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/44.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/35.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/43.webp" alt="" /></div> </div> <p>Được thành lập vào năm 1946, chùa Candaransi là một trong hai "thành trì" của Phật giáo Nam Tông ở Sài Gòn. Tại đây, các lễ nghi tôn giáo, lớp học tiếng và sinh hoạt lễ hội quan trọng của đồng bào Khmer được tổ chức thường kỳ. Chùa không chỉ phục vụ cộng đồng hơn 24,000 người Khmer đang sinh sống tại thành phố, mà còn chào đón các bạn bè dân tộc khác đến tham quan và tìm hiểu.&nbsp;Mỗi dịp Chôl Chnăm Thmây, chùa Candaransi trở thành điểm hẹn để người dân tề tựu, cùng nhau đón mừng năm mới theo phong tục Khmer.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/16.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/10-02.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/15.webp" alt="" /></div> </div> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/12.webp" alt="" /></div> <p>Tập tục ăn năm mới vào tháng 4 của người Khmer được ấn định vào thời kỳ hoàng kim của đế quốc Angkor. Đức vua Khmer bấy giờ đã ra sắc lệnh dời "ngày Tết" của dân tộc từ tháng 11 sang tháng 5 âm lịch, tức tháng 4 dương lịch. Theo <a href="https://ethnomed.org/resource/khmer-new-year/#:~:text=Khmer%20people%20can%20find%20free,Cambodia%20to%20celebrate%20New%20Year." target="_blank">giả thuyết</a>, vị vua này có thể là Suriyavarman II, người đã cho xây dựng Angkor Wat hoặc Jayavaraman VII, vị vua Khmer đầu tiên theo Phật giáo.</p> <p>Ngày đầu tiên của đại lễ, mang tên Sangkran Thmây, đánh dấu thời khắc giao thừa quan trọng. Theo Hòa thượng Danh Lung, chủ trì chùa Candaransi, người Khmer quan niệm giao thừa không phải là khoảnh khắc "0 giờ 0 phút" như Tết Dương lịch hay Tết Nguyên Đán, mà là khi một vị Chư Thiên — tức một trong bảy người con gái của đấng sáng tạo Maha Prum — giáng trần. Các Chư Thiên sẽ lần lượt xuống hạ giới với trọng trách thay vị thần năm cũ cai quản chúng sinh.</p> <div class="left half-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/37.webp" alt="" /></div> <div> <p class="image-caption">Tượng Maha Prum, đấng sáng tạo với bốn khuôn mặt trong truyền thuyết Khmer.</p> </div> </div> <p>Nghi lễ quan trọng nhất của ngày hôm đó vì vậy cũng chính là lễ đón Chư Thiên. Buổi sáng ngày Sangkran Thmây, đồng bào Khmer vận lên những trang phục tươm tất và tụ họp tại khuôn viên chùa Candaransi. Tại đây, các chư tăng và Phật tử cùng nhau dâng hương đến Đức Phật và cầu mong Chư Thiên ban cho một năm giàu phước lành. Lễ đón chư thiên mỗi năm có thời gian khác nhau, được tính theo chu kỳ của mặt trăng, và lấy thời gian của năm trước cộng thêm 6 giờ.</p> <p>Trong suốt nghi lễ đón Chư Thiên, vị đại hòa thượng dành thời gian để thuyết giảng về những sự tích Phật giáo gắn liền với thực hành Chôl Chnăm Thmây. Trong đám đông lắng nghe thuyết pháp, có thể bắt gặp không chỉ những gương mặt Khmer, mà còn cả người Thái Lan, Lào và Myanmar đang học tập và làm việc tại Sài Gòn. Cũng có không ít những đồng bào người Kinh, Hoa, Chăm,… đến để chung vui và góp sức cho ngày trọng đại của dân tộc bạn.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/18.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/28.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/22.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/25.webp" alt="" /></div> </div> <p>Chư Thiên được miêu tả mỗi năm với hình ảnh, màu sắc và biểu tượng riêng, tùy theo năm âm lịch. Một số năm, vị thần có thể đứng trên lưng voi, mặc áo màu xanh đậm, tay cầm vòng và súng; các món ăn tượng trưng cũng thay đổi, có năm là mè và đậu, có năm lại là các loại thực phẩm khác.</p> <p>Những năm gần đây, để đáp ứng nhu cầu của kiều bào không thể trực tiếp về quê nhà, nghi lễ đón Chư Thiên tại chùa còn được phát trực tiếp qua các nền tảng mạng xã hội, giúp mọi người dù ở xa vẫn có thể hòa mình vào không khí thiêng liêng của ngày lễ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/27.webp" alt="" /></p> <p>Sau lễ đón Chư Thiên, các vị khách ùa dần vào phòng thờ để thực hiện nghi lễ cúng dường, tức lễ dâng cơm và sính phẩm cho các sư thầy. Đây là hành động mang ý nghĩa tri ân, bày tỏ lòng tôn kính đến những người giữ gìn đức tin Phật giáo. Các vật phẩm đều là do các Phật tử tự nguyện dâng tặng. Những gia đình chịu trách nhiệm chuẩn bị đồ cúng chính được gọi là "đăng cai," trong khi những ai phụ giúp được gọi là "sớt bát." Trước khi dùng bữa, các sư thầy và Phật tử cùng nhau làm lễ dâng hương và cầu kinh cho tổ tiên và những linh hồn đã khuất.</p> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/45.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/51.webp" alt="" /></div> </div> <div class="one-row full-width"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/49.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/50.webp" alt="" /></div> </div> <p>Trong số những người dâng lễ, không phải ai cũng là người Khmer. Họ đơn thuần có mối liên hệ cá nhận, tinh thần mạnh mẽ với những tập tục được thực hiện tại Chùa. "Ông xã nhà chị từng sống ở Campuchia, và có một người chị từng mất bên đó. Mẹ chồng dặn mỗi năm tới Tết [Khmer], cả nhà nhớ sớt bát để cúng cho chị ấy. Một năm chỉ có một ngày, nên chị cũng cố canh tất niên. Cơm với canh, cái gì chị gắng làm được thì làm," chị Ngọc Lan, một trong những người tham gia sớt bát chia sẻ.</p> <p><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/52.webp" alt="" /></p> <p>Kết thúc buổi sáng giao thừa, sự nghiêm trang từ chuỗi nghi lễ như tan biến để nhường chỗ cho tiếng nói, tiếng cười của đám đông. Một cảm giác nồng ấm như bao bọc không gian từ những cái ôm, cái bắt tay của những người đồng hương, từ những con người từ mọi hoàn cảnh, dân tộc cùng về chung vui cho một dịp đặc biệt.</p> <p>Lễ vật đã được dâng gửi thánh thần, bữa ăn thịnh soạn đã được bày biện để chư vị thưởng thức. Trên không trung, những lá cờ Phật giáo tung bay, báo hiệu cho cơn gió mang những lời mừng chúc năm mới Khmer đi khắp đất trời.</p> <div class="one-row"> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/39.webp" alt="" /></div> <div><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/47.webp" alt="" /></div> </div> <div class="bigger"><img src="//media.urbanistnetwork.com/urbanistvietnam/articleimages/2022/05/11/khmernewyear/02.webp" /></div> <p><em><strong>Bài viết đăng tải lần đầu vào năm 2022.&nbsp;</strong></em></p></div>