Khám phá Việt Nam và hơn thế nữa - Sài·gòn·eer https://saigoneer.com/vn/component/content/?view=featured Mon, 08 Jun 2026 17:00:27 +0700 Joomla! - Open Source Content Management vi-vn Đôn Chề, sự giao thoa ngẫu hứng của những hiện tượng văn hóa ‘cây nhà lá vườn’ https://saigoneer.com/vn/eplain/16946-đôn-chề,-sự-giao-thoa-ngẫu-hứng-của-những-hiện-tượng-văn-hóa-‘cây-nhà-lá-vườn’ https://saigoneer.com/vn/eplain/16946-đôn-chề,-sự-giao-thoa-ngẫu-hứng-của-những-hiện-tượng-văn-hóa-‘cây-nhà-lá-vườn’

Không ít người dùng mạng, đặc biệt những người yêu thích nền tảng TikTok, đã hùng hồn tuyên bố: “Ai rồi cũng phải Đôn Chề thôi!” Nhưng Đôn Chề là gì? Và vì sao sớm hay muộn chúng ta cũng phải tham gia?

 

 

“Ai rồi cũng phải Đôn Chề thôi!”

 Ứng dụng tỉ đô TikTok là nơi hàng triệu video được đăng tải mỗi ngày, với kho tàng nội dung vô cùng đa dạng: từ clip chó mèo đến hướng dẫn làm giàu tự thân.

Dù có cảm thấy thế nào về ứng dụng này, điều mà ai cũng phải công nhận là TikTok có một sức hấp dẫn kỳ lạ. Điều này được thể hiện rõ nhất trong các đợt giãn cách xã hội vừa rồi, khi mọi người cùng “đồng tâm hiệp lực” ở nhà xem review phim, làm cà phê dalgona hay thực hiện những trào lưu được gợi ý bởi các hashtag. Trong số đó, hashtag với cái tên rất kêu, Đôn Chề, là một trào lưu thu hút được lượng lớn người dùng tham gia và sự thú vị của nó không chỉ nằm ở những con số.  

Đôn Chề,

từ tưởng chừng như vô nghĩa trong tiếng Việt, thực chất là cái tên được đặt cho một điệu nhảy đặc biệt xuất phát từ TikTok Việt Nam.

Các clip Đôn Chề thường kéo dài dưới 10 giây. Người đăng có thể nhảy ứng tác hoặc theo một vũ đạo có sẵn trên nền nhạc Vinahouse.
Video: Kênh Tiktok của @cciinnn.

Đôn Chề, từ tưởng chừng như vô nghĩa trong tiếng Việt, thực chất là cái tên được đặt cho một điệu nhảy đặc biệt xuất phát từ TikTok Việt Nam. Giống như những trào lưu nhảy khác của TikTok, các clip Đôn Chề thường kéo dài dưới 10 giây và sử dụng những đoạn nhạc từ kho nhạc của ứng dụng. Người đăng có thể tự ứng tác theo nhạc, hoặc nhảy theo một vũ đạo đã có sẵn. Trong đó, một số đoạn nhạc bắt tai thường đi cùng những điệu nhảy cố định và thậm chí trở nên viral trên cả những nền tảng khác như Facebook và YouTube.

Điều làm Đôn Chề khác biệt so với những trào lưu nhảy khác của TikTok chính là cách dựng vũ đạo và loại nhạc đi kèm. Các động tác chủ yếu được thực hiện bằng tay và bị giới hạn ở phần thân trên, được lặp lại xuyên suốt vũ đạo. Giai điệu chắc chắn phải lấy từ các bản nhạc remix, phối theo phong cách Vinahouse. Người nhảy thể hiện sự uyển chuyển không chỉ trong từng động tác mà còn trong cử chỉ khuôn mặt. Chỉ cần thiếu một yếu tố là sẽ làm mất đi bộ nhận diện của Đôn Chề.

Đôn Chề với vũ điệu cồng chiêng. Các động tác chủ yếu được thực hiện bằng tay và bị giới hạn ở phần thân trên, được lặp lại xuyên suốt vũ đạo. Video: Kênh TikTok của @dnm1025 @huyenanhhvu và @nhan.pato (từ trái qua phải). 

Nhưng có lẽ, điểm đặc biệt hơn cả lại nằm ở cái tên của điệu nhảy. Nhiều nguồn mạng cho rằng, Đôn Chề thực chất là một từ có nguồn gốc tận trời tây, và đã trải qua nhiều lớp nghĩa trước khi trở thành một hashtag của TikTok. 

Theo đó, Đôn Chề là biến âm của cách đọc từ dolce trong Dolce & Gabbana, một thương hiệu thời trang cao cấp đến từ nước Ý. Đi ngược với xu hướng thiết kế tối giản hiện thời, hãng theo đuổi phong cách “haute hippy dom” nổi bật với những họa tiết sặc sỡ như da báo và sọc caro nhiều màu. Vì những tính chất này mà các bộ sưu tập của Dolce & Gabbana nổi tiếng thử thách người mặc, và thường chỉ xuất hiện trong tủ của những tín đồ thời trang với khả năng phối đồ khá trở lên.

“Một tổng thể gây khó hiểu về mặt thị giác.”

Như những thương hiệu thời trang cao cấp khác, Dolce & Gabbana cũng chịu ảnh hưởng bởi thị trường làm giả sôi động của các nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Nếu như một sản phẩm chính chủ có giá 1.000–10.000 USD, vượt quá nhiều lần mức thu nhập trung bình của người dân thì một món hàng ăn theo chỉ có giá vài trăm nghìn. Việc hàng tấn sản phẩm nhìn-vậy-mà-không-phải-vậy được bày bán trên khắp đất nước đã mở ra xu hướng thời trang mới cho người ở nhiều tầng lớp khác nhau.

Vào những năm 2000 khi streetwear lên ngôi, các hãng thời trang cao cấp cũng đua nhau ra mắt các sản phẩm có tính ứng dụng cao hơn trong đời sống hằng ngày. Các sản phẩm ăn theo vì vậy mà cũng rất thịnh hành, và được đặc biệt ưa chuộng bởi các chàng trai thành thị muốn thể hiện bản thân. Một bộ cánh cơ bản của họ sẽ không thể thiếu mũ lưỡi trai, áo khoác rộng, quần jean thụng và đôi dép lê hoặc giày thể thao; tất cả đều không chính hãng nhưng in hoạ tiết hãng thật to, tạo nên tổng thể đôi khi gây khó hiểu về mặt thị giác. Do thiếu tính chính thức nên những phụ kiện này được gọi bằng những cái tên trại lại như Gu Chì (Gucci) hay Bắp Be Rì (Burberry). Dù là tập hợp của nhiều cái tên nhưng phong cách lại được gọi chung bằng Đôn Chề (Dolce), có lẽ vì đặc trưng hầm hố của hãng này.

Một bộ cánh cơ bản của họ sẽ không thể thiếu mũ lưỡi trai, áo khoác rộng, quần jean thụng và đôi dép lê hoặc giày thể thao;

Hình tượng các thanh niên trong những bộ quần áo hầm hố, nghe nhạc Vinahouse và nhảy điệu Vinahey một cách điêu luyện dần dần trở thành một dạng tiểu văn hóa lấy danh tính chung là Đôn Chề.

Song song với streetwear, một trào lưu khác cũng nổi lên trong thời gian này là phong trào nhạc điện tử Vinahouse. Đây là dòng nhạc house mang đậm chất “cây nhà lá vườn” do DJ Việt sáng tạo. Vinahouse thường được gắn liền với hình ảnh các vũ trường và điệu nhảy đi kèm là Vinahey. Tình cờ thay, đối tượng chính của thể loại giải trí này cũng chính là những chàng trai thành phố với gu thời trang mạnh mẽ mà chúng ta vừa nhắc đến. Hình tượng các thanh niên trong những bộ quần áo hầm hố, nghe nhạc Vinahouse và nhảy điệu Vinahey một cách điêu luyện dần dần trở thành một dạng tiểu văn hoá lấy danh tính chung là Đôn Chề. Tuy nhiên, lúc này Đôn Chề bị xem là một hiện tượng khá tiêu cực vì một số luồng ý kiến xã hội lúc bấy giờ.

Vinahouse thường được gắn liền với hình ảnh các vũ trường và điệu nhảy đi kèm là Vinahey.

Qua thời gian, Vinahouse dần trở thành một loại âm nhạc chính thống nhờ sự góp mặt của các DJ tên tuổi. Từ đó, dòng nhạc không còn bị giới hạn ở  các phố vui chơi mà bắt đầu xuất hiện trong các văn hoá phẩm phổ biến với đại chúng. Tuy nhiên, vì là một phần của trường phái Đôn Chề nên cả nhạc và các điệu nhảy Vinahey vẫn được ngầm xem như một loại meme, đặc biệt là với thế hệ Gen Z

Cùng với sự phát triển của TikTok, các bài hát Vinahouse được lan truyền rộng rãi qua chức năng tự chọn nhạc của ứng dụng. Cú hích lớn của thể loại này là khi được dùng trong video của người dùng @cciinn, một vũ công chuyên nghiệp. Trong đó, cô gái nhảy trên nhạc nền ‘The Magic Bomb’ và biểu diễn vũ đạo một cách điêu luyện. Điệu nhảy này sau đó nhanh chóng được lan truyền  và làm bừng lên trào lưu nhảy nhạc Vinahouse trên khắp TikTok. Điệu nhảy tất nhiên cũng được truyền cảm hứng từ Vinahey, với các động tác đặc trưng như múa tay liên tục hoặc các cú lắc hông mạnh. Nhận ra mối liên kết, người dùng TikTok đã đặt tên cho trào lưu là Đôn Chề, đưa thể loại nhạc này trở lại với ánh hào quang.

“TikTok mang Đôn Chề trở lại với hào quang năm xưa.”

Trong khi các nữ sinh người Nhật lập cả đội hình để nhảy...
Video: Kênh TikTok @japanleaders.

Giờ đây, độ phổ biến của Đôn Chề đã vượt ra khỏi biên giới Việt Nam. Không ít người dùng nước ngoài, trong đó có cả người nổi tiếng, đã thích thú thực hiện điệu nhảy này. Tuy nhiên, ở các phiên bản ngoại quốc, người dùng loại bỏ một số yếu tố trong bản gốc, chẳng hạn như các động tác đậm chất Vinahey, sự cá tính và mạnh mẽ cũng được thay bằng những cử chỉ vui vẻ và thoải mái hơn.

...thì các TikToker Mỹ vừa nhẹ nhàng Đôn Chề vừa hỏi đáp với các fan.
Video: Kênh TikTok @camille_munday.

Có thể dễ nhận thấy, mỗi lần Đôn Chề vượt bức tường văn hoá, khái niệm này lại mang cho mình một danh tính và sức sống mới, phù hợp với nền văn hoá bản địa mà nó vừa du nhập. Để giải thích cho sức hút của Đôn Chề, ai đó có thể liệt kê ra những yếu tố như sự cá tính và quyến rũ của các điệu nhảy, kho nhạc phong phú và sôi động của nền tảng, các người dùng khởi xướng cho trào lưu là những gương mặt có sức hút và lượng người theo dõi cao, v.v. 

Tuy nhiên, dù có xác định được những yếu tố này, ta cũng rất khó sáng tạo ra một trào lưu tương tự, hay dùng làm căn cứ để đánh giá độ hot của một xu hướng mới. Phải nói rất hiếm khi gặp được sự cộng hưởng ngẫu nhiên và vô tư của các tiểu văn hóa made-in-Vietnam từng làm mưa làm gió một thời trên một nền tảng hợp thời mới. Có lẽ, các TikToker nói không sai khi khẳng định “Ai rồi cũng sẽ phải Đôn Chề,” vì với sự linh hoạt và các đặc tính quen thuộc của trào lưu, biết đâu ngày nào đó Đôn Chề lại trở thành thứ mà tôi và bạn yêu thích?

Collage: Phương Phan, Hannah Hoàng, Phan Nhi và Jessie Trần.
Vẽ minh họa: Hannah Hoàng.

]]>
info@saigoneer.com (Uyên Đỗ.) Đặc biệt Ẽplain Đời Sống Sat, 06 Jun 2026 16:20:00 +0700
Giải mã sức hút của trào lưu remix nhạc trẻ miền Tây https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18137-một-hỗn-hợp-âm-thanh-thiệt-ngộ-mang-tên-nhạc-trẻ-miền-tây https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18137-một-hỗn-hợp-âm-thanh-thiệt-ngộ-mang-tên-nhạc-trẻ-miền-tây

Vật vờ trên chuyến xe đò xuyên tỉnh, bạn đã bao giờ giật mình tỉnh dậy vì tiếng trống điện tử xập xình của ‘Quê em mùa nước lũ’ bản phối Vinahouse? Hay lúc chờ đợi mòn mỏi, tay lướt TikTok lại bắt gặp giai điệu ‘Lấy cây kim may đồ’ đang chễm chệ trên xu hướng.

Thứ âm nhạc này tràn từ quán nhậu vào đám cưới, từ đường phố len lỏi lên mạng xã hội. Tiếng bass đùng đùng song hành cùng chất giọng ngọt như mía lùi kể câu chuyện đời sống dọc sông Cửu Long, khiến người phương xa bất giác nghĩ đến vô số điều ngộ nghĩnh nơi đây. Bằng cách nào, những bản nhạc trẻ miền Tây remix lại chạm đến cả những cộng đồng vốn chẳng mấy bận tâm tới nó?

Nguồn ảnh: Kênh YouTube Miền Tây Remix.

Thuở nhạc miền Tây chưa “giật”

Nhắc đến kho tàng âm nhạc Nam Bộ xưa, đờn ca tài tử có lẽ là mảnh ghép đại diện rõ nét nhất. Thể loại này thu hút người nghe bằng tiếng đàn điêu luyện từ người nghệ sĩ miệt vườn. Đàn kìm, đàn cò, đàn tranh hay đàn bầu cứ thế nương vào nhau tấu lên bộ ngũ cung đặc trưng (Hò Xự Xang Xê Cống).

Đáng chú ý, đờn ca tài tử thuở sơ khai không hề đóng khung trong nhà hát hàn lâm, mà vốn sinh ra bên mâm rượu, trên chòi lá sau giờ lao động. Bản chất của âm nhạc Nam Bộ ngay từ đầu đã mang tính quần chúng, lấy mục tiêu kết nối bè bạn làm cốt lõi. Tinh thần hội hè này chính là bệ phóng giúp âm thanh nơi đây dễ dàng bắt đôi cùng tư duy giải trí hiện đại.

Đờn ca tài tử trong lối sống Nam Bộ. Nguồn ảnh: Thông tấn xã Việt Nam.

Remix nữa, remix mãi

Tánh ưa tụ họp khiến người miền Tây chẳng nề hà chuyện cũ mới. Một khi âm nhạc đã sinh ra để phục vụ bàn tiệc, thì lúc cuộc vui thời nay đòi hỏi thứ âm thanh xập xình hơn, tiếng đờn ca đâu đó cũng nhường chỗ cho những âm thanh mới nổi. Trào lưu khoác áo nhạc sàn cho những giai điệu sông nước từ đó ra đời.

 Theo làn sóng nhạc điện tử, giới DJ miệt vườn bắt đầu nhào nặn lại những giai điệu dân ca thành những bản phối dập dình, vừa quen tai vừa phục vụ nhu cầu giải trí hết mình của người miền. Một vở cải lương bi lụy, sướt mướt như ‘Võ Đông Sơ - Bạch Thu Hà’ cũng dễ dàng dắt túi 3 bản phối giật đùng đùng.

Dòng nhạc này vốn sinh ra cho tiệc tùng say bí tỉ, bùng nổ nhất vào dịp cưới xin hay Tết nhất. Ở miền Tây, đám cưới có thể kéo dài 2 đến 3 ngày đêm, người ta ăn uống hát hò thâu đêm suốt sáng. Khách phương xa ghé chơi trúng dịp này dễ dàng bị cuốn vào cuộc vui. Người miền Tây “cơ địa” hiếu khách, thêm hơi men lâng lâng thì nhìn ai cũng dễ mến, cũng coi như anh em. Khách thành thị hay bè bạn quốc tế ra về đều mang theo kỷ niệm kỳ lạ nhất đời, in hằn trong đầu mớ âm thanh vừa dân dã vừa hiện đại của vùng sông nước.

Mang đặc trưng là tiết tấu dồn dập, lặp đi lặp lại, dòng nhạc này vô cùng dễ thuộc, dễ đoán để cả đám đông hòa chung bầu không khí, tạo nên sức gắn kết lớn. Người nghe luôn thấy thú vị khi đoạn cao trào vang lên, đám đông đồng loạt ngừng vài giây trước lúc bùng nổ cùng nhau dù chẳng ai biết trước bản nhạc biến tấu thế nào. Giới chuyên môn vẫn dè chừng thứ âm nhạc này bởi tính rập khuôn, và rõ ràng người nghe rất khó tìm ra điểm khác biệt giữa 3 phiên bản 'Võ Đông Sơ Bạch' Thu Hà remix kể trên.

Tiết tấu lặp đi lặp lại, giai điệu dễ đoán cùng thông điệp cũ mòn đã khiến dòng nhạc này vướng định kiến thiếu sáng tạo. Thế nhưng, chính yếu tố đó lại giúp các bài hát trở nên dễ hiểu, dễ nhớ, và thu phục được vùng giao thoa rất hẹp của đám đông khổng lồ. Nếu tạm gác lại tiêu chí “vị nghệ thuật,” việc xài chung mô típ để cộng đồng thỏa sức hòa nhịp đã giúp tác phẩm hoàn thành xuất sắc sứ mệnh “vị nhân sinh.”

Định hình căn tính với Cưới và Nhậu

Nắm bắt tâm lý thính giả, nhạc trẻ miền Tây thường xoay quanh chủ đề đám cưới, tiễn người yêu đi dựng vợ gả chồng, hay chuyện anh em lai rai thâu đêm. Đương nhiên, nghệ sĩ phải nhào nặn ca khúc thật sôi động cho đúng gu khán giả, nếu không muốn thợ remix cướp mất hào quang và mang về lượng người nghe áp đảo.

Nhậu và yêu đương, cưới xin là những chủ đề cộm cán của nhạc trẻ miền Tây remix. Nguồn ảnh: Kênh YouTube AC MediaG5R Remix.

Trong ca khúc ‘Muốn cua anh làm bồ’ của Dương Ái Vy, chúng ta có: “Nè gật đầu cho suôn, sang năm mình làm đám cưới luôn.” Nal lại bộc trực trong ‘Rồi tới luôn’: “Em ơi em ở đâu anh mang trầu cau qua anh rước dâu luôn.” Phát Hồ còn gấp gáp hơn khi tính trước chuyện trăm năm bằng lời tuyên bố: “Yêu là cưới trên dưới hai nhà làm sui, rượu bia chơi láng chín tháng mười ngày có cục cưng nuôi” trong bài ‘Yêu là cưới.’

Ở một bối cảnh khác, gái trai cùng nhau say xỉn trong ‘Hết sảy miền Tây’ của Tracy Thảo My: “Anh cứ nhậu thoải mái, có xỉn em vào thay.” Điểm sáng của tác phẩm này nằm ở chỗ ngoài âm thanh xập xình, nghệ sĩ còn tôn vinh giai điệu cải lương truyền thống và ghép vào đó lời nhạc trào phúng đúng tinh thần nhạc trẻ. Qua bài ‘Lại say nữa rồi’ của Võ Lê Mi, khán giả dễ dàng phát hiện điểm nhấn thú vị xuất hiện ở cả hai ca khúc chính là âm thanh đệm ngẫu hứng “hức” tựa như tiếng nấc cụt lúc xỉn.

Loạt bài hát này thu về từ vài triệu đến trăm ngàn lượt xem, minh chứng cho sức hút và sự hưởng ứng nhiệt tình. Thành quả ấy mang đậm dấu ấn từ chủ tiệm cắt tóc mở loa liên tục, buổi trưa vặn nhạc nghêu ngao bên ly trà đường, chủ tiệc ham vui lan tỏa đến khách đường xa, hay người con vùng Cửu Long mang âm thanh quê hương lên Sài Gòn ăn học.

Nhấn mạnh căn tính trên đường hình

Bên cạnh đặc trưng về âm thanh như giai điệu và beat, nhạc trẻ miền Tây điện tử còn tôn vinh đời sống văn hóa của khu vực bằng MV (băng hình âm nhạc). 

Nếu các MV gốc thường mượn một tiểu phẩm hài để kể chuyện, tiêu biểu như ‘Lại say nữa rồi,’ thì bản remix lại rẽ sang một hướng đi hình ảnh hoàn toàn khác biệt.

Trong MV remix, Võ Lê Mi đã mang âm nhạc đến sát với nhu cầu thực tế khi bê nguyên vào hình ảnh một sân khấu đám cưới ngoài đời. Sau khi hoạt náo khán giả bằng những câu đùa duyên như “say thì em chở dề,” cô ca sĩ vừa hát vừa nhún nhảy theo đúng chất “dân chơi” trên nền nhạc remix. Trong buổi vu quy, cô dâu mặc chiếc đầm voan, hai cổ tay đeo vòng kiềng vàng mới coóng cũng lên quẩy remix nhiệt tình, tay nâng cao lon bia mà chân đã xiểng niểng tới nơi. Một không gian tiệc tùng đúng với tinh thần miền Tây hiện lên rất đỗi chân thành.

Khi không lấy bối cảnh tiệc cưới náo nhiệt, nhạc remix miền Tây lại dời sân khấu ra trước những ụ rơm, bụi trúc, những hình ảnh vốn đã định hình bản sắc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Trong MV “Qua Tết lấy chồng (Remix)” của Tracy Thảo My, khung cảnh đồng quê truyền thống ấy lại trở thành phong nền cho những điệu lắc hông, đánh tay hiện đại.

Tóm lại, không chỉ âm nhạc mà cả phần hình ảnh trong MV nhạc trẻ miền Tây remix cũng nhất quán với văn hóa đời sống của họ. Đó thể là hình ảnh của làng quê miền Tây đã in sâu trong lòng khán giả hay những tiệc cưới nhậu nhẹt linh đình, điểm xuyến bằng điệu đánh hông “nhập khẩu” từ những hộp đêm.

Từ miền Tây ra thế giới

Nhạc trẻ miền Tây không cần khoác lên mình lớp áo phức tạp để tồn tại. Dòng nhạc này nhặt nhạnh những thanh âm quen thuộc từ quá khứ, rồi đặt chúng vào một nhịp điệu đơn giản đến mức ai cũng có thể gật gù nghe theo. Vượt ra khỏi những rạp cưới rình rang hay mấy mâm nhậu bình dân, giai điệu ấy len lỏi vào các nền tảng nhạc số và sinh hoạt thường nhật của cả những người vốn “ngoại đạo.”

Chẳng hạn một nữ DJ chuyên đánh nhạc hiphop, khi muốn làm một set nhạc tri ân văn hóa đám cưới miền Tây, cũng sẵn sàng “hòa tan” bằng cách đầu tư hẳn áo bà ba, khăn rằn và đeo trọn bộ vòng ximen mạ vàng, chà đĩa những bản hit miền Tây xập xình ngay trước cổng rạp cưới xanh đỏ rực rỡ đèn hoa.

Độ phủ sóng của dòng nhạc này thể hiện rõ nhất qua những điệu nhảy thịnh hành trên TikTok, nơi âm nhạc lan truyền với tốc độ chóng mặt. Chỉ cần một đoạn điệp khúc 15 giây lọt vào mắt xanh của một TikToker nổi tiếng để tạo trào lưu, vô số tài khoản khác sẽ lập tức hưởng ứng, đẩy đoạn nhạc tiếp cận hàng trăm triệu người. Với nhịp điệu vô cùng bắt tai, ai cũng có thể nhún nhảy trên nền nhạc trẻ miền Tây. Tôi từng thấy cả những rapper cộm cán trong giới hiphop hay các nghệ sĩ showbiz cũng hào hứng lắc lư trên những giai điệu tưởng chừng chẳng hề liên quan đến bối cảnh của họ.

@thuanzilo Lấy cây kim may đồ ???????????? #thuận_zilo ♬ nhạc nền - Thuận Zilo ????

Trào lưu 'Lấy cây kim may đồ' gây bão TikTok.
Video: Kênh Tiktok của @thuanzilo.

Thế nhưng, một hiện tượng tôi thấy còn thú vị hơn chuyện nhạc miền Tây khuấy đảo chốn đông người, là khoảnh khắc cô bạn tôi thừa nhận nó thực sự “cần” nghe nhạc miền Tây điện tử để... tập trung học bài. Nó nói: "Phải giật giật vậy tao mới tập trung được. Nhạc đập đều đều mà lại căng, làm mình tỉnh táo lắm." Chà, liệu nhạc trẻ miền Tây remix dập dìu có thể trở thành một kiểu “tiếng ồn trắng” kiểu mới cho giới trẻ khắp Việt Nam không ta?

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. Ảnh bìa: Dương Trương.) Đặc biệt Âm Nhạc & Nghệ Thuật Văn Nghệ Sat, 06 Jun 2026 14:39:00 +0700
Chương ký ức đang lặng lẽ khép lại trên những trang báo cũ https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/17891-chương-ký-ức-đang-lặng-lẽ-khép-lại-trên-những-trang-báo-cũ https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/17891-chương-ký-ức-đang-lặng-lẽ-khép-lại-trên-những-trang-báo-cũ

Báo giấy đã là một phần quan trọng của tuổi thơ tôi, là người bạn mở ra ô cửa cho tôi phóng tầm mắt ra một thế giới đầy màu sắc, vốn lạ lẫm trong mắt trẻ thơ. Nhưng lúc này đây, khi bước ra phố, những người bán báo năm xưa dường như đã biến mất, những tờ báo cũng cuốn gói đi đâu trong phố xá ồn ào. Tôi ngỡ như một cuộc từ giã và chuyển mình trong thầm lặng đã và đang bắt đầu.

Đứng trước cơn lốc thời cuộc, báo chí bản giấy ngày càng vắng bóng trong đời sống chúng ta: biến mất khỏi những chiếc cặp táp của học sinh, sinh viên và người đi làm, rời khỏi những chiếc bàn cà phê sáng sớm trong nhà ngoài phố; co lại trong một vài sạp báo nhỏ còn bám trụ lại trên đường phố, tiếp tục đời sống âm thầm của mình với những vị khách quen ít ỏi.

Lược sử báo chí Việt Nam

Báo chí Việt Nam đã trải qua một hành trình dài với nhiều biến động. Trước năm 1975, báo chí chủ yếu phục vụ cho công tác thông tin, tuyên truyền và lan tỏa kiến thức đến cộng đồng, cũng như phần nào xây dựng những diễn đàn thảo luận về nhiều chủ đề khác nhau. Báo chí thời kỳ này còn nhiều hạn chế về số lượng phát hành. Sau năm 1975, báo giấy tiếp tục trở thành một trong những kênh thông tin chính yếu kết nối mọi miền đất nước. Những tờ như Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ, Công An Nhân Dân không chỉ là nguồn tin tức, mà còn là diễn đàn văn hóa và xã hội sôi nổi.

Một quầy báo góc Tự Do-Nguyễn Văn Thinh năm 1969. Ảnh: Brian Wickham/Hội Nhà văn Việt Nam.

Báo chí len lỏi vào từng góc phố, theo chân những người bán báo dạo đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Mỗi sáng, người ta đậu xe trước các sạp báo, hoặc ngồi vắt chéo chân trong quán, tay cầm ly cà phê, mắt chăm chú lật từng trang giấy còn thơm mùi mực.

Thế nhưng, bước sang thập niên 2010, với sự bùng nổ của Internet, báo giấy bắt đầu mất dần chỗ đứng, chỉ còn lại một vài sạp báo cũ kỹ và những người bán báo bám trụ với nghề.

Báo chí giấy, tuổi thơ tôi

Tôi lớn lên vào những năm 2000, khi báo giấy vẫn còn là nguồn thông tin chủ đạo, đặc biệt ở những tỉnh xa như Bạc Liêu quê tôi. Ở nơi đời sống diễn ra còn chậm rãi, các phương tiện truyền thông như TV, radio, báo chí và internet cùng tồn tại, nhưng báo giấy vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong việc giúp người cập nhật tin tức hàng ngày.

Những tờ báo mà tôi mua khi ấy sẽ phải băng một hành trình dài gần ba trăm cây số từ Sài Gòn về Bạc Liêu bằng xe đò mỗi sáng sớm. Báo được chở về đại lý, sau đó ruột báo được lồng với trang bìa, trừ các ấn phẩm được đóng cuốn sẵn, rồi mới được phân phối cho những nhân viên phân phát của đại lý hoặc người bán dạo để đi khắp nơi trong thành phố và các huyện lân cận. Vì vậy, có khi đến quá trưa hoặc đầu giờ chiều, báo mới đến được tay người đọc.

Việc phân phối báo chí truyền thống bắt đầu từ trước khi mặt trời mọc, người đưa báo thường phải lồng từng tờ bằng tay. Nguồn ảnh: Báo Lao Động.

Thuở ấy, anh hai tôi thường mua tờ Mực Tím từ một ông cụ. Ông vốn là giáo chức trước năm 1975, sau giải phóng thì chuyển sang làm hành chính cho một hợp tác xã. Khi hợp tác xã giải thể, ông bắt đầu mưu sinh bằng nghề giao báo kiêm bán vé số dạo. Mỗi ngày, ông đeo trước ngực một chiếc túi to, đạp xe gần ba chục cây số để đưa báo và bán vé số cho khách quen.

Lần nọ, khi ông ghé nhà giao báo, tôi vô tình thấy tờ Nhi Đồng nằm lọt thỏm trong túi nhưng nổi bật giữa chồng báo nhờ màu sắc sặc sỡ. Từ hôm đó, trưa thứ Hai nào tôi cũng ngồi ở ngạch cửa, đợi tiếng cụ dừng xe trước nhà, dáng ông chầm chậm bước vào, lục tìm hai tờ báo dành cho anh em tôi.

Những số báo teen được trình bày cách điệu. Nguồn ảnh: Báo Phụ nữ Việt Nam.

Khỏi phải nói tôi đã luôn hồ hởi thế nào, khi đập vào mắt là những người mẫu ảnh nhí trên trang bìa và những tít bài được trình bày cách điệu xung quanh. Phải lật cuốn báo ra, lia nhanh từng trang một để xem tuần này có gì hay, bài gì mới, truyện ngắn nào được đăng, hay đáp án những câu đố của kỳ trước. Cảm giác ấy giống như một bí mật vừa được hé lộ, cảm giác của sự chờ đợi được đền đáp. Và đôi khi, phải len lén úp mặt vào trang báo mà hít một hơi thật sâu cái mùi giấy báo và mực in thơm khó tả, dù má luôn cấm tôi làm điều đó vì sợ bao nhiêu vi khuẩn từ nhà in trú ngụ trên giấy.

Sau này, tôi còn hứng chí xin ba má đặt thêm một loạt tờ, như Tuổi Trẻ nhật báo, Thanh Niên nhật báo, Tuổi Trẻ Cuối Tuần, Tuổi Trẻ Cười, Nhi Đồng đặc biệt, Mực Tím đặc biệt, v.v. Những tạp chí hay ấn phẩm phát hành hằng tuần, hằng tháng thường đi sâu vào một số chủ đề riêng, chủ yếu là tóm tắt hoặc phân tích lại các sự kiện đã qua. Còn với những tờ nhật báo, tin tức trong đó nhiều khi đến tay tôi đã trễ, vì buổi sáng tôi đã nghe hết cả qua chương trình thời sự trên TV. 

Vậy mà tôi vẫn thích mua và đọc. Những buổi chiều rảnh rỗi ở nhà, tôi thường ngồi vào bàn, mở tờ Tuổi Trẻ ra, rồi nhìn vào khoảng không trước mặt mà đọc thành tiếng từng bài một, bắt chước giọng của các phát thanh viên, như thể mình đang dẫn chương trình thời sự vậy.

Một thời gian sau, mối gắn kết giữa tôi và báo giấy bị đứt đoạn khi ông cụ phải ngừng bán báo vì sức khỏe suy yếu. Những người con của ông cũng đi bôn ba tứ tán lo kế sinh nhai. Không ai trong gia đình muốn tiếp nối nghề bán báo này.

Tái ngộ cùng cố nhân

Lên đại học, tôi gần như mất hẳn thói quen tìm mua báo giấy, dù chúng vẫn luôn lẩn khuất đâu đó quanh tôi — trốn trong tay bác bảo vệ trường đại học, hoặc hiện diện công khai trên kệ gỗ ngay cửa thư viện. Lúc nào chúng cũng kéo tôi dừng lại, lưỡng lự vài ba phút, để rồi cúi xuống lấy một tờ lên đọc, ngắm nghía từng bức ảnh, nghiền ngẫm những dòng chữ được sắp đặt cẩn thận trong lòng trang in.

Khi bắt đầu đi làm, tôi tậu được chiếc Wave và có thêm nhiều dịp để tự mình khám phá Sài Gòn. Những lần rong ruổi qua các hẻm hút ở thành phố, tôi tình cờ bắt gặp lại những sạp báo ven đường, nơi những tờ báo vẫn được bày ra đầy mời gọi, vẫn toát lên sức hút quen thuộc với tôi thuở trước. Một hôm, trên đường tan ca, tôi dừng xe trước một sạp báo nhỏ nằm trên đường Phạm Ngọc Thạch, ngay trước cổng trường Đại học Kinh tế TP. HCM. Đó là sạp của chú Hùng.

Sạp báo của chú Hùng trên đường Phạm Ngọc Thạch. Nguồn ảnh: Báo Phụ Nữ.

Sạp của chú Hùng tương đối nhỏ, chỉ gồm vài kệ báo dựng sát nhau kệ để giới thiệu với công chúng. Tuy vậy, sự hiện diện của nó — với màu sắc nổi bật của chồng báo và tác phong chậm rãi, từ tốn của người chủ — lại dễ dàng thu hút ánh nhìn của khách qua lại. Dường như nó tạo ra một sự tương phản rõ rệt với không gian quanh mình: một con phố ồn ào, vội vã, được lấp đầy bởi những cửa hàng hiện đại.

Chú Hùng kể với tôi rằng, trên con đường Phạm Ngọc Thạch này đã từng một thời sầm uất với hàng chục sạp báo khác nhau, nườm nượp khách đến mua. Dần dần, sau 25 năm hành nghề, giờ chỉ còn chú. Doanh thu cũng giảm nhiều vì số lượng khách ngày một ít đi. Dù vậy, chú vẫn bám trụ với công việc vì thích sự tự do, linh động của nó. Hơn nữa, dù tình hình của báo giấy có nhiều bi quan, chú vẫn có một lượng khách nhất định ở nhiều độ tuổi khác nhau. Những bác lớn tuổi hằng ngày vẫn đến sớm để mua những tờ báo quen thuộc. Một số bạn trẻ, học sinh sinh viên của các trường đại học gần đó, như Đại học Kiến trúc, thường tìm mua các ấn phẩm chuyên về thời trang, thiết kế, hoặc nghệ thuật thị giác để làm tư liệu tham khảo. Một số vị khác thì chọn những tạp chí chuyên ngành từ chú Hùng.

Sau buổi trò chuyện với chú Hùng, tôi rút ví mua mấy tờ để ủng hộ chú — toàn những cái tên quen thuộc mà tôi đã lâu không được cầm bản giấy: một số tờ thiếu nhi, một tờ biếm họa, và một tờ mà lần đầu tiên tôi thấy — một chuyên san dành riêng cho phụ nữ, phát hành vào Chủ nhật.

Dù thị trường báo giấy không còn sôi động như trước nhưng chú Hùng vẫn bám trụ với nghề. Nguồn ảnh: Báo Thanh Niên.

Những người bạn của tuổi thơ tôi vẫn đang khoác chiếc áo quen thuộc, khiến tôi dễ dàng nhận ra họ. Họ vẫn giữ logo quen thuộc sau bao nhiêu năm, vẫn ra mắt bạn đọc với khổ báo ấy và những màu sắc đặc trưng ấy. Nhưng bên trong tờ báo, mọi thứ đã thay đổi đáng kể. Những tờ thiếu nhi trước đây chỉ in màu một phần các trang, giờ đã in màu toàn bộ. Báo biếm họa ngày xưa in bằng giấy rất mỏng, giờ đã chuyển sang dùng giấy bóng. Những bài viết mới vẫn được trình bày một cách kỹ càng để thu hút sự chú ý của người đọc, nhưng nội dung của chúng dường như quá xa lạ với tôi.

Tờ cuối cùng trong chồng báo mà tôi mua về hôm ấy là một chuyên san phát hành vào Chủ nhật, dành riêng cho phụ nữ. Đọc qua từng bài, tôi cảm nhận được tinh thần năng động và đổi mới của các tác giả, cũng như mong muốn của họ trong việc xây dựng những nội dung có chiều sâu và ý nghĩa. Nếu ta hình dung mỗi tờ báo có một giọng nói riêng, thì chuyên san này mang một giọng nói mạnh mẽ, cấp tiến, thách thức những rào cản, khuôn mẫu, kêu gọi đấu tranh cho hạnh phúc và công bình của mỗi cá nhân trong xã hội.

Tôi đã hạnh phúc biết bao vì tìm ra được một tờ báo thật hay, có dấu ấn riêng, hứa hẹn sẽ làm tôi phải tìm mua mỗi tuần — như thể vừa kết được một tri kỷ mới cho hành trình bầu bạn tri thức sắp tới. Cho đến khi tôi lật đến bìa 3 và đọc được một dòng lạnh ngắt: Ấn phẩm ngừng xuất bản từ tháng 1/2025. Không có một lời giải thích nào thêm được đưa ra về sự kết thúc của ấn phẩm đã có mặt 28 năm, phát hành khắp cả nước gần 50.000 bản mỗi kỳ. 

Rất nhiều ấn phẩm in lâu đời đã phải nói lời tạm biết độc giả. Nguồn ảnh: Báo Phụ Nữ Chủ Nhật.

Trong khoảnh khắc ấy, tôi nhận ra rằng, cuộc gặp gỡ này đã diễn ra quá trễ. Niềm vui mà tôi chưa kịp nắm lấy đã trôi khỏi tầm tay.

Còn chút gì để nhớ

Hai tuần sau, tôi ra lại sạp chú Hùng để mua tờ cuối cùng của chuyên san ấy. Chú bảo báo đã ngừng in nên không lấy nữa. Tôi đánh bạo gọi về Phòng Phát hành và được hướng dẫn lên tòa soạn ở đường Điện Biên Phủ. May thay, nơi ấy vẫn còn dư một vài bản. Ban biên tập dành trọn vẹn trang 3 của số cuối cùng để đăng lời chia tay bạn đọc. Câu từ được viết với tất cả tình cảm, cẩn trọng và đầy sự dứt khoát.

“Cũng là tất yếu, vạn sự làm sao có thể thoát khỏi quy luật thiên địa tuần hoàn? Nếu có thể đốt mình để trở về với một phiên bản khác mới mẻ hơn, đẹp đẽ hơn cũng là điều đáng làm. Điều khó khăn nhất của chúng ta, nhất là phụ nữ, không phải là từ bỏ những thói quen và vượt qua những giới hạn đó sao? [...] xin chào tạm biệt với lời cảm ơn chân thành gửi đến những độc giả thân thương, những cộng sự cần mẫn đã đem đến rất nhiều bài viết chỉn chu, thú vị, bổ ích. Nhất định chúng ta sẽ gặp lại, nhận ra và thương yêu nhau như đã từng.”

Một khi được in ra, báo giấy không thể tự động thay đổi nội dung,
nhưng cũng vì vậy mà nó đóng vai trò như một chứng nhân lịch sử. Nguồn ảnh: Báo Lao Động.

Những lời từ biệt ấy lại làm tôi hồi tưởng về những ngày gặp gỡ đầu tiên của tôi và báo giấy. Là một đứa trẻ lớn lên ở tỉnh lẻ, lọt thỏm giữa một vùng quê nhỏ đầy khó khăn, một trong những nguồn thông tin quý giá nhất mà tôi có được chính là từng tờ báo giấy, từng tờ tạp chí tôi có được. Những tờ báo ấy đã làm công việc của những chiếc cửa sổ — hé mở cho tôi thấy những điều xảy ra trong thế giới rộng lớn ngoài kia, những điều mà tôi đọc chưa chắc đã hiểu, nhưng phần nào giúp tôi mường tượng được về sự phức tạp mà cũng đầy thú vị của xã hội. Những trang giấy mỏng ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn tôi, và chắc hẳn đã phần nào truyền cảm hứng cho tôi trên hành trình viết văn sau này.

Một khi được in ra, báo giấy không thể tự động thay đổi nội dung theo dòng sự kiện, như cách mà báo mạng liên tục cập nhật. Nhưng cũng vì vậy mà tôi vẫn thương báo giấy, bởi nó đóng vai trò như một chứng nhân lịch sử cho những điều đã diễn ra ở thời điểm nó xuất hiện.

Chú Hùng nói với tôi, chú nghĩ báo giấy sẽ không biến mất ngay lập tức, nhưng sẽ ít đi dần dần. Dòng sông sẽ không cạn trơ đáy trong chớp mắt; nước dù yếu đi sẽ vẫn chảy, vẫn tìm cách luồn qua những rạch ngòi nhỏ hẹp. Báo giấy lúc này và sắp tới chắc cũng giống mạch nước ấy. Chúng sẽ vẫn tiếp tục hành trình kể chuyện với những vị khách quen, và biết đâu, may mắn hơn, là có thêm những người bạn mới, tuy không nhiều mong đợi.

Chú tài xế đọc báo sáng trên chiếc xích lô ở TP. Mỹ Tho. Nguồn ảnh: Báo Ấp Bắc.

Trong khi những người bán báo đang trở nên bi quan về tình hình phát hành và dần chấp nhận thực tại, một vài chùm sáng cuối đường hầm đang lóe lên khi có những chỉ báo về sự trở lại và chuyển mình của một số tạp chí. Tôi không biết mình có thể làm gì hơn vì ngày mai khó mà đoán định được. Nhưng tôi chắc rằng, mỗi lần đi ngang sạp chú Hùng hay bất kỳ sạp báo giấy nào trên đất nước này, tôi sẽ cố gắng dừng lại và mua một tờ nếu có thể.

]]>
info@saigoneer.com (Minh Phát. Ảnh bìa: Dương Trương.) Đặc biệt In Plain Sight Văn Nghệ Fri, 05 Jun 2026 12:00:00 +0700
Chuyện chưa kể về ca khúc 'Xin chào Việt Nam' https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18142-chuyện-chưa-kể-về-ca-khúc-xin-chào-việt-nam https://saigoneer.com/vn/vietnam-music-art/18142-chuyện-chưa-kể-về-ca-khúc-xin-chào-việt-nam

Những ai từng bay cùng hãng hàng không VietJet có lẽ đều đã nghe qua ca khúc ‘Hello Vietnam’ hay phiên bản tiếng Việt ‘Xin chào Việt Nam.’ Vì bài hát thường vang lên lúc máy bay hạ cánh, hành khách dễ lầm tưởng đây chỉ là một đoạn nhạc hiệu của hãng. Tuy nhiên, giai điệu này lại mang một thông điệp ý nghĩa hơn: đó là tâm sự của một người gốc Việt muốn hướng về quê hương, một nơi cô chưa từng đặt chân tới. Nỗi lòng ấy tìm được sự đồng điệu ở nhiều người nghe, nhưng ít ai biết rằng, bản gốc của ca khúc vốn được viết bằng tiếng Pháp và từng suýt không bao giờ ra mắt.

Xuất phát từ cộng đồng hải ngoại, ‘Hello Vietnam’ đạt thành công hiếm thấy khi được đông đảo khán giả trong nước biết đến.

Ảnh bìa Hello Việt Nam.

Thành công này có lẽ không quá bất ngờ, bởi ca khúc dường như được “đo ni đóng giày” cho thị hiếu của người Việt. Lời ca hoài niệm đi cùng giai điệu buồn man mác vốn là công thức tạo nên nhiều tác phẩm bất hủ của Việt Nam. Dù nội dung kể về tâm tư của một người chưa từng đến Việt Nam, khán giả trong nước vẫn dễ dàng tìm thấy sự đồng cảm. Cảm giác khắc khoải ấy có lẽ gợi nhắc người nghe về chính quê nhà của mình, hoặc về một Việt Nam của những thập niên xưa cũ.

“Want to see your house, your streets. Show me all I do not know
Wooden sampans, floating markets, light of gold.”

Lòng cảm mến và sự tò mò dành cho Việt Nam, kết hợp với những lời ngợi ca vẻ đẹp đất nước đã giúp khơi gợi niềm tự hào dân tộc một cách tự nhiên. Đó cũng là lý do vì sao bài hát dễ dàng tạo cảm giác gần gũi ngay cả với những người lần đầu thưởng thức. Tác phẩm nhanh chóng có độ phủ sóng rộng khắp, từ các đoạn phim quảng cáo du lịch, nội dung trên mạng xã hội cho đến không gian tại các quán cà phê.

Hành trình của ‘Hello Vietnam’ thực chất bắt đầu tại Bỉ, nơi nữ ca sĩ Phạm Quỳnh Anh sinh ra. Cô là con gái trong một gia đình gốc Việt, cha cô là du học sinh còn mẹ cô là người nhập cư. Sớm bộc lộ năng khiếu âm nhạc, vào năm 13 tuổi, cô tham gia cuộc thi ca hát Pour la Gloire trên truyền hình Bỉ và giành chiến thắng ngoạn mục nhờ thể hiện ca khúc ‘The Reason’ của Celine Dion.

Chiến thắng giúp Quỳnh Anh nhận ra mình hoàn toàn có thể nghiêm túc theo đuổi con đường nghệ thuật. “Thực ra tôi thi Pour la Gloire chỉ vì lỡ cá cược với bố. Bố cứ khăng khăng là tôi sẽ làm nên chuyện, còn tôi thì đinh ninh mình sẽ rớt ngay từ vòng gửi xe. Thế rồi mọi chuyện cứ tự nhiên diễn ra, lúc đó tôi còn chẳng hiểu chuyện gì đang đến với mình nữa,” Quỳnh Anh trả lời bằng tiếng Pháp trong một cuộc phỏng vấn.

Phạm Quỳnh Anh.

Năm 2005, sự nghiệp của Quỳnh Anh sang trang khi cô trở thành học trò của Marc Lavoine, nam ca sĩ lừng danh nước Pháp với bản hit ‘Elle a les yeux revolver....’ Khi ấy, Lavoine đang tìm kiếm một giọng ca nữ cho bài hát song ca ‘J’espère.’ Ông hoàn toàn bị thuyết phục bởi giọng hát của Quỳnh Anh chỉ sau ba lượt thu thử. Tiếp nối thành công của bản song ca này, Quỳnh Anh đã đồng hành cùng Lavoine trong chuyến lưu diễn qua nhiều quốc gia.

Trải nghiệm làm việc cùng Marc Lavoine trở thành bước đệm quan trọng cho Quỳnh Anh, vì qua đó ông đã sáng tác riêng cho cô một loạt ca khúc chưa từng công bố, tiêu biểu là bài ‘Bonjour Vietnam.’ Khi biết tác giả nhạc phẩm là một người đàn ông Pháp da trắng, hẳn vài người nghe sẽ thấy đôi chút lấn cấn với phần ca từ, đặc biệt là ở những đoạn miêu tả ngoại hình nhân vật như “J'ai des yeux bridés” (tạm dịch: Tôi có đôi mắt xếch). Tuy nhiên, lời bài hát thực chất được chấp bút hoàn toàn theo yêu cầu của Quỳnh Anh và được chính cô giám sát hoàn thiện.

Trong quá trình chuẩn bị cho album đầu tay, cô mong muốn hát về nguồn cội nên đã nhờ nhà biên kịch Yvan Coriat viết lời về Việt Nam. Vì bản thảo ban đầu quá dài, cô tìm đến người thầy dày dặn kinh nghiệm là Lavoine để gọt giũa ca từ và phổ nhạc. Nữ ca sĩ mang hai dòng máu Việt-Bỉ đã lập tức bị thuyết phục. Cô chia sẻ trong một buổi phỏng vấn: “Tôi hát thử và thấy tâm đắc ngay. Thật tuyệt vời  khingười châu Âu lại có thể tái hiện không gian Á Đông tinh tế đến vậy. Tôi thấy mình may mắn khi được làm việc cùng những cộng sự tài năng, những người giúp tôi cất lên tiếng lòng mình.”

Marc Lavoine.

Con đường đưa ‘Bonjour Vietnam’ đến với công chúng cũng là một chuỗi rất nhiều tình cờ. Một bản thu thử bị rò rỉ trên internet và nhanh chóng lan truyền khắp cộng đồng hải ngoại. Đến Tết năm 2006, bài hát bùng nổ trên toàn cầu, thường được lồng vào các video phong cảnh Việt Nam do người hâm mộ tự dựng. Sự đón nhận nồng nhiệt ngoài sức tưởng tượng này giúp hành trình âm nhạc của Quỳnh Anh bước sang một trang mới, đưa tên tuổi cô lan tỏa khắp thế giới trong cộng đồng người Việt viễn xứ. Dù ca khúc chưa từng được phát hành chính thức, cô đã nhận được hàng loạt lời mời biểu diễn tại Canada, Mỹ và Úc. Trước sự đón nhận nồng nhiệt từ công chúng, cô quyết định ra mắt phiên bản tiếng Anh mang tên ‘Hello Vietnam’ do Guy Balbaert chuyển ngữ. Phiên bản này giúp bài hát tiếp cận tệp khán giả rộng hơn ở trong nước, đồng thời củng cố tên tuổi của cô ở thị trường hải ngoại.

Năm 2008, màn trình diễn tại Paris by Night đã giúp ‘Hello Vietnam’ trở thành khúc ca nằm lòng của người Việt hải ngoại. Và cuối năm đó, Quỳnh Anh cuối cùng cũng có cơ hội đặt chân đến Việt Nam thông qua một chuyến lưu diễn ngắn ngày.

Phiên bản gốc bằng tiếng Pháp do Phạm Quỳnh Anh thể hiện.

Bài hát ra đời có lẽ cũng từ cái duyên dẫn dắt Quỳnh Anh về với cội nguồn. Cú bắt tay với Marc Lavoine đã khơi gợi những ca từ chứa chan khao khát trở về Việt Nam. Tiếp đó, giai điệu này tự tìm thấy sức sống riêng với cộng đồng khán giả. Cuối cùng, chính bản dịch tiếng Anh đã giúp bài hát lan tỏa tại quê nhà, mở đường để cô đặt chân đến mảnh đất mình từng hát về bằng tất cả niềm mong mỏi.

“One day I’ll touch your soil.
One day I’ll finally know your soul.
One day I’ll come to you.
To say hello… Vietnam.”

Hiện tại, Quỳnh Anh đã chủ động lùi lại phía sau để chăm lo cho cuộc sống riêng thay vì tiếp tục hoạt động nghệ thuật sôi nổi. Xuyên suốt thời gian bài hát gặt hái thành công, cô vẫn luôn ưu tiên việc học và giờ đây đã bước sang những chương mới của cuộc sống. Tuy nhiên, sức hút của ‘Hello Vietnam’ chưa bao giờ hạ nhiệt; nhiều bản dịch tiếng Việt đã ra đời giúp ca khúc tiếp tục đến với các thế hệ người nghe mới. Hãng hàng không VietJet chọn cách phát xen kẽ cả bản tiếng Anh lẫn tiếng Việt mỗi khi hạ cánh, dù tần suất lặp lại liên tục đôi khi khiến hành khách bay nội địa có phần ngán ngẩm. Thế nhưng, bỏ qua yếu tố thương mại, giá trị của ‘Hello Vietnam’ vẫn vẹn nguyên, là lời tự sự chân thành của một người con xa xứ, mang trong mình khát khao tìm về quê hương.

]]>
info@saigoneer.com (Tom Phạm. Ảnh bìa: Mai Khanh.) Đặc biệt Âm Nhạc & Nghệ Thuật Văn Nghệ Fri, 05 Jun 2026 11:46:51 +0700
Miền Tây có đồ bộ mặc hoài không chán https://saigoneer.com/vn/fashion/18138-miền-tây-có-đồ-bộ-mặc-hoài-không-chán https://saigoneer.com/vn/fashion/18138-miền-tây-có-đồ-bộ-mặc-hoài-không-chán

Từ chỗ chỉ là “đồ mặc cho tiện,” đồ bộ giờ đã bước vào đời sống miền Tây như một lựa chọn thời trang linh hoạt và đầy màu sắc.

Một sáng Chủ nhật, ở dưới quê bỗng dưng cúp điện. Gian nhà vắng bặt tiếng quạt hay tiếng máy bơm thường ngày, chỉ còn tiếng gà gáy vang qua mấy vạt vườn còn sũng sương đêm. Tôi rinh thau đồ ra ngồi ngay sàn nước dưới gốc mấy cây chuối, chỗ lu nước trong veo đã được mẹ lóng phèn từ mấy bữa trước. Tôi thích ngồi đây giặt hơn vì hơi nước từ bờ ao thổi lên mát rượi, trong không khí nức mũi mùi nước xả vải lẫn mùi nắng sớm, mùi rạ đầu hôm, mùi bùn non sông mới bồi lên.

Tôi tỉ mỉ tròng từng bộ đồ vào móc rồi treo lên sào, để mặc chúng đong đưa trong gió. Sào phơi nằm sát mé vườn rau, nên khung cảnh trước mặt lúc ấy đẹp như một bức tranh. Giàn đậu rồng đang độ trổ bông, mấy cái bông tim tím xen giữa tán lá non vươn mình đón nắng; bên cạnh là hoa mướp vàng rực; dưới thấp là mấy luống rau xanh rì còn đọng giọt sương chưa kịp tan. Giữa bảng màu xanh, tím, vàng rực rỡ, mấy bộ đồ nền xanh thẫm của mẹ nổi bật với những cụm hoa đỏ, vàng, hồng in kín mặt vải. Một bộ hoa nhỏ li ti như rắc lên nền áo, bộ kia thì chấm bi trắng đều tăm tắp, còn bộ sọc thì chạy những đường cam đất, tím khoai, xanh ngọc mềm mắt.

Tôi mê mấy bộ cánh đó của mẹ dù hiếm khi dám mặc chúng ra đường. Chỉ có mỗi bận về thăm nhà, tôi mới có dịp thử vài bộ mẹ thấy đẹp mà cất tủ để dành cho tôi. Có lẽ tôi chưa quen thấy mình trong dáng vẻ ấy, cũng không có dịp để mặc giữa cuộc sống thị thành. Tôi thấy mình có chút gì đó lạc quẻ trong kiểu thời trang sặc sỡ này.

Thế nhưng, chỉ cần bước chân ra lộ hay tạt qua mấy sạp chợ quê, người ta sẽ thấy ngay một “vũ trụ” đồ bộ rộn ràng. Từ các dì lớn tuổi cho tới mấy chị U-30, U-40 đều vô tư bận, người xỏ dép bánh mì, người kẹp tóc càng cua, trên tay xách cái giỏ đan dây hay giỏ nhựa đỏ điệu đà. Thậm chí, chẳng khó để bắt gặp bóng dáng những bộ đồ thun lấp ló trong quán cà phê, ở cổng trường lúc đón con, hay rần rần trong các phiên livestream và mấy đoạn clip TikTok quay vội trước sân nhà.

Ai cũng ưng và sắm đồ bộ như vầy, sở dĩ là do mẫu mã đã “tân thời” rất nhiều so với ngày xưa. Mẹ kể cỡ chục năm trước, đồ bộ loanh quanh chỉ có áo quần suông rộng cốt để mặc làm việc cho thoải mái. Còn giờ bước ra sạp là ê hề kiểu dáng, có những bộ tay lỡ phối cùng quần lửng trông năng động rõ, khi thì nhấn nhá thêm vài đường ren ở viền cổ, khi thì xẻ cổ tim để thêm phần nữ tính. Đường kim mũi chỉ cũng khéo léo, lên phom gọn gàng để chị em ở lứa tuổi nào diện vào cũng thấy mình thiệt ưa nhìn. 

Ưng bụng nhất vẫn phải nói đến chất liệu thun mềm láng. Giữa cái nắng hầm hập, lớp vải lạnh khoác lên người vừa nhẹ tênh vừa mát lịm. Đã vậy, nết vải còn ít nhăn và cực kỳ mau khô, rất hạp những ai suốt ngày tay năm tay mười mà vẫn muốn giữ vẻ ngoài tươm tất.

Ghé mấy cái đám dưới quê mới thấy, bao nhiêu bộ “đồ vía” đẹp nhất trong tủ đều được các bà các mẹ mang ra diện. Đẹp ở đây không phải kiểu ngồi chơi chờ người ta khen, mà để các dì các cô xắn tay áo vào bếp cho thêm phần tháo vát. Từ tờ mờ sáng, mọi người đã tề tựu đông đủ, người làm gà vịt, kẻ nhóm bếp lặt rau. Một hồi, lại thấy họ đứng bên nồi cháo, nồi canh, tay cầm cái vá, vừa nếm vừa xuýt xoa, rồi tiện tay lau vô vạt áo cái rẹt. Khách tới thì cũng mặc chính bộ đồ đó bước ra chào hỏi xởi lởi, xong xuôi lại tất tả quay vô dọn mâm hay rửa chồng chén đĩa. Lạ cái là dù bận rộn suốt, dòm họ vẫn gọn gàng, dễ mến lắm. Chắc tại người mặc lanh lẹ, nên tấm vải khoác lên mình cũng trở nên sinh động, chẳng cần chăm chút gì nhiều mà vẫn ra được cái tánh của người miệt vườn.

Mà đồ bộ đâu chỉ quanh quẩn chuyện bếp núc hay chợ búa. Ai đó sáng còn thấy đứng bên bếp, chút xíu sau đã xắn ống quần quá bắp đùi lội mương. Có người thoăn thoắt leo lên cây dừa cao vút, lớp vải thun ôm gọn từng cử động. Ra tới mé sông thì thấy họ kéo lợp, quăng chài, lấn ra biển thì thấy dáng người lom khom cào nghêu, mò hến, nước ngập tới gối vẫn cứ cần mẫn. Đồ bộ cũng “chịu thương chịu khó” dữ lắm, lăn lộn bao mùa nắng mưa mà chẳng chút nề hà.

Có lần tôi ngồi chơi lẩn quẩn dưới bếp, thấy mẹ đang nêm nồi canh chua, khói bay nghi ngút, tôi mới hỏi vu vơ: “Ủa, sao gọi là đồ bộ hen, không gọi là đồ bông?” Mẹ đang cầm cái vá, múc miếng canh lên thổi phù phù cho nguội, nghe vậy cũng dừng lại chút xíu, nhìn tôi rồi cười: “Đồ bộ nào? À bộ mẹ đang bận đó hả. Thì tại quần áo chung một xấp vải, trên dưới y chang nhau nên người ta gọi là đồ bộ.” Người ta nói hoài rồi quen hồi nào không hay, mấy cái tên ở quê nhiều khi là vậy đó.

Nhiều khi tôi thấy đồ bộ giống như “đồng phục” không chính thức của xứ mình. Từ người khá giả tới người làm ruộng, tủ đồ kiểu gì cũng có vài ba bộ. Trời miền phương Nam nắng nóng, ẩm thấp, mặc thứ gì bó buộc quá cũng không chịu nổi, nên mới không có rạch ròi chuyện “đồ ở nhà” với “đồ ra ngoài.” Cùng một bộ đồ đó quét nhà nấu cơm rồi chiều ghé nhà hàng xóm chơi mấy bận... Phải chăng điều đó phản ánh phần nào tính cách người quê tôi, ít câu nệ và không ưa ràng buộc?

Tôi cũng từng tò mò, không biết bộ đồ này có từ hồi nào, ai là người đầu tiên may ra nó. Lên mạng tìm, hỏi người này người kia, rồi về hỏi bà, hỏi mẹ… mà rốt cuộc cũng không ai trả lời được cho ra đầu ra đũa. Chỉ biết là từ hồi còn nhỏ xíu, tôi đã thấy mẹ ngồi may đồ. Mẹ hay ra chợ quê mua mấy xấp vải bông về trải lên tấm ván lớn. Mẹ cầm cục phấn, kẻ kẻ vạch vạch, rồi cây kéo đi “rẹt rẹt” một cái là thành hình, ngồi kế bên nhìn thôi cũng thấy thích. Đến chiều xuống, khi cơm nước xong xuôi, việc nhà việc vườn đã tạm yên, mẹ lại ngồi vô bàn, tiếng “lạch cạch, lạch cạch” đều đều vang lên trong ánh đèn vàng.

Nhắc chuyện chọn vải mới sực nhớ, hồi trước quần áo của ngoại tôi thường quẩn quanh loại vải bông dày dặn, màu trầm và hiếm khi có hoa văn, một phần vì thời buổi còn thiếu thốn nên ai cũng chỉ tính chuyện sao cho bền trước. Phải đến thời của mẹ, những bộ đồ bắt đầu rực rỡ hoa lá và tươi tắn hơn, tỉ lệ thuận với sự phong phú của đời sống khi xóm làng bắt đầu có đồng ra đồng vô. Cứ mỗi bộ đồ may xong, mẹ lại tỉ mỉ xếp gọn gàng rồi để dành cho ngoại, hay tặng dì bận lấy thảo, bộ nào “xuất xưởng” cũng được cả nhà nâng niu như của quý.

Qua thời gian, chiếc máy cũ kỹ ngày nào đã được đẩy vô góc nhà và phủ một lớp bụi mờ; ngoài chợ, người ta bày bán đủ thứ, ai cần đồ gì cứ tạt ngang lựa một cái bận liền chứ chẳng phải mất công chờ đợi. Thế nhưng, dù mẫu mã cải tiến và việc sắm sửa có phần chớp nhoáng hơn, “cốt cách” của đồ bộ vẫn vẹn nguyên như thuở đầu, để rồi chính sự thiết thực, giản dị ấy lại giúp nó ngày càng được ưa chuộng và sống khỏe hơn trong thời buổi mới.

]]>
info@saigoneer.com (Thảo Nguyên. Minh họa: Dương Trương.) Đặc biệt Thời Trang Văn Nghệ Tue, 02 Jun 2026 21:21:09 +0700
Những phút giây Hà Nội tĩnh lặng trong tranh minh họa của họa sĩ Hoàng Hiền https://saigoneer.com/vn/arts-culture/18139-những-phút-giây-hà-nội-tĩnh-lặng-trong-tranh-minh-họa-của-họa-sĩ-hoàng-hiền https://saigoneer.com/vn/arts-culture/18139-những-phút-giây-hà-nội-tĩnh-lặng-trong-tranh-minh-họa-của-họa-sĩ-hoàng-hiền

Dù là ở Sài Gòn, Hà Nội hay Đà Nẵng, những đứa con thành thị đều sinh ra và lớn lên trong vòng tay che chở của đường phố, ngày ngày lắng nghe tiếng ru rì rầm của vỉa hè, của nhịp thở sôi động từ hàng quán, tiệm tạp hóa, và cả những cô chú giao hàng í ới gọi nhau. “Moment of Stillness” (tạm dịch: Phút giây tĩnh lặng), dự án tranh minh họa đầy màu sắc của họa sĩ Hoàng Thanh Hiền, cũng sinh ra trong khung cảnh ấy, được khắc họa qua con mắt hội họa của Hiền khi chú ý quan sát không gian sống quanh mình.

Phố xá Hà Nội vốn luôn được biết đến, cả trong và ngoài nước, qua hình ảnh xe cộ đông đúc có phần hỗn loạn, nhưng nếu một ngày ta có thời gian ngồi lại để soi xét kỹ hơn từng mảnh riêng biệt trong bộ lắp ráp Hà Nội, ta sẽ nhận ra có nhiều thứ cũng dễ thương, bình dị lắm, những thứ mà hàng ngày ta có thể bỏ qua giữa nhịp sống hàng ngày bận bịu. Mỗi bức tranh trong dự án của Hiền là một chân dung cận cảnh, tách biệt của một mảnh ghép trong không gian đường phố Hà Nội.

“Những xe hàng chở đầy hoa quả theo mùa, những xe bán đồ ăn, góc trà đá, gốc cây hay cột biển báo [...] được tận dụng cho những sạp bán mũ bảo hiểm, áo mưa,” Hiền viết trong email. “Có thể, với sự phát triển, tiện lợi của xã hội hiện tại, hàng rong vỉa hè trở thành một điều gì đó gắn với sự phức tạp, lộn xộn. Nhưng mình muốn vẽ lại những hình ảnh đó với màu sắc thật nhẹ nhàng. Một khoảnh khắc nghỉ ngơi của những người mình nghĩ đang có rất nhiều mệt nhọc. Cứ như vậy, đi đâu thấy gì cũng chụp lại, khi nào rảnh lại lôi ra vẽ, túc tắc vậy mà thành một bộ tranh.”

Các chủ thể trong tranh của Hiền đều là các cô bán hàng rong, hộ buôn bán nhỏ hay tài xế chạy app, những thân phận bám lấy lề đường làm kế sinh nhai, từ xe nước mía, gánh trái cây, bạn shipper khệ nệ giỏ đầy đơn hàng sau xe máy. Họ có một điểm chung trong tranh là đều không được vẽ rõ mặt, có lẽ cũng tương tự như cách chúng ta lướt qua những người lạ trên phố, nhưng đổi lại, họ đều được khắc họa bằng bảng màu tươi vui, như để tôn vinh những khoảnh khắc nhỏ trên phố.

Quan sát những phút giây đời thường rồi vẽ thành tranh trở thành cách Hiền giải tỏa đầu óc sau nhiều giờ làm việc. Tuy vẽ vời là một sở thích lâu năm từ khi Hiền mới 4-5 tuổi, đến lúc thi đại học, cô chọn một ngành hoàn toàn khác, ra trường và đi làm. “Chừng ấy năm mình vẫn vẽ, vẫn muốn vẽ và nghĩ về chuyện vẽ, nên mình nghỉ làm, bắt đầu đi học vẽ từ đầu,” Hiền nhớ lại. “Sau đó [mình] lại đi làm, may mắn gặp những anh chị tốt luôn kiên nhẫn và có niềm tin vào mình, cứ thế vừa làm vừa học đến giờ.”

Tựa đề dự án “Moment of Stillness” nói về những khung hình đường phố Hiền thu nhặt được khi đi vòng quanh Hà Nội, nhưng có lẽ phần nào cũng bắt đầu từ nhu cầu tìm kiếm một “phút giây tĩnh lặng” cho riêng mình của tác giả. “Bắt đầu từ một ngày, mình thấy mình đang vẽ như một cái máy. Mình vẽ trên công ty, mình vẽ job, mình vẽ mỗi ngày. Mọi thứ thuận lợi, ai cũng hài lòng, nhưng tự nhiên, [mình] không thấy niềm vui khi vẽ nữa,” cô kể. “Sản phẩm này hoàn thành chuyển ngay sang brief khác, chả biết từ bao giờ, mọi thứ cứ ào ào như vậy. Nhưng đâu thể ngừng vẽ được, vẫn phải vẽ tiếp chứ, nên mình xen giữa lúc rảnh bằng việc vẽ gì đó cho bản thân.”

Với mục đích đơn giản là nhóm lại niềm vui khi được cầm bút vẽ trên giấy, Hiền bắt đầu với những sự vật đơn giản nhất quanh mình: “Lá cây khô trên đường, nếp gấp quần áo, khối cơ trên cơ thể người, mọi thứ đều có thể trở thành một câu chuyện. Mình muốn tìm lại việc nhìn thấy vẻ đẹp từ những điều đơn giản như thế. Dần dần, mình chú ý hơn đến không gian vỉa hè, cuộc sống thường ngày trên vỉa hè.”

Đây có lẽ là một giai đoạn nhiều trăn trở với những ai đang bám lấy vỉa hè Hà Nội làm sinh kế, lẫn những ai có trái tim yêu quý không gian kinh tế bên lề ở thủ đô, khi chính quyền thành phố đang ra quân giải tỏa lấn chiếm vỉa hè gắt gao, nhằm trả lại không gian cho người đi bộ. Những dự án hội họa, nhiếp ảnh đường phố như “Moment of Stillness” sẽ trở thành dấu tích lưu lại văn hóa vỉa hè, sau khi chủ thể của các tác phẩm không còn ở đó nữa.

Họa sĩ Hoàng Thanh Hiền quê ở Hải Dương, nhưng cũng đã học tập và làm việc ở Hà Nội 10 năm. Hoạt động sáng tác hội họa về Hà Nội đã thôi thúc cô để ý kĩ hơn đến nơi mình sống thay vì chỉ là một người bộ hành lướt qua.

“Mình quan sát kỹ hơn những cô chú hàng rong xung quanh. Một chiếc xe cũ kỹ là cả một kế sinh nhai. Không gian vỉa hè dường như gì cũng có: nhu yếu phẩm, thực phẩm, quần áo, hay cả cắt tóc, v.v. Sáng là hoa quả, bánh mì, cà phê. Tối là trà đá, xiên nướng. Không gian vỉa hè tưởng như lộn xộn, phức tạp, nhưng lại được vận hành rất nhịp nhàng và có sự thỏa hiệp giúp đỡ lẫn nhau.”

Bạn đọc có thể theo dõi trang Behance này để xem các tác phẩm khác của Hoàng Hiền.

]]>
info@saigoneer.com (Khôi Phạm. Minh họa: Hoàng Thanh Hiền.) Đặc biệt Văn Nghệ Tue, 02 Jun 2026 12:00:00 +0700
Lược sử tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho: Chuyến xe lửa đầu tiên của Đông Dương https://saigoneer.com/vn/heritage/18135-lược-sử-tuyến-đường-sắt-sài-gòn-mỹ-tho-chuyến-xe-lửa-đầu-tiên-của-đông-dương https://saigoneer.com/vn/heritage/18135-lược-sử-tuyến-đường-sắt-sài-gòn-mỹ-tho-chuyến-xe-lửa-đầu-tiên-của-đông-dương

Tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho khánh thành ngày 20/7/1885, chính thức trở thành tuyến xe lửa đầu tiên của xứ Đông Dương.

Ban đầu, người Pháp ấp ủ một đại dự án đường sắt nối liền khắp Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó bao gồm tuyến Sài Gòn - Mỹ Tho. Dù quy hoạch tổng thể về sau bị hủy bỏ, bản thân quá trình thi công tuyến Sài Gòn - Mỹ Tho cũng trải qua vô vàn trở ngại do những tranh chấp gay gắt giữa nhà thầu và chính quyền thuộc địa.

Công nhân nghỉ ngơi ở công trường.

Vấn đề lớn nhất nằm ở việc nhà thầu Eiffel (Maison Eiffel) không thể khắc phục triệt để tình trạng sụt lún đường ray trên nền đất yếu. Yếu điểm này đã gây ra hàng loạt vấn đề kỹ thuật với hệ thống đường dẫn lên ba cây cầu sắt tại Bình Điền, Bến Lức và Tân An.

Cầu sắt Tân An vào cuối thế kỷ 19.

Năm 1888, chính quyền thuộc địa quyết định thu hồi quyền khai thác từ đơn vị vận hành ban đầu là Công ty Đường sắt Bảo hộ Thuộc địa Pháp (Compagnie des Chemins de Fer Garantis des Colonies Françaises CCFGCF). Việc quản lý sau đó được chuyển giao cho công ty đang điều hành hệ thống xe điện Sài Gòn là Société Générale des Tramways à Vapeur de Cochinchine (SGTVC). Đến năm 1911, khi SGTVC giải thể, tuyến đường chính thức được sáp nhập vào Réseaux Non Concédés — mạng lưới đường sắt do Phủ Toàn quyền Đông Dương trực tiếp quản lý.

Trong suốt chiều dài hoạt động, hệ thống đường ray loại 20kg/m nguyên bản chưa từng được cải tạo. Hạn chế về hạ tầng này khiến tuyến Sài Gòn - Mỹ Tho chỉ đáp ứng được tải trọng của các loại đầu máy và toa xe hạng nhẹ.

Đầu máy hơi nước Vaico.

Bước sang thập niên 1930,  giao thông đường bộ phát triển, bắt đầu tạo ra áp lực cạnh tranh gay gắt, làm sụt giảm nghiêm trọng cả lượng hành khách lẫn doanh thu đường sắt. Để ứng phó, giới chức trách đã loại bỏ các đoàn tàu chở khách kéo bằng đầu máy hơi nước truyền thống, thay thế bằng dòng toa xe chạy diesel Renault ABH-2 có công suất 300 mã lực.

Một toa xe Renault ABH-2 trên tuyến Sài Gòn - Mỹ Tho.

Vào thời kỳ Chiến tranh Đông Dương, quân đội viễn chinh bắt đầu trưng dụng nhánh đường sắt này để vận chuyển binh lực và khí tài phục vụ các chiến dịch đàn áp căn cứ cách mạng miền Nam. Mặc dù lực lượng Việt Minh đã nhiều lần tấn công, phá hủy nặng nề đường ray và cầu cạn, phía Pháp vẫn tiến hành sửa chữa chớp nhoáng để duy trì giao thông thông suốt trong toàn bộ cuộc chiến.

Đến những năm 1950, mạng lưới đường bộ tại Đồng bằng sông Cửu Long đã mở rộng đáng kể. Tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho, vốn đã xuống cấp do thiếu hụt vốn đầu tư, ngày càng bộc lộ sự yếu thế trước tốc độ vận chuyển vượt trội của xe tải và xe khách. Đứng trước tình trạng thua lỗ kéo dài, Sở Hỏa xa Việt Nam (HXVN) đành đưa ra quyết định đình chỉ hoạt động. Chuyến tàu cuối cùng từ Sài Gòn đi Mỹ Tho chính thức lăn bánh vào ngày 30/6/1958.

Tuy nhiên, lịch sử của tuyến đường vẫn chưa hoàn toàn chấm dứt. Cụm đường ray nối Sài Gòn với Chợ Lớn (km số 6) và Phú Lâm (km số 8) vẫn được duy trì sau năm 1958. Nhánh này tiếp tục hoạt động ngắt quãng với vai trò tuyến vận tải hàng hóa nội đô cho đến ít nhất là năm 1970.

Tim Doling là tác giả của cẩm nang du lịch Exploring Huế (Nhà Xuất Bản Thế Giới, Hà Nội, 2018), Exploring Saigon-Chợ Lớn (Nhà Xuất Bản Thế Giới, Hà Nội, 2019), Exploring Quảng Nam (Nhà Xuất Bản Thế Giới, Hà Nội, 2020) và The Railways and Tramways of Việt Nam (White Lotus Press, 2012). Để tìm hiểu thêm các thông tin về lịch sử Sài Gòn, độc giả có thể ghé thăm website của ông tại historicvietnam.com.

]]>
info@saigoneer.com (Tim Doling.) Đặc biệt Di Sản Thu, 28 May 2026 16:07:20 +0700
Xe điện là lối thoát của Đông Nam Á giữa cuộc khủng hoảng nhiên liệu hóa thạch toàn cầu https://saigoneer.com/vn/vietnam-environment/18136-xe-điện-là-lối-thoát-của-đông-nam-á-giữa-cuộc-khủng-hoảng-nhiên-liệu-hóa-thạch-toàn-cầu https://saigoneer.com/vn/vietnam-environment/18136-xe-điện-là-lối-thoát-của-đông-nam-á-giữa-cuộc-khủng-hoảng-nhiên-liệu-hóa-thạch-toàn-cầu

Trong bối cảnh chiến sự Iran làm nhiễu loạn nguồn cung cấp chất đốt toàn cầu và đưa giá cả leo thang, chính phủ các nước Đông Nam Á nên tìm cách đa dạng hóa nguồn dầu mỏ và xăng để bảo vệ người dân nước mình.

Tuy nhiên, chính phủ cũng cần vượt ra khỏi khuôn khổ các biện pháp ngắn hạn để dẫn dắt quốc gia khỏi sự chi phối “nắng mưa thất thường” của nguyên liệu hóa thạch. Bên cạnh những mục tiêu như nâng cao hiệu suất năng lượng tái tạo và nâng cấp mạng lưới điện để phù hợp với nhiều nguồn năng lượng mới, một bước đi khôn ngoan cho toàn khu vực Đông Nam Á là cân nhắc kỹ việc nhập khẩu xăng dầu và gia tăng tỷ lệ sử dụng xe điện (EV).

Xuyên suốt Đông Nam Á, giao thông đường bộ vẫn là đầu tàu trọng tâm thúc đẩy nhu cầu đốt nhiên liệu, và khí đốt vẫn đóng vai trò cốt lõi trong hoạt động phát điện của nhiều nước. Tình hình chiến sự tại Eo biển Hormuz, Iran đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng 20% lưu lượng dầu và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) trên toàn thế giới. Năm ngoái, khoảng 90% lượng dầu khí vận chuyển qua Hormuz đều phục vụ cho thị trường châu Á.

Trong vòng hơn 2 thập kỷ, Đông Nam Á vẫn là khu vực nhập khẩu ròng dầu mỏ. Dân số ngày càng tăng, và các nước Đông Nam Á vẫn tiếp tục đáp ứng nhu cầu nhiên liệu qua một công thức thiết lập từ những năm 1990: nhiều xe hơi hơn và trợ giá nhiên liệu nhiều hơn; nhập nhiều khí đốt gia dụng hơn; và gia tăng công suất điện từ khí đốt. Dẫu vậy, quy mô sản xuất dầu khí tại Đông Nam Á lại suy giảm.

Đơn cử như Indonesia, với khả năng sản xuất dầu khí đạt đỉnh vào thập niên 1990, nhưng hiện tại phải nhập khẩu khoảng 60% để phục vụ nhu cầu trong nước, chưa kể hàng tỷ đô la mà chính phủ Indonesia phải chi trả mỗi năm để bình ổn giá điện cho hộ gia đình. Khả năng sản xuất dầu khí của Thái Lan cũng đã suy thoái dần từ giữa thập niên 2010, nhưng khoảng 65% nhu cầu điện ở Thái vẫn đến từ loại nhiên liệu này. Theo số liệu năm 2023 từ Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Thái Lan đã nhập khẩu gần một nửa nhu cầu chất đốt quốc gia.

Dù toàn khu vực đang nỗ lực tăng cường sản xuất dầu khí, chủ yếu qua khoan khai thác, dự báo tương lai khá rõ ràng: dù có sản xuất nhanh bao nhiêu, thì cũng không bắt kịp nhu cầu tiêu thụ gia tăng . Đông Nam Á đã và đang trên đường trở thành khu vực nhập dư dầu khí.

Do đó, để ổn định nguồn năng lượng trong tương lai, Đông Nam Á cần mau chóng thực hiện chuyển đổi nhiên liệu sang điện trong ngành vận tải, sử dụng nhiều EV hơn đồng thời củng cố sự phát triển năng lượng sạch, để đạt mục đích cuối cùng là mở ra đường lối ổn định trong tự chủ năng lượng.

Vai trò của xe điện trong tương lai

Người ta thường đánh giá thấp lợi ích các phương tiện điện (EV) đem lại trong bối cảnh “miếng bánh” nhiên liệu hóa thạch vẫn còn chiếm phần lớn trên thị trường. Tuy nhiên, vẫn có một giải pháp: điện hóa vận tải và mở ra nhiều cơ hội để năng lượng xanh được dùng rộng rãi trong lưới năng lượng quốc gia. Theo nghiên cứu của BloombergNEF, ngay cả khi xe điện chạy bằng năng lượng do nhiên liệu hóa thạch sản xuất, chúng vẫn thải ra ít ô nhiễm hơn so với xe xăng, tính theo vòng đời. EV tránh được phát thải từ ống xả khi đi đường, và sẽ dần đạt được điểm “hòa vốn” về phát thải.

Quan trọng hơn, một khi đạt được tỉ lệ xe điện đủ lớn và lưới điện sạch hơn, Đông Nam Á sẽ dễ dàng giảm bớt lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch; ngược lại, xe chạy xăng hay dầu diesel không đem đến lối thoát nào. Năng lượng xanh sẽ mở ra lộ trình vừa giảm khí thải vừa hướng đến tự chủ năng lượng.

Theo dữ liệu từ BloombergNEF, vào năm 2025, toàn bộ EV đã giúp giảm nhu cầu dùng khoảng 2,3 triệu thùng dầu mỏ trên toàn cầu. Dẫu số lượng ấy chỉ chiếm 2% nhu cầu tiêu thụ dầu, đây là tín hiệu rất rõ ràng rằng một con đường khác biệt đang hiện hữu ngoài kia.

Trung Quốc mạnh dạn chọn EV một phần cũng vì sự phụ thuộc quá nhiều lên dầu nhập khẩu, vốn chiếm khoảng 70% nhu cầu quốc gia. Chiến lược chuyển đổi nhiên liệu này có vẻ đã đạt được thành công nhất định trên thềm khủng hoảng năng lượng Vùng Vịnh. Nếu Đông Nam Á cũng muốn đi theo hướng này, chính phủ các nước cần đạt được mức ủng hộ nhất định về mặt chính trị và xã hội đối với EV, bằng nhiều cách như xây dựng hạ tầng trạm sạc hay phối hợp với nhà sản xuất EV để gia tăng sản xuất và tạo việc làm.

Khí đốt có phải là nguồn thay thế thích hợp trong giai đoạn chuyển giao?

Trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng toàn cầu vẫn chưa kết thúc, giá khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) tại châu Á vẫn trồi sụt mạnh, nên phương án thay thế dầu bằng khí đốt đã không còn khả thi như trước. Khủng hoảng hiện tại đã phơi bày hệ lụy đằng sau cách Đông Nam Á đã và đang mở rộng vai trò của khí đốt trong sản xuất năng lượng.

Khí đốt thường được quảng bá rộng rãi như một biện pháp tạm thời giúp Đông Nam Á giảm khí thải CO2 và giảm phụ thuộc vào than đá, trong khi hạ tầng năng lượng tái tạo thành hình. Theo nghiên cứu của Viện Chuyển đổi Năng lượng, nơi tôi đang công tác, nhiều nước châu Á xem phát triển khí đốt là một giải pháp đầu tư bền vững. Tuy nhiên, dù đúng là quá trình đốt LNG thải ra ít CO2 hơn than, khi có rò rỉ trong bất kì bước nào trong chuỗi giá trị, loại khí này có khả năng làm nóng khí hậu gấp 80 lần CO2.

Ngoài ra, hoạt động nhập khẩu LNG cũng gắn theo chi phí cao, đắt gấp nhiều lần so với khí được sản xuất nội địa, cung cấp qua đường ống.

Khí đốt cũng khó dự trữ hơn dầu rất nhiều, gây rủi ro cho các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Lỗ hổng này lộ ra trong khủng hoảng năng lượng năm 2022, sau khi chiến sự Ukraine bắt đầu. Giá LNG tăng nhanh và nhiều tàu chở khí đến Pakistan quyết định đổi hướng bán cho châu Âu vì thương nhân muốn tận dụng mức giá cao để kiếm lời. Tình huống này nhiều khả năng sẽ tiếp diễn khi khủng hoảng xảy ra trong tương lai.

Phát triển tài nguyên và nguồn dự trữ nội địa vẫn rất cần thiết, vì tương tự như dầu mỏ, khí LNG vẫn đóng vai trò nhất định trong sản xuất năng lượng và vật liệu công nghiệp, nhất là đối với những ngành công nghiệp ít công nghệ thay thế, như sản xuất phân bón.

Trung Quốc vẫn là một ví dụ điển hình: năm 2023, LNG chiếm 8% tổng nguồn cung năng lượng quốc gia, trong đó, gần 40% là nhập khẩu. Sự thật này, bên cạnh tốc độ phát triển năng lượng tái tạo rất nhanh của Trung Quốc, cho thấy hướng đi rõ rệt: giảm lệ thuộc lên nhập khẩu năng lượng và dành khí đốt dự trữ cho đối tượng thật sự cần thiết.

Nếu Đông Nam Á tiếp tục dựa dẫm vào khí đốt nhập khẩu, các quốc gia sẽ đối mặt với nguy cơ tương tự, nhất là khi Đông Nam Á chỉ mới vừa nếm trải khó khăn gây ra do lệ thuộc vào dầu.

Chính phủ và các cơ quan tiện ích Đông Nam Á thường lấy lý do chi phí đầu vào cao khi nói về rào cản trong quá trình hiện đại hóa mạng lưới năng lượng và phát triển điện tái tạo, nhưng lại dễ dàng ký kết hợp đồng nhập khẩu khí LNG mà không chút do dự như vậy. Ngoài ra, nhiều quốc gia cũng đang tiêu hao ngân sách rất lớn suốt khủng hoảng năng lượng hiện tại: tiền trợ cấp bình ổn chất đốt của Malaysia đã tăng gấp 10 lần. Trong khi đó, phần trợ cấp của Indonesia để giữ giá nhiên liệu vừa tầm với người tiêu dùng lên đến 6.7 nghìn tỷ rupiah ($387 triệu đô la Mỹ) cho mỗi đô la Mỹ giá dầu tăng. Thực trạng này gióng lên hồi chuông báo động: làm thế nào để sử dụng ngân sách quốc gia một cách hiệu quả nhất để ổn định năng lượng cho khu vực?

Các biện pháp “chữa cháy” tạm thời là cần thiết, nhưng khả năng lãnh đạo thực sự trong công cuộc gây dựng nguồn năng lượng ổn định cần những mục đích dài hạn, có tầm nhìn. Khi nhiều ưu tiên khác nhau trong ngân sách xung khắc, và nhu cầu năng lượng quá cấp bách, những giải pháp tạm thời thường được trọng dụng hơn, như đa dạng hóa nguồn cung dầu và khí đốt, bên cạnh các kho dự trữ khẩn cấp.

Tuy nhiên, trong ngành năng lượng, không có giải pháp nào là nhanh chóng; mấu chốt là sự kiên trì theo đuổi đường lối thay đổi. Đông Nam Á chưa thật sự tìm được lối thoát giúp giảm nhẹ ảnh hưởng từ khủng hoảng dầu và khí đốt bên ngoài. Bài học từ khủng hoảng dầu mỏ năm 1970 đã nhóm lên sự cần thiết trong phát triển năng lượng tái tạo, và khủng hoảng hiện tại có lẽ cũng sẽ thay đổi đáng kể cách thế giới nhìn nhận hệ thống năng lượng quốc gia.

Việc đẩy mạnh triển khai năng lượng sạch là không thể tránh khỏi. Tuy quá trình chuyển dịch sẽ hao tốn thời gian, nhưng điểm khởi đầu rất rõ ràng: chính phủ các nước phải chuyển đổi phương tiện điện càng sớm càng tốt trước khi khủng hoảng tiếp theo đến.

Ảnh bìa: Xe điện đang sạc tại một trạm sạc ở Bali, Indonesia. Ảnh: Carrot/Alamy.

Putra Adhiguna hiện là giám đốc điều hành của Viện Chuyển đổi Năng lượng (Energy Shift Institute), cơ quan nghiên cứu về tài chính năng lượng tập trung vào châu Á.

Bài viết được thực hiện bởi Dialogue Earth và được Saigoneer chuyển ngữ. Ghé thăm đường dẫn này để đọc bài viết nguyên bản bằng tiếng Anh.

]]>
info@saigoneer.com (Putra Adhiguna.) Đặc biệt Môi Trường Đời Sống Thu, 28 May 2026 16:00:00 +0700
Tín ngưỡng thờ Cá Ông: Dấu ấn của loài cá voi trong văn hóa tâm linh miền biển https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18131-tín-ngưỡng-thờ-cá-ông-dấu-ấn-của-loài-cá-voi-trong-văn-hóa-tâm-linh-miền-biển https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/18131-tín-ngưỡng-thờ-cá-ông-dấu-ấn-của-loài-cá-voi-trong-văn-hóa-tâm-linh-miền-biển

Năm 1799, Nguyễn Ánh cùng tàn quân bị lực lượng Tây Sơn truy đuổi gắt gao, buộc phải tháo chạy ra biển. Giữa thế trận hiểm nghèo, một trận cuồng phong bất ngờ ập tới chặn đứng đường lui. Cột buồm rung lên bần bật, mạn thuyền chao đảo chực vỡ nát thành từng mảnh. Đúng lúc ấy, một con cá voi khổng lồ từ dưới đáy sâu trồi lên, nâng đỡ con thuyền và đưa ông cùng quân lính đến nơi an toàn. Để tạ ơn cứu mạng, Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi đã sắc phong cho loài cá này tước hiệu Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần, cái tên mà dân gian vẫn kính cẩn gọi tắt là Cá Ông.

Giai thoại nhuốm màu huyền hoặc ấy không phải là câu chuyện duy nhất về việc cá voi cứu người tại Việt Nam. Dọc các làng chài ven biển, ngư dân vẫn truyền tai nhau về những lần được loài cá này cứu giúp khi gặp nạn khơi xa. Trò chuyện với tôi, chú Mùi, người trông coi nghĩa trang Cá Ông ở làng chài Phước Hải gần Vũng Tàu, bồi hồi nhớ lại khoảnh khắc bản thân thoát chết nhờ cá voi vào năm 2016. Hôm đó, trên đường chèo thuyền về nhà sau chầu nhậu cùng bạn bè, con thuyền nhỏ của chú bất ngờ lật úp. Giữa những đợt sóng dữ bủa vây, chú tưởng mình đã cầm chắc cái chết. Đột nhiên, một sinh vật khổng lồ trồi lên ngay phía dưới, dùng tấm lưng vạm vỡ nâng đỡ người đàn ông đang chới với giữa dòng nước xiết. Nó liên tục xoay trở, giữ cho chú không bị hụt chân chìm xuống. Đến khi được cá voi đưa tới mạn một con tàu khác an toàn, người ngư dân già không lấy gì làm kinh ngạc, bởi chú vốn là một tín đồ thuần thành của Cá Ông từ lâu.

Bức họa được trưng bày trong lăng thờ Cá Ông ở Vũng Tàu.

Những vị thần hộ mệnh thầm lặng của đại dương

Tôi lần đầu biết đến tục thờ cá voi ở Việt Nam qua một dòng chú thích ngắn ngủi dưới bức ảnh tham gia một cuộc thi nghệ thuật cấp quốc gia. Vốn luôn say mê loài sinh vật biển lành tính, thông minh và mang vẻ đẹp kỳ vĩ lạ thường này, tôi không khỏi tò mò muốn tìm hiểu sâu hơn về một đức tin dành riêng cho chúng. Vài người bạn tôi từng nghe phong phanh về tín ngưỡng này, nhưng không quen biết ai thực sự thực hành; thông tin trên mạng tuy có nhưng cũng khá rời rạc. Muốn hiểu thấu đáo ngọn ngành, tôi biết mình phải dấn bước về phía biển.

Bỏ lại Vũng Tàu sau lưng, chúng tôi đi khoảng 20 cây số qua một thị trấn nhỏ, xuôi theo con đường ven biển đang ngổn ngang công trình để đến một bãi cát trải dài sát mép sóng. Bước qua chiếc cổng chào là một bãi đất rộng điểm xuyết những nấm mồ nhấp nhô có dựng bia đá. Chốn hoang vắng này chính là một nghĩa trang cá voi, một trong hàng chục khu lăng mộ tương tự nằm rải rác khắp các vùng duyên hải.

Người dân dâng hương trước nấm mộ Ông lụy.

Dừng tay xếp hoa, bày trái cây, rót rượu trắng và thắp nhang trước từng nấm mộ, một dì lớn tuổi nán lại trò chuyện cùng tôi. Dì tâm sự rằng mình sinh ra trong một gia đình làm nghề đi biển. Với dì, việc dâng lễ vật trước mộ những “Ông lụy” (từ dùng để chỉ cá voi trôi dạt vào bờ) và thành tâm khấn vái tại lăng chính là để cầu mong những mẻ lưới bội thu. Ngư dân quê dì thường đánh bắt xa bờ ở tận những vùng biển quốc tế, nên việc nhang khói cẩn thận còn là niềm tin mong cầu bình an trước sóng to gió lớn.

Chú Mùi, từng được Cá Ông cứu mạng, đã trông nom khu nghĩa trang này suốt 7 năm qua. Chú giải thích rằng Cá Ông không chỉ hiện lên cứu người khỏi đuối nước bằng xương bằng thịt. Chú kể câu chuyện về những ngư dân quê mình đi đánh bắt, không may lạc sang vùng biển Indonesia. Khi lực lượng tuần tra nước ngoài xuất hiện, nhóm người trên thuyền tin chắc mình sẽ bị giữ lại. Họ vội vàng tắt hết đèn đóm và tha thiết cầu khấn Cá Ông. Kỳ diệu thay, họ lách qua được vòng vây và tiếp tục trúng đậm một mẻ cá lớn.

Chú chia sẻ rằng, dù cá voi từng góp công hỗ trợ chống giặc ngoại xâm nhiều thế kỷ trước, loài vật này không hề phân biệt ranh giới quốc gia, mà luôn sẵn sàng giang tay cứu giúp bất kỳ ai hoạn nạn. Gần đây, chú thậm chí còn nghe kể về một con cá voi giải cứu tàu Mỹ và đưa dạt vào tận bờ biển nước Nga. Thành tâm khấn nguyện Cá Ông, theo chú, còn mang lại sức khỏe và duyên lành trong cuộc sống.

Cá Ông trong kiếp sinh linh

Trong nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Cá Ông tại miền Trung Việt Nam, học giả Sandra Lantz đã ghi nhận nhiều câu chuyện có nét tương đồng với lời kể của chú Mùi. Điển hình là vào khoảng năm 1950, khi đang đánh bắt ngoài khơi Phan Thiết, ông Lý bất ngờ gặp bão lớn, chực chờ nuốt chửng chiếc thuyền con. Ông vội vã chắp tay khấn vái Cá Ông, rải muối và gạo xuống biển làm vật tế. Chỉ chưa đầy 5 phút sau, cuồng phong dịu đi và lùi dần ra xa. Ngay lúc đó, một con cá voi bơi đến áp sát mạn thuyền, rẽ sóng đưa ông về đến tận khi ngọn núi ven bờ lấp ló hiện ra và con thuyền được thả neo bình an.

Cũng theo nghiên cứu của Lantz, người xưa quan niệm Cá Ông không chỉ cứu mạng người sống mà còn dẫn lối cho linh hồn những ngư dân tử nạn trên biển trở về đất liền. Nếu không thể tìm đường về bến bờ, những linh hồn ấy sẽ mãi vất vưởng giữa đại dương cô độc. Chỉ khi được đưa về nương náu nơi đất mẹ, họ mới có thể yên nghỉ ngàn thu.

Tuy nhiên, dưới lăng kính khoa học, hành động xả thân được dân gian tôn kính ấy lại có một cách lý giải thực tế hơn. Giữa tâm bão, bản thân loài cá voi cũng phải chật vật chống chọi với sóng dữ, do đó chúng thường có xu hướng nương tựa vào mạn thuyền để giữ thăng bằng. Thế nhưng, nỗ lực sinh tồn này đôi khi vắt kiệt sức lực của con vật, khiến chúng gục ngã rồi bị hải lưu cuốn dạt vào vùng nước nông. Tương tự, việc cá voi đánh đuổi các loài săn mồi hung tợn khác trên biển thực chất bắt nguồn từ bản năng bảo vệ con non, chứ không hẳn xuất phát từ một mối giao cảm đặc biệt dành cho con người.

Trở lại với Phước Hải, khu nghĩa trang này hiện quy tụ hơn 20 nấm mộ lớn nhỏ, mỗi mộ phần là nơi an nghỉ của một sinh vật dạt vào bờ biển quanh làng. Người ta ước tính mỗi năm có đến 20 cá thể biển trôi dạt vào khu vực này. Trong tín ngưỡng thờ Cá Ông, dân gian hiếm khi phân biệt rạch ròi giữa cá voi và các loài thú biển khác như cá heo. Mặt khác, giới khoa học Việt Nam cũng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu nhằm phân loại chính xác các sinh vật biển tại đây.

Hầu hết xác cá dạt bờ mà dân làng tìm thấy có kích thước khá khiêm tốn, chỉ dài chừng mét rưỡi. Do đó, xét về mặt sinh học, khả năng cao nhiều con trong số này không phải là cá voi. Thậm chí, ngay trong khuôn viên nghĩa trang còn có ít nhất một ngôi mộ dành cho rùa biển. Dẫu không phải là linh vật trung tâm của tín ngưỡng thờ cúng, loài rùa này vẫn được người dân thành kính đưa về chôn cất và nhang khói đàng hoàng.

Một nấm mộ lớn tại nghĩa trang Cá Ông ở làng Phước Hải.

Tại Phước Hải, có một ngôi mộ đồ sộ hơn hẳn. Đó là nơi yên nghỉ của một chú cá voi khổng lồ dạt bờ vào ngày 28/12/2017. Chú Mùi quả quyết cá thể này dài hơn 10m, trong khi người dì bày đồ cúng chỉ ước chừng khoảng 7m đến 8m. Dẫu kích thước thực sự là bao nhiêu, trong ký ức của dân làng, con vật nặng chừng 10 tấn này vẫn là sinh thể lớn nhất từng dạt vào vùng biển Phước Hải. Người ta đã phải huy động cả một chiếc cần cẩu để đưa xác cá vào nơi chôn cất hiện tại. Gần đây, nhiều cá thể cá voi có kích thước tương tự cũng bắt đầu xuất hiện dọc theo các bãi biển khác ở Việt Nam.

Chú Mùi đinh ninh rằng khi còn sống, “Ông” đã cứu vô số chuyến tàu ngang qua vùng biển này, rẽ sóng vươn tận Thái Lan, Myanmar và thậm chí là cả nước Nga xa xôi. Thế nhưng, trong một lần đành bất lực nhìn một chiếc tàu quá tải chìm dần giữa cuồng phong, vị phúc thần ấy đã tự lao mình lên bãi cạn. Chú Mùi một mực tin rằng hành vi tự dạt bờ ấy xuất phát từ nỗi dằn vặt khôn nguôi. Bởi truyền thuyết làng chài vẫn luôn lưu truyền rằng: một khi không thể cứu được ngư dân, loài cá thiêng này sẽ tự vùi xác nơi bãi cạn vì quá đỗi u buồn.

Bàn thờ Cá Ông ở nghĩa trang Phước Hải.

Lễ tang dành cho các Ông lụy được tổ chức trang nghiêm. Tiếng trống chiêng âm vang hòa cùng mâm cúng tươm tất với đủ loại trái cây, rượu, vàng mã và hoa tươi. Trong nghiên cứu của mình, Lantz ghi nhận các Ông lụy được khâm liệm trong quan tài tre lót giấy đỏ. Trước khi hạ huyệt, linh cữu sẽ được rước đi quanh đường phố để dân chúng có thể thành kính dâng hương. Thậm chí còn có lời đồn đại rằng trong những ngày diễn ra tang lễ, đàn cá voi ngoài khơi sẽ kéo vào sát cảng để nói lời từ biệt cuối cùng với đồng loại. Trong trường hợp xác cá quá lớn không thể di chuyển đến nghĩa trang mà không có xe cẩu, dân làng sẽ cử người túc trực canh gác Ông lụy, kiên nhẫn đợi đến khi phần thịt rữa hết khỏi xương để việc di dời trở nên dễ dàng hơn.

Nhiều tín đồ tâm niệm rằng người đầu tiên phát hiện ra Ông lụy sẽ gặp nhiều may mắn, song việc chôn cất chỉ được phó thác cho những người lớn tuổi. Căn nguyên là do người ta lo sợ linh hồn ngư dân tử nạn được cá voi đưa về bờ vẫn còn nhiều vướng bận trần gian, dễ tìm cách trú ngụ vào thân xác những người trẻ tuổi. Trên mỗi nấm mồ đều khắc bia đá ghi rõ ngày tháng hạ huyệt, cùng với tên của cá nhân hoặc chiếc tàu đã có công phát hiện ra Ông.

Bàn thờ Cá Ông ở Phước Hải.

Các Ông lụy sẽ yên nghỉ dưới lòng đất trong 3 năm. Suốt quãng thời gian này, người dân địa phương sẽ thay phiên nhau trông nom, nhang khói và dâng lễ. Theo phong tục vạn chài, Cá Ông cũng được làm lễ cúng thất tuần (49 ngày) và bách nhật (100 ngày) kể từ khi hạ huyệt. Qua thời hạn 3 năm, phần xương cốt được bốc lên và lau rửa cẩn thận bằng rượu trắng. Khác với người phàm thường được con cháu đưa hài cốt về thờ tự tại gia, di cốt của cá voi sẽ được trang trọng rước vào Lăng Ông để thờ phụng.

Đế bàn thờ chứa đầy xương thú biển.

Những Lăng Ông uy nghi

Tôi tìm đến Lăng Ông tại Phước Hải, ngôi đền tọa lạc ngay giữa làng và chỉ cách khu nghĩa trang vài dãy nhà. Bước vào gian phòng nhỏ, đập vào mắt tôi là bàn thờ Cá Ông nghi ngút khói hương và rực rỡ sắc hoa. Nơi đây đặt hai bức tượng cá voi chạm trổ tinh xảo cùng một bộ xương hoàn chỉnh của một sinh thể biển chưa rõ danh tính. Phần đế rỗng ốp kính của bàn thờ xếp đầy xương cốt, trong đó có ít nhất chục hộp sọ còn nguyên vẹn. Ngoài điện thờ chính, quần thể kiến trúc bề thế này còn là nơi sinh hoạt cộng đồng, nơi bà con vạn chài đến chiêm bái và gửi gắm niềm tin. Ở vị trí trang trọng ngay chính diện, một bệ nâng lớn đỡ lấy bức tượng Cá Ông bằng gỗ khổng lồ vừa được sơn mới, vươn mình sừng sững.

Cổng vào Lăng Ông ở Vũng Tàu.

Kiến trúc lăng tẩm này có nhiều nét tương đồng với những ngôi đền thờ trải dọc bờ biển cả nước, bao gồm cả Lăng Ông nằm ngay trung tâm thành phố Vũng Tàu mà tôi có dịp ghé qua. Chiếu theo tài liệu từ ban quản lý, ngôi đền được khởi dựng từ năm 1824. Các đời vua Thiệu Trị và Tự Đức sau này đã 3 lần ban sắc phong vào các năm 1845, 1846 và 1850 để khẳng định vị thế linh thiêng của lăng. Bên cạnh hai tủ kính xếp chật kín những mẩu xương khổng lồ đầy ấn tượng, lăng còn lưu giữ một bộ cốt cá voi vĩ đại gần như nguyên vẹn cùng bức tượng gỗ lớn tạc hình loài vật này. Những bức họa vẽ Cá Ông treo quanh điện thờ càng khiến ranh giới giữa huyền thoại và thực tại sinh học trở nên mờ ảo.

Thầy Thứ Hải, người trông nom Lăng Ông ở Vũng Tàu.

Thầy Thứ Hải, người đã gắn bó và trông nom Lăng Ông Vũng Tàu 30 năm qua, chậm rãi giải thích cho tôi nghe về uy linh của Cá Ông. Gần như mọi người dân quanh vùng đều biết tiếng linh thiêng, thường xuyên lui tới dâng hương cầu mong cuộc sống ấm no, bình an. Cuộc trò chuyện của chúng tôi diễn ra bên mảng tường treo kín những bức ảnh nhuốm màu thời gian. Những khung hình ngả màu vàng úa khắc họa nhiều dịp đám tang và lễ hội suy tôn Cá Ông trải dài từ nhiều thập kỷ trước.

Song song với những tang lễ trang nghiêm, hằng năm, người dân miền biển còn nô nức mở hội để tỏ lòng thành kính với thần hộ mệnh của đại dương. Sự kiện kéo dài 3 ngày, được ấn định vào các mốc thời gian khác nhau tùy theo lịch âm của từng làng chài. Lễ hội là bức tranh văn hóa đa sắc màu với đủ nghi thức tế lễ, cầu an, hội đua thuyền, hát múa bả trạo, và đôi khi có cả những buổi diễn xướng tuồng cổ.

Dù mỗi cộng đồng lại có những biến tấu riêng trong cách thức tổ chức, đây vẫn luôn là dịp để dân làng hướng lòng về Cá Ông, cầu nguyện cho những người thân đã mãi mãi nằm lại nơi biển cả. Đây cũng là khoảng thời gian hiếm hoi họ gác lại những nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh thường nhật. Người người khoác lên mình bộ trang phục đẹp nhất, cờ hoa rợp trời trên ghe thuyền và khắp các nẻo đường.

Tương tự như bao tín ngưỡng khác, tục thờ Cá Ông cũng quan niệm “có kiêng có lành.” Nhiều tín đồ vẫn giữ thói quen kiêng ăn những loài thủy tộc được xem là “phụ tá” của Cá Ông như cá kiếm, tôm, cá ép và mực khổng lồ. Họ cũng tuyệt đối tránh xa thịt chó vì tin rằng loài vật này sẽ làm cá voi khiếp sợ. Cũng với lý do đó, ngư dân thường kiêng đeo trang sức làm từ móng vuốt hay nanh thú, e ngại vật linh này sẽ khiến vị ân nhân dưới đại dương chùn bước khi đến giải cứu. Một số nơi còn quan niệm rằng nếu phụ nữ đang trong kỳ kinh nguyệt bước vào Lăng Ông, ghe xuồng của gia đình họ sẽ mất đi sự chở che của cá voi khi ra khơi.

Chú Mùi (trái), quản trang nghĩa trang Cá Ông làng Phước Hải, cùng người bạn tên Ngọc (phải).

Khi được tôi hỏi về những luật lệ này, chú Mùi ví von chúng với tập tục ăn chay vào ngày rằm hay mùng một của Phật giáo. Tức là, việc tuân thủ hoàn toàn phụ thuộc vào lòng tin và cách diễn giải cá nhân của từng tín đồ. Dẫu vậy, chú cũng cẩn thận nhắc nhở không nên dùng thịt gà làm vật phẩm tế lễ dâng Cá Ông. Bản thân chú không dám chắc nguyên do sâu xa, nhưng lờ mờ đoán nó bắt nguồn từ thuở xa xưa, khi tiếng gà gáy rạng đông báo hiệu giờ khắc con người đổ ra đồng làm lụng, khiến xóm làng trở nên trống trải và dễ rơi vào tầm ngắm của giặc ngoại xâm.

Trong khi đó, thầy Hải ở lăng Vũng Tàu lại tỏ ra khá cởi mở về chuyện cấm kỵ ẩm thực hay quy định mâm cúng, khẳng định lòng thành kính dành cho cá voi cốt ở cái tâm chứ không câu nệ những rào cản khắt khe.

Tín ngưỡng thờ phụng và bài toán bảo tồn

Nguồn gốc thực sự của tục thờ Cá Ông ở Việt Nam cho đến nay vẫn là một ẩn số. Nhiều học giả đưa ra giả thuyết tín ngưỡng này đã du nhập vào miền Nam nhờ thương nhân đi biển người Chăm vào thế kỷ thứ 4, hoặc người Khmer vào thế kỷ thứ 10. Rất có thể, niềm tin vạn vật hữu linh của Ấn Độ giáo, vốn có sức ảnh hưởng đến các tôn giáo sơ khai của người Chăm, đã góp phần nâng tầm cá voi tại các vùng ven biển.

Phật giáo cũng đưa ra một cách lý giải riêng mang màu sắc từ bi. Tương truyền, khi chứng kiến nỗi thống khổ của những mảnh đời ngư dân nghèo khó luôn chật vật mưu sinh trên vùng Biển Đông, Quan Thế Âm Bồ Tát đã xé chiếc áo cà sa và ném xuống mặt biển. Những mảnh vải ấy bỗng hóa thành những con cá voi gánh vác sứ mệnh cứu vớt hoạn nạn. Thấy những sinh vật mới sinh ra có vóc dáng nhỏ bé, khó lòng trụ vững trước những trận cuồng phong, Bồ Tát liền gom nhặt xương voi trong rừng sâu và ban cho chúng. Kể từ đó, chúng sở hữu sức mạnh phi thường để hoàn thành trọng trách, đồng thời gắn liền với cái tên thuần Việt là “cá voi.”

Quá khứ của tục thờ Cá Ông vốn đã khó tường tận, mà tương lai của tín ngưỡng này xem ra cũng mịt mờ. Lớp trẻ ngày nay dần rời bỏ xóm chài thân thuộc để lập nghiệp ở các đô thị phồn hoa, bỏ lại phía sau nghề đi biển cha truyền con nối. Theo những bước chân ly hương ấy, niềm tin vào các giá trị tâm linh cũ cũng có nguy cơ nhạt phai theo năm tháng. Thêm vào đó, làn sóng đô thị hóa ven biển, với những cung đường mới, các khu dân cư mọc lên và hàng loạt dự án nghỉ dưỡng chiếm cứ mặt tiền biển, đang dần thu hẹp không gian sinh hoạt của các tập tục truyền thống. Chưa kể, biến đổi khí hậu làm thay đổi dòng chảy thủy triều tự nhiên, khiến việc đưa xác cá voi vào bãi cạn an táng ngày càng nan giải hơn.

Cột sống cá voi trưng bày tại Lăng Ông Phước Hải.

Trước băn khoăn đó, chú Mùi quả quyết mọi đổi thay về kinh tế hay xã hội đều không thể quật ngã tục thờ Cá Ông. Chú cho rằng, dân làng luôn mang trong mình niềm tự hào mãnh liệt về tín ngưỡng này. Dẫu sau này không còn bám biển mưu sinh, họ vẫn được người đi trước truyền dạy cách thức thờ phụng Ông trang nghiêm nhất, để đức tin được lưu truyền mãi về sau. Thầy Thứ Hải mang niềm tin sắt đá ấy, khẳng định dòng người đổ về Lăng Ông Vũng Tàu chiêm bái trước nay chưa từng thưa vắng. Dẫu vậy, một câu hỏi vẫn lơ lửng: liệu lòng sùng kính nhiệt thành của ngày hôm nay có đủ sức neo giữ qua nhiều đời nữa, khi lớp con cháu mai sau dần mất đi cơ hội nhìn thấy cá voi vẫy vùng ngoài biển khơi, chứ chưa nói đến cơ duyên được “Ông” nâng đỡ lúc hoạn nạn.

Khác với giai đoạn trước, khi nhiều Lăng Ông phải chịu cảnh hoang phế hay đóng cửa vì thiếu chính sách, chính quyền địa phương gần đây đã bắt đầu chú trọng bảo tồn tập tục độc này hơn. Đơn cử như năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận Lễ hội Nghinh Ông ở Cần Giờ là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Đến năm 2016, mười hai lễ hội tương tự tại Đà Nẵng cũng được vinh danh. Dù xuất phát từ tâm ý bảo vệ tín ngưỡng bản địa hay hướng đến tiềm năng khai thác du lịch, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cũng ráo riết phục dựng bộ xương Cá Ông khổng lồ dài 24m với tuổi đời 300 năm, đi kèm với việc xây dựng không gian trưng bày có tổng vốn đầu tư lên đến 10 tỷ đồng.

Xương cá voi được trưng bày ở Vũng Tàu.

Đứng từ ngoài nhìn vào, người ta rất dễ lãng mạn hóa một tín ngưỡng bản địa và gán cho nó những giá trị của thời đại mới. Sẽ thật đẹp nếu ta có thể coi tục thờ Cá Ông như một cách con người tôn vinh tự nhiên, gắn với sứ mệnh bảo vệ cá voi và đại dương xanh. Thế nhưng, thế giới tâm linh của vạn chài dường như thuộc về một hệ quy chiếu khác, chưa từng vướng bận về những thống kê về sự suy tồn của loài cá voi.

Chú Mùi bảo chú không thấy có gì thay đổi về lượng cá dạt bờ hay sản lượng đánh bắt, nhưng góc nhìn ấy lại chênh lệch quá nhiều với thực tế. Dẫu lệnh cấm săn bắt toàn cầu đã thắp lên chút hy vọng phục hồi, số lượng cá thể cá voi vẫn ở mức báo động sau hàng thế kỷ làm nạn nhân của ngành công nghiệp đánh bắt quy mô lớn.

Nghịch lý buồn đáng buồn nằm ở chỗ, loài sinh vật biển này đôi khi lại chịu tổn thương từ chính hoạt động mưu sinh của những con người hằng đêm cầu khấn chúng bảo bọc. Cá voi hay cá heo đều săn tìm cùng một nguồn hải sản với ngư dân. Vì thế, đằng sau hiện tượng Ông lụy dạt bờ, có lẽ không phải lúc nào cũng là câu chuyện tự sát vì u uất như người làng vẫn tin. Nhiều chú cá đã lặng lẽ kiệt sức dưới đáy đại dương sau khi vô tình vướng vào những tầng lưới bủa giăng.

Ngồi nhâm nhi ly rượu với chú Mùi, lòng tôi không khỏi chùng xuống bởi những suy nghĩ đan xen. Vốn dành nhiều tình cảm cho cá voi, tôi trân trọng trí thông minh và sự thấu cảm diệu kỳ của loài vật này, tin rằng chúng hoàn toàn xứng đáng với sự sùng kính của con người. Nhưng ở góc nhìn của một khách phương xa, tôi cứ băn khoăn, liệu niềm tin này có đang vô tình đặt con người làm trung tâm, ngước nhìn một “vị thần” mà quên mất những tổn thương của một sinh vật tự nhiên? Liệu có mâu thuẫn không khi ta thành tâm thờ phụng một sinh mệnh nhưng lại chẳng thể chở che ngược lại cho chúng? Và việc tin rằng loài cá voi thanh cao đến mức tự kết liễu đời mình khi không cứu được người, phải chăng là gánh nặng tâm lý mà con người đang vô tình áp đặt lên chúng? Trái Đất này có đến 8 tỷ người, còn cá voi dưới lòng đại dương sâu thẳm ngoài kia, liệu còn lại bao nhiêu?

Nhưng suy cho cùng, một người ngoài cuộc như tôi đâu có quyền phán xét. Tạm biệt chú Mùi, tôi bước đến trước bàn thờ Cá Ông, thành kính thắp nén nhang thầm cầu nguyện cho sự sinh tồn của loài cá voi thiêng, cầu một cuộc sống ấm no cho dân làng, và xin cả chút bình an cho riêng mình, bởi những mong cầu đó đâu nhất thiết phải xung đột lẫn nhau. Làn khói hương vấn vít rồi tan vào thinh không, giống như tiếng hát cá voi xa xăm, lịm dần vào tĩnh lặng khi lặn sâu xuống đáy đại dương mịt mùng.

]]>
info@saigoneer.com (Paul Christiansen. Ảnh: Paul Christiansen. Top illustration by Hannah Hoàng.) Đặc biệt Văn Hóa Văn Nghệ Mon, 25 May 2026 15:26:39 +0700
Dfoxie37: Tìm kiếm bản thể giữa vũ trụ và bụi sao https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18130-dfoxie37-tìm-kiếm-bản-thể-giữa-vũ-trụ-và-bụi-sao https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18130-dfoxie37-tìm-kiếm-bản-thể-giữa-vũ-trụ-và-bụi-sao

Hôm chúng tôi hẹn gặp, Dfoxie37 đến nơi với bộ râu tóc dài, mũ nồi màu be lưa thưa những sợi vải. Anh có hai chữ “Biết ơn” và “Cảm ơn” đối xứng trên đôi khuỷu tay, mỗi lần gập lại cứ như ghì lấy chúng vào mình. Tôi tự nhủ, con người này hẳn có nhiều chuyện để kể lắm đây.

Dfoxie37 tên thật là Đình Phúc, là một người chơi rap ở Vinh, Melbourne, Sài Gòn, rồi lại Vinh. Tôi thường nghe người ta gọi anh là “người vẽ nhạc” hơn. Âm nhạc của anh có nhiều dụng ý, nghĩa là những điều anh nói trong lời rap đều được lặp lại một lần nữa ở phần giai điệu, hiệu ứng âm thanh và cả cách xử lý âm thanh.

Anh bắt đầu sáng tác từ 2021 khi hoạt động cùng 37Sound, một cộng đồng khá đặc biệt khi các thành viên đều sống ở những nước khác nhau trên thế giới, thậm chí có thời điểm không ai ở Việt Nam nhưng cùng là người con xứ Nghệ. Ở Melbourne một mình 7 năm, anh tìm đến rap và cộng đồng như một liều chữa cô đơn, từ đó mà những nghĩ suy chất chồng nên âm nhạc.

Album đầu tay của Dfoxie37, “Lợi Khuẩn,” làm tôi phải nghe miệt mài cả mấy tuần liền. Những thứ anh nói về tâm lý, đức tin, góc nhìn dù phức tạp nhưng tôi nhận thấy mình rất hiểu, như thể ai đó vừa cắp lấy những sợi suy nghĩ hỗn loạn của tôi ra khỏi đầu, gỡ gạc ngăn nắp rồi xếp thành vườn hoa nhiều màu trên nhạc. Chẳng thể thuật lại hết những câu chữ từ anh, tôi mời các bạn cùng nghe album trước khi tìm hiểu về người nghệ sĩ lạ lùng này.

Người vẽ nhạc

Thế giới âm nhạc của Dfoxie37 và những người cộng sự chi chít những dạng sống lẫn hòa. Ở đó có loài chim đã tuyệt chủng Kauaʻi ʻōʻō cất tiếng hát cùng vùn vụt sao băng, cùng dàn âm thanh điện tử. Ở đó, tiếng nói của con người thế kỷ 19 và thế kỷ 21 đứng kế cạnh nhau. Tiếng saxophone thường dùng cho jazz lại nhún nhảy cùng tiếng bass của hip-hop, và chuông chùa hay chuông nhà thờ nghe cũng tựa nhau.

Dfoxie37.

Điều tôi luôn ấn tượng khi nghe một bài nhạc chính là cách thiết kế âm thanh kể được câu chuyện trong lời nhạc. Như khi nói về ‘Cà phê phin,” tôi bắt gặp âm thanh nhỏ giọt và tiếng muỗng inox gõ vào cái ly thủy tinh chấm bi đã thân thuộc với những đứa con miền Trung. Khi tác giả nói về vũ trụ, giọng hát của anh được xử lý reverb (hiệu ứng vang) khiến nó như loang vào không gian. Khi anh nói về ngọn lửa, ta nghe phừng phừng; anh nói về cánh cửa, ta nghe sầm sập. Tôi nghĩ phải dành một lời tôn vinh từ tận lòng cho người đồng hành cùng anh, nhà sản xuất âm nhạc Tuann.

Để ý một chút, tôi lại nhận ra có vẻ bài nào của anh cũng bắt đầu bằng một tiếng ho, mỗi bài lại ho theo cách khác nhau. Anh nói nó giống như “artist tag” của mình, khi nào anh bỏ được thuốc lá thì lại đổi một con dấu khác. Anh cũng từng tha thiết với mục tiêu này trong bản ‘anh muốn bỏ thuốc’ cách đây hai năm.

Một tuổi thơ tự chơi, tự sống trong đầu

Với một con người nhiều tâm tư, tôi nghĩ mình nên bước vào thế giới tuổi thơ của họ để tìm thấy những khuôn mẫu đầu tiên.

Anh kể, ngày trước bố mẹ anh bận nhiều công việc, em trai lại cách 7 tuổi, thế nên, trong những năm phát triển tư duy và kết nối xã hội đầu đời, anh lại không có ai chuyện trò. Bạn Phúc năm ấy thường ra vườn, nhìn những chú kiến tha mồi, làm tổ, vận hành cộng đồng rồi tưởng tượng ra một thế giới cỏn con. Bạn Phúc ấy cũng thích vẽ trên những tờ A0 lớn gấp ba lần mình mà bố bạn mang về.

Nói về sáng tạo cùng ngôn ngữ, tôi bất ngờ khi anh kể rằng đã viết thơ từ khi vừa biết chữ. Anh lớn lên với những tập thơ chất thành núi của mẹ, viết thơ để kết bài trong những bài tập làm văn dù giáo viên cho bốn hay chín điểm. Từ những năm tháng đầu đời, Dfoxie37 đã thể hiện một cá tính sáng tạo độc lập, độc đáo, với một bộ óc quan sát đầy chiêm nghiệm.

Một tờ giấy thi cũng có thể là nơi để Phúc viết lời.

Tuổi thiếu niên ở Melbourne của anh có nhiều chuyện điên rồ mà anh không muốn nhắc đến, đã có những thời điểm không một xu dính túi mà anh gọi là “gần như vô gia cư.” Khi tôi hỏi mò, rằng làm sao anh vượt qua những nghĩ suy về danh tính mà tuổi trẻ nào cũng có, anh chỉ nói “lúc đấy điều duy nhất anh có thể nghĩ đến là làm sao kiếm bánh mì bỏ mồm.”

Anh từng không tin vào bệnh tâm lý, anh thường vượt qua được hết, và nỗi lo cơm áo dường như chiếm hết không gian trong đầu. Nhưng rồi anh kể một câu chuyện khiến bản thân phải chấp nhận nó tồn tại. Đó là những cơn hoảng loạn đến đột ngột, không nguyên do, không báo trước. Chúng làm tim anh đập nhanh, tay chân run lẩy bẩy. Có lần anh phải nhập viện vì cơn đau tim dữ dội. Ở nơi đó, anh tìm thấy vẻ đẹp của đức tin.

Đức tin là một dạng thức ăn

Chuyện là buổi sáng sau đêm nhập viện, anh đi dạo trong khuôn viên và bắt gặp một khu cầu nguyện, nơi tượng Phật, tượng Mẹ Maria và Chúa Giêsu đứng cùng nhau trong một không gian. Hình ảnh ấy có lẽ đã khắc sâu trong lòng anh bởi tôi đã bắt gặp câu chuyện này trong nhiều cuộc phỏng vấn khác của anh trên mạng. Trong mắt một người vô thần, anh thấy đức tin thật đẹp khi con người ta khẩn khoản muốn tin vào một điều gì. “Tôn giáo như món ăn em ạ, mỗi người một gu,” anh gật gù.

Artwork từ ca khúc ‘cà phê phin.’

Khi nghe bản nhạc ‘tất cả là một’ trong album “Lợi Khuẩn,” tôi đoán chừng anh đã đọc một lý thuyết cho rằng vạn vật được liên tục phân hủy, tái sinh và cùng tạo nên nhau mà viết nên. Thế mà hôm nay, anh nói rằng ý tưởng ấy đến từ một lần anh vô tình cảm nhận được mọi thứ như hợp thể, như đồng lòng hòa quyện vào nhau, mà bây giờ anh khó lòng tìm lại được. Anh cũng cho rằng thế giới đứng dậy từ ‘bụi sao,’ Vụ Nổ Lớn đã mang nó cho Trái Đất để rồi vô số tế bào sinh ra cây cỏ, động vật, loài người. Mọi chuyện cứ như ảo ảnh trong bộ não kỳ lạ ấy, mà một người luôn cố giải thích mọi thứ như tôi chẳng thể lần ra. Có lẽ vũ trụ đã chọn anh và cho anh thấy.

Anh lặp lại câu nói “tất cả là một” ở bản nhạc ‘Dậy đi.’ Giai điệu của nó khiến tôi liên tưởng đến thánh ca vang lên trong nhà thờ Thiên Chúa, nhưng với tác giả đó lại là âm hưởng tụng kinh của đạo Phật. Ấy thế mà đúng, mà tất cả lại là một, đều là những món ăn tinh thần tùy khẩu vị mỗi người, là những niềm tin mà ta nắm lấy trên con đường làm người.

Ngắm nhìn và ôm ấp cuộc đời

Dfoxie37 có cảm hứng cho âm nhạc phần nhiều từ tượng đài rap Việt DSK, vẻ đẹp trong âm nhạc của Mac Miller, và nỗi khao khát để lại con chữ cho cuộc đời như Trịnh Công Sơn. Tôi lấy làm lạ khi so với những tiền bối chuyên nói về cuộc đời, anh lại cứ đặt điểm nhìn vào những thứ xa xôi như ngôi sao, vũ trụ, hay những thứ bé nhỏ như hạt bụi và tế bào. Anh lý giải, vũ trụ hay tế bào vẫn là những thứ ngang tầm mắt, chỉ là mình nhìn kỹ hơn, nhìn ra cái đẹp, cái ý nghĩa từ những dạng sống tưởng chừng phù du hơn.

Lớn lên ở Vinh, thành phố lớn nhất Nghệ An, anh từng cho rằng bản thân sẽ được tiếp cận với những văn hóa rõ rệt hơn. Nhưng khi gặp gỡ những người bạn trong 37Sound, anh lại nhìn thấy cách các dòng chảy văn hóa va vào nhau hỗn loạn, để rồi biết rằng văn hóa, hay chi tiết hơn là điểm nhìn, luôn được phân phát đều cho mỗi người, và công việc của mình là nhìn ra vẻ đẹp của chúng.

Bìa ca khúc ‘Mạt Chược’ từ mixtape “Choa Nói Thật” của 37Sound.

Anh thường chọn ban công để thả cho những nghĩ suy bay nhảy, và buổi đêm cho anh đủ tĩnh lặng để tập trung đuổi theo chúng. Anh phóng tầm nhìn vào bầu trời quang đãng của Melbourne, viết lung tung về những gì anh nhìn thấy, nhận ra. Tôi chợt nhớ đến câu nói của nhân vật Raskolnikov trong tiểu thuyết Tội ác và hình phạt của Dostoevsky: “Em có biết rằng những trần nhà thấp lè tè và những căn buồng chật chội nó đè ép tâm hồn và trí tuệ con người ra sao không”? Có lẽ bên cạnh thói quen sống trong đầu, anh còn có cho mình một không gian sáng tạo vô cùng để không giam hãm những khoảng nhìn lớn lao.

Tất cả là một, mà cũng rất khác nhau

Có một điều mà nhiều người nghe nhạc Dfoxie37 thắc mắc, chính là giữa anh, nhà sản xuất Tuann và những nghệ sĩ đồng sáng tác khác đã phải thân thiết thế nào mới cho ra mắt được những sản phẩm đồng điệu, ý nghĩa sáng tỏ như thế. Nhưng anh lại một lần nữa phủ nhận giả thiết này: “Anh với Tuann khác nhau lắm, Tuann không tin những gì anh tin.”

Với một dự án đồng sáng tạo, anh sẽ tôn trọng ý kiến của cộng sự để họ có không gian sáng tạo của riêng họ, nhưng cũng đấu tranh cho bản sắc của mình. Với anh, xung đột là cách để chúng ta nhiều lần tự vấn về niềm tin của mình, để thứ ở lại đến cuối chính là niềm tin mạnh mẽ nhất mà mỗi cá nhân gìn giữ. Anh tin rằng mỗi người đều đang xây dựng thế giới của riêng mình và anh yêu cách cộng đồng cùng nhau xây dựng một nền âm nhạc đa dạng hơn.

Nghệ sĩ làm việc cùng nhau đã có nhiều khác biệt, anh cũng không lạ gì nếu khán giả đón nhận tác phẩm của mình theo nhiều hướng khác. Có những bài anh tâm đắc nhưng khán giả chẳng mấy mặn mà, cũng có những bản nhạc vang lên khắp nơi như ‘Hello em có khỏe không?’ mà anh chỉ xem như những lời luyên thuyên. Cũng bởi thế, khi tôi trải lòng về những sáng tác mà mình cho là lải nhải, anh động viên tôi cứ đem ra, và để khán giả tự có cảm nhận của họ.

Ánh mắt tôi bỗng dừng lại trước hình xăm “biết ơn” và “cảm ơn” của anh, nhận ra anh thực sự đón nhận mọi vận động của cuộc sống, trân trọng vạn vật đã cùng dựng xây nên chính anh, nên thực tại này.

Có điều gì phía trước?

Anh hân hoan: “Vợ chồng anh sắp có con đầu lòng.” Tôi giật mình lục lại tuổi của anh, à, hăm bảy, tự dưng nhớ ra mình cũng đã đầu hai. Đến một cảnh mới, mọi thứ sẽ đổi thay và âm nhạc của anh sẽ góp nhặt từ đó mà thành hình. Anh sẽ cạo hết râu tóc, cạo cả chân mày để chào đón chương mới, cũng là cách tránh mình bị vướng víu vào một hình tượng vốn từ đầu đã không tồn tại. Cuối tháng này anh về lại Vinh, chăm lo cho tổ ấm nhỏ, anh sẽ chăm chỉ quảng bá những sản phẩm mới của mình ở một quang cảnh khác của Việt Nam.

Tôi như háo hức hộ anh, tôi biết anh luôn cố gắng hoàn thiện những tác phẩm của mình và dành mọi thứ tốt nhất cho điều anh yêu. Chúng tôi tạm biệt nhau sau hai phần lươn xứ Nghệ. Anh tặng tôi một đồng xu để tôi tung lên mỗi khi có những trăn trở trong đầu mình: “Niềm tin đẹp lắm em.”

]]>
info@saigoneer.com (Phương Quỳnh. Ảnh bìa: Ngọc Tạ.) Đặc biệt Quãng 8 Âm Nhạc & Nghệ Thuật Văn Nghệ Sat, 23 May 2026 16:01:55 +0700
Lịch sử ngành sản xuất nước đá thời thuộc địa: Cơn khát của giới cầm quyền Pháp tại Đông Dương https://saigoneer.com/vn/heritage/18129-lịch-sử-ngành-sản-xuất-nước-đá-thời-thuộc-địa-cơn-khát-của-giới-cầm-quyền-pháp-tại-đông-dương https://saigoneer.com/vn/heritage/18129-lịch-sử-ngành-sản-xuất-nước-đá-thời-thuộc-địa-cơn-khát-của-giới-cầm-quyền-pháp-tại-đông-dương

Dạo quanh đường phố Sài Gòn ngày nay, chúng ta sẽ thấy những thùng, xô đá lạnh khắp mọi nơi. Từ trà đá, cà phê sữa đá đến ly sinh tố vỉa hè, thức uống nào cũng cần vài viên đá mát lạnh để xua tan đi cái nóng oi ả. Thế nhưng, trước khi người Pháp xây dựng nhà máy làm đá đầu tiên của Việt Nam, đá lạnh từng là một khái niệm xa xỉ, thậm chí không tưởng ở miền nhiệt đới.

Nếu ngày nay, việc làm chủ công nghệ lưu trữ, cấp đông là bài toán cốt lõi của ngành cung ứng, giúp bảo quản dược phẩm, thực phẩm và mở đường cho những nguyên liệu tươi mới du nhập, thì vào thế kỷ trước, ngành kinh doanh hái ra tiền này vốn chỉ phục vụ nhu cầu hưởng lạc của giới cầm quyền thực dân và di dân Pháp ở Đông Dương.

Sản xuất nước đá ở xứ nhiệt đới

Từ bao đời nay, người Việt đã biết cách thích ứng và tận dụng chính khí hậu nhiệt đới để bảo quản đồ ăn và thức uống. Người xưa chuộng các phương pháp lên men để kéo dài thời gian tích trữ nông sản. Còn để giải khát, dân gian thường uống trà xanh nóng hoặc trữ nước trong lu sành cho hạ nhiệt tự nhiên.

Khi đặt chân đến Đông Dương, giới chức thực dân vẫn khăng khăng duy trì lối sống vương giả, dù có phải bòn rút sức lao động của người dân bản xứ. Thế nhưng, có một thứ xa xỉ phẩm họ luôn thèm khát mà không thể mang theo từ mẫu quốc. Đó là những ly bia mát lạnh.

Ở thời điểm đó, giao thương nước đá (khai thác từ các hồ băng Bắc Mỹ) diễn ra tấp nập tại những thương cảng sầm uất khắp châu Á như Ấn Độ, Singapore hay Hồng Kông. Tuy nhiên, không có tài liệu nào cho thấy các cảng biển ở Việt Nam từng nhập khẩu mặt hàng này. Có thể nước đá đã được chuyển từ các bến cảng lân cận sang, nhưng nguồn cung hẳn vô cùng nhỏ giọt và chủ yếu chỉ xuất hiện trong các dịp đặc biệt.

Sự vắng bóng của các đại lý phân phối đá đã mở ra một thị trường béo bở. Hai anh em người Pháp là Victor và Gabriel Larue chính là những người đầu tiên nhận ra cơ hội vàng này. Ngay khi vừa đặt chân đến Sài Gòn vào năm 1879, Victor đã bắt tay vào bán đá. Người em trai sau đó cũng sang phụ giúp, nhưng phải đến năm 1886, khi quy mô làm ăn được mở rộng, phương pháp sản xuất của họ mới được ghi lại. Năm đó, hai anh em đã nhập khẩu tới 140.000 kg thiết bị làm đá và xây dựng thêm một xưởng thứ hai tại Hải Phòng.

Bên trong nhà máy nước đá Larue tại Sài Gòn. Nguồn ảnh: Les entreprises coloniales françaises.

Trải qua nhiều năm, anh em nhà Larue đã trang bị vô số loại máy móc cho các nhà xưởng của mình. Dù là hệ thống làm lạnh kiểu nén hay hấp thụ, nguyên lý cốt lõi vẫn không hề thay đổi. Sản xuất đá là một chu trình khép kín, trong đó nhiệt lượng liên tục bị đẩy từ nơi này sang nơi khác. Đầu tiên, máy nén sẽ ép khí gas áp suất thấp hóa thành luồng hơi nóng có áp suất cao. Nhà Larue đã chọn dùng khí amoniac và từng nhập về tới 15.000 kg loại khí này vào năm 1879. Hơi nóng sau đó dẫn qua bộ ngưng tụ để xả nhiệt ra không khí xung quanh rồi hóa lỏng. Khi vọt qua van tiết lưu, áp suất tụt mạnh khiến nhiệt độ chất lỏng này giảm sâu gần như ngay lập tức. Cuối cùng, dòng dung dịch lạnh buốt chảy vào hệ thống ống bay hơi ngâm sẵn trong bể nước. Xuyên qua lớp vách kim loại, hơi lạnh hút cạn nhiệt lượng xung quanh cho đến khi nước đóng băng.

Công việc kinh doanh chẳng mấy chốc mà lên như diều gặp gió. Không riêng gì các nhà hàng hay quán bar, đá tảng thời đó còn được bán cho những gia đình có điều kiện mua về dùng tại nhà. Khách hàng phải thanh toán trước qua một hệ thống “tem phiếu” (voucher) và bắt buộc phải mua số lượng tối thiểu mỗi lần một ký.

Tất nhiên, anh em nhà Larue không một mình độc chiếm cả thị trường này. Đơn cử như ở Hà Nội, thương gia Berthoin cũng khai trương một xưởng làm đá vào năm 1886. Tuy nhiên, không rõ do quản lý yếu kém hay thiếu may mắn mà ông đã không trụ lại được lâu. Mức giá chào sân 10 xu một ký (tương đương khoảng 2.5 EUR hiện nay) bị chê bai kịch liệt vì quá đắt đỏ. Berthoin đành cắn răng hạ giá xuống còn 6 xu chỉ hai năm sau đó. Cùng năm, ông ta lại thua kiện trong một vụ án do chính mình châm ngòi. Berthoin đã cáo buộc đối thủ cạnh tranh bán tem phiếu có màu sắc quá giống với thiết kế của ông. Mùa hè năm sau, Hà Nội rơi vào cảnh thiếu đá trầm trọng do Berthoin quyết định đập bỏ xưởng cũ để xây xưởng mới. Tình trạng cung không đủ cầu khiến nhiều người phải xếp hàng ròng rã hơn bốn tiếng đồng hồ chỉ để mua được chút đá lạnh về nhà.

Không bỏ lỡ cơ hội, anh em nhà Larue đã thâu tóm nhà máy này vào năm 1893 và mở rộng kinh doanh ra Hà Nội để kết nối với cơ sở đã có ở Hải Phòng.

Nhà máy nước đá Larue tại Hải Phòng. Nguồn ảnh: Les entreprises coloniales françaises.

Một trong những vấn đề đau đầu nhất của ngành này chính là chất lượng nguồn nước, ảnh hưởng không chỉ đến mùi vị sản phẩm mà còn đến sức khỏe khách hàng. Thời bấy giờ, nước làm đá thường được khai thác trực tiếp từ những con sông đặc quánh rác thải, khiến dân tình nơm nớp lo sợ vì nguy cơ lây lan dịch bệnh, đặc biệt là bệnh tả đã cướp đi sinh mạng của vô số người châu Á. Đỉnh điểm là năm 1895, hàng loạt khách hàng ở Hải Phòng và Hà Nội đồng loạt khiếu nại vì khối đá ngả màu đỏ đục, bốc mùi hôi thối. Để vớt vát uy tín, các xưởng phải gấp rút đào giếng ngay trong năm sau đó nhằm tìm kiếm nguồn nước sạch hơn.

Thành công vang dội của thương hiệu Larue khiến giới ủ bia đặc biệt lưu tâm. Ngành kinh doanh nước đá và bia vốn luôn gắn bó mật thiết với nhau do nhu cầu làm lạnh. Khâu lên men đòi hỏi phải duy trì ở một mức nhiệt độ ổn định. Do đó, khả năng giữ lạnh chất lỏng chính là chìa khóa để ủ ra một mẻ bia ngon. Bản thân anh em nhà Larue cũng đã lấn sân sang lĩnh vực này từ năm 1909 khi trình làng thương hiệu bia “Larue” đến nay vẫn còn được bày bán.

Quảng cáo bia Larue trên báo L’Information d’Indochine, 26/4/1934. Nguồn ảnh: Les entreprises coloniales françaises.

Một gia tộc thực dân khét tiếng khác là anh em nhà Denis, xuất thân từ mảng xuất nhập khẩu hàng hóa vào Đông Dương, đã chớp lấy thời cơ sáp nhập hai ngành công nghiệp liên đới này thành một. Năm 1927, họ thành lập Công ty Bia và Nước đá Đông Dương (BGI). Anh em nhà Denis thâu tóm cơ ngơi của Larue cùng các hãng bia khác như Brasserie Hommel và lập tức vươn lên dẫn đầu thị trường. Doanh nghiệp này, hiện mang tên Brasseries et Glacières Internationales, đã phát triển thành một tập đoàn đa quốc gia với nhiều chi nhánh tại các thuộc địa của Pháp và nhiều quốc gia khác về sau. Ngày nay, tập đoàn này vẫn thống lĩnh thị trường bia ở châu Phi và duy trì tầm ảnh hưởng trên toàn cầu.

Bên ngoài nhà máy bia Hommel ở Hà Nội. Nguồn ảnh: Les entreprises coloniales françaises.

Kiếm chác trên xương máu người bản xứ

Ngay từ những ngày đầu, ngành sản xuất nước đá chỉ nhằm phục vụ thú vui uống bia lạnh của giới cai trị Pháp. Trong bối cảnh thiếu thốn thời thuộc địa, mọi nhu cầu hưởng lạc của họ đều phải đánh đổi bằng chính mồ hôi nước mắt của người Việt. Điển hình là việc họ sẵn sàng thẳng tay bóc lột nhân công, chỉ chăm chăm lo cho đặc quyền hưởng thụ của người da trắng mà bỏ bê vấn đề vệ sinh chung của xứ thuộc địa.

Nhà máy bia của Larue ở Hà Nội. Nguồn ảnh: Les entreprises coloniales françaises.

Hiển nhiên, lực lượng lao động trong các xưởng đá và nhà máy bia đều là người Việt. Mối quan hệ giữa họ và giới chủ Pháp thể hiện sự bất bình đẳng đến cùng cực. Trong mắt những kẻ thực dân, người Việt chỉ là công cụ. Tư duy miệt thị này được khắc họa rõ nét qua một bài viết trên tờ L’Avenir du Tonkin (tháng 5/1895). Khi bàn về giải pháp khắc phục chất lượng nước làm đá, một bác sĩ người Pháp đã đề xuất cách kiểm soát gắt gao những “con-gai” (từ tiếng Pháp bồi mượn chữ con gái để chỉ chung phụ nữ Việt Nam):

“Ngài muốn một giải pháp ư? Những đám ‘con-gai’ gánh nước đi bán phải bị buộc đeo một dải băng trắng trên tay, trên đó ghi rõ bằng mực ngày họ được cấp phép hành nghề. Người châu Âu chỉ nên mua nước từ tay họ. Hơn nữa, phải nhốt tù không thương tiếc những ả đàn bà này nếu bắt quả tang họ dám múc nước từ các ao tù hay nhánh sông ứ đọng. Phải giáng cho họ một khoản tiền phạt thật nặng, đồng thời tước luôn giấy phép bán nước có thời hạn, hoặc vĩnh viễn nếu tái phạm. Cuối cùng, cảnh sát hoặc tòa thị chính, tương tự như cách quản lý giá xe kéo, cần ấn định một mức giá trần cho mỗi gánh nước. Mức giá này đủ để người bán kiếm lời, nhưng tuyệt đối không được phép để người châu Âu bị trục lợi.”

Thông qua quá trình bóc lột đó, BGI đã vơ vét được những khoản lợi nhuận khổng lồ. Năm 1930, công ty này công bố mức lãi ròng 329.714 đồng bạc Đông Dương, trị giá tương đương khoảng 2,3 triệu EUR vào năm 2025. Tất cả chỉ để đổi lấy một món xa xỉ phẩm gần như độc quyền cho người da trắng. Một đoạn trích từ báo L'Éveil économique de l'Indochine tháng 11/1929, đã thẳng thừng thừa nhận:

“Lâu nay tại Đông Dương, bia vốn dĩ vẫn là thức uống xa xỉ. Nhà máy bia mới mở ở Hà Nội đang hướng tới tệp khách hàng bản xứ mà họ đã nắm chắc trong tay, bằng cách tung ra loại bia giá rẻ có chất lượng không đến nỗi nào.” 

Phải đến thời kỳ Đổi Mới, khi các tập đoàn nước ngoài tràn vào thị trường, chiếc tủ lạnh mới bắt đầu len lỏi vào từng căn bếp Việt, giúp người ta cất trữ thức ăn an toàn và lâu ngày hơn. Dù vậy, phần lớn nước đá tiêu thụ tại Việt Nam ngày nay vẫn đến từ các nhà máy sản xuất công nghiệp, tiếp sức cho hàng ngàn quán xá trên khắp cả nước. 

Nếu ngày trước, nước đá ra đời chỉ để ướp lạnh bia cho giới thực dân Pháp, thì nay, người Việt đã tự định hình những thói quen thưởng thức riêng. Chẳng hạn, uống bia với đá đã trở thành một nét văn hóa bản địa, hoàn toàn thoát ly khỏi quy chuẩn của phương Tây, vốn chỉ uống bia ướp đá. Dần dà các xưởng mọc lên khắp nơi, khơi nguồn cho đủ loại thức uống giải nhiệt sáng tạo, mà gần gũi, thân thuộc nhất, chẳng gì qua được ly cà phê sữa đá vỉa hè nay đã nức tiếng năm châu.

]]>
info@saigoneer.com (Tom Phạm. Ảnh bìa: Ngọc Tạ.) Đặc biệt Di Sản Thu, 21 May 2026 15:46:40 +0700