Khám phá Việt Nam và hơn thế nữa - Sài·gòn·eer https://saigoneer.com/vn/component/content/?view=featured Mon, 09 Mar 2026 16:32:31 +0700 Joomla! - Open Source Content Management vi-vn Hừng đông trên chợ cá Duy Hải, Hội An https://saigoneer.com/vn/vietnam-travel/18070-hừng-đông-trên-chợ-cá-duy-hải,-hội-an https://saigoneer.com/vn/vietnam-travel/18070-hừng-đông-trên-chợ-cá-duy-hải,-hội-an

Ba giờ sáng, những con đường ở Hội An vắng lặng trơ khấc, dường như mọi hơi thở và dấu vết của con người đều đã bị gột sạch. Không ánh đèn, không tiếng động, cũng chẳng chút cựa mình. Vậy mà đó lại là lúc cần bước chân ra ngoài để tự mình trải nghiệm cảnh mua bán tất bật tại chợ cá Duy Hải.

Bên kia cầu Cửa Đại, xa khỏi Phố Cổ là những dãy nhà san sát nơi người dân đang lục đục thức dậy. Tiếng xe máy nổ giòn từ đằng xa, vài nếp nhà đã lên đèn, và cuối cùng trên những con đường nhỏ dẫn ra phía nước, các quán ăn cùng tiệm cà phê hiện ra rực rỡ giữa bóng tối của màn đêm. Tiếng nhạc bolero phát ra từ vài vách chòi đơn sơ, mấy chú đứng tuổi đang đập bài sàn sạt xuống mặt bàn nhựa ngổn ngang phin cà phê và ly tách. Công việc của họ vốn đã xong xuôi, giờ là lúc thong thả nghỉ ngơi khi đôi chân đã chạm được vào đất bãi. Ngược lại, ở phía bến tàu, cánh phụ nữ chỉ mới bắt đầu ngày làm việc, khi những vầng sáng đỏ bầm như vệt máu loang dần phía chân trời.

Cứ nhìn vào một ngôi chợ cá thì mới thấy, đằng sau cái vẻ ngoài xô bồ lại là một guồng máy mưu sinh vận hành cực kỳ hiệu quả. Những chiếc xô cùng rổ nhựa đủ loại chất đầy cá, lớp vảy nhớt lấp lánh trên nền xi măng nhìn chẳng khác gì những món đồ mỹ ký rẻ tiền bị đánh rơi. Mấy bà, mấy cô nhanh tay cân đo và phân loại cá trước khi bán lại cho thương lái để họ chở lên thành phố, giao cho các nhà hàng hay tiểu thương. Cánh phụ nữ phối hợp ăn ý với cha, chồng hoặc anh em trai là những người cầm lái đưa tàu cập bến. Chốn này tuyệt nhiên không có chỗ cho việc ăn diện. Đồ bộ lệch tông, áo nỉ lem luốc cùng những chiếc nón sờn cũ trở thành bộ đồng phục bất đắc dĩ của những người đang ngồi xổm trên mấy đôi ủng cao quá gối, lâu lâu lại bị nước bắn tung tóe khắp mình mẩy. Mùi tanh của cá quyện với mùi khói máy cứ thế vương vẩn trong không khí.

Dù xa tít từ cái cảnh xô bồ trên bến, không khí dưới mặt nước cũng khẩn trương chẳng kém. Những cầu tàu ít ỏi của Duy Hải phải đón một lượng lớn tàu thuyền từ khơi về, đòi hỏi sự điều phối khéo léo để cập bến nhanh chóng mà không xảy ra va chạm. Những quy tắc ngầm định ra thứ tự và quy trình cập bến là điều mà người ngoài khó lòng hiểu thấu. Mọi thứ vận hành theo một quy luật bí ẩn như chính những dòng hải lưu mà chúng ta tuy không hiểu rõ nhưng vẫn luôn tin tưởng.

Mặt trời vẫn chưa ló rạng nhưng những tia sáng le lói đã báo hiệu một ngày mới bắt đầu. 

Những dải màu vàng cam dần xé toạc màn sương sớm.

Những tấm lưới tơi tả và rối nùi cùng mớ phao lấm lem chất chồng trên boong thuyền. Lớp gỗ phong trần lộ ra loang lổ dưới những mảng sơn bong tróc từng rực rỡ một thời, ngay cả đôi mắt quen thuộc nơi mũi thuyền cũng đã sứt mẻ và nhạt nhòa theo thời gian. Một lớp nhầy nhụa mặn chát của bùn đất, rong rêu, dầu máy và mồ hôi phủ lên mọi bề mặt. Giữa cái cảnh nhớp nháp ấy, họa chăng chỉ có mặt nước biển hay những tầng mây trên cao là còn gợi chút gì đó sạch trong, báo hiệu cho một lúc nào đó thảnh thơi hơn khi người ta được tắm táp bằng nước nóng và xì xụp bát nước lèo trong vắt nấu từ chính mẻ cá này.

Họ miệt mài gỡ cá từ lưới. 

Những sản vật biển tươi rói được phân loại theo từng chủng loại và kích cỡ khác nhau.

Lúc gần kề 6 giờ sáng, những công việc nhọc nhằn vẫn chưa tới hồi kết, nhưng ánh ban mai lại kéo theo một phiền toái khác mang tên “khách du lịch.” Với những chiếc xe thuê và mũ bảo hiểm giống hệt nhau, khách tham quan lăm lăm tay máy bắt đầu đổ bộ vào khung cảnh. Những người đàn ông đang chuyển cá lên bờ và những người phụ nữ hò hét ngã giá với nhau giờ đây phải dè chừng những người lạ mặt này. Duy Hải cũng như bao địa điểm sinh hoạt truyền thống khác nay đã trở thành một màn trình diễn cho cả người ngoại quốc lẫn nội địa hiếu kỳ. Đã đến lúc nên rời đi. Khi nhìn lại từ phía cây cầu, sự hỗn loạn lúc nãy giờ đã mờ mịt, hơi nóng ngày mới bắt đầu phủ lên những ngọn núi xa xa. Một lời nhắc nhở về sự nhỏ bé và mong manh của loài người bên rìa đại dương bao la.

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Ảnh: Alberto Prieto.) Đặc biệt Ao Ta Xê Dịch Wed, 04 Mar 2026 10:00:00 +0700
Giải mã 'mùi Việt Kiều' bí ẩn trong ký ức tuổi thơ tôi https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18069-giải-mã-mùi-việt-kiều-bí-ẩn-trong-ký-ức-tuổi-thơ-tôi https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18069-giải-mã-mùi-việt-kiều-bí-ẩn-trong-ký-ức-tuổi-thơ-tôi

Hồi nhỏ, thứ bánh kẹo tôi ưa nhất là Kisses của Hershey. Cục kẹo sô-cô-la nhỏ xinh, đầu teo đít to, bọc trong lớp giấy bạc đủ màu sắc làm tôi mê mẩn, không chỉ vì hương vị ngọt ngào, mà còn vì, ngày ấy, đứa nào có người thân đi nước ngoài mới có diễm phúc được ăn Kisses. Gói theo bịch Kisses đem vào lớp chia cho chúng bạn, tôi nhỏ nít cảm thấy mình đặc biệt và vinh dự hơn hẳn.

Những năm tháng chiến tranh với Mỹ đã giày xéo nước ta cả về kinh tế lẫn xã hội, khiến nhiều gia đình phải ly tán và khiến cộng động người Việt lưu vong trở thành một trong những nhóm cư dân đông nhất nhiều nước phương Tây. Người ta vẫn gọi họ là Việt Kiều. Ngày còn con nít, tôi không hiểu được hết những lớp lang lịch sử phức tạp đằng sau cái danh xưng “Việt Kiều,” tôi chỉ biết rằng cô ruột mình là một Việt Kiều, và mỗi lần cô bay về thăm gia đình, tôi lại có sô-cô-la Kisses ăn, nên hằng năm tôi vẫn mong ngóng đến ngày cô về Việt Nam để có kẹo nhấm nháp.

Thông thường, vào tối ngay ngày cô từ phi trường về, sau bữa cơm tối đầy món ăn, trái cây nhiệt đới như măng cụt, vú sữa, chúng tôi lại quây quần bên cái va-li to kềnh của cô để nhận từng túi quà được cô cẩn thận viết tên mỗi người. Qua nhiều năm, tôi không còn nhớ chính xác mình đã từng nhận được quà gì. Đương nhiên, tôi vẫn nhớ loạt kẹo Kisses đủ màu sắc, hương vị, nhưng thứ vẫn hằn sâu trong ký ức thuở thiếu thời ấy là một mùi thơm đặc trưng tỏa ra từ va-li — thứ mùi, hay thậm chí hỗn hợp các mùi khác nhau, vừa đặc trưng lại vừa thiên biến vạn hóa, khó tả thành lời, một mùi Việt Kiều bí ẩn.

Kisses của Hershey đã từng là thứ kẹo “độc quyền” của con nít Việt có người thân đi nước ngoài. Ảnh: Tasting Table.

Trong trí nhớ của tôi, mùi Việt Kiều không giống nước hoa, cũng chẳng thuộc những nhóm mùi hương nhân tạo thường gặp như hoa cỏ, trái cây, hay thảo dược. Không phải xà bông hay đồ ăn, mùi Việt Kiều dễ nhận ra nhưng khó nhận diện. Lớn lên, tôi dần quên đi thứ mùi đặc trưng ấy, cho đến cách đây vài tuần, khi vô tình lướt qua một video TikTok quảng cáo “tinh dầu giặt sấy hương Việt Kiều.” Đoạn quảng cáo khiến tôi giật mình, vì nào giờ tôi vẫn cho rằng chỉ mình mình ngửi được mùi Việt Kiều, nhưng hóa ra người ta không những đã xác định được danh tính nó, mà còn sản xuất đem bán?

Khi tôi kể cho bạn bè, đồng nghiệp nghe về mùi Việt Kiều, ai cũng gật gù tặc lưỡi rằng đây là hiện tượng có thật, nhưng không ai có thể đưa ra câu trả lời rằng nó ở đâu ra ngoài vài nhận xét chung chung như “ngửi là biết liền.” Phần bình luận dưới video quảng cáo có vẻ khả quan hơn, với đủ mọi giả thuyết mọi người đưa ra về nguồn gốc mùi Việt Kiều: có bạn quả quyết đó là từ giấy thơm máy sấy hiệu Bounce, còn ý kiến khác lại cho rằng đó là mùi xà bông cục Irish Spring hay kem đánh răng Aquafresh. Quyết tâm tìm được mùi hương tuổi thơ quen thuộc, tôi đã ra quyết định táo bạo: đặt hết tất cả những sản phẩm trong các giả thuyết về… hửi thử.

Hình quảng cáo “mùi Việt Kiều” trên Shopee.

Tới đây, tôi cũng phải thú thật rằng đây không phải là cuộc điều tra có hồi kết, vì không thứ nào có mùi thật sự giống mùi va-li của cô tôi ngày xưa, dù rằng xuyên suốt bao năm, có nhiều lần trong đó cũng đã từng có mặt xà bông Irish Spring và tuýp kem Aquafresh. Cũng có thể nhà sản xuất đã thay đổi công thức tạo mùi sau nhiều năm, hay kí ức thuở nhỏ trong tôi đã phai nhạt nhiều, nhưng lý do khả thi nhất có lẽ là không có một mùi Việt Kiều nhất định nào cả. Với mỗi chuyến đi, hành trang về thăm nhà sẽ thay áo đôi chút, và mùi hương va-li cũng thế: một ít Hershey, chút mùi nam việt quất khô thoang thoảng, hòa quyện với mùi quần áo mới, v.v. — tất cả quyện thành một bức tranh khứu giác sinh động của nước Mỹ lạ lẫm, nhuốm màu huyền hoặc trong thâm tâm một đứa nhỏ.

Ngày nay, quá trình toàn cầu hóa, trao đổi văn hóa, và cả những bước tiến vượt bậc trong ngành vận chuyển đã thay đổi quan niệm cố hữu nhiều năm của người Việt rằng “đồ Mỹ hiếm có, cứ xài là tốt.” Chính cách tôi có thể dễ dàng đặt mua nhanh gọn tất cả những sản phẩm để làm “thí nghiệm” là minh chứng cho cục diện khác biệt ấy. Ngay cả Hershey giờ cũng đã dễ mua hơn rất nhiều, nhưng sự phát triển của nông sản Việt đã cho ra đời nhiều nhãn hàng sô-cô-la nội địa còn ngon hơn thế nhiều, nên đã nhiều năm tôi chưa ăn lại Kisses. Phải chăng những lúc thiếu thốn thì thức quà dù nhỏ nhoi đến đâu người ta cũng trân quý hơn?

Nguồn gốc mùi Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc. Ảnh: Hoàng Vũ/Thanh Niên.

Ngày trước, khi gần đến ngày về Mỹ, va-li của cô tôi cũng đầy lên dần dần, nhưng lần này lại chứa đầy đồ Việt Nam để trữ trong tủ hay làm quà cho các cô các chú họ hàng bên đó: tôm khô, hạt cà phê, tranh sơn mài, áo dài lụa tơ tằm, trà Thái Nguyên, tâm sen, và nguyên bộ sưu tập mắm đủ mùi, đủ vị. Nhiều lúc tôi cũng thắc mắc rằng, khi cô trở lại nhà mình sau chuyến bay nửa vòng trái đất, đặt va-li xuống nền nhà và từ từ kéo khóa ra, liệu có một mùi hương khó tả nào bay ra không? Một mùi Việt Nam bí ẩn.

]]>
info@saigoneer.com (Khôi Phạm. Minh họa: Ngọc Tạ.) Đặc biệt Văn Hóa Văn Nghệ Fri, 27 Feb 2026 16:00:00 +0700
Ngược dòng thời gian về Tết Hà Nội 1994 qua ống kính nhiếp ảnh gia người Pháp https://saigoneer.com/vn/heritage/18066-ngược-dòng-thời-gian-về-tết-hà-nội-1994-qua-ống-kính-nhiếp-ảnh-gia-người-pháp https://saigoneer.com/vn/heritage/18066-ngược-dòng-thời-gian-về-tết-hà-nội-1994-qua-ống-kính-nhiếp-ảnh-gia-người-pháp

Bạn còn nhớ gì về những năm 90? Là những bộ cánh lỗi thời, những món đồ công nghệ cổ lỗ sĩ, hay cái thời mà phố xá vẫn còn thưa vắng bóng xe? Còn với những ai thuở ấy vẫn còn là những đứa trẻ, liệu những mảnh ký ức đó có còn theo bạn đến tận bây giờ?

Loạt ảnh do nhiếp ảnh gia người Pháp Bruno Barbey chụp tại Hà Nội đúng dịp Tết Giáp Tuất 1994 như một chiếc vé khứ hồi đưa ta về lại những năm tháng đơn sơ. Ở đó, người ta thấy lại những món đồ trang trí Tết thủ công mộc mạc, những bộ vest “vía” chỉnh tề và cả những chiếc kính râm cực ngầu thời đó.

Cùng nhìn lại một thời vang bóng qua những khung hình xưa:

Hàng đồ chơi giấy trước đền Ngọc Sơn.

Những phong pháo bày bán tại cửa hàng quân nhu ở chợ Mơ.

Tạo dáng ngày Tết.

Một bộ đôi tạo dáng chụp hình gần Hồ Gươm.

Trẻ em ríu rít bên dàn xe đồ chơi.

Quán phở cạnh đền Ngọc Sơn.

Phố Hàng Da.

Dạo phố ngày xuân.

Chụp ảnh kỷ niệm tại đền Ngọc Sơn.

Tiệm ăn Phố Cổ.

Trên nhịp cầu Long Biên.

Dưới ánh đèn đường mờ ảo.

Ảnh: Bruno Barbey qua RedsVN.

]]>
info@saigoneer.com (Saigoneer.) Đặc biệt Di Sản Wed, 25 Feb 2026 20:24:41 +0700
Bên trong tháng Ramadan của cộng đồng Hồi giáo Châu Đốc https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17272-bên-trong-tháng-ramadan-của-cộng-đồng-hồi-giáo-châu-đốc https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17272-bên-trong-tháng-ramadan-của-cộng-đồng-hồi-giáo-châu-đốc

Cùng lúc Việt Nam bước vào chuỗi ngày lễ quốc gia dài hơi, cộng đồng người Hồi giáo trong nước cũng bắt đầu sự kiện quan trọng nhất năm với mình: tháng Ramadan.

Tôi đã đến thăm thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang để tìm hiểu những truyền thống được các cư dân nơi đây thực hành vào tháng Ramadan. Cách trung tâm thành phố chỉ 3km là làng Châu Phong, nơi tập trung sinh sống của hơn 5.000 tín đồ Hồi giáo người Chăm. Dù là kẻ ngoại đạo, tôi đã được ngôi làng giang tay chào đón, và từ đó hiểu thêm về phong tục kiêng cữ, cầu nguyện, cũng như những sinh hoạt tôn giáo khác được thực hiện cho "tháng thứ 9."

Tôi di chuyển đến đến ngôi làng bằng một chiếc phà, lúc cập bến đã là 10 giờ sáng. Không khí lúc ấy được bao trùm bởi một cảm giác bình yên, có lẽ vì các tín đồ đều đã dành giấc sáng và trưa để nghỉ ngơi. Đến 4 giờ chiều, phố xá nơi đây dần trở nên bận rộn hơn, ai nấy đều tấp nập sửa soạn. Có người đang chỉnh lại y trang để đến thánh đường, người lại đang chuẩn bị sẵn thức ăn cho buổi "xả chay" — tức khi mặt trời lặn vào gần 6 giờ chiều.

Một cậu bé lấy tay che mặt khi thấy tôi chụp ảnh. Cha em đứng sau em, anh đang mua thức ăn để dùng khi "xả chay." Ở phía đằng xa, sau cả hai, là một lá cờ Việt Nam giương cao nhân kỉ niệm ngày thống nhất đất nước

Một tín đồ đang đứng trước thánh đường. Không khí trong làng lúc này vẫn tĩnh lặng vì mặt trời còn treo cao, người dân đang nhịn ăn và nghỉ ngơi trong nhà.

Một thiếu nữ (cùng mèo của mình) đang trên đường đi gặp bạn bè sau khi mặt trời đã khuất.

Thánh đường Jamiul Azhar, một trong 15 thánh đường Hồi giáo ở Châu Đốc, thu hút đến 250 tín đồ đến tham dự vào tháng Ramadan.

Theo truyền thống, khi mặt trời lặn, cánh đàn ông sẽ chuẩn bị một món ăn gần giống súp làm từ nước cốt dừa để mọi người dùng bữa "xả chay."

Làng Châu Phong có nhiều thánh đường, trong đó có cả thánh đường dành cho phụ nữ, nhưng nhiều người vẫn có thói quen cầu nguyện tại nhà.

Cánh cổng của thánh đường được xây từ năm 1730 là nhân chứng cho lịch sử và di sản Hồi giáo lâu đời tại làng Châu Phong.

Vì lý do sức khỏe, không hiếm khi các cụ già phải "xả chay" trước giờ chính thức.

Một bé gái cùng các cô dì tại thánh đường dành cho phụ nữ.

Một số tín đồ sống ở những nơi khác cũng bắt phà đến làng Châu Phong để tham gia cầu nguyện.

Trẻ em không cần phải nhịn ăn, nên các em vẫn được nô đùa trước nhà thay vì đến thánh đường như cha mẹ và anh chị.

Cô bé này đang mua hàng từ một tiệm tạp hóa. Có lẽ là món quà vặt mà em sẽ "đánh chén" ngay khi đến giờ "xả chay."

Hôm nay, chú Mohamad sẽ đảm nhiệm việc nấu bữa "xả chay" cho mọi người. Bữa tối lần này sẽ là món cháo mặn.

Vị Imam (người lãnh đạo) của thánh đường Jamiul Azhar xem đồng hồ để báo giờ "xả chay."

"Xả chay" không chỉ đơn thuần là ăn. Đó có thể là ngồi nhâm nhi ly cà phê, tận hưởng gió chiều cùng bạn bè bên vỉa hè.

Các em bé thắp nến vào một đêm khi tháng Ramadan gần kết thúc. Tôi được dân làng cho hay đây là truyền thống chỉ có ở Châu Phong, nến được thắp vì đẹp chứ không mang ý nghĩa sâu xa nào khác.

Theo quy tắc của Hồi giáo, các tín đồ phải làm sạch bản thân bằng nước trước khi bước vào thánh đường.

Giày của các tín đồ cũng phải được để bên ngoài.

Một cậu bé trên đường đến thánh đường vào ngày đầu tiên sau tháng Ramadan. Những chuyển động thường ngày của ngôi làng lại bừng dậy — mọi người có thể ăn, uống và trao nhau những thức quà một cách tự do.

Joanik Bellalou là một nhiếp ảnh gia tại Việt Nam. Độc giả có thể theo dõi các tác phẩm của anh tại đây.

Bài viết đăng tải lần đầu vào năm 2022.

]]>
info@saigoneer.com (Joanik Bellalou. Ảnh: Joanik Bellalou.) Đặc biệt Văn Hóa Văn Nghệ Mon, 23 Feb 2026 12:00:00 +0700
Tản mạn về ông đồ và tục cổ truyền xin chữ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18060-tản-mạn-về-ông-đồ-và-tục-cổ-truyền-xin-chữ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18060-tản-mạn-về-ông-đồ-và-tục-cổ-truyền-xin-chữ

Nói Tết quy tụ những gì đẹp đẽ nhất của văn hóa Việt cũng không sai, bởi hơn cả một thời khắc chuyển giao giữa cũ và mới, đây cũng là lúc con người ta được “sống lại” với những giá trị truyền thống lúc bấy giờ. 

Đó là những phiên chợ rộn ràng để tìm thấy hương vị quê nhà; chiếc bánh chưng vuông vắn như đất, đòn bánh tét tròn tượng trưng cho trời là chút lòng thành nhưng cao quý dâng lên tổ tiên; rồi chiều 30, ai nấy dựng trước nhà một cây nêu cao treo chuông con rung rinh với ý niệm xua đuổi những điều không lành.

Hay khi những nếp giấy đỏ bắt đầu được treo dọc khắp phố Hàng Mã, tôi lại ngẫm nghĩ về những ông đồ cho chữ trên giấy dó. Người xin xin gì nhiều hơn một câu chữ thư pháp? Còn người cho, cho gì nhiều hơn một nét mực tàu bay?

Áo dài, khăn đóng… ông đồ túc nho

Trong khoa cử Nho học, những sĩ tử đã thi qua ba kỳ thi đỗ Tú Tài sẽ được người đời gọi là ông Đồ. Họ có thể đậu những kỳ thi cấp thấp, không đỗ đạt hay chưa đủ để được nhà nước cho làm quan thì họ phải học thêm để thi những kỳ thi cao hơn sau đó như thi Hội, thi Đình… hoặc tạm kiếm sống bằng những nghề dạy học (gọi là “thầy đồ”), viết thuê.

Thầy đồ ngồi đọc sách, 1915. Ảnh: Léon Busy.

Ấn phẩm Nếp Cũ Con Người Việt Nam do tác giả Toan Ánh biên soạn có đoạn viết: “Học khai-tâm không có trường của nhà nước, nhưng tại làng xã nào cũng có một vài ông đồ dạy trẻ. Học trò thường học sách viết, sách in rất đắt, ông đồ nào cũng có một tủ sách, các học trò chép lại bài học qua những sách của ông đồ…” 

Thế nhưng để được gọi là ông đồ, không phải chỉ cần mặc áo dài khăn đóng biết viết. Đây là một danh xưng để gọi những người vừa giỏi chữ vừa có đạo đức và hiểu biết sâu rộng. Dù có thể chưa đỗ đạt, nhưng họ vẫn giữ phẩm hạnh, sống ngay thẳng, giữ lễ nghĩa, bởi người xưa vốn đã quan niệm việc học là không chỉ học chữ, mà phải học cả đạo làm người. Ông đồ xưa chính là biểu tượng của trí thức, đạo đức, nhân cách trong xã hội truyền thống. Người ta trọng vọng ông đồ không chỉ vì chữ đẹp, mà vì ông có tâm sáng, lòng ngay, đạo nghĩa vững.

Tấm tắc ngợi thiên tài:
"Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay"
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)

Người xưa thường tìm đến ông đồ khi cần “xin chữ,” hoặc cần người có chữ nghĩa và hiểu biết giúp việc văn tự. Tục xin chữ, cho chữ cũng đã ra đời từ đây, mỗi dịp hội hè lễ Tết, sĩ tử, người hiếu học xin chữ ông đồ như một cách “lấy vía” may mắn, giỏi giang. Song để xin chữ khi ấy không đơn giản mà như một nghi thức không thành văn. Để xin chữ thầy đồ, người xin phải sắm một phần lễ vật nhỏ gồm cau trầu, chè thuốc… nhưng thành tâm đến nhà. Người cho chữ cũng luôn phải nghiêm chỉnh, tôn kính, cho đúng người trọng chữ nghĩa chứ không kiểu “học giả thích làm sang.”

Ông đồ viết chữ trên phố Hà Nội, 1913-1917. Ảnh: Léon Busy.

Chữ được viết theo kiểu thư pháp, thường là chữ Nho và có thể viết theo nhiều cách trên nền giấy đỏ, bởi màu đỏ vốn là màu sắc đem lại sự may mắn theo quan niệm của người phương Đông. Người cho chữ tùy tâm trạng, tùy hoa tay mà tạo ra những hình thái con chữ lạ mắt, độc đáo. Mỗi chữ hiện ra dưới tay các thầy đồ không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật thư pháp, mà còn bộc lộ tấm lòng, tính cách, tâm hồn và cả sự sáng tạo của mỗi cá nhân.

Mực tàu, nghiên bút, “nhất tự thiên kim”

Người xưa có câu “nhất tự thiên kim” tức “một chữ đáng nghìn vàng,” ảnh hưởng từ Lã Bất Vi theo Sử ký Tư Mã Thiên (Trung Quốc). Vị Thừa tướng cho treo sách ở quốc môn và thưởng vàng cho ai có thể thêm bớt chữ. Chính bởi quyền thế nghiêng trời lệch đất, chẳng ai dám bước ra sửa sách. Từ đó, câu nói trên trở thành điển cổ để chỉ văn tự, chữ nghĩa có giá trị rất cao.

Hơn cả sự hiện hữu về mặt hình, con chữ là cách để nhân loại lưu giữ, khai mở và kết nối. Do vậy người ta mới so sánh chữ quý như vàng. Thư pháp gia - TS Cung Khắc Lược giải thích: “Trong tư tưởng, trong tình cảm và trong tâm hồn bao giờ cũng được biểu hiện bằng lời, bằng từ vựng, bằng văn bản… Vậy thì một chữ trên văn bản, một chữ của tim, của óc nêu ra cho nhau, tặng nhau đáng nghìn vàng là vô cùng xứng đáng, quý hơn tiền của nhiều.”

Ông đồ viết chữ trước Chùa Hương, Hà Nội, 1995. Nguồn ảnh: tài khoản Flickr @lonqueta.

Việc xin chữ ngày một trở nên thịnh hành và trở thành phong tục đẹp của người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về. Bất kể là ai, từ miền ngược đến miền xuôi và cũng chẳng phân biệt sang nghèo, chỉ cần có sự thành tâm thì đều có thể xin chữ.

Mỗi nét mực trên giấy của ông đồ chất chứa một nỗi niềm, một tâm tư hay một ý niệm nhất định. Xin chữ Cát Tường, Như Ý... để cầu mong sự bình an cho gia đình. Xin chữ Phát, Lộc, Tài… hy vọng việc làm ăn thành công, thuận buồm xuôi gió. Những người trẻ thì xin chữ Chí, chữ Đắc… để vững lòng trước những khó khăn.

Cũng không còn nặng nghi lễ như xưa, không phải cứ “áo the, khăn xếp,” áo nâu, râu tóc bạc phơ mới là người cho chữ mà người viết, “ông đồ Tây,” “bà đồ"... đều có. Không chỉ đóng khung trong “mực tàu, giấy đỏ” mà đã đủ các chất liệu gỗ, đá, trúc, tre, lụa, gấm. Rồi Triện, Lệ, Khải, Thảo, Hành… cách viết nào cũng có. Người người xếp hàng và chờ đợi dọc phố, dưới các đền chùa để xin những con chữ “phượng múa, rồng bay” như một tục lệ đẹp không thể thiếu của ngày đầu năm mới.

Muôn hình vạn trạng ông đồ, bà đồ ngày nay. Ảnh: Alberto Prieto.

Các “phố ông đồ” cũng ra đời nhằm tôn vinh phong tục truyền thống này. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được biết đến như “Làng sĩ tử” phía Bắc. Tục xin chữ ở Nam bộ bắt nguồn từ thế kỷ thứ 17, thời chúa Nguyễn vào khai phá vùng đất phương Nam cùng với các đợt người miền Bắc, miền Trung di cư vào theo. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ 17 khi người Hoa bắt đầu định cư và khai phá ở Biên Hoà - Đồng Nai thì tục xin chữ mới nở rộ. Chính quá trình cộng cư lâu dài của các nền văn hóa cũng ảnh hưởng ít nhiều đến nét đặc trưng riêng của tục xin chữ vùng này.

Và tại các con phố này ngày nay, quá nửa “ông đồ” là sinh viên khoa Hán-Nôm hay người yêu nghệ thuật; người xin chữ thì đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp, ngành nghề. Nhưng không phải là trào lưu nhất thời, tôi coi đây là sự trao truyền văn hoá, bởi ai thì ai, nhưng cốt lõi của phong tục vẫn được giữ trọn. Người cho thì thả theo nét bút cái tâm, cái tài. Người xin thì tôn trọng đạo nghĩa và nét đẹp truyền thống của dân tộc.

Ảnh: Alberto Prieto.

[Ảnh bìa: Léon Busy.]

]]>
info@saigoneer.com (Văn Tân.) Đặc biệt Văn Hóa Văn Nghệ Mon, 16 Feb 2026 12:38:59 +0700
Nghía mâm ngũ quả Bắc, Trung, Nam để thấy Tết mỗi miền một vẻ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18063-nghía-mâm-ngũ-quả-bắc,-trung,-nam-để-thấy-tết-mỗi-miền-một-vẻ https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18063-nghía-mâm-ngũ-quả-bắc,-trung,-nam-để-thấy-tết-mỗi-miền-một-vẻ

Ngày cuối năm, lớp bụi mỏng trên bàn thờ được thổi bay sau mấy lượt mẹ huơ cây chổi lông gà lia lịa. Những sợi lông mềm quét qua từng thớ gỗ, từng chân lư hương, khe kẽ bát nhang, nhẹ như một cái chạm đánh thức căn nhà sau giấc ngủ dài.

Trong bếp, mùi mứt dừa thơm phức còn ươm hơi nóng trên bếp, bọn trẻ con chúng tôi tỉ mỉ lau từng trái cây mẹ mua trong buổi chợ sớm, có trái vừa được cha cắt ngoài vườn, mong ngóng mẹ mau mau xuống bếp sắp quả vào chiếc đĩa tròn thật to. Tôi sẽ ngó thật kỹ xem trái dừa được đặt ở đâu cho vững, trái xoài vàng ươm được kê thế nào cho vừa mắt.

“Cầu-dừa-đủ-xoài-sung” — đó là mâm ngũ quả truyền thống nhà tôi vẫn dâng lên bàn thờ gia tiên mỗi độ Tết đến xuân về. Từ thuở nhỏ, tôi đã quen với những câu chuyện về ý nghĩa của từng loại quả, được bà ngoại và mẹ chậm rãi kể lại trong những buổi chiều cuối năm, khi căn nhà thơm mùi mứt Tết và gió xuân khe khẽ lùa qua hiên.

Ngoại tôi nói, mâm ngũ quả là lời cầu chúc không thành tiếng. “Cầu” lấy ý từ quả mãng cầu là cầu mong, là ước vọng; “dừa” đọc trại thành “vừa,” mong cuộc sống vừa đủ, không thiếu thốn; “đu đủ” là đủ đầy, no ấm quanh năm; “xoài” gần âm với “xài. ”ước mong có của để chi tiêu, không chật vật; “sung” là sung túc, viên mãn, là niềm hy vọng cho một năm mới hanh thông, phát đạt.

Mâm ngũ quả miền Nam. Minh họa: Dương Trương.

Từ lời ngoại, tôi nhận ra người xưa không mơ những điều quá xa xôi. Mâm ngũ quả của bà không mang tham vọng giàu sang, mà chất chứa ước mơ về cuộc sống vừa vặn với mình, biết đủ, biết ơn và còn chỗ cho hy vọng nảy nở. Mỗi lần nghe ngoại kể, tôi lại thấy những trái cây trên mâm không còn là vật vô tri. Chúng trở thành những lời chúc được gói ghém bằng tất cả sự chân thành gửi đến tổ tiên, một cuộc đối thoại giữa các thế hệ.

Với mẹ, câu chuyện mâm ngũ quả được nối dài bằng những kinh nghiệm đời thường, chắt lọc từ tháng ngày tảo tần. Mẹ dặn phải chọn trái dừa thật tròn để làm trụ, lựa xoài chín vàng ươm rồi đặt ra phía trước cho sáng mâm, tìm quả đu đủ vừa tay để kê cho chắc, mãng cầu cũng được chọn kỹ, da còn xanh, cuống tươi rồi xếp khéo vào giữa, sung điểm xuyết để mâm quả thêm đầy đặn. Mỗi thứ một vị trí, không chỉ khoe sắc quả mà còn giữ sự hài hoà, cân đối và vững chãi.

Khi lớn lên, rời xa mái nhà quen thuộc, có cơ hội đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, tôi mới nhận ra: mâm ngũ quả không chỉ có một cách trình bày và ý nghĩa.

Nhóm bạn tôi, mỗi đứa một miền quê, hay ngồi lại với nhau vào những ngày cuối năm, rôm rả từ việc sắm sửa, dọn dẹp, gói ghém Tết sao cho đúng kiểu nhà mình. Và chính từ những khác biệt rất đỗi quen thương ấy, tôi bất ngờ trước sự đa dạng trong cách bày biện mâm ngũ quả của ba miền đất nước. Mỗi nơi lại có cách lựa chọn và sắp đặt rất riêng, phản ánh điều kiện tự nhiên, tập quán và cả tính cách con người nơi ấy.

Mâm ngũ quả miền Bắc. Minh họa: Ngọc Tạ.

Với miền Bắc, mâm ngũ quả mang vẻ trang nghiêm, cân đối và hài hòa. Chuối xanh gần như không thể thiếu, thường được đặt ở dưới cùng, xòe rộng như bàn tay nâng đỡ, che chở. Trên nền chuối là bưởi hoặc phật thủ, biểu tượng cho sự tròn đầy, phúc lộc. Xen kẽ là cam, quýt, táo, hồng… tạo nên sắc màu rực rỡ nhưng vẫn giữ được nét nền nã.

Người Bắc không quá câu nệ số lượng đúng năm loại, mà chú trọng ý nghĩa và sự hài hòa âm dương, màu sắc. Nhìn mâm ngũ quả miền Bắc, tôi thấy thấp thoáng tính cách của con người nơi đây: chừng mực, chỉn chu và hướng nhiều về truyền thống.

Miền Trung lại mang một câu chuyện khác. Đất đai khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên khiến trái cây không phong phú như hai miền còn lại. Bởi vậy, mâm ngũ quả miền Trung không quá đặt nặng hình thức hay tên gọi mang tính cầu chúc. Người miền Trung quan niệm “có gì dâng nấy,” quan trọng là sự thành kính.

Trên mâm có thể là thanh long, dứa, cam, chuối, dưa hấu… những loại quả sẵn có theo mùa. Bên cạnh đó, với sự giao thoa văn hóa giữa Bắc và Nam, mâm ngũ quả của người miền Trung thường vẫn được bày đủ chuối, mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài. Cách bày biện giản dị, mộc mạc, không cầu kỳ, nhưng lại toát lên sự chân chất, bền bỉ và niềm tin rằng dù cuộc sống còn nhiều gian nan, chỉ cần lòng người ngay thẳng, điều tốt đẹp rồi sẽ đến cùng năm mới.

Mâm ngũ quả miền Trung. Minh họa: Khanh Mai.

Và khi được kể về mâm ngũ quả miền Nam tôi đã luôn rất hào hứng nói về cách “chơi chữ” đầy thú vị: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, ghép lại thành ước mong “cầu vừa đủ xài sung” cùng những câu chuyện mà bà và mẹ đã kể. Chuối thường không xuất hiện vì phát âm gần với “chúi nhủi,” không may mắn theo quan niệm dân gian. Bên cạnh đó còn có nhiều loại quả cũng không được phép xuất hiện trên mâm ngũ quả với ý nghĩa kiêng kỵ tương tự. Ví dụ như lê và táo bị tránh vì liên tưởng đến “lê lết”, “đổ bể”, báo hiệu sự thất bại. Cam, quýt cũng ít được chọn do gắn với câu “quýt làm cam chịu”, hàm ý vất vả, lam lũ.

Những loại quả có gai nhọn như mít, sầu riêng,.. bị xem là mang ý nghĩa chông gai, trắc trở hay các loại quả có vị đắng, cay, chua như khổ qua, ớt, me không đem lại năng lượng tích cực cho năm mới. Ngoài ra, những quả có mùi quá nồng thì bị cho là gây khó chịu, thiếu sự thanh tịnh nơi ban thờ. Thay vào đó là dừa, đu đủ, xoài với dáng tròn đầy, màu sắc tươi tắn. Mâm ngũ quả miền Nam nhìn vào đã thấy Tết: sung túc, vui vẻ và tràn đầy hy vọng cho năm mới no đủ, làm ăn khấm khá.

Khi nhóm bạn tôi mỗi đứa kể về mâm ngũ quả quê mình, tôi chợt nhận ra: sự khác nhau ấy không tạo nên khoảng cách, mà ngược lại, khiến câu chuyện Tết thêm phong phú. Mỗi mâm ngũ quả là một lát cắt văn hóa, là cách người Việt đối thoại với thiên nhiên và gửi gắm ước mơ cho tương lai. Đặc biệt khi tìm hiểu kỹ hơn, tôi dần hiểu rằng những điều bà và mẹ gìn giữ trong mâm ngũ quả không chỉ là kinh nghiệm truyền đời, mà còn ẩn chứa một quan niệm văn hóa lâu đời của người Việt: thuyết ngũ hành. “Ngũ quả” — năm loại trái cây không đơn thuần là con số tượng trưng, mà là cách con người gửi gắm ước mong về sự hài hòa của đất trời trong năm mới.

Theo quan niệm dân gian, mâm ngũ quả là sự hội tụ của năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, thể hiện qua màu sắc, hình dáng và hương vị của từng loại quả. Trái xanh tượng trưng cho Mộc, mang ý nghĩa sinh sôi, khởi đầu; sắc vàng, nâu của quả chín gợi Thổ là sự bền vững, chở che; màu đỏ, cam đại diện cho Hỏa là ấm áp, may mắn; những quả có sắc trắng, ánh sáng nhạt gợi Kim là sự tinh khiết, đủ đầy; còn Thủy hiện diện qua độ mọng nước, tươi mới, biểu trưng cho dòng chảy hanh thông của cuộc sống. Khi năm yếu tố ấy cùng hiện diện trên bàn thờ, người xưa tin rằng gia đạo sẽ được cân bằng, năm mới sẽ thuận hòa, yên ấm.

Mâm ngũ quã đại diện cho triết lý ngũ hành.

Có lẽ vì thế mà dù mỗi miền quê có cách chọn quả và bày biện khác nhau, tinh thần chung của mâm ngũ quả vẫn không đổi. Từ nải chuối xanh miền Bắc nâng đỡ cả mâm quả, đến mâm quả mộc mạc của miền Trung hay cách chơi chữ đầy lạc quan của miền Nam, tất cả đều hướng đến sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Ngũ hành trong mâm ngũ quả, suy cho cùng, không nằm ở việc đủ hay thiếu một loại quả nào, mà ở tấm lòng gửi gắm vào đó.

Theo nhịp chảy của thời gian, của sự hiện đại và tiến bộ, mâm ngũ quả cũng chẳng thể nằm ngoài quy luật vận hành ấy. Khi mà trái cây ngoại nhập xuất hiện nhiều hơn, cách bày biện trở nên sáng tạo, thậm chí có những mâm quả được tạo hình công phu, chạm khắc độc đáo. Khi đứng trước những mâm quả ấy, tôi thấy lạ mà quen: lạ vì màu sắc rực rỡ, hình dáng mới lạ, nhưng quen vì trong từng trái quả, vẫn chất chứa sự thành tâm, vẫn hiện lên sự tỉ mỉ của những người cẩn thận chọn từng quả, xếp từng vị trí. Dẫu thời gian và hoàn cảnh đổi thay, tấm lòng con cháu gửi về tổ tiên vẫn nguyên vẹn.

Và chừng nào, trong những ngày đầu năm, trên bàn thờ mỗi gia đình Việt còn mâm ngũ quả được bày lên bằng sự thành tâm, chừng đó Tết vẫn còn nguyên vẹn hồn cốt. Dáng Tết có thể đổi thay theo thời gian, nhưng mâm ngũ quả với tất cả ký ức, ý nghĩa và yêu thương vẫn lặng lẽ ở đó như một mùa xuân bất tận, không bao giờ cũ hay xa lạ.

]]>
info@saigoneer.com (Thảo Nguyên. Minh họa: Dương Trương, Mai Khanh và Ngọc Tạ.) Đặc biệt Văn Hóa Văn Nghệ Sat, 14 Feb 2026 16:37:17 +0700
Saigon Farm: Nơi tiếng vó ngựa làm dịu những xáo trộn tâm hồn https://saigoneer.com/vn/society/18062-saigon-farm-nơi-tiếng-vó-ngựa-làm-dịu-những-xáo-trộn-tâm-hồn https://saigoneer.com/vn/society/18062-saigon-farm-nơi-tiếng-vó-ngựa-làm-dịu-những-xáo-trộn-tâm-hồn

Con đường dẫn vào Saigon Farm hẹp dần, cỏ mọc quá đầu khiến thành phố tự lúc nào biến mất sau khoảng xanh ngút ngàn ấy. Không còn tiếng còi xe. Gió thổi xào xạc từng cơn. Tiếng chó sủa, gà gáy, đám ngựa cúi đầu ăn cỏ, tiếng vó chạm đất đều đều, rồi bóng một người đang đẩy chiếc xe chất đầy cỏ tươi bước tới. Tôi nhớ rất rõ khoảnh khắc ấy. Một sự dịu lại trong ngực, như khi bạn thở ra thật sâu mà không hề hay biết mình đã nín thở suốt bao lâu.

Tôi nhớ năm 2022 sau đại dịch, mỗi sáng bước ra khỏi nhà nhưng không thực sự bước ra khỏi những tháng ngày bị cách ly. Cơ thể được tự do, còn tâm trí thì vẫn đóng kín. Tôi đi làm lại, gặp lại mọi người, nói cười, nhưng bên trong là một khoảng lặng không tên, nơi tôi không biết phải đặt mình ở đâu. Rồi tôi đến Bình Chánh. Không phải vì tìm kiếm điều gì to tát. Chỉ là nghe nói ở đó có một trang trại ngựa, đủ xa trung tâm để không ai vội vã, và đủ gần để tôi không phải bỏ trốn.

Khoảng lặng đầu tiên

Anh Tông, chủ trang trại Saigon Farm, đón chào tôi bằng phong thái giản dị, không giới thiệu dài dòng. Anh không hỏi tôi đến để làm gì, có lẽ vì ở đây, người ta không cần lý do rõ ràng, mà chỉ cần bạn có mặt.

Một ngày của anh Tông bắt đầu từ sáng sớm: dọn dẹp chuồng trại, tắm ngựa, cho ăn, dạy học viên. Chiều lại tiếp tục. Khi có đoàn phim, anh chở ngựa đi bằng xe tải đến địa điểm quay, huấn luyện cho cả người và ngựa. Anh tự làm gần như mọi thứ, từ chăm sóc móng đến chữa trị cơ bản cho chúng. Một công việc lặp lại, nặng nhọc, nhưng có nhịp điệu thú vị riêng.

Anh em tôi biết nhau đã 4 năm nhưng giữa những đứt quãng của cuộc sống, nay tôi mới có dịp ngồi xuống lắng nghe câu chuyện về anh, một người nài ngựa hiếm hoi, một cách trọn vẹn.

Anh kể về gia đình mình bằng giọng đều đều, như thể đang kể lại một điều hiển nhiên: ông ngoại đánh xe ngựa, cậu ruột gắn bó cả đời với nghề huấn luyện, và đến anh, thế hệ thứ ba, vẫn tiếp tục con đường ấy. Năm 8 tuổi, anh đã theo cậu. Năm 10-12 tuổi, anh vào trường đua, học cưỡi ngựa đua. Đến nay, ở cái tuổi xấp xỉ 50, anh đã có 25 năm gắn bó với nghề huấn luyện ngựa và hàng tá giải thưởng lớn nhỏ mà bản thân rất đỗi tự hào treo trang trọng trong gian nhà chính của trang trại.

Không có tuyên ngôn về đam mê hay những câu chữ hoa mỹ về “sứ mệnh.” Chỉ có một sự gắn bó kéo dài đủ lâu để trở thành định mệnh. Và định mệnh ấy cũng lắm nỗi truân chuyên.

Năm 2001, khi trường đua Phú Thọ giải thể, cảm giác chông chênh chẳng biết bám víu vào đâu hiện hữu. Anh bỏ nghề nài ngựa rồi bươn chải đủ công việc, từ lái xe, phụ giúp ở chợ đầu mối Bình Điền. Nhưng rồi các bộ phim lại cần ngựa. Ngựa lại cần người hiểu chúng. Và anh quay lại, lần này không còn phân vân nữa. Đó là thời điểm 2014 khi Saigon Farm thành hình.

“Giờ chắc là gắn với nghề này tới cuối đời rồi,” anh nói, nhẹ tênh. Tôi để ý cách anh nói về ngựa. Không chiếm hữu. Không áp đặt. Như thể anh hiểu rất rõ: ngựa không thuộc về mình, mình chỉ đi cùng chúng một đoạn. Có lẽ vì vậy mà anh không cố giữ ai ở lại trang trại. “Phải yêu mới cưỡi được,” anh nói. “Không yêu thì chỉ là trải nghiệm. Yêu rồi, người ta sẽ tự khắc quay lại.”

Lên lưng ngựa, không còn chỗ để giấu mình

Cưỡi ngựa không cho phép bạn giả vờ. Trên lưng ngựa, mọi thứ đều hiện ra rất thật: sự sợ hãi, căng thẳng, mất kiểm soát. Tôi nhận ra mình đã quen với việc kiểm soát: lịch trình, công việc, hình ảnh bản thân. Nhưng với ngựa, tôi không kiểm soát được gì nếu chính mình còn rối loạn. Ngựa cảm được điều đó. Khi tôi căng thẳng, nó đứng yên. Khi tôi nôn nóng, nó chần chừ. Khi tôi thả lỏng, nó bước đi.

Đó là lần đầu tiên sau rất lâu, tôi buộc phải quay vào bên trong, thay vì tiếp tục chạy ra ngoài để phân tán cảm xúc. Tôi không thể lướt qua nỗi bất an mà phải ngồi xuống và học cách chấp nhận nó. Trên lưng ngựa, tôi không còn nghĩ về những gì mình nên trở thành. Tôi chỉ cố gắng ở yên.

Hay như chị Nguyễn Hải Thảo, một luật sư tại TP. HCM ở độ tuổi chớm 50 nhưng đã có gần 5 năm gắn bó với bộ môn này. Chị đến với Saigon Farm từ năm 2022 đến nay với ý niệm khám phá một bộ môn vốn chỉ thấy qua phim ảnh và luôn bị gắn mác “quý tộc.” Nhưng rồi càng tập luyện, chị lại càng đam mê và bị cuốn vào nó lúc nào không hay. “Cưỡi ngựa dạy ta sự kiên trì, tinh thần đồng đội và cả lòng quả cảm,” chị chia sẻ cùng tôi về thú chơi công phu này.

Bên cạnh việc thuần thục trên lưng ngựa chị Thảo còn luyện tập bắn cung kết hợp. Một tuần chị có thể dành từ 3 đến 4 buổi để thực hành cùng anh Tông và cả việc tự luyện kĩ năng. Từ Nam chí Bắc chị đều tìm đến các trại ngựa để trải nghiệm và tập luyện nhưng rồi vẫn tìm về gắn bó với Saigon Farm bởi sự gần gũi và mộc mạc nơi đây.

“Rào cản về chi phí tập luyện, thời gian và cả sự nguy hiểm trên lưng ngựa có thể khiến nhiều người chùn bước, nhưng tôi tin rằng chính đam mê, sự bền bỉ sẽ chiến thắng tất cả. Bộ môn này giúp ta nhìn nhận chính mình và thế giới xung quanh đầy khác biệt.”

Không giống với những người chơi có điều kiện kinh tế để sở hữu những chú ngựa thuần chủng đắt tiền, chị Thảo khiến tôi bất ngờ khi mua lại 3 chú ngựa với lý do không muốn chúng bị bán đi lúc Saigon Farm cần kinh phí vận hành. Đại Phát, Thành Long và Cacao, cô ngựa nâu với 2 cặp chân thon dài cùng dáng chạy khoan thai đã qua đời 2 năm trước, luôn là những người bạn thân thương, thông minh và đáng yêu trong lòng chị.

Giữ lại một chỗ cho sự an yên

Ở trang trại này, tôi thấy những đứa trẻ ít nói dần mở lòng. Tôi thấy những người lớn tìm đến không phải để thể hiện bản thân, mà để lặng lẽ học lại cách lắng nghe. Ngựa không hỏi quá khứ của bạn. Ngựa chỉ phản hồi hiện tại của bạn. Sài Gòn không thiếu nơi để đi nhanh, nhưng rất hiếm nơi cho phép bạn không cần đi đâu cả. Saigon Farm là một trong số ít những nơi như thế.

Riêng bản thân tôi chợt nhận ra mình không còn tìm kiếm sự  “chữa lành” nữa. Tôi chỉ đang sống chậm lại. Và có lẽ, như thế là đủ. Tôi không cần phải hiểu hết cảm xúc của mình, chỉ cần cho phép chúng tồn tại, cũng giống như cách con ngựa cho phép tôi ngồi trên lưng nó, miễn là tôi không mang theo quá nhiều xáo trộn.

Năm 2026 là năm con ngựa. Anh Tông nói anh chỉ mong có thêm học viên, thêm show diễn, để đủ tiền nuôi đàn ngựa gần 20 con đủ “quốc tịch” từ Pháp, Anh, Úc đến Ả Rập này tồn tại. Tôi nghe và hiểu, đôi khi, điều lớn lao nhất không phải là phát triển, mà là được tiếp tục ở lại.

Với tôi, mỗi lần nhớ về Bình Chánh, tôi không nhớ tất cả các chi tiết. Tôi chỉ nhớ cảm giác khi ngồi trên lưng ngựa, buông vai, thả lỏng, và nhận ra, mình không cần chạy trốn nữa.

Mơ ước to lớn hơn của tôi và cả chị Thảo là việc lan tỏa tình yêu với bộ cưỡi ngựa đến đông đảo công chúng. Nó không chỉ giúp cho Saigon Farm hay những trang trại khiêm tốn được nhiều người biết đến, được tiếp tục tồn tại mà còn giúp cho một phong trào thể thao lành mạnh, thú vị được phát triển mạnh mẽ hơn tại Việt Nam.

Saigon Farm tọa lạc tại Tổ 62, Xã Bình Hưng, TP. HCM. Bạn đọc có thể liên hệ anh Lê Tiến Tông tại số 0933282112 để biết thêm chi tiết.

]]>
info@saigoneer.com (Jessie Phạm. Ảnh: Alberto Prieto.) Đặc biệt Đời Sống Fri, 13 Feb 2026 18:32:32 +0700
Bảo vật quốc gia bị hư hại và câu chuyện bảo tồn di sản giữa thời hiện đại https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18061-bảo-vật-quốc-gia-bị-hư-hại-và-câu-chuyện-bảo-tồn-di-sản-giữa-thời-hiện-đại https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18061-bảo-vật-quốc-gia-bị-hư-hại-và-câu-chuyện-bảo-tồn-di-sản-giữa-thời-hiện-đại

Một bảo vật quốc gia từng bị hư hại được trưng bày như thể chưa có chuyện gì xảy ra, trong khi nhiều tác phẩm khác được trưng bày với rất ít thông tin. Điều này cho chúng ta thấy gì về cách bảo tàng mỹ thuật đang bảo tồn di sản văn hóa Việt Nam và định hình câu chuyện lịch sử nghệ thuật của nước ta ngày nay?

Trong những tuần cận Tết, Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh lại trở nên nhộn nhịp hơn thường lệ, như vẫn diễn ra mọi năm. Từ cổng chính bảo tàng đến cầu thang xoắn của tòa nhà di sản gần trăm năm tuổi, nhiều khách tham quan trẻ diện áo dài tạo dáng chụp ảnh Tết, trong khi du khách nước ngoài cũng tranh thủ chụp ảnh trong mọi ngóc ngách. Chỉ một số ít khách trong số đông nán lại để xem các tác phẩm được trưng bày rải rác trong những gian phòng khác nhau của tòa nhà chính – nơi lưu giữ bộ sưu tập các tác phẩm nghệ thuật hiện đại, chủ yếu của các họa sĩ miền Nam trước và sau năm 1975.

Bảo quản kiệt tác sơn mài bằng nước rửa chén

Bước qua khỏi gian phòng trung tâm trưng bày các tác phẩm điêu khắc trên tầng hai, khách tham quan rẽ trái và lần theo đường hành lang tối, dẫn đến một trong những bảo vật quốc gia của bảo tàng: kiệt tác sơn mài ‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’ (1989) – hiện diện trên bức tường lớn trong một căn phòng đặc biệt có máy lạnh, dành riêng cho danh họa Nguyễn Gia Trí (1908–1993).

Nguyễn Gia Trí (1908–1993). Vườn Xuân Trung Nam Bắc, 1989. Sơn mài trên vóc. 200 x 540 cm. Bộ sưu tập Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngay đối diện tác phẩm, dụng cụ và chất liệu sáng tác của Nguyễn Gia Trí được trưng bày sau lớp kính, bên tường bên cạnh là một số bản ký họa chì và màu nước. Tuy nhiên, không thông tin nào giải thích về sự quan trọng của chất liệu sơn mài và kỹ thuật vẽ làm nên giá trị của tác phẩm. Trong tranh, 20 thiếu nữ trong trang phục truyền thống và áo dài từ ba miền đất nước mừng hội xuân, bao quanh bởi chùa chiền và khung cảnh thiên nhiên trong không khí rộn ràng. Màu đỏ đặc trưng của sơn mài chiếm vị trí làm chủ đạo; kỹ thuật khảm vỏ trứng mềm và dát vàng đóng vai trò quan trọng cho cả bố cục tranh. Nguyễn Gia Trí đã dành gần 20 năm để hoàn thành tác phẩm này với sự hỗ trợ của các học trò: từ năm 1969 khi đất nước còn trong giai đoạn khốc liệt của chiến tranh, đến năm 1989 trong giai đoạn chuyển mình của thời kỳ Đổi mới.

Vật dụng cá nhân và dụng cụ vẽ của Nguyễn Gia Trí tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

Ấn tượng đầu tiên của phần lớn khách tham quan khi bước vào gian phòng là sự trầm trồ. Có người dừng lại hỏi: “Nguyễn Gia Trí… phải đường D2 cũ hong?” rồi tiếp tục tạo dáng chụp ảnh ở nhiều góc khác nhau. Những người khác, đặc biệt là khách nước ngoài, bước qua lại trước tác phẩm, nheo mắt đọc những dòng chữ trên tường, chỉ để tìm được vỏn vẹn vài dòng về thông tin tác phẩm và tiểu sử họa sĩ. Sau sự ngưỡng mộ ban đầu, một số bắt đầu bày tỏ sự khó hiểu khi cảm nhận được có điều gì hơi lạ về bảo vật quốc gia này. Một vài chỗ trên bức tranh có mảng sơn đen như bị tróc, phần dát vàng bị đen đi hoặc mòn, mảng khảm vỏ trứng như bị đứt gãy làm mất đi sự uyển chuyển của chi tiết đường nét. Đáng chú ý, dù màu đỏ tươi chủ đạo vẫn nổi bật, phần lớn những mảng màu khác đã bị phai nhạt một cách khó phủ nhận.

“Bức này chắc chắn bị hỏng rồi. Lớp sơn bên kia tróc ra rồi kìa, màu cũng bị phai bị tối đi,” một khách người Việt nói với nhóm bạn của mình sau khi quan sát tác phẩm. Kiệt tác sơn mài vẫn nằm yên trên tường như một lời nguyện cầu mùa xuân cho đất nước qua khỏi chiến tranh đến thống nhất, nhưng với cảm giác mâu thuẫn âm thầm. Có gì đó không ổn lắm, và dường như không ai còn biết, hoặc còn nhớ đến, sự cố đã thay đổi diện mạo của bức tranh mãi mãi.

Chi tiết tác phẩm Vườn Xuân Trung Nam Bắc tại Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh.

‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’ trở thành tâm điểm của các tựa đề báo vào đầu năm 2019 khi bị phát hiện hư hại nghiêm trọng sau khi được tháo dỡ xuống vệ sinh tranh vào tháng 12 năm 2018. Sau đó, nhiều thông tin cho biết bức tranh đã được xử lý bằng giấy nhám, bột chu, và thậm chí… nước rửa chén – có lẽ đây là vật liệu cuối cùng mà ai đó có thể nghĩ đến trong công tác bảo quản. Sự việc làm dậy lên phản ứng kịch liệt từ cộng đồng nghệ thuật và cơ quan quản lý, kèm theo hàng loạt bài viết chỉ trích sự bất cẩn và thiếu trách nhiệm trong công tác bảo quản, cùng với sự kêu gọi cấp bách phục hồi bảo vật quốc gia với kỹ thuật đặc biệt.

Theo họa sĩ Nguyễn Xuân Việt một trong số ít học trò am hiểu kỹ thuật sơn mài của Nguyễn Gia Trí, quá trình khôi phục lại bức tranh chỉ có thể đến 80%, do chất liệu trên bề mặt tranh đã bị hư hại nặng và không thể quay lại trạng thái ban đầu. Nói theo cách khác, bức tranh vẫn còn “sống sót” về mặt vật chất, nhưng phần hồn đã không còn. Gần 7 năm sau, vào năm 2026, tác phẩm được khôi phục lại một phần và trở lại trưng bày trước công chúng như thể chưa có sự cố gì xảy ra. Người xem không có lựa chọn nào khác ngoài việc im lặng chấp nhận thực tế là trước mắt mình là tác phẩm từng bị hư hại, hầu như không có sự ghi nhận nào về những gì đã mất, với thông tin gần như tối thiểu khó vượt ra khỏi câu chuyện quen thuộc về niềm tự hào quốc gia và biểu tượng mang tính lịch sử.

Khách tham quan chụp hình cùng tác phẩm.

Vượt ra khỏi câu chuyện của một kiệt tác bị hư hại

Rời khỏi căn phòng trưng bày bảo vật và quay lại hành lang, khung cảnh tương phản hiện ra khá thú vị: trong khi 20 thiếu nữ đang lặng lẽ mừng xuân trước kiệt tác ‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’, khách tham quan bên ngoài tất bật chụp ảnh Tết với đầy đủ đồ nghề chụp ảnh, chân máy, cả tấm hắt sáng đủ kích cỡ chiếm kín ban công và cầu thang. Có người quay TikTok ở ban công, có người ngồi ngủ gật trên ghế, trong khi khách nước ngoài tìm đường len lỏi giữa dòng người, cố gắng tiếp cận các tác phẩm với dòng thông tin ít ỏi.

Câu chuyện bảo vật quốc gia đã bị mất đi phần hồn sau hư hại từ sự thiếu trách nhiệm trong công tác bảo quản, cũng như vai trò của bảo tàng đang dần mờ nhạt. Phần lớn bộ sưu tập đã vô tình trở thành phông nền cho khách tham quan, khi cách trưng bày thiếu liên kết và bối cảnh chưa đầy đủ đã vô tình hạn chế khả năng tiếp cận sâu hơn, hoặc thậm chí cả sự chú ý tối thiểu, đến tác phẩm và ý nghĩa lịch sử của chúng. Dù đáng tiếc là nhiều khách tham quan chỉ tương tác với bảo tàng trên mức độ bề mặt, hành vi này có thể được nhìn nhận không chỉ từ sự thờ ơ cá nhân với tác phẩm nghệ thuật, mà còn từ điều kiện vận hành hiện tại của một bảo tàng mang tầm cỡ quốc gia, khi việc bảo tồn còn đang bị xem nhẹ, và các tác phẩm được sắp xếp theo khung diễn giải một chiều và thiếu lời giải thích cần thiết.

Khung cảnh trong bảo tàng và khách tham quan chụp ảnh Tết.

Những điều trên đồng thời gợi mở thêm nhiều câu hỏi về thực trạng chung của nhiều tác phẩm khác trong bảo tàng: do kinh phí hạn chế từ nhà nước cho việc sưu tầm, bảo tồn và vận hành hằng ngày; điều kiện khí hậu nóng ẩm của Việt Nam; cũng như những khó khăn về kiến trúc cổ với giới hạn không gian của tòa nhà. Chưa kể, khu đất nơi bảo tàng tọa lạc đã từng đối mặt với nguy cơ bị lún do ảnh hưởng từ công trình cao tầng được xây dựng ngay bên cạnh.

Tại thời điểm này, mối bận tâm không chỉ xoay quanh việc một tác phẩm đã bị hư hại ra sao hay vì sao. Sự việc mở ra bức tranh lớn hơn về thực trạng bảo tồn di sản văn hóa ở Việt Nam, cũng như những khó khăn trong việc xây dựng nhận thức và kiến tạo những diễn giải có chiều sâu, phản ánh lịch sử mỹ thuật và di sản văn hóa tại Sài Gòn một cách đầy đủ và chính xác. Việc thoát ra khỏi “chiếc hộp thời gian” đọng lại của quá khứ nhiều biến động trong bối cảnh chuyển mình mới này không hề đơn giản. Tính cấp thiết của vấn đề càng trở nên rõ ràng hơn trong thời đại du lịch văn hóa và mạng xã hội, khi nhu cầu tiếp cận và tiêu thụ nghệ thuật của thế hệ trẻ ngày càng gia tăng, cũng như lượng du khách quốc tế đến Việt Nam cũng không ngừng tăng trong những năm gần đây.

Dự án xây dựng tòa nhà cao tầng bên cạnh từng gây ra tình trạng sụt lún, dẫn đến sự cố sập cổng phía bắc của bảo tàng.

Một bảo tàng mỹ thuật thuộc sở hữu không chỉ đơn thuần lưu giữ những gì còn sót lại từ quá khứ, mà còn đảm nhiệm vai trò nghiên cứu, bảo tồn và trưng bày những tác phẩm phản ánh di sản văn hóa và ký ức chung của một quốc gia, đồng thời thể hiện sự phát triển của kỹ thuật, thẩm mỹ, và cả giáo dục nghệ thuật qua từng giai đoạn. Trong bối cảnh hậu thuộc địa và độc lập của Việt Nam, bảo tàng giữ vị trí trọng tâm trong câu chuyện xây dựng quốc gia, thông qua lịch sử (mỹ thuật) được kiến tạo và đề cao thế hệ họa sĩ cách mạng. Tuy nhiên, quyết định để định hình những câu chuyện này lại không nằm trong tay công chúng, mà nằm ở các cơ quan quản lý. Điều còn lại trong khả năng của chúng ta là cách nhận diện và phản hồi trước những giới hạn trong cách mà lịch sử và nghệ thuật đang được đối xử và trình bày, cách chúng ta tiếp cận lịch sử với tinh thần phản biện, và tiếp tục tự viết nên câu chuyện của chính mình trong hiện tại và tương lai, vượt ra khỏi không gian của bảo tàng và lan tỏa trên nhiều nền tảng khác nhau.

Ủng hộ một bảo tàng mỹ thuật không chỉ dừng lại ở việc mua một tấm vé tham quan trong ngày rồi để lướt ngang tác phẩm và tiếp tục chụp ảnh. Điều đó còn đồng nghĩa với việc hiện diện một cách có ý thức: đặt câu hỏi vì sao các thiết chế và hệ sinh thái nghệ thuật của nước ta vẫn còn phát triển chưa tương xứng, và liệu chúng ta có thật sự hài lòng với việc những câu chuyện hiện tại được định hình, và cách ta trân trọng lịch sử cùng những kiệt tác mà thế hệ trước để lại. Bài học đắt giá từ bảo vật quốc gia từng bị xâm hại, và không phải là trường hợp duy nhất, cho thấy những vấn đề mang tính hệ thống chưa được khắc phục triệt để. Tuy nhiên, sự hứng thú của thế hệ trẻ đối với truyền thống, văn hóa nghệ thuật đang gia tăng ngày nay cũng đã mở ra hy vọng cho sự tương tác và những cuộc đối thoại mang tính tích cực hơn.

Ẩn mình trong những dòng chữ đối diện trước ‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’ là một câu nói của Nguyễn Gia Trí được ghi lại từ năm 1979: “Sáng tác ví như một bát nước, ta đổ tràn đầy, rồi những gì còn lại, ta giữ và phát triển.”

Những gì còn lại sau những hư hại và quá trình phục hồi chưa được trọn vẹn không chỉ là một bức tranh vật lý còn tồn tại, mà còn là trách nhiệm của những người liên quan, và cách chúng ta ghi nhớ, chất vấn, và gìn giữ những gì còn ở lại.

Được công nhận là bảo vật quốc gia vào năm 2013, ‘Vườn Xuân Trung Nam Bắc’ hiện đang được trưng bày trong bộ sưu tập thuộc Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh. Thông tin về tác phẩm và tham quan bảo tàng có thể được tìm thấy tại đây.

]]>
info@saigoneer.com (An Trần. Ảnh: An Trần.) Đặc biệt Âm Nhạc & Nghệ Thuật Văn Nghệ Fri, 13 Feb 2026 15:47:52 +0700
Sắc xanh trăm năm nơi 'thủ phủ' lá dong Tràng Cát https://saigoneer.com/vn/society/18059-sắc-xanh-trăm-năm-nơi-thủ-phủ-lá-dong-tràng-cát https://saigoneer.com/vn/society/18059-sắc-xanh-trăm-năm-nơi-thủ-phủ-lá-dong-tràng-cát

Trên những triền đất cát pha ven sông của xã Kim An, huyện Thanh Oai, Hà Nội, có một ngôi làng nhỏ mang tên Tràng Cát. Nơi đây, lá dong đã trở thành ký ức, sinh kế của người làng suốt nhiều thế kỷ. Cũng từ những mảnh vườn ở Tràng Cát, lá dong đã được “hô biến” thành những chiếc bánh chưng, điểm tô sắc xanh ngày Tết khắp mọi miền.

Suốt khoảng 600 năm nay, bao thế hệ người làng Tràng Cát lớn lên giữa những vườn dong mướt mải. Dong phủ xanh những khoảng sân, e ấp bên những tường gạch cũ. Dong uốn lượn theo những con đường quanh co có các bác nông dân đi làm đồng và trẻ con đi học. Năm tháng trôi đi, bộ mặt làng đã nhiều thay đổi, bao lớp người đến và đi, chỉ có những cây dong vẫn bền bỉ, vun vút, hiện diện trong cuộc sống và tâm thức của người dân.

Làng Tràng Cát thuộc xã Kim An, huyện Thanh Oai, Hà Nội. 

Theo gia phả của nhiều dòng họ trong làng, ngay từ những ngày đầu lập làng vào khoảng thế kỷ 16–17, người Tràng Cát đã bắt đầu khai khẩn đất, trồng dong. Ngày xưa, những chiếc lá dong đẹp nhất được chọn để gói bánh chưng dâng vua. Lúc đầu, dong chỉ được trồng trong vườn nhà. Sau này, đất trồng màu kém hiệu quả được chuyển sang trồng dong, nên diện tích dong tăng lên đáng kể. Hiện khoảng 500 hộ dân trong thôn đều gắn bó với cây dong.

Diện tích trồng dong ở Tràng Cát khoảng 30 ha.  

Khoảng 30 ha lá dong hiện nay trải đều khắp thôn. Được tưới mát bởi dòng sông Đáy hiền hòa, thổ nhưỡng cát pha đặc trưng của Kim An vô tình trở thành món quà tự nhiên cho cây dong phát triển. Nhờ đó, lá dong Tràng Cát nổi tiếng dày, bản to, mặt bóng nhẵn, khi nấu lên giúp bánh chưng mang màu xanh đẹp mắt, không dính, mùi thơm dịu. Bởi thế, không phải tự nhiên mà nhiều người vẫn tìm về Tràng Cát để chọn lá gói bánh chưng. 

Lá dong Tràng Cát bản to, dày giúp bánh chưng có màu xanh tự nhiên, thơm dịu.

Lá dong Tràng Cát được hái quanh năm, nhưng đời sống nơi đây chỉ thực sự rộn ràng khi Tết đến gần. Từ khoảng mùng 10 đến 25 tháng Chạp, cả làng bước vào mùa bận rộn nhất trong năm. Giữa màu xanh mươn mướt, nón lá nhấp nhô. Người thu hoạch phải len lỏi giữa những thân cây san sát nhau, lá vun vút cao quá đầu người. Đứng từ xa, bóng các cô chú nông dân chỉ thoắt hiện, rồi lẫn mất hút giữa màu xanh. Từng đôi tay thoăn thoắt dùng dao cắt sát cuống lá ngay từ gốc một cách tỉ mỉ, khéo léo để lá không rách, gãy, đồng thời giúp cây tiếp tục bật mầm non cho lứa sau Tết.

Lá dong được cắt bằng con dao nhỏ. 

Thân dong cao quá đầu người, mọc san sát nhau. 

Những lúc cao điểm, mỗi nhà có thể thu hoạch đến 10.000 lá dong mỗi ngày. Lá dong sau khi hái được rửa sạch và bó thành từng bó 100 lá. Lá được phân loại theo chất lượng và mục đích khác nhau. Những chiếc lá nhỏ được dùng gói bánh tét, lá cỡ vừa để gói bánh chưng bằng khuôn và những chiếc lá đẹp, to nhất dành gói tay truyền thống. Mỗi bó 100 lá có giá dao động từ VND60.000 đến VND250.000 cho mỗi bó 100 lá, tùy kích cỡ và chất lượng.

Sắp xếp lá dong sau khi thu hoạch.

Với những người như cô Phạm Thị Tuyết, trồng dong là công việc vừa quen thuộc vừa nhẹ nhàng hơn so với cấy lúa hay trồng rau màu. Mỗi ngày của cô Tuyết vào vụ Tết thường bắt đầu lúc 7 giờ sáng và kết thúc khoảng 5 giờ chiều, với khoảng 3 giờ nghỉ trưa. “Những ngày cận Tết, cô cần phải huy động cả gia đình giúp nhau hái, kịp đóng gói phân phối,” cô nói. Lá dong không chỉ thu hoạch vào dịp Tết mà gần như quanh năm, mỗi năm có thể cắt 3 đến 4 lứa. Việc chăm sóc cũng không quá cầu kỳ, chỉ cần giữ ẩm là lá lại lên đều, đẹp.

Chú Tâm, người dân Tràng Cát, đang rửa lá.

Lá dong được rửa để trôi bớt bụi, đất trước khi chuyển sang khâu đóng gói. 

“Cây dong dễ nuôi, dễ sống, cứ cắt đi là lại lên lá mới, cứ thế, người dân Tràng Cát có lá dong quanh năm. Có lần bão, cây bị ngã nhiều, nhưng rồi vẫn sống tiếp và ra lá mới,” chú Tâm vừa rửa lá, vừa nói. 

Lá dong được phân loại theo chất lượng, kích cỡ và bó thành từng bó 100 lá. 

Lá dong Tràng Cát được phân phối đến mọi miền đất nước.

Nói xong, các cô chú nông dân Tràng Cát lại tập trung vào công việc, người hái lá, người đếm lá, người rửa lá, phân loại lá. Tôi rời ngôi làng nhỏ nhưng vẫn cứ suy nghĩ về sự bền bỉ và sức sống của cây dong. Những chiếc lá dong xanh thẫm mang hương vị đất trời Tràng Cát, góp phần tạo nên hương sắc cho những chiếc bánh chưng trong mâm cỗ ngày Tết Việt Nam. 

]]>
info@saigoneer.com (Xuân Phương. Ảnh: Xuân Phương.) Đặc biệt Đời Sống Wed, 11 Feb 2026 12:00:00 +0700
Ngựa: Chuyện về 'kẻ ngoại tộc' đã trở thành biểu tượng của đất Việt https://saigoneer.com/vn/natural-selection/18058-ngựa-chuyện-về-kẻ-ngoại-tộc-đã-trở-thành-biểu-tượng-của-đất-việt https://saigoneer.com/vn/natural-selection/18058-ngựa-chuyện-về-kẻ-ngoại-tộc-đã-trở-thành-biểu-tượng-của-đất-việt

Theo bạn, ngựa có phải là một loài vật “gốc Việt” không?

Để trả lời cho câu hỏi về vị trí của ngựa trong dòng chảy văn hóa Việt, ta cần đưa mắt quan sát xung quanh. Có thể hình bóng loài tuấn mã không hiện ra ngay tức khắc trong tâm trí bạn, nhưng chỉ cần để ý một chút, chúng ta sẽ thấy dấu chân của chúng hiện hữu khắp mọi nơi.

Tượng Thánh Gióng ở Ngã Sáu Sài Gòn. Nguồn ảnh: Shing Chan.

Tượng Trần Nguyên Hãn. Nguồn ảnh: SGCP.

Minh chứng rõ nhất là tượng đài Thánh Gióng, vị anh hùng huyền thoại dẹp giặc ngoại xâm trên lưng ngựa sắt, hiện vẫn đang hiên ngang tại vòng xoay Phù Đổng. Tương tự, hình ảnh vị tướng thế kỷ 15 Trần Nguyên Hãn cũng gắn liền với con chiến mã tại quảng trường Quách Thị Trang trước đây. Dù bức tượng tạm thời được di dời để phục vụ dự án tàu điện ngầm, các kế hoạch tái lập không gian này trong tương lai chắc chắn sẽ đưa chú ngựa trở lại vị trí trang trọng nơi cửa ngõ thành phố.

‘Etheral Horses,’ tranh in thạch bản. Lê Bá Đảng. Nguồn ảnh: Mutual Art.

Ngựa không chỉ xuất hiện ở những không gian công cộng. Trong phòng khách của nhiều gia đình, đặc biệt là thế hệ ông bà, ta thường bắt gặp bức tranh “Mã đáo thành công” với bầy tuấn mã phi nước đại qua sông. Giới nghệ sĩ cũng tìm thấy nguồn cảm hứng bất tận từ loài vật này qua nhiều thời kỳ, tiêu biểu là triển lãm “Ngựa trong nghệ thuật tạo hình” tại Bảo tàng Mỹ thuật Hà Nội với hơn 60 tác phẩm. Những danh họa như Lê Bá Đảng đặc biệt yêu thích ngựa bởi bản năng khao khát tự do lẫn sự nhẫn nại khi đồng hành cùng con người. Thậm chí, hình ảnh chú ngựa còn từng xuất hiện trên mặt sau của những tờ tiền giấy nay ngừng lưu hành.

Nguồn ảnh: Smithwick Numismatics.

Dạo quanh tủ thuốc gia đình, bạn cũng dễ dàng bắt gặp hình ảnh ngựa trên mấy loại thực phẩm chức năng “ông uống bà khen,” tất cả cũng nhờ cái tiếng khỏe khoắn và bền bỉ của chúng. Dù các thương hiệu thời trang lớn tại Việt Nam ít khi chọn ngựa làm logo, nhưng mỗi dịp năm Ngọ, loài vật này lại chiếm sóng khắp nơi từ các chiến dịch quảng cáo cho đến bao bì sản phẩm.

Sản phẩm chăm sóc sức khỏe phái mạnh. Photos via Central Pharmacy and Lazada.

Ngựa còn len lỏi vào cả lời ăn tiếng nói qua mấy câu thành ngữ nằm lòng như “cưỡi ngựa xem hoa,” “một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ,” hay “đường dài mới biết ngựa hay.” Ngựa cũng là nhân vật chính trong nhiều ca khúc, từ nhạc phim hoài cổ đến mấy bài dân ca như "Lý Ngựa Ô" mà các chú, các bác miền Tây vẫn hay chọn để “phiêu” mỗi khi hát karaoke.

Ngựa kéo xe những năm 1960. Ảnh: Thomas W. Johnson.

Xe kéo ngựa ngoài chợ Bến Thành năm 1938. Ảnh: Eli Lotar.

Dù dấu ấn văn hóa rất đậm nét, việc bắt gặp một chú ngựa bằng xương bằng thịt giữa phố phường ngày nay lại là chuyện hiếm có. Thế nhưng cách đây không lâu, ngựa từng là một mắt xích quan trọng của nền kinh tế. Thời thuộc địa, chúng đảm nhận vai trò thồ hàng và vận tải. Kể cả khi xe cơ giới ra đời, ngựa vẫn là phương tiện vận chuyển hữu dụng, vừa túi tiền để chở người và vật liệu xây dựng. 

Quảng cáo bằng xe kéo ngựa. Nguồn ảnh: 2Saigon.

Trong các kho lưu trữ ảnh cũ, không khó để bắt gặp cảnh những chú ngựa kéo xe chở đầy hàng hóa, đưa đón thị dân, hay thậm chí là rong đuổi để quảng bá cho các gánh hát. Tuy thời của những chuyến xe thổ mộ ở Sài Gòn đã lùi xa, ngựa vẫn miệt mài đồng hành cùng các nẻo đường miền Tây, nhất là trong các cộng đồng người Khmer. Dù vai trò vận tải đang dần khép lại, người ta vẫn kỳ vọng xe ngựa có thể chuyển mình để phục vụ du lịch. Tiếng vó ngựa lóc cóc nghe êm đềm như lời ru giữa chốn làng quê chắc chắn sẽ là món quà tinh thần quý giá cho những người con xứ thị thành.

Ngựa thồ hàng ở An Giang năm 2020. Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ.

Không chỉ dừng lại ở vai trò “cửu vạn,” loài ngựa còn từng là tâm điểm của những hình thức giải trí xa hoa tại Việt Nam. Điển hình nhất phải kể đến trường đua Phú Thọ tại Quận 11, nơi từng là tụ điểm ăn chơi, cá cược khét tiếng của giới thượng lưu từ khi được người Pháp xây dựng vào năm 1923. Dù đã ngừng hoạt động từ năm 2011, nhưng nếu nhìn từ trên cao hay xem qua bản đồ, chúng ta vẫn dễ dàng nhận ra dáng dấp hình elip đặc trưng của trường đua lớn nhất Đông Nam Á một thời này.

Trường đua Phú Thọ, 1964-1969. Nguồn ảnh: trang Flickr của người dùng manhhai.

Xâu chuỗi tất cả lại, tôi tin rằng chúng ta hoàn toàn có thể coi ngựa là một phần của văn hóa Việt Nam. Nhưng liệu chúng có thực sự đến từ Việt Nam không? Câu trả lời ngắn gọn là: không. Những cá thể ngựa nhà ngày nay được cho là hậu duệ của các quần thể ngựa ở thảo nguyên Á-Âu từ 4.000 năm trước. Các giống ngựa dần thay đổi và thích nghi khi lan rộng khắp thế giới theo các cuộc viễn chinh của người Mông Cổ và người phương Bắc. Các nhà nghiên cứu tin rằng đó là cách ngựa đặt chân đến Việt Nam khoảng 800 năm trước, dẫn đến sự hình thành của giống ngựa Bắc Hà ở miền núi phía Bắc ngày nay. Giống ngựa thấp lùn, chắc nịch này thích nghi cực tốt với địa hình hiểm trở và việc đồng áng. Với vóc dáng nhỏ bé đặc trưng, chúng từng gây sốt trên mạng xã hội khi xuất hiện cùng lực lượng cảnh sát trong các buổi diễu binh.

Diễu binh bằng ngựa Bắc Hà năm 2020. Nguồn ảnh: Chào Hanoi.

Suốt hàng trăm năm, loài ngựa đã được vào “biên chế” quân đội Việt Nam. Chẳng hạn dưới thời nhà Lê, nhà vua đã ra lệnh cho tất cả con em quan lại và quý tộc phải tinh thông thuật cưỡi ngựa bắn cung; lực lượng kỵ binh cũng đóng vai trò then chốt trong các trận chiến thời bấy giờ. Ngựa chiến tiếp tục được nhà Nguyễn trọng dụng sau này. Ngày nay, chúng ta vẫn có thể thấy tàn tích của nền văn hóa này qua các bức tượng ở Huế hay chiếc nón ngựa Bình Định, một loại nón vừa đủ bền chắc để đội khi cưỡi ngựa, vừa có thiết kế tinh xảo dành riêng cho giới quý tộc.

Kỵ binh thời Nguyễn. Nguồn ảnh: Thanh Niên.

Trong khi loài ngựa dần lui về miền ký ức của người Kinh, chúng lại giữ vị trí trung tâm trong đời sống các cộng đồng miền núi phía Bắc. Những phiên chợ xuân của người H'Mông, Tày, Nùng, Dao không chỉ là nơi tụ họp hay mua bán hàng hóa, mà còn là nơi diễn ra các cuộc đua ngựa đầy kịch tính. Theo thời gian, những cuộc đua này đã được tổ chức bài bản hơn để trở thành sản phẩm du lịch và là cách thức để bảo tồn văn hóa. Chính quyền cũng đã công nhận Lễ hội đua ngựa Bắc Hà là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đến với lễ hội, du khách còn có dịp thưởng thức thắng cố, món đặc sản được người H'Mông chế biến kỳ công cùng các loại thảo mộc vùng cao.

Đua ngựa Bắc Hà. Ảnh: Xuân Phương cho Vietnam Coracle.

Đối với cộng đồng người H'Mông, ngựa không chỉ là vật nuôi để lao động. Chúng còn giữ vai trò thiêng liêng trong đời sống tâm linh. Cái chết thường được hình tượng hóa là một con ngựa trắng đến đưa linh hồn sang thế giới bên kia. Vì lẽ đó, người ta thường chôn theo một con ngựa gỗ cùng người quá cố. Hình tượng ngựa cũng xuất hiện trên lăng mộ của người H'Mông và các dân tộc vùng cao khác.

Ngựa cũng được cho mặc những trang phục truyền thống. Nguồn ảnh: Du Lịch Bắc Hà.

Vậy rốt cuộc, ta có nên coi ngựa là một loài vật Việt Nam? Ngựa hoang dã về cơ bản đã tuyệt chủng, chỉ còn một quần thể nhỏ được tái nhập đàn đang sinh tồn tại Mông Cổ. Nếu bạn thấy một đàn ngựa sống tự do trong tự nhiên, đó thường là ngựa hoang hóa từ các giống ngựa nhà. Vì vậy, mọi giống ngựa mà ta biết hiện nay tồn tại được là nhờ vào nỗ lực và các hoạt động của con người. Có lẽ, bất kỳ quốc gia hay xã hội nào đã xây dựng được một nền văn hóa độc đáo song hành cùng loài vật này đều có quyền tự hào xem chúng là của riêng mình.

Ngựa Bắc Hà ở Lào Cai được người H'Mông sử dụng trong đời sống hàng ngày. Nguồn: tài khoản Flickr của người dùng Manfred Sommer.

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Ảnh: Dương Trương.) Đặc biệt Natural Selection Đời Sống Tue, 10 Feb 2026 17:13:17 +0700
Những đôi tay nhuộm đỏ 'giữ lửa' nghề ở làng nhang Lê Minh Xuân https://saigoneer.com/vn/society/18055-những-đôi-tay-nhuộm-đỏ-giữ-lửa-nghề-ở-làng-nhang-lê-minh-xuân https://saigoneer.com/vn/society/18055-những-đôi-tay-nhuộm-đỏ-giữ-lửa-nghề-ở-làng-nhang-lê-minh-xuân

Những bó nhang đỏ rực được nghệ nhân mang ra từ sáng sớm, trong màn sương mù bảng lảng, thoang thoảng mùi quế thơm vào khúc giao mùa năm mới. 

Làng nhang Lê Minh Xuân

Gọi là “làng” nhưng không gian của xã Lê Minh Xuân (huyện Bình Chánh) đã lẫn không ít dấu vết của đô thị; những mái tôn cũ, mới chồng chéo, xiêu vẹo, tạo thành những mảng đối lập.

Cơ sở nhang Minh Phước.

Gần 50 năm gắn bó với xã Lê Minh Xuân (huyện Bình Chánh cũ), chị Nguyễn Cát Bội Thúy, chủ cơ sở nhang Minh Phước, đã chứng kiến bao thăng trầm của vùng đất. Chị hồi tưởng: “Trước đây, quanh khu vực này là đất trống, dần dà mới lập các căn chòi bằng lá, về sau khấm khá hơn, người dân cùng sự hỗ trợ của ban ngành xã, mới cất thành nhà tôn như bây giờ.” 

Bằng đôi tay lao động bền bỉ và sự chịu thương chịu khó, chị không chỉ giữ lửa nghề truyền thống mà còn tạo sinh kế cho nhiều hộ gia đình khó khăn. Từng bôn ba mưu sinh nhiều nơi, chị thấu hiểu sâu sắc hoàn cảnh của những ai tìm đến nơi này. 

Chị Nguyễn Cát Bội Thúy.

Một ngày làm việc của nghệ nhân làng nhang thường bắt đầu từ 6 giờ sáng và kéo dài đến 6 giờ chiều. “Em thấy làm nhang không khó, chỉ một ngày là em biết làm hết các khâu,” một cô bé tuổi đôi mươi chia sẻ với chất giọng nhẹ tênh. 

Một ngày làm việc bắt đầu từ tờ mờ sáng.

Chị Thúy bắt đầu kể chuyện với tôi một cách rành rọt, đôi bàn tay nhuộm đỏ bột đan vào nhau với tất thảy niềm tự hào. Để làm nên một nén nhang cần bốn nguyên liệu chính: keo, tăm tre, bột áo và màu nhuộm. Cả bốn nguyên liệu đều được nhập từ khắp Việt Nam, như keo là đặc trưng của vùng cao nguyên Gia Lai, còn tăm nhang (bằng tre) thì nhập từ tận thủ đô vào.

Chị chia sẻ thành thật: “Cơ sở chị không tự sản xuất từng nguyên liệu được, vì ở mỗi nơi sẽ có chuyên gia, mỗi người mỗi khâu, mỗi công đoạn để hoàn thành công việc. Như làm tăm nhang, là chẻ những cây tre ra, nghe có vẻ đơn giản, nhưng nếu không khéo thì hỏng hết.”

Mỗi người chịu trách nhiệm cho một công đoạn.

Dù đã qua chục năm nhưng quy trình làm nhang vẫn theo chừng đó công đoạn, người nào cũng có thể học và làm mọi vị trí. Đầu tiên, tăm tre được nhuộm chân đỏ phía bên ngoài cơ sở. Mỗi thiên nhang (tức 1.000 cây nhang) được đặt xuống một hồ nước sơn đỏ hình chữ nhật bằng xi măng, ngâm khoảng 5 phút và cho ráo màu, sau đó đưa vào sân để nắng hong khô từng thớ tre mảnh. Sơn thừa được chắt chiu vào thúng rồi đậy nắp kỹ càng cho lần sử dụng sau.

Tăm tre được nhuộm đỏ.

Chỉ qua một bước đơn giản, những thanh tre mảnh khảnh vốn mang màu vàng nhạt đã khoác lên mình sắc đỏ đặc trưng, nằm đợi dưới nắng tròn một ngày để màu thực sự “chín.”

Tăm được phơi khô dưới nắng một ngày để lên màu đẹp nhất.

Tiếp đó, những người thợ sẽ đưa tăm vào máy se nhang để cuộn bột cho thật tròn đều, trước khi mang đi sấy suốt 12 tiếng đồng hồ. Công đoạn cuối cùng là đóng gói ngay trước hiên nhà.

Công đoạn se nhang.

Nhang đạt tiêu chuẩn là khi nó không bị nứt, đều như vắt tranh và khi đốt lên thì cháy liền mạch từ đầu đến cuối. Chị thủ thỉ, mỗi lần cắm một nén nhang được làm từ chính đôi tay và lòng thành của mình, đều cảm thấy tự hào, an tâm mà gửi gắm trọn vẹn đến với tổ tiên trên bàn thờ.

Sấy nhang.

Ký ức se nhang truyền thống và chiếc máy đếm tiền bị “bỏ quên”

Ngày trước, công đoạn cực nhọc nhất là se nhang bằng tay, bởi nghệ nhân phải dùng ván lăn từng cây nhang một. Thế rồi, bước ngoặt về năng suất ra đời, nhưng không phải từ xưởng cơ khí mà là từ… vựa phế liệu. Đó là chiếc máy se nhang được một anh nhặt ve chai sáng chế từ chiếc máy đếm tiền trong ngân hàng bị vứt bỏ. Nhờ sáng chế đó, công đoạn làm nhang rút gọn hơn, nếu trước làm 1.000 cây nhang, có tới 800 cây bị hư, thì giờ tỷ lệ hư hao chỉ còn khoảng 80 cây.

Công đoạn se nhang.

Thế nhưng, hiện đại cũng đi kèm lo toan về chi phí vận hành và sửa chữa máy móc. Trong tiếng máy rền rĩ chạy suốt một ngày dài, nghệ nhân phải khoác lên mình chiếc áo kỹ sư “bán chuyên,” vừa làm vừa canh chừng từng sợi dây điện, góc máy để đảm bảo an toàn lao động.

Trong xưởng nhang, người lao động thuộc đủ mọi thế hệ hiện diện. Từ người già, tóc điểm muối tiêu, cặm cụi bó từng thiên nhang trước hiên nhà với chiếc lưng đã còng, đến những người trẻ vì hoàn cảnh mà phải nghỉ học từ sớm. Họ đến từ nhiều nơi khác nhau, có người ở sát vách nhà, có người tha hương tìm tới từ tận miền Tây.

Người làm nghề nhang đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau.

Chị Thúy kể, công nhân ở đây ra vào liên tục, có người làm vài ba năm rồi nghỉ, gầy dựng dựng cơ sở riêng khiến làng nghề trở nên sôi động. Có người thì nghỉ hẳn, lặng lẽ rời đi tìm sinh kế khác. Nhưng dù thế nào, họ đều đã góp phần gìn giữ cái hồn của làng nghề bằng chính mồ hôi của mình.

Cứ thế, những bó nhang rời xưởng và bắt đầu cuộc hành trình riêng. Chúng tập kết tại chành xe Chợ Lớn, rồi mỗi chuyến xe lại chở theo hàng vạn nén tâm hương tỏa đi khắp mọi miền, từ vùng quê đến thành thị. Để rồi khi được thắp lên trong gian nhà ấm cúng cửa thiền trang nghiêm, tĩnh lặng, mỗi nén nhang lại hoàn thành sứ mệnh cao cả, làm cầu nối giữa thực tại và cội nguồn.

Những mùa vụ không hẹn ngày trở về

Trong trí nhớ của nhiều người, đại dịch COVID-19 đã là câu chuyện của nhiều năm về trước, nhưng nó vẫn để lại dư chấn cho nghề truyền thống đến tận bây giờ. Kinh tế khó khăn, nhiều biến động, giá cả nguyên liệu làm nhang tăng vọt. Từ đó, người ta ưu tiên thu mua sản phẩm nhang giá rẻ, nhưng kém chất lượng; dẫn tới các cơ sở làm nhang chân chính bị quên lãng.

Chân nhang được phết thêm một lớp sơn để đều màu.

Ngày trước, mùa nhang thường rơi vào trước Tết Nguyên Đán hoặc tháng 7 Âm lịch, nhưng giờ đây cái không khí sôi động ấy không biết ngày trở về. Dù đã qua cái thời của nó, nghệ nhân cũng chẳng lỡ dừng lại: “Nhưng mà bây giờ mình làm cái nghề này đã quá lâu rồi. Nghỉ cũng thấy buồn, thôi kệ, mình cứ làm rồi hy vọng, biết sao sau này nó bình ổn lại.” Niềm tin được chị gửi gắm vào thế hệ con cái, với dự định sẽ đưa nén nhang quê mình lên các nền tảng bán hàng trực tuyến, thay vì chỉ dựa vào những chành xe truyền thống.

Nhang đã đóng gói chuẩn bị lên những chành xe đi muôn ngả đất nước.

Mỗi nén nhang thắp lên là đưa lời nguyện cầu của con cháu đến với tổ tiên một cách thành khẩn, thiết tha nhất của con người Việt Nam, chứa đựng cả những câu chuyện tâm linh, tín ngưỡng từ bao đời. Cái nén nhang ấy cũng chứa đựng câu chuyện về đời sống mưu sinh, cần mẫn và đầy lặng lẽ của biết bao số phận người.

]]>
info@saigoneer.com (Lã Khánh Giang. Ảnh: Alberto Prieto và Jimmy Art Devier.) Đặc biệt Đời Sống Sat, 07 Feb 2026 12:00:00 +0700