Khám phá Việt Nam và hơn thế nữa - Sài·gòn·eer https://saigoneer.com/vn/component/content/?view=featured Fri, 23 Oct 2026 15:32:16 +0700 Joomla! - Open Source Content Management vi-vn Tiếng cạp cạp thuở nhỏ và bầy vịt miền Tây của má tôi https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17939-tiếng-cạp-cạp-thuở-nhỏ-và-bầy-vịt-miền-tây-của-má-tôi https://saigoneer.com/vn/vietnam-culture/17939-tiếng-cạp-cạp-thuở-nhỏ-và-bầy-vịt-miền-tây-của-má-tôi

Hôm rồi, đi dạo quanh khu nhà, tôi gặp một ông chú trung niên người nước ngoài đang dắt chó cưng đi chơi. Tôi mon men bắt chuyện làm quen. Nghe tới hai tiếng “Việt Nam,” mắt chú sáng rỡ, chú cười rồi buột miệng: “Mekong Delta [Đồng bằng sông Cửu Long]. Vịt.”

“Sao mà người ta nuôi quá trời vịt,” chú nói tiếp. “Giờ nghĩ lại trong đầu vẫn còn nghe tiếng cạp cạp.”

Cạp cạp. Ảnh: Alberto Prieto.

Vịt thả vườn

Miền Tây sông rạch giăng giăng, ruộng lúa thì mênh mông, xóm làng lúc nào cũng rợp bóng cây. Vịt ở đây nhiều vô kể. Nhà nào cũng thả vài con trong sân. Ngoại tôi cũng vậy, nuôi vịt để dành cho mấy bữa giỗ, Tết, hay có dịp gì cần tới. Người miền Tây quen xoay xở sao thì vịt cũng rành y vậy. Đàn vịt nhà ngoại hay tha lá chuối khô, chất đầy trong bụi chuối rậm để làm ổ. Ăn trứng luộc, trứng chiên riết cũng ngán, cỡ chừng 28 ngày sau đã thấy mấy con vịt con vàng khè, lông tơ bông xù, lúp xúp chạy theo mẹ ra ao tập bơi.

Má tôi cũng nuôi vịt, vừa để đỡ tốn tiền chợ, vừa kiếm thêm chút đỉnh. Nhưng vịt nhà má đâu có kịp đẻ trứng. Mập mập một chút là má bắt đem ra chợ liền. Má bỏ vô hai cái giỏ đan bằng lát chắc nịch, mỗi bên ba con. Vịt nằm chồng lên nhau, im ru, chỉ ló cái đầu ra ngoài, mắt tròn xoe, coi bộ như đã chịu số phận sắp bị làm thịt, vặt lông. Mấy con không bị đem đi chợ thì cũng sớm muộn có mặt trên mâm cơm nhà tôi.

Đen nhủi. Ảnh: Alberto Prieto.

Hồi nhỏ, một trong mấy việc tôi phải làm là cho vịt ăn ngày hai bận. Nhìn tụi nó bu lại ăn lấy ăn để, rồi ung dung lạch bạch đi chỗ khác, um sùm như cái hội chợ. Thức ăn thì có bèo tấm, hoặc rau muống bằm nhỏ trộn với cám gạo và nước. Nhưng món tụi nó mê nhất là ốc gạo. Ăn lẹ tới mức ốc chưa kịp sinh sôi trong cái ao má tôi vừa vớt về đã hết sạch. Không được thả vịt rong ngoài sân, vì hễ đi ngang cái gì là mổ lia lịa cái đó. Thỉnh thoảng, ba tôi còn ra ruộng lúa bắt thêm ốc đem về cho vịt. Gặp ốc là tụi nó giành nhau, ăn được bao nhiêu cũng không chừa. Ăn no nê rồi, cả bầy lại nằm dài dưới bụi chuối bên mé ao. Nước ao trong veo, tôm cá côn trùng không còn dụ được tụi nó nữa.

Vịt chầu ông bà

Má tôi đâu có thương vịt gì cho cam, nhưng mỗi lần làm thịt thì má cũng có cái lệ riêng. Má vuốt cái đầu nó, nói nhỏ: “Thôi, ráng đầu thai sang kiếp khác nghe con.” Rồi má nhổ mớ lông nhỏ ngay cổ, sát dưới cái đầu, chừa ra một chỗ trống. Ở đó má khứa nhẹ bằng cây dao làm thịt, cây dao má lúc nào cũng mài bén ngót sau mỗi lần xong việc.

Má khứa xong, hứng tiết chảy vô cái chén sứ trắng có rải sẵn ít nếp. Khi giọt cuối cùng nhiễu xuống, má bưng con vịt qua nồi nước sôi mà tôi được giao canh sẵn. Cái đầu vô hồn của nó lắc qua lắc lại, lòng thòng trên thân lông trắng đục.

Tôi thấy tội lắm. Con vịt mình nuôi, ngày nào cũng chăm mấy tháng trời, nay tận mắt nhìn bị mần thịt. Tôi nhớ rõ từng con hồi còn bé xíu, lông vàng óng, lăng xăng chạy lại mỗi khi thấy tôi bưng thau đồ ăn trên tay.

Ảnh: Alberto Prieto.

Mấy lúc đó tôi với má im ru. Cái gì cũng thiếu nên chẳng có gì bỏ phí, từng phần của con vịt đều được tận dụng: nào tim, mề, gan, ruột… cho tới lông, đầu, chân, và dĩ nhiên cả huyết. Lông vịt thì đem phơi nắng, rồi bỏ vô bịch nilông để dành bán cho mấy người ve chai. Họ thường chạy xe đạp cọc cạch dọc theo xóm, gần như lúc nào cũng ngay giờ trưa, khi cả nhà đang nằm võng lim dim. Vừa đạp vừa rao: “Ai ve chai, lông vịt bán hông?”

Vịt mần thịt

Mỗi năm, khi mai vàng nở trước sân, má lại nấu nồi thịt ba rọi kho hột vịt. Phải chờ tới Tết cả nhà mới được ăn món này. Má hay nói: “Vậy mới ngon. Ăn quài thì biết chờ gì nữa.” Má luộc hột vịt cho chín, rồi kho chung với thịt ba rọi bằng nước dừa. Kho riết, nước dừa sánh lại, óng ánh vàng nhẹ, thấm vô trứng vô thịt. Hột vịt thì giòn giòn, còn thịt thì mềm tới mức rục rã.

Ngoài món đặc biệt mỗi năm chỉ có một lần đó, má còn có thực đơn vịt không giống ai, chắc đầu bếp Michelin cũng khó nghĩ ra. Có bữa má nấu cà ri vịt, bỏ bột nghệ cho dậy màu, thêm cà rốt, khoai lang, chan ngập nước cốt dừa béo ngậy. Có bữa má kho vịt với nước màu dừa, nước mắm và cả đống gừng. Ăn vô cay nồng mùi gừng, ấm bụng dễ chịu. Bí quyết nằm ở chỗ gừng phải cắt hai kiểu: sợi thì nhai sần sật, thơm cay; bằm nhuyễn thì thấm vô thịt cho nhanh.

Theo y học cổ truyền, thịt vịt có tính hàn, nên khi nấu thường bỏ thêm gừng cho ấm người, ăn vô thấy cân bằng hơn. Ngoại kể, hồi ngoại còn nhỏ đã quen mùi gừng từ mấy nồi vịt kho trong xóm, thành ra tới đời con cháu cũng cứ vậy mà theo. Ngoại dặn, gừng với tỏi phải xắt trên thớt gỗ mới dậy mùi. Tôi nhớ lời ngoại, đem bày lại cho chồng. Ảnh nghe xong thì khoái, bữa cơm nào trong bếp cũng phảng phất mùi tỏi gừng.

Má hứng tiết vịt vô chén nếp sống, quậy cho đều rồi để cho mặt nếp se lại, sau đó luộc trong nồi đang sôi. Khi thì cháo, khi cà ri, có khi là món kho. Chín tới, miếng tiết đông lại như thạch, có màu nâu thẫm. Hột nếp lấm tấm bên trong, ăn dẻo dẻo, lại có vị ngọt nhẹ. Tới bữa, cả nhà ăn chung với thịt vịt, chấm nước mắm gừng.

Thỉnh thoảng, má nấu cháo vịt đãi cả nhà. Mấy bữa đó, ai cũng luôn tay luôn chân. Má rượt con vịt mập nhất, làm thịt rồi chặt đôi, thả vô nồi nước sôi với gạo rang. Vịt vừa mềm, má vớt ra dĩa cho nguội, gỡ từng thớ thịt. Tôi với chị chạy ra vườn, chặt cây chuối non, hái thêm rau răm để làm gỏi. Thịt xé trộn vô, ăn kèm nồi cháo vịt nóng hổi, chấm chén nước mắm gừng. Tôi húp cạn tô cháo, bụng vẫn còn đói cồn cào, thầm ước mai má lại nấu nữa. Cả nhà cũng vậy.

Vịt quay. Ảnh: Alberto Prieto.

Tôi mê nhất là vịt quay, món má chỉ làm mỗi dịp giỗ nội. Má thường đem vịt ra lò gần nhà để quay. Tới bữa, phải chờ nhang trên bàn thờ tàn hết mới được ăn, cúng nội ăn trước. Nội cười hiền, bận cái áo nhung đỏ mận mà sinh thời nội chưa từng bận lần nào. Vịt quay da giòn rụm, vàng óng, thịt thơm lựng. Ăn một miếng lớn chưa đã thèm, tôi còn mút sạch đầu ngón tay. Mùi vịt lẩn quẩn trong nhà mấy bữa chưa hết.

Vịt ngoài chợ

Chợ quê lúc nào cũng náo nhiệt, trái cây rau củ ê hề, người mua kẻ bán chen lấn, tiếng rao hòa lẫn tiếng xe máy inh ỏi. Giữa chợ búa ồn ào, chỉ cần nghe tiếng vịt kêu oai oái là biết ngay đâu là sạp vịt. Vịt thì đủ loại: nuôi thả vườn cũng có, nuôi nhốt cũng có. Nào là vịt xiêm, vịt cỏ, vịt Bắc Kinh… muốn mua kiểu nào cũng có. Người ta bày con vịt đã mần sẵn, để nguyên lòng ruột, nằm trên cái mâm bự như lá sen khổng lồ. Ai thích vịt sống thì cứ lựa một con cho ưng bụng, đi chợ xong xuôi rồi quay lại lấy.

Hồi còn ở một thân một mình, nửa con vịt cũng đủ tôi ăn trong hai ngày. Cả con thì chắc dư sức cầm cự lâu hơn, nhưng với cái khí trời nóng hầm hập, không có tủ lạnh thì nó sớm sình lên, nhớp nháp như con ếch dưới ao. Tôi thường nhờ cô bán vịt chặt giùm nửa con thành từng miếng nhỏ vừa ăn. Cô làm lẹ làng, xoẹt mấy đường kéo bén ngót như dao mổ. Hôm nào quên dặn, tôi lại phải lôi con dao để xó ra, chặt loạng choạng, miếng to miếng nhỏ.

Để đỡ tốn công, tôi cũng kho vịt. Bắt chước má, tôi ướp thịt với nước màu dừa, nước mắm, dĩ nhiên không thể thiếu gừng. Xong xuôi, tôi đậy nắp để lửa riu riu, rồi lo chuyện khác. Chừng nghe trong nồi xèo xèo là biết vịt đã chín tới.

Vịt lộn

Ngay bên mấy cô bán vịt là mấy cô bán trứng. Rổ trứng đủ cỡ, đủ màu, chất cao ngồn ngộn, chờ mấy bà nội trợ kỹ tính ghé lựa. Trứng gà, trứng vịt, trứng cút… trứng mới đẻ cũng có, mà trứng có cồ cũng có. Mà trứng có cồ thì lúc nào cũng là trứng vịt với trứng cút.

Hột vịt lộn. Ảnh: Brandon Coleman.

Hột vịt lộn từ xưa đã là món khoái khẩu. Người lớn kêu nó bổ lắm: nào sắt, nào canxi, thậm chí còn vitamin C gì đó nữa. Chưa thấy sách vở nào nói, mà thiên hạ cứ truyền miệng nhau từ đời này tới đời kia. Còn tụi nhỏ thì đơn giản lắm, ăn vì khoái, vì vui, đi chơi đêm nào không có thì thấy thiếu thiếu.

Hồi cấp ba, tôi và đám bạn còn bày ra trò “thi ăn hột vịt lộn.” Ai xử được nhiều nhất thì thắng, phần thưởng chẳng có gì ngoài tiếng vỗ tay rần rần của cả đám, coi vậy chứ còn quý hơn lời khen của thầy cô, ba má. Có bữa thằng bạn tôi làm liền sáu trái, còn tôi lặc lè tới cái thứ hai là bỏ cuộc. Bữa đó tôi thề chắc một năm không dám đụng tới nữa. Ấy vậy mà mới một tuần sau, tôi lại ngồi bên quán cóc, húp hột vịt lộn chung với đám bạn như chưa từng có chuyện gì.

Ăn hột vịt lộn cũng có “nghi thức” riêng. Trước hết, lấy muỗng gõ nhẹ đầu to, bóc cho hở một chút, húp cái thứ nước ngọt ngọt mằn mặn bên trong. Rồi tiếp tục lột vỏ, gặp tới lòng đỏ vàng chắc, xen mấy sợi gân máu đã chín. Xúc một muỗng, chấm vô chén muối tiêu chanh đâm ớt đỏ, kèm vài cọng rau răm. Vị béo bùi, giòn dai, lại thêm chua cay mặn ngọt hòa vô nhau; lá rau răm cay nồng, thơm hăng, ăn xong nóng cả người, thông cả mũi. Tới khi phần vịt non hiện ra, đôi mắt bé xíu như nhìn tôi trối chết, mà tôi cũng chỉ cười, rồi múc thêm miếng nữa. Xương nó đã thành, nhưng mềm rệu, nhai rốp là tan.

Một tiệm hột vịt lộn nổi tiếng ở Sài Gòn. Ảnh: Cao Nhân.

Vịt ơi vịt

Vịt không chỉ có mặt trên mâm cơm mà còn len vô cả lời ăn tiếng nói hằng ngày. Má tôi thì khỏi nói, cả một kho thành ngữ dính tới vịt. Thời thằng em tôi chưa đẻ, ba tôi cứ buồn buồn vì quanh bạn bè ai cũng có con trai nối dõi, còn nhà mình chỉ toàn con gái. Mấy lúc tụi tôi chẳng giúp gì được mấy việc nặng nhọc của đàn ông, má lại cười khúc khích mà nói: “Nhà này toàn vịt trời không hà.”

Hễ tôi lì, không chịu nghe lời, má lại than: “Y như nước đổ đầu vịt.” Sau này tôi mới biết bên tiếng Anh cũng có câu giống vậy, đại loại là “nước đổ lưng vịt.” Có khi tôi ngơ ngác không hiểu má nói gì, má lại lắc đầu: “Như vịt nghe sấm.” Làm việc gì chậm chạp, má liền hối: “Lẹ lên coi! Lạch bạch như vịt bầu.” Rồi để thúc sấp nhỏ ráng học hành cho có tương lai, má còn hù: “Không lo học, sau này đi chăn vịt ráng chịu nghen.”

Nhưng chăn vịt đâu có dễ. Người ta phải lùa cả ngàn con, hết đồng này qua đồng khác, chỗ gặt xong còn sót lại cua, ốc, châu chấu, hạt lúa cho vịt ăn. Chiều xuống, mặt trời vừa tắt, người chăn lại gom bầy vịt về chỗ nghỉ. Chân họ lúc nào cũng lem luốc bùn đất, ngủ thì khi ngoài trời sao, khi may mắn có cái chòi ọp ẹp bên bầy vịt để canh chừng, sợ vịt lạc hay đổ bệnh. Vịt đi tới đâu đẻ tới đó, họ lại phải lượm trứng đem về. Cực khổ vậy mà tiền công không được bao nhiêu. Hiểu cảnh đó, anh em tôi đồng thanh tuyên bố: làm nông đã ngán, ai mà dám chăn vịt.

Ảnh: Alberto Prieto.

Quay lại chuyện ông chú dễ thương đã gợi nhắc tôi về quê nhà. Chú nói: “Chú sẽ còn về miền Tây nữa.” Nhưng lại thề: “Hột vịt lộn thì không bao giờ ăn nữa. Nhất định không.”

Thấy tội cho trải nghiệm ẩm thực không vui của chú, tôi cười nói: “Tháng 12 vừa rồi, Taste Atlas có công bố danh sách mười món ăn đường phố kinh dị nhất. Hột vịt lộn đứng hạng nhì đó chú.”

“Thấy chưa!” — ông chú khoái chí gật gù.

Bất chợt, từ trên cao vọng lại tiếng quạc quạc liên hồi. Ngẩng lên, tôi thấy hai con ngỗng Ai Cập bay qua. Chắc chúng đang tìm đường về nhà, khi màn đêm sắp phủ kín bầu trời.

Một nỗi nhớ bỗng dâng tràn. Tôi nhớ bầy vịt miền Tây tung tăng ngày nào. Và nhớ má thiệt nhiều.

Ảnh bìa có sử dụng ảnh chụp của tác giả Bill Yeaton/Smithsonian Magazine.

]]>
info@saigoneer.com (Mai HD. Ảnh bìa: Mai Khanh.) Đặc biệt Văn Hóa Văn Nghệ Fri, 23 Oct 2026 10:00:00 +0700
Kem que Vi Bổn là món quà mát lành suốt 70 năm của người Sài Gòn https://saigoneer.com/vn/dishcovery/18240-kem-que-vi-bổn-món-quà-mát-lành-suốt-70-năm-của-người-sài-gòn https://saigoneer.com/vn/dishcovery/18240-kem-que-vi-bổn-món-quà-mát-lành-suốt-70-năm-của-người-sài-gòn

Sài Gòn quanh năm nắng nóng, thành ra người dân ở đây có cả một “thiên đường” kem để giải nhiệt. Giữa hàng hà sa số những hiệu gelato phá cách hay kem tươi đủ vị, Kem Vi Bổn vẫn bền bỉ tồn tại suốt gần 70 năm qua.

Gần 20 năm trước, thời còn đi học, tôi đã có dịp ăn kem Vi Bổn. Mới vài hôm trước ghé lại để viết bài này, tôi nhận ra hương vị ấy chẳng hề thay đổi. Mặt tiền tiệm đã sửa sang, các cô bán hàng tóc cũng đã điểm bạc, nhưng thực đơn lẫn công thức gia truyền từ hàng chục năm trước vẫn vẹn nguyên. Ở đời, có lẽ những gì vốn đã trọn vẹn thì chẳng cần cải tiến làm gì.

Dù thực đơn có cả kem ký, nhưng nhắc đến Vi Bổn, người ta nhớ nhất vẫn là những cây kem que. Tùy từng ngày mà tiệm bán các vị khác nhau, nhưng phổ biến nhất vẫn là đậu xanh, đậu đen, dừa, khoai môn, sầu riêng và tắc.

Một cây kem tắc có giá 4.000VND, các vị còn lại đồng giá 7.000VND. Giữa thời buổi đắt đỏ như hiện nay, e là khó tìm đâu ra một món ăn rẻ hơn thế. Kem Vi Bổn có phải thuộc hàng ngon xuất sắc không? Tất nhiên là không. Nhưng bàn về độ đáng tiền thì khó tiệm nào qua mặt. Đã vậy, các cô chủ tiệm lại cực kỳ chu đáo. Thấy mấy cây kem của chúng tôi bị chảy sau khi đem ra phơi nắng chụp hình, các cô liền chủ động đổi cho mấy cây mới lấy từ tủ đông.

Mỗi vị kem đều chế biến đơn giản từ những nguyên liệu địa phương bình dị. Khách du lịch hay người chưa từng gắn bó với thức quà tuổi thơ này hẳn sẽ thấy vị kem có phần bình dân. Tuy nhiên, muốn trải nghiệm một nét văn hóa Sài Gòn vừa mát lạnh, vừa “nhẹ ví” thì đây là lựa chọn không thể hợp lý hơn. Sau ngần ấy năm, tôi vẫn mê nhất vị kem tắc, dù thú thật là từ màu sắc đến hương vị của nó giống nước cam pha bột hơn là tắc tươi.

Tiệm kem Vi Bổn do vợ chồng ông Lý Vĩnh Đạo và bà Võ Thị Hai gầy dựng từ năm 1958. Cha của ông Đạo là ông Lý Thân vốn học được nghề làm kem khi còn sinh sống tại Campuchia. Chuyển về Sài Gòn, ông mở tiệm rồi truyền lại ngón nghề cho con cháu. Mấy người con cùng lứa cháu sau này từng mở thêm nhiều chi nhánh khắp thành phố, nhưng trải qua nhiều thập kỷ, đến nay chỉ còn lại tiệm gốc ban đầu.

Giải thích về tên tiệm, ông Thân cho biết từ “bổn” mang nghĩa “gốc rễ,” là sinh mệnh như trong “bổn mạng,” còn “vi” là vì. Ông đặt tên Vi Bổn để khắc ghi vào lòng mỗi thành viên trong nhà rằng đây là nguồn sống của gia đình, là cơ nghiệp phải dốc lòng gìn giữ.

Kem Vi Bổn

19 Nguyễn Huy Tự, Phường Tân Định, TP. HCM

]]>
info@saigoneer.com (Khôi Phạm. Ảnh: Jimmy Art Devier.) Đặc biệt Dishcovery Ăn & Uống Sun, 18 Oct 2026 22:04:47 +0700
Luận công, luận tội hoa sữa, nàng thơ gây tranh cãi của mùa thu https://saigoneer.com/vn/natural-selection/17797-luận-cộng-luận-tội-hoa-sữa,-nàng-thơ-gây-tranh-cãi-của-mùa-thu-hà-nội https://saigoneer.com/vn/natural-selection/17797-luận-cộng-luận-tội-hoa-sữa,-nàng-thơ-gây-tranh-cãi-của-mùa-thu-hà-nội

Sớm, mở toang cánh cửa sổ đón những tia nắng đầu tiên, tôi nghe mùi hoa đặc trưng quen thuộc thoang thoảng trong không khí se se lạnh. Năm nay, trời vào thu sớm, và chỗ tôi hoa sữa cũng đã bung nở những hương thơm nồng nàn.

Người ta hay nói về hoa sữa như “nàng thơ” của mùa thu Hà Nội, phủ kín các con phố bằng lớp áo trắng tinh khôi và mùi hương ấy trở thành mảnh ký ức đậm đà của những con người thủ đô. Cứ mỗi mùa thu sang người ta lại nhắc về hoa sữa trong hai dòng cảm xúc: một là háo hức mong chờ, mê mẩn cái mùi thơm quyến rũ và hai là “chẳng ngửi được, khó chịu vô cùng.”

Cứ thế hoa sữa cứ hiện diện trong những lời nhắc về mùa thu, đan xen từ đơn thuần cảm mến, hờn trách vì chẳng yêu đến những lời ca tâm tình ngọt dịu về thứ quà mà mùa thu đã ban tặng. Dù có yêu, có ghét thì người ta cũng chẳng thể nào phủ nhận rằng hoa sữa từ rất lâu đã trở thành dấu ấn riêng, là hương thơm gợi nhắc về những điều xưa cũ, dịu dàng và khó phai.

Hoa sữa — nàng thơ của mùa thu Hà Nội. Nguồn ảnh: Báo Tiền Phong.

Có một loài hoa gần gũi như thế

Hoa sữa có tên khoa học là Alstonia scholaris, cùng với một tên gọi khá dân dã là mò cua. Nhưng mọi người vẫn quen dùng cái tên hoa sữa vì loại cây này có nhựa màu trắng giống như sữa, hương thơm lại rất nồng nàn và cái tên hoa sữa cũng rất điệu đà khi nhắc cùng với mùa thu.

Cây hoa sữa là một loài thực vật nhiệt đới thường xanh thuộc chi Hoa sữa, họ Dừa cạn, có tuổi thọ lên đến vài trăm năm. Thân cây to, thẳng đứng có chiều cao từ 10 đến 20m, đôi khi có thể cao đến tận 50m với tán lá xanh tỏa rộng, nên cây thường được trồng ở những tuyến đường, khuôn viên, khu dân cư để tạo bóng râm. Cây hoa sữa thuộc tính nhiệt đới, khá dễ trồng, ưa sáng và có tốc độ sinh trưởng nhanh, phân bố rộng rãi khắp các tỉnh thành trên cả nước và đặc biệt có những nơi hoa sữa phủ khắp thành phố như Nha Trang, Quy Nhơn hay Hà Nội.

Hoa sữa tán rộng, lá xanh thẫm và có mùi hương nồng nàn đặc trưng. Nguồn ảnh: Wikimedia.

Hoa sữa nở theo chùm, với những bông hoa trắng nhỏ li ti có hình dạng như những chiếc phễu. Mỗi bông hoa nhỏ có 5 cánh hoa và 5 lá đài xếp thành 4 vòng xoắn nhau như được kết lại thành một đoá hoa to, phủ một màu trắng trên nền lá xanh thẫm, đẹp mê mẩn. Hình ảnh những tán hoa tinh khôi lặng lẽ đung đưa dưới ánh nắng vàng dịu của một sớm mùa thu luôn là hình ảnh vô cùng lãng mạn, chỉ cần nhìn thấy là tôi đã cảm nhận được mùa thu như ôm lấy mình, hòa quyện trong từng làn hơi giữa thành phố.

Và có lẽ chính mùi hương đặc biệt, không trộn lẫn đó mới chính là thứ khiến nhiều người thấy nhớ nhất. Một hương thơm rất nhẹ nhàng nhưng cũng rất ngào ngạt, có chút gì đó giống mùi hoa dạ lý hương, nhưng cũng rất khác khi toả hương dưới tiết trời mùa thu se lạnh, rất dễ chịu khi hít từng đợt hương thoảng qua nhưng lại rất ngộp khi hương hoa toả ra dày đặc, nhất là khi càng về đêm.

Hoa sữa nở theo chùm dưới sắc trời mùa thu. Nguồn ảnh: Dân Trí.

Những người con Hà Nội và thậm chí cả ai đó trót yêu vùng đất này chắc hẳn sẽ có đôi lần nhớ da diết cảm giác ngồi nhâm nhi ly cà phê sữa, ăn gói cốm xanh rồi thả cảm xúc theo mùi hương hoa sữa mỗi độ cuối năm. Để mỗi lần nghe thấy ca khúc ‘Nhớ mùa thu Hà Nội’ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn tôi lại thấy lòng bâng khuâng khó tả:

“Hà Nội mùa thu
Cây cơm nguội vàng, cây bàng lá đỏ
Nằm kề bên nhau, phố xưa nhà cổ, mái ngói thơm nâu
Hà Nội mùa thu, mùa thu Hà Nội
Mùa hoa sữa về thơm từng ngọn gió
Mùa cốm xanh về thơm bàn tay nhỏ…”

Hoa sữa nở hoa trên đất Việt từ bao giờ?

Ngước nhìn những tán cây to, xum xuê cành lá, trắng xoá bông hoa tôi tự hỏi cây hoa sữa đã được người ta trông xuống mảnh đất này từ bao giờ. Câu hỏi ấy được nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến lý giải như sau: “Người Pháp trồng cây hoa sữa đầu tiên ở phố Quán Thánh. Người ta thấy cây hoa sữa này thân cao, lá tạo ra bóng mát để che cho người đi đường vào mùa hè gay gắt ở miền Bắc nên những năm tiếp theo, hoa sữa được trồng ở các phố như Nguyễn Du và một vài con phố khác. Và vì thân cây này có nhiều mấu xù xì nên dân gian thường gọi là cây hoa vú trâu. Đầu thế kỷ 20, hoa sữa được trồng rất thưa, cây nọ cách cây kia khoảng 10–15m. Vì thế vào cuối tháng 9, đầu tháng 10, hương hoa nở chỉ thoang thoảng, không gay gắt.”

Từ dạo đó cây hoa sữa cũng lan rễ khắp các phố phường Hà Nội, với con phố Nguyễn Du trở thành “phố hoa sữa” của Hà thành mà nhiều người bảo chỉ có Nguyễn Du mới cho ta thấy hoa sữa đẹp như thế nào. Những năm gần đây, hoa sữa được trồng ở khắp Hà Nội, Nguyễn Du không còn là con phố duy nhất có nhiều loại hoa này nữa. Đi trên phố Thụy Khuê, Quán Thánh, Cửa Bắc hay Đào Tấn cũng dễ dàng bắt gặp mùi hương quen thuộc mỗi độ thu về. Đặc biệt nhiều bạn trẻ rất thích cảm giác dạo quanh Hồ Gươm buổi sớm, cảm nhận một chút heo may tan trong mùi hoa sữa, nhìn những rổ hoa đậm sắc thu tạo nên những khoảnh khắc thật khó phai mờ.

Những hàng cây hoa sữa ở Thành phố Thái Bình. Nguồn ảnh: Sài Gòn Tiếp thị.

Rời Hà Nội, hoa sữa bắt đầu chuyến hành trình xuyên Việt, dù mùi hương “nhạt dần” nhưng vẫn mang đậm mang nét đặc trưng của mùa thu và làm cho những người trót yêu Hà Nội càng nhớ, càng thương. Độ đầu tháng 10, đoạn đường Nguyễn Lương Bằng giao với Trần Văn Trà ở quận 7 (Tp. HCM) đều cảm nhận mùi hương hoa sữa ngọt ngào phả vào trong gió. Hàng hoa sữa khoảng 20 cây, được trồng từ năm 1997. Hoa sữa ở Sài Gòn không phổ biến nhưng nó cũng biết cách làm cho người ta cảm nhận được hương thơm khi rải rác ở khắp thành phố. Như bên đường Hoàng Sa, Trường Sa có vài cây, rồi ở khu công nghiệp Vĩnh Lộc cũng có một cây, trước những khu chung cư, căn hộ cũng thoảng dịu mùi hoa sữa.

Không chỉ mỗi miền lạnh hay những khu đô thị lớn, về miền Tây vào mùa thu tôi cũng bắt gặp mùi hoa sữa, An Giang mùa này chắc hoa cũng đã trổ đều trên những đoạn cành. Có người bạn từng bảo với tôi đi từ ngã ba lộ tẻ ở huyện Châu Thành về đến Ngã tư Đèn 4 Ngọn ở Tp. Long Xuyên (tỉnh An Giang), phải qua 6 “trạm hoa sữa.” Mà đậm đặc nhất, chắc là khu vực gần cầu Hoàng Diệu và đường Nguyễn Trãi. Dù hoa sữa nhìn thì vẫn vậy nhưng tôi vẫn cảm nhận được ở xứ này, hoa sữa chẳng có được dáng vẻ yêu kiều như người ta vẫn miêu tả hoa sữa Hà Nội. Đúng là khi đã trở thành biểu tượng của một vùng đất thì khi rời khỏi vùng đất đó nó trở nên mờ nhạt hơn nhiều.

Luận công, luận tội loài hoa của mùa thu

Hoa sữa cứ an phận làm đúng sứ mệnh với mùa thu, vậy mà cuộc đời của nó cũng được người ta mang ra phán xét nhiều.

Đã có không biết bao nhiêu vụ kiện hoa sữa diễn ra, vì người dân không thể chịu được mùi hoa sữa quá dày đặc. Cứ mỗi mùa hoa sữa về, có ai đó vẫn còn nhớ nhiều chuyện người dân Tam Kỳ đi kiện cây hoa sữa vì khiến cho họ bị dị ứng, hen suyễn, nhức đầu. Và khi đã hết mùa hoa thì trái hoa sữa chín, nở bung những lông tơ bám đầy đường và đồ vật. Hay người dân ở thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh cũng từng kiến nghị, đòi “kiện” hoa sữa vì quy hoạch hoa sữa không hợp lý gây khó chịu và ảnh hưởng đến đời sống.

Từ làn sóng gây tranh cãi về hoa sữa, nhiều tuyến đường trên khắp cả nước cũng đã tiến hành chặt bỏ cây hoa sữa và thay thế bằng nhiều loại cây xanh mới. Đọc vài trang tin luận công-luận tội hoa sữa vì cái mùi không phải ai cũng thấy dễ chịu, tôi mới biết hoa sữa đâu chỉ được nhắc nhiều trên đất của mình, mà còn ở nhiều quốc gia khác nữa.

Tất nhiên với thuộc tính giống cây nhiệt đới, hoa sữa xuất hiện nhiều ở các nước thuộc Đông và Nam Á. Tờ Bangkok Post tại Thái Lan từng đưa một bài viết khuyên rằng nên trồng hoa sữa để khử mùi nếu khu vực xung quanh quá khó chịu. Ở Ấn Độ, nếu như một bộ phận người dân đón nhận hoa sữa bằng nhiều niềm yêu thích, người ta mô tả mùi hương hoa sữa “khiến con người dù bận rộn cũng phải dừng lại để thưởng thức” thì một số đông khác lại cho rằng hoa sữa khiến họ gặp nhiều rắc rối.

Những tuyến đường ngập màu hoa sữa. Nguồn ảnh: ivivu.

Cơ quan chức năng ở Noida (Ấn Độ) cho biết: “Nếu bệnh nhân hen suyễn đứng dưới gốc cây hoa sữa quá lâu, họ có thể gặp một số vấn đề về hô hấp.” Vì thế, họ đã tiến hành thay thế cây hoa sữa bằng cây bằng lăng. Hay tại Đài Loan, hơn 2/3 số lượng hoa sữa tại trường trung học Chihcheng cũng bị chặt hạ vì mùi hương hoa sữa gây ảnh hưởng không tốt đến học sinh của họ.

Đúng là điều gì dù đẹp đến đâu thì cũng sẽ có người thích kẻ chê.

Tìm cách giữ mùi hương thủ đô

Nhưng mà sau tất cả, dù người ta có ghét, có thương, có người giận hờn muốn chặt bỏ hàng hoa sữa thì tôi vẫn biết sâu thẳm trong trái tim những người con yêu thủ đô vẫn quý loài hoa này lắm, quý vì những kỉ niệm với cái tình đậm đà và trân quý. Trong vô thức, ai đó đã, đang và sẽ luôn chờ loài hoa ấy bung nở hương thơm đầu tiên, báo hiệu cho một mùa thu xao xuyến sắp bắt đầu.

Để giữ gìn hình ảnh của loài hoa ấy và cũng khiến cho mọi người cảm thấy dễ chịu hơn, hoa sữa cần được quy hoạch lại mật độ cây, cụ thể chỉ nên trồng cách nhau tối thiểu 50m nhưng thực tế, nhiều địa phương lại trồng quá dày, chỉ 2–3m đã có một cây. Việc chặt hạ hay di chuyển bớt các cây hoa sữa ở nhiều tuyến phố sẽ giúp đảm bảo giữ gìn một nét đẹp của mùa thu mà vẫn đảm bảo được sức khoẻ của người dân và bảo vệ môi trường.

]]>
info@saigoneer.com (Thảo Nguyên. Ảnh bìa: Dương Trương.) Đặc biệt Natural Selection Đời Sống Wed, 14 Oct 2026 12:00:00 +0700
5 hiệu sách độc lập cho người Sài Gòn trót 'nghiện' mùi của giấy https://saigoneer.com/vn/literature/18234-5-hiệu-sách-độc-lập-cho-người-sài-gòn-trót-nghiện-mùi-của-giấy https://saigoneer.com/vn/literature/18234-5-hiệu-sách-độc-lập-cho-người-sài-gòn-trót-nghiện-mùi-của-giấy

Với thế hệ người Sài Gòn trưởng thành vào thập niên 2000–2010 như tôi, nhà sách có lẽ là một người bạn đồng hành thân thuộc suốt năm tháng tuổi thơ. Cũng không hẳn vì chúng tôi đam mê đọc đến thế, mà vì nhà sách là một trong số ít địa điểm ngày đó có máy lạnh phà phà miễn phí.

Thuở nhỏ, trong tâm trí tôi, quán cà phê có vẻ rất “người lớn,” giống chỗ người ta bàn chuyện hợp đồng và nhà đất hơn, chưa kể con nít cũng không có tiền rủng rỉnh vào quán. Tiệm tạp hóa có thể giúp giải tỏa cơn khát hay cơn thèm bánh snack, nhưng cũng không có chỗ ngồi, cho nên trước khi có cửa hàng tiện lợi, chúng tôi hay lê la trong thế giới sáng choang, sạch sẽ, thơm mùi giấy mực của nhà sách: như FAHASA, Nguyễn Văn Cừ, Minh Khai, Xuân Thu, Cây Gõ, v.v. Dường như chỉ lăng xăng ở gần sách thôi cũng đủ ươm mầm trong tôi niềm yêu thích đọc sách. Cảm ơn các anh chị nhân viên FAHASA ngày xưa thấy tôi đọc cọp cả ngày nhưng không xua đuổi.

Năm 2026 là một năm buồn cho nhà sách, vì phải tái cấu trúc và đóng cửa liên miên: tháng 4/2026, chuỗi Nhà sách Cá Chép chính thức tạm biệt độc giả sau 13 năm chinh chiến, rồi PNC cũng khép lại hành trình của Nhà sách Phú Thọ 44 năm tuổi nghề. Lý do đưa ra thường xoay quanh hành vi tiêu dùng thay đổi, kinh tế khó khăn, và chi phí vận hành leo thang.

Dẫu sao, nếu chỉ nhìn cục diện ảm đạm ấy để nhận định rằng người Sài Gòn không còn thích đọc sách nữa cũng không đúng, vì trong thời điểm này, một thế hệ người đọc mới đã và đang bắt đầu tìm đến trải nghiệm đọc, mua, và trải nghiệm sách quy mô nhỏ hơn, thân tình hơn, và đôi khi là vừa túi tiền hơn, tại những hiệu sách độc lập và hiệu sách cũ. Bài viết này nhằm giới thiệu một số địa chỉ như thế. Tuy mỗi tiệm sách dưới đây có tệp sách, khách hàng không hoàn toàn giống nhau, chúng đều có vài điểm chung: không quảng bá rầm rộ, người đọc chỉ tìm đến qua mạng xã hội và truyền miệng, và hơn hết, tiệm không chỉ chăm lo cho nhu cầu mua sách, mà còn quan tâm đến nhu cầu ngồi đọc và kết nối của người đọc.

1. Pages of Passion

Lầu 6, 35 Nguyễn Văn Tráng, phường Bến Thành, TP. HCM

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Đi thang máy lên lầu 6 của chung cư cà phê quen thuộc trên đường Nguyễn Văn Tráng, ta sẽ bắt gặp ngay cánh cửa nâu của Pages of Passion (tạm dịch: Từng trang say mê). Đây có lẽ là hiệu sách có tốc độ lan tỏa ấn tượng nhất trong 5 địa điểm trong danh sách. Thảo và Huy, hai bạn chủ tiệm, bắt đầu bán sách online hồi 2024, lúc đầu chỉ tìm sự khuây khỏa sau những giờ vật lộn với công việc văn phòng. Nhưng sau một thời gian, họ quyết định nghỉ làm để chăm chút cho tiệm sách toàn thời gian. Lúc Saigoneer ghé thăm lần đầu giữa năm 2025, hiệu sách chỉ đơn thuần trữ sách — cả mới và (hơi) cũ. Tuy nhiên, năm nay, Pages of Passion đã vụt lớn thành một cộng đồng đọc sách nhỏ, vừa có khu vực cà phê cho khách đọc, và một không gian nhỏ để mở workshop và tọa đàm nho nhỏ.

Pages of Passion chuyên về sách tiếng Anh, với nhiều tựa sách phong phú. Ai cần tìm những đầu sách kinh điển như Austen hay Dickens, nơi đây cũng đáp ứng được, nhưng tôi phải tán dương hai bạn chủ đã bỏ công sức tìm tòi, nhập về nhiều tựa sách mới và hiếm, chẳng hạn như việc dành hẳn một kệ bày sách tiếng Anh về Việt Nam: gồm tác giả gốc Việt và người nước ngoài viết chủ đề Việt. Cũng phải khoe luôn là Pages of Passion là người đồng hành của series Loạt Soạt do chính Saigoneer viết nhằm giới thiệu sách mới cho bạn đọc. Xem qua theo link này nhé!

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Liên hệ: Website | Instagram

2. InBook

25A Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Sài Gòn, TP.HCM

Khởi điểm của InBook là ở Hà Nội, nhưng gần đây, hiệu sách đã mở rộng chuỗi sang một góc nhỏ 2 tầng tọa lạc trên một quán cà phê trên đường Nguyễn Bỉnh Khiêm. Chị Lan, người sáng lập InBook, từng du học tại Pháp và cũng tham gia nhiều dự án dịch sách Pháp sang tiếng Việt. Chị chia sẻ rằng quyết định mở ra InBook lúc đầu chỉ xuất phát từ mong muốn cho con gái mình được tiếp xúc với văn học thiếu nhi thế giới nhiều hơn, nhưng dần dà, ý tưởng đơn giản ấy đã đơm hoa kết trái thành hiệu sách khang trang ngày nay.

Kệ sách tại đây tập trung vào tệp sách mới tiếng Pháp và Anh. Trong chuyến “tiền trạm” tới InBook gần đây, tôi bắt gặp nhiều đầu sách văn học kinh điển, bên cạnh tiểu thuyết truyện YA (thanh thiếu niên), tình cảm, và trinh thám. Nếu cần tìm sách hơi hiếm một chút, có lẽ InBook không phải là địa chỉ thích hợp, nhưng tôi cũng khá tâm đắc với góc văn học Việt Nam tiếng Anh trong nhà sách, bên cạnh quầy nước giải khát miễn phí cho khách tới đọc sách. Chưa kể InBook cũng dành hẳn một kệ lớn ngay cổng vào để giới thiệu từng tựa sách nổi bật đi kèm review ngắn có tâm, viết tay.

Liên hệ: Website | Facebook

3. Bá Tân - Sách cũ Thư viện

451/22 Hai Bà Trưng, phường Xuân Hòa, TP.HCM

Ảnh: Cao Nhân.

Ghé thăm Bá Tân, mùi giấy cũ thoang thoảng trong gió, và những chồng sách cao ngút hai bên lối đi tạo nên khung cảnh rất thân thương, khiến tôi tưởng như lạc vào một mảnh ký ức nào đó ngày xưa, được đi các hiệu sách cũ với anh chị, nhưng là một phiên bản ngăn nắp, khang trang hơn. Chi nhánh trong con hẻm Hai Bà Trưng là một trong số những hiệu sách mà anh chủ Lê Bá Tân gầy dựng vài năm gần đây. Theo Tân kể, một ngày nọ, anh được người bạn cũ nhượng lại kho sách cá nhân khá đồ sộ, nên chụp hình sách đăng Facebook. Những tin nhắn bày tỏ ý muốn mua sách xuất hiện từ khắp nơi, nên anh quyết định thuận theo “ý trời” khuyên bảo mình nên vào nghề bán sách.

Ảnh: Cao Nhân.

Bá Tân chủ yếu bán sách cũ tiếng Việt, phân ra thành 2 khu vực chính: một gian bán sách cân ký, còn bên kia trưng bày sách cũ ngoại hình tương đối mới. Thư viện đầu sách ở đây có lẽ là phong phú và bao quát nhất trong danh sách này, bao gồm nhiều tựa sách từ bản in đầu của tiểu thuyết kinh điển cho đến truyện tranh nguyên bộ. Nhìn chung, giá sách khá mềm và các bạn nhân viên cũng rất am hiểu về sách để giúp bạn tìm được đầu sách như ý.

Ảnh: Cao Nhân.

Đọc bài viết của Saigoneer về Tiệm sách Bá Tân ở đây.

Liên hệ: Website | Facebook

4. Hiệu sách Mùi Của Giấy

41 Đường Số 9, KDC Trung Sơn, phường Bình Hưng, TP.HCM

Đây có lẽ là nhà sách có cái tên nên thơ nhất danh sách này: Mùi Của Giấy. Dù không gian trưng bày kệ sách hơi chật một chút, gian nhà cũng được chăm chút kĩ và vệ sinh, quét bụi sạch sẽ, phù hợp để khách đến ngắm nghía, chọn sách. Phần lớn sách tại đây viết bằng tiếng Việt, tuy nhiên tôi cũng “tia” được một chồng sách tiếng Anh vừa mới về. Nếu xương khớp không cho phép mình lăn lê tìm sách, bạn đọc cũng có thể ghé thăm trang web của hiệu sách hoặc nhờ hai bạn nhân viên giúp. “Nhân viên” ở đây ý tôi nói là nhân viên người, còn hai bạn “nhân viên” mèo thì không biết chữ để giúp — nhưng thôi vì quá dễ thương và thân thiện nên tha thứ hết. Ai không thể chờ được về tới nhà để đọc sách mới mua, thì Mùi Của Giấy cũng có thể đáp ứng với không gian đọc và thực đơn nước, đi kèm thẻ khách hàng thân thiết. Tôi cũng tò mò không biết 5 dấu thức uống hay 3 dấu mua sách sẽ đem lại bất ngờ gì.

Liên hệ: Facebook | Website

5. Emtrangtri Bookstore

451/50 Hai Bà Trưng, phường Xuân Hòa, TP.HCM

Tôi tình cờ bắt gặp Emtrangtri trên mạng xã hội và thấy có cảm tình, nên đã quyết định xách xe ghé thử. Khi vừa quẹo cua vào hẻm 451, tôi mới nhận ra đây cũng là chiếc hẻm địa bàn của Bá Tân, và hai tiệm cách nhau chỉ khoảng dăm căn nhà. Thật ghen tị với cư dân sống ở đây lâu đời, mỗi sáng dậy chỉ cần đi vài bước chưa kịp đổ mồ hôi là đã có thể tới ngay cửa những 2 hiệu sách.

Do Emtrangtri còn khá mới, không có nhiều thông tin trên mạng nên cảm giác bước vào tiệm khá bí hiểm. Khu vực trưng bày sách chỉ gói gọn trong phòng khách tại tầng trệt của một căn nhà hẻm. Vừa mở cửa bước vào, tôi đã bắt gặp ngay một bạn nhân viên đang ngồi sofa, vừa nghiền ngẫm sách vừa ăn bánh snack vừa nghe nhạc Laufey du dương. Tôi biết rằng mình đã tìm được một nơi chốn đồng điệu, vì đây cũng chính là điệu bộ của chính mình nếu ai đó tình cờ đi ngang nếu đang chúi mũi vào cuốn nào đó. Kho sách tại đây tập trung vào sách cũ tiếng Anh, Pháp, Việt, nhưng thú vị nhất là cách Emtrangtri chọn tựa sách rất hiếm. Đối với bất kỳ tác giả nổi tiếng nào, bạn sẽ khó lòng tìm được các tác phẩm nổi tiếng nhất của họ. Muốn kiếm Kiêu hãnh và Định kiến của Jane Austen hả? Rất tiếc, chúng tôi chỉ có Trang viên Mansfield.

Theo lời bạn nhân viên thì kho sách được các bạn “thrift [lụm] từng cuốn.” Nhìn chung, sách có giá trung bình, có thể hơi cao một chút so với mặt bằng chung, tuy nhiên đúng như lời bạn nhân viên, gu sách ở đây rất có chọn lọc. Tựa sách nào cũng hay, tôi cũng muốn đọc. Trong phòng khách còn có ghế sa-lông rất thích hợp để ngồi đọc một chút trước khi về, thậm chí không mua cũng ngồi đọc cọp được. Chắc chắn tôi sẽ quay lại, biết đâu với một bịch snack của riêng mình.

Liên hệ: Instagram | Threads

]]>
info@saigoneer.com (Khôi Phạm. Ảnh bìa: Vi Nguyễn.) Đặc biệt Văn Chương Văn Nghệ Mon, 12 Oct 2026 15:00:00 +0700
Hien, từ Hungary đến Việt Nam, và câu chuyện âm nhạc qua 3 ngôn ngữ https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18233-hien,-từ-hungary-đến-việt-nam,-và-câu-chuyện-âm-nhạc-qua-3-ngôn-ngữ https://saigoneer.com/vn/quang-8-octave/18233-hien,-từ-hungary-đến-việt-nam,-và-câu-chuyện-âm-nhạc-qua-3-ngôn-ngữ

Hien, tên thật Nguyễn Thanh Hiền, vừa phát hành album phòng thu đầu tay ”Trăng Qua” sau một thập kỷ viết và gom nhặt.

“Trăng Qua,” album phòng thu đầu tay của Hien, được thực hiện trong khoảng 10 năm. Những ý tưởng đầu tiên xuất hiện từ năm 2015, trong khi những ca khúc mới nhất được cô bắt đầu vào năm 2025. Album không được xây dựng từ một ý tưởng hoàn chỉnh ngay từ đầu. Hien viết từng ca khúc, hoàn thiện chúng qua nhiều giai đoạn, rồi chỉ sau một thời gian mới nhận ra những điểm chung giữa các bài hát.

Khoảng thời gian đó cũng chứng kiến nhiều thay đổi trong cuộc sống và cách làm nhạc của Hien. Sinh ra và lớn lên tại Budapest trong một gia đình Việt Nam, sau này chuyển đến Brooklyn, New York, cô đi qua ba ngôn ngữ và nhiều môi trường văn hóa khác nhau. Tiếng Việt là ngôn ngữ của gia đình và di sản; tiếng Hungary gắn với những năm tháng trưởng thành tại Budapest; còn tiếng Anh trở thành ngôn ngữ của cuộc sống và công việc sáng tạo tại Mỹ.

Bìa album “Trăng Qua.”

Với Hien, việc có nhiều thời gian để hoàn thiện “Trăng Qua” cũng đồng nghĩa với việc những ca khúc cũ có cơ hội được nhìn lại từ một phiên bản khác của chính cô.

Một album được hoàn thiện qua nhiều năm

Hien mô tả quá trình sáng tác của mình khá đơn giản: cô thường bắt đầu từ âm thanh, sau đó đến giai điệu, còn lời bài hát xuất hiện sau cùng. Nhưng trong suốt một thập kỷ, người thực hiện những bước đó đã thay đổi.

“‘Trăng Qua’ đã có nhiều thời gian hơn để chín,” Hien nói. Cô nhắc đến “Bloom,” EP phát hành năm 2021, như một bước chuyển tiếp trước khi đi đến album đầu tay. “Tôi đã trưởng thành — tôi trở thành một người phụ nữ trưởng thành và một nghệ sĩ trưởng thành,” cô chia sẻ. “Tôi mừng vì đã có thể tạm gác lại một số ca khúc này trong thời gian dài, bởi vì khi quay lại với chúng, tôi có thể nghe chúng bằng một góc nhìn mới mẻ hơn. Tôi cũng táo bạo hơn nhiều trong các lựa chọn sáng tạo của mình. Tôi ngừng chạy theo sự hoàn hảo và để cho phần sản xuất trở nên thô mộc, chân thật hơn.”

Hien mô tả quy trình sáng tác của mình: bắt đầu từ âm thanh, rồi đến giai điệu, và lời bài hát đến sau cùng.

Với những ca khúc đã nằm lại nhiều năm, việc hoàn thiện không nhất thiết đồng nghĩa với việc giữ nguyên cách chúng từng được viết. Hien cho rằng việc buông bỏ những phiên bản cũ của mình cũng là một phần tự nhiên của quá trình trưởng thành.

“Việc buông bỏ những phiên bản cũ của bản thân không hề khó, vì tôi đơn giản là đã trưởng thành vượt qua chúng rồi. Đó là một phần của sự trưởng thành, của việc tạo không gian cho con người mà mình đang trở thành.”

Những thay đổi ấy cũng thể hiện rõ trong cách Hien xử lý các chất liệu âm nhạc. “Trăng Qua” đi giữa electronic, ambient và pop, đồng thời sử dụng những ảnh hưởng từ nhiều nguồn khác nhau. Trong album có bolero, chèo, cải lương Việt Nam, dân gian Romani Hungary, Latin bolero, nhạc hợp xướng Bulgaria, R&B và hip-hop.

Hien không cố tái tạo những chất liệu truyền thống theo nguyên bản. Cô chọn những yếu tố mình quan tâm, từ giai điệu, kỹ thuật thanh nhạc, hòa âm, nhịp điệu đến tính chất cảm xúc, rồi đưa chúng vào cách làm nhạc của riêng mình.

‘Trăng Tàn Trên Hè Phố’ là ca khúc đầu tiên Hien phát hành bằng tiếng Việt, được làm lại từ sáng tác của Phạm Thế Mỹ và kết hợp bolero với drum & bass. Ở ‘next to you,’ cô sử dụng một đoạn từ ‘Xa Mối Tình Đầu,’ còn được biết đến với tên ‘Đoạn Tái Bút 2,’ sáng tác bởi Tú Nhi và Bằng Giang. Trong ‘through this phase,’ một đoạn từ ‘Tình Thư Hạ Vị,’ qua phần thể hiện của Minh Thu và Khắc Tư, được đưa vào một sáng tác electronic.

Hien tại buổi chụp hình cho “Trăng Qua”

Học lại Việt Nam từ khoảng cách

Mối quan hệ của Hien với Việt Nam cũng được hình thành theo cách tương tự. Cô lớn lên ở Hungary, trong một gia đình Việt, thay vì trải qua tuổi thơ và quá trình trưởng thành tại Việt Nam. Điều này khiến việc tiếp cận văn hóa và âm nhạc Việt Nam của cô luôn có một khoảng cách nhất định.

MV ’Bloom’ kể về những cô gái lớn lên trong văn hóa mẫu hệ M’Nông. Những câu chuyện về gia đình, cội nguồn, văn hóa và thiên nhiên tiếp tục trở thành những chất liệu quan trọng trong âm nhạc của Hien.

“Tôi sẽ không bao giờ trải nghiệm văn hóa Việt Nam giống hệt như một người sinh ra và lớn lên ở đó, nói tiếng Việt là tiếng mẹ đẻ,” Hien nói. “Nhưng khoảng cách đó cũng cho tôi một góc nhìn khác. Nó cho phép tôi nhận ra, trân trọng và nâng niu những điều mà có lẽ một người lớn lên ở Việt Nam sẽ coi là điều hiển nhiên.”

Cô không xem khoảng cách này là điều cần phải che đi trong âm nhạc. Ngược lại, nó trở thành một phần trong cách cô tìm hiểu về nguồn gốc của mình: “Tôi vẫn còn rất nhiều điều cần học về Việt Nam, và tôi nghĩ quá trình khám phá không ngừng đó cũng là một phần trong âm nhạc của tôi.”

Một phần câu chuyện này đến từ gia đình, đặc biệt là người ông của Hien, Trần Thượng Tư, một nghệ nhân cải lương đến từ Bạc Liêu. Ông từng chơi đàn nguyệt, đàn nhị, guitar và violin, đồng thời làm việc tại Nhà hát Cải lương Trần Hữu Trang ở Sài Gòn và sau đó là Nhà hát Cải lương Trung ương ở Hà Nội.

Khi còn nhỏ, Hien thường dành mùa hè bên ông bà và nhớ hình ảnh ông ngẫu hứng chơi cải lương trên guitar. Nhiều năm sau, cô tìm lại những bản thu cũ của ông và đưa một phần tiếng đàn vào ‘trăng ơi,’ một ca khúc trong “Trăng Qua” Với Hien, đây gần như là một cách tiếp tục làm nhạc cùng người ông của mình, dù hai người thuộc về những thời điểm khác nhau.

MV ‘Jetplanes’ được xây dựng từ những thước phim VHS do gia đình Hien lưu giữ, trải dài qua ba địa điểm và nhiều thế hệ.

Câu chuyện gia đình cũng xuất hiện trực tiếp trong ‘Jetplanes,’ ca khúc thứ 15 của album. Bài hát nói về việc tìm kiếm những mái nhà mới và trải nghiệm của một người sống xa quê hương, gắn với hành trình gia đình Hien rời Việt Nam sang Hungary và hành trình của chính cô từ Budapest đến Brooklyn.

MV của ‘Jetplanes’ được thực hiện hoàn toàn từ những thước phim VHS của gia đình, quay tại Việt Nam và Hungary. Những đoạn phim năm 1992 tại một thị trấn gần Hải Phòng ghi lại gia đình bên nội của Hien; các tư liệu tại Hà Nội ghi lại những ngày Tết, bữa cơm gia đình, karaoke sinh nhật và hình ảnh ông bà ngoại; còn những thước phim tại Budapest ghi lại gia đình nhỏ và những người bạn đã đi cùng cô trong tuổi thơ.

Những tư liệu này không chỉ là phần hình ảnh đi kèm cho một ca khúc. Chúng cho thấy những địa điểm và con người đã hình thành nên câu chuyện của Hien, từ Việt Nam đến Hungary và sau đó là Mỹ.

Ba ngôn ngữ và những nơi chốn khác nhau

Trong “Trăng Qua,” tiếng Việt, tiếng Hungary và tiếng Anh cùng xuất hiện. Với Hien, mỗi ngôn ngữ gắn với một phần khác nhau của cuộc đời, nhưng chúng cùng tồn tại trong một album được tạo ra tại Brooklyn.

Việc hát bằng tiếng Việt cũng là một quá trình Hien phải học lại. Cô từng không tự tin với khả năng hát tiếng Việt của mình, trước khi bắt đầu tìm cách đưa ngôn ngữ này vào âm nhạc. ‘Trăng Tàn Trên Hè Phố’ trở thành bước đầu tiên, sau đó những chất liệu Việt Nam tiếp tục xuất hiện trong các ca khúc khác của album.

Cách Hien nhìn về Việt Nam vì thế không phải là câu chuyện của một người đã biết sẵn tất cả về nơi mình thuộc về. Nó là quá trình tiếp tục tìm hiểu thông qua gia đình, ngôn ngữ, âm nhạc và những ký ức được truyền lại.

“Trăng Qua” được tạo nên từ những ca khúc thuộc nhiều giai đoạn khác nhau trong cuộc đời Hien. Một số bắt đầu khi cô còn ở Budapest, một số được hoàn thiện sau khi cô chuyển đến Mỹ. Giữa chúng là những thay đổi về nơi sống, ngôn ngữ, âm nhạc và chính bản thân người viết.

Sau khi album phát hành, Hien cũng đang lên kế hoạch trở lại Việt Nam và hy vọng có thể ở lại khoảng một tháng vào dịp Tết Nguyên Đán để biểu diễn.

“Trăng Qua” hiện đã có mặt trên Bandcamp và được phát hành trên các nền tảng âm nhạc từ ngày 18.09.2026.

]]>
info@saigoneer.com (Huy Thịnh. Ảnh bìa: Ngọc Tạ.) Đặc biệt Quãng 8 Âm Nhạc & Nghệ Thuật Văn Nghệ Sun, 11 Oct 2026 23:02:10 +0700
Đi tìm kiếm bức tranh sơn mài lớn nhất Việt Nam: 'Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX' https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/18231-hành-trình-tìm-kiếm-bức-tranh-sơn-mài-lớn-nhất-việt-nam-hà-nội-36-phố-phường-thế-kỷ-xix-của-nguyễn-thế-khang https://saigoneer.com/vn/arts-culture/in-plain-sight/18231-hành-trình-tìm-kiếm-bức-tranh-sơn-mài-lớn-nhất-việt-nam-hà-nội-36-phố-phường-thế-kỷ-xix-của-nguyễn-thế-khang

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1996. Trước chuyến đi Việt Nam kéo dài một tháng cùng 30 giáo viên Na Uy khác, tôi đã cất công tìm đọc những câu chuyện ít người biết và các địa danh hay bị bỏ qua trên sách báo, mạng Internet. Điều này xuất phát từ trải nghiệm dạy học cho người Việt tị nạn tại Na Uy hồi cuối thập niên 1970 và 1980. Trong quá trình tìm hiểu, một cái tên khiến tôi đặc biệt lưu tâm: họa sĩ Nguyễn Thế Khang. Ông đang ấp ủ một dự án tham vọng nhằm tái hiện 36 phố phường Hà Nội qua một tác phẩm sơn mài đồ sộ. Ngay hôm sau ngày đặt chân đến thủ đô, tôi đã vinh dự được ông đón tiếp tại nhà riêng ở số 47 Triệu Việt Vương.

Năm ấy, vị họa sĩ đã bước sang tuổi 74. Ban đầu, ông đón tiếp tôi bằng thái độ từ tốn lịch thiệp, nhưng sự nhiệt thành đã nhanh chóng xua đi bầu không khí khách sáo. Chỉ vài phút sau, hai chúng tôi đã đứng trước bản phác thảo cho dự án tâm huyết của ông. Bản phác thảo vẽ lại toàn cảnh 36 phố phường Hà Nội vào khoảng năm 1850, thời điểm trước khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ. Tác phẩm này sẽ được thực hiện bằng chất liệu sơn mài.

Dự án mang quy mô vô cùng lớn. Theo dự kiến, bức tranh hoàn thiện sẽ gồm 16 tấm ván lớn ghép lại, đạt kích thước 1,7 m x 10,08 m. Xung quanh tác phẩm là đường viền trang trí nổi chạm khắc các họa tiết minh họa những sự kiện lịch sử trọng đại và nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội. Tác phẩm cũng kết hợp thêm các câu đối viết bằng chữ Hán và chữ Nôm cổ. Tính cả phần khung, tổng diện tích bức tranh khoảng hơn 22 m².

Tác giả bài viết Olaf Husby (trái) và họa sĩ Nguyễn Thế Khang (phải) tại nhà riêng của ông ở Hà Nội vào năm 1996.

Họa sĩ Khang dự định sử dụng kỹ thuật sơn khắc. Phương pháp bắt nguồn từ Trung Hoa, đòi hỏi người thợ phủ nhiều lớp sơn đen lên một bề mặt gỗ đã qua xử lý. Đợi sơn khô, nghệ nhân bắt đầu chạm trổ các họa tiết lên bề mặt rồi mới tô màu, thếp vàng hoặc khảm thêm các vật liệu trang trí như xà cừ. Nhờ vậy, từng hình ảnh sẽ nổi bật sống động trên nền sơn đen tuyền.

Họa sĩ Khang trải rộng bản phác thảo dài chừng một mét rưỡi. Chẳng mấy chốc, mặt bàn ngập tràn các cảnh sinh hoạt đời thường của Hà Nội xưa với cổng thành, nhà cửa, chợ búa, cây cối, kênh rạch, thuyền bè, cầu cống, đền chùa. Khi hoàn thiện, tác phẩm sẽ tái hiện khoảng 400 nóc nhà thấp tầng cùng chừng 2.000 nhân vật thuộc mọi tầng lớp xã hội đang làm việc, trả giá, trò chuyện, dự lễ hay thực hành các tín ngưỡng dân gian. Lượng chi tiết đồ sộ đến mức tác giả buộc phải tinh lược ngay cả trên một bức tranh khổ lớn. Lấy ví dụ, phố Hàng Đào từng có 120 nếp nhà, song bản phục dựng của ông Khang chỉ có thể giữ lại 25 căn.

Phục dựng Hà Nội xưa

Quá trình chuẩn bị diễn ra vô cùng gian nan. Họa sĩ dành nhiều năm ròng rã nghiên cứu giai đoạn quanh năm 1850 và thu thập tư liệu về một thế giới cùng những phong tục gần như đã thất truyền. Các nông cụ, kỹ thuật và phương thức tác nghiệp từng làm nên tên tuổi của phố Hàng Bạc, Hàng Đào hay Hàng Bông nay chỉ còn là dĩ vãng. Ngay cả thông tin chi tiết về kiến trúc, trang phục và đời sống sinh hoạt cũng trở nên chắp vá.

Ông đặt ra yêu cầu phải xuất bản bằng được một ấn phẩm đi kèm tác phẩm, có nhiệm vụ khắc họa rõ nét bối cảnh lịch sử, cấu trúc khu Phố cổ cùng hệ thống điển tích văn hóa dưới một lăng kính bao quát hơn. Vốn kiến thức của ông chủ yếu đến từ những năm tháng học sử tại trường tư thục Thăng Long, một trong những ngôi trường lâu đời nhất Hà Nội. Thầy dạy sử của ông khi ấy chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tương lai. Rời ghế nhà trường, ông Khang vẫn miệt mài nghiên cứu các cổ thư tiếng Việt và tiếng Pháp viết về Hà Nội.

Cận cảnh tranh sơn mài của Nguyễn Thế Khang.

Nguyễn Thế Khang tự nhận phong cách của mình mang hơi hướm tân cổ điển, dù chưa từng qua trường lớp đào tạo mỹ thuật chính quy. Từ nhỏ, ông đã được tiếp xúc với nghề thêu thùa và thếp vàng. Về sau, ông trau dồi kỹ năng trong các hội nhóm nghệ thuật đương thời rồi dần khẳng định tên tuổi qua những bức tranh sơn mài và tranh lụa. Sự nghiệp nghệ thuật của ông chỉ thực sự cất cánh sau khi ông về hưu ngành bưu điện vào năm 1980, ở tuổi 58. Ban đầu, ông tập chép thư pháp Trung Hoa, nhưng tinh thần dân tộc trỗi dậy mạnh mẽ trong và sau cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979 đã thôi thúc ông tìm về những truyền thống lâu đời của Việt Nam, đặc biệt là các chủ đề về lễ hội dân gian.

“Sáu tháng nữa, tức chừng tháng 10 năm 1996, tôi sẽ khởi công,” ông quả quyết nói khi cuộn bản phác thảo lại.

Có điều, dự án vấp phải một rào cản lớn: kinh phí. Quy mô tác phẩm quá đồ sộ buộc ông phải thuê thêm thợ phụ. Để có tiền trả cho họ, ông đành cắn răng rao bán những bức họa trong bộ sưu tập cá nhân, những đứa con tinh thần ông nâng niu và chưa bao giờ có ý định nhượng lại. Vậy mà số tiền thu về vẫn chưa thấm vào đâu.

Tôi mê mẩn vô cùng. Trong mắt tôi, dự án này độc nhất vô nhị, chẳng giống bất kỳ tác phẩm sơn mài Việt Nam nào khác tôi từng xem qua. Nhận thấy sự hào hứng của vị khách phương xa, ông Khang đặt thẳng vấn đề: “Anh giúp tôi tìm nguồn tài trợ được không?”

Ông nhẩm tính cặn kẽ: chính xác là 78.200 đô la Mỹ. Khoản này sẽ bao trọn chi phí hoàn thiện tác phẩm, tiền công cho hai thợ phụ, thiết bị triển lãm tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, kinh phí truyền thông, cùng tiền in 1.000 cuốn ấn phẩm phụ trợ.

Rời ngôi nhà số 47 Triệu Việt Vương, tôi cẩn thận mang theo ghi chép, phác thảo, hình ảnh và tài liệu để làm hành trang đi xin tài trợ. Trong bản dịch tiếng Anh do chính tay mình chấp bút, họa sĩ Khang đặt tên cho dự án là ‘The 36 Old Street Quarter of Hanoi in the XIXth Century’ (Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX).

Hành trình tìm kiếm nguồn tài trợ

Vừa về đến Na Uy vào đầu tháng 4 năm 1996, tôi tức tốc đi tìm nguồn tài trợ dự án. Tôi chẳng quen vị mạnh thường quân nào đam mê hội họa Việt Nam. Bạn bè, người thân hay đồng nghiệp, có gom hết lại cũng không thể nào quyên góp được nửa triệu kroner. Giới nghệ sĩ Na Uy tuy phản hồi rất tích cực nhưng không ai hiến được kế gì thiết thực.

Rồi cơ hội cũng đến. Năm 1995, Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt sang thăm chính thức Na Uy. Tại tiệc chiêu đãi, Thủ tướng Na Uy Gro Harlem Brundtland bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam, đồng thời tuyên bố chính phủ sẽ mở đại sứ quán tại Hà Nội vào năm 1996. Trước đó, hai nước cũng đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1971.

Nguyễn Thế Khang.

Đến tháng 8/1996, Cơ quan Hợp tác Phát triển Na Uy (NORAD) công bố chương trình tài trợ văn hóa dành cho các nước đang phát triển. Cũng trong thời gian này, chính phủ Na Uy ấn định ngày khánh thành đại sứ quán tại Hà Nội đúng vào dịp Thủ tướng Brundtland sang thăm đáp lễ ngày 8/10.

Thời cơ đến quá gấp gáp. Tôi liền gửi toàn bộ hồ sơ về Nguyễn Thế Khang cho Bộ Ngoại giao Na Uy và ông Jens Kjell Otterbech, vị tân đại sứ tại Việt Nam. Do không kịp chuẩn bị hồ sơ xin tài trợ bài bản, tôi đề xuất chính phủ Na Uy rót ngân sách trực tiếp cho dự án này để rút gọn thủ tục. Làm vậy, họ cũng sẽ có một món quà đầy ý nghĩa đánh dấu ngày Na Uy chính thức có mặt tại Thủ đô.

Ngày 12/9, Đại sứ Otterbech đích thân đón tiếp họa sĩ Khang tại Hà Nội. Vài hôm sau tôi nhận được thư thuật lại sự tình. Ông Khang đã trình bày tường tận dự án, mang ra đủ thứ tài liệu cùng bản phác thảo khổ lớn và được dặn cứ yên tâm, không cần lo hạn chót nộp hồ sơ. Phía đại sứ quán sẽ trao đổi trực tiếp với Oslo vì họ không đủ thẩm quyền tự quyết. Cuộc gặp diễn ra hết sức thân tình, ngài đại sứ còn hứa sẽ ghé thăm nhà và xưởng vẽ của ông.

Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cuối cùng, sự tình cũng đã đến tai những người có tiếng nói quyết định.

Song, tham vọng của họa sĩ lúc này lại ngày một lớn. Ông rục rịch lên kế hoạch xây một phòng tranh tư nhân để trưng bày tác phẩm. Thấy giá nhà đất Hà Nội đang tăng phi mã, ông tin rằng đây là lúc phải chớp lấy thời cơ. Theo ông tính toán, nếu cất một tòa nhà năm tầng với đầy đủ tiện nghi sẽ tiêu tốn khoảng 200.000 đô la Mỹ. Cơ ngơi này sẽ cho thuê một phần, còn lại làm chỗ ở, không gian triển lãm, phòng trưng bày nghệ thuật, xưởng vẽ sơn mài và khu vực chế tác thủ công.

Ông xem đây là một nước đi “đón đầu” tuyệt vời. Ông đề xuất đại sứ quán Na Uy sẽ đứng tên tòa nhà, còn ông đảm nhận vai trò giám sát và quản lý. Nếu bán được bức sơn mài đồ sộ kia, ông hứa sẽ hoàn trả toàn bộ vốn liếng cho chính phủ Na Uy, rồi bắt tay làm một phiên bản thứ hai cách tân đôi chút để dành riêng cho một bảo tàng tư nhân.

Đó là lá thư cuối cùng tôi nhận được từ Nguyễn Thế Khang. Phần mình, tôi tự nhủ bản thân đã nỗ lực hết sức, còn chuyện chạy theo cơn sốt đất Hà Nội lúc bấy giờ quả thực nằm ngoài khả năng của mình. Bẵng đi một thời gian, hy vọng xin tài trợ từ chính phủ Na Uy vụt tắt, tôi cũng đành buông xuôi. Câu chuyện cứ thế chìm dần vào quên lãng.

 ‘Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX.’

Số phận tác phẩm về đâu?

Gần 30 năm sau, nhân lúc sửa soạn đồ đạc quay lại Việt Nam, tôi bỗng nhớ đến chuyện cũ: rốt cuộc bản kế hoạch vĩ đại của họa sĩ Nguyễn Thế Khang đã trôi dạt về phương nào?

Tra cứu trên mạng không mang lại nhiều thông tin, ngoại trừ một kết quả vô cùng quý giá: bài phỏng vấn họa sĩ Nguyễn Thế Khang đăng trên báo VnExpress ngày 22/2/2001 với tiêu đề “Số phận long đong của bức tranh lớn nhất về Hà Nội.”

Hóa ra sau 8 năm ròng rã và 300 triệu đồng bỏ ra, họa sĩ cũng hoàn thành tác phẩm. Ông định giá bức tranh 1,2 tỷ đồng, gấp 4 lần chi phí ban đầu, nhưng vì khách mua dự kiến là Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội, nên ông đã quyết định giảm giá xuống còn một nửa.

Các bức đã hoàn thiện của tác phẩm ‘Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX.’

Tác phẩm từng được trưng bày ngay tại trung tâm thủ đô trong đại lễ kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội vào năm 2000. Hết đợt triển lãm, người ta đành mang tranh cất vào kho đợi hội đồng chuyên môn chốt xem thành phố có mua hay không.

Giới chuyên môn lúc bấy giờ tranh cãi nảy lửa. Một bên cho rằng mua tranh là cách đền đáp công lao của nghệ sĩ, bên kia lại sợ châm ngòi cho cơn bão dư luận trong giới mộ điệu. Nhiều người từng đặt dấu hỏi về tay nghề của họa sĩ Khang, thậm chí coi ông là dân ngoại đạo. Hơn nữa, họ còn đau đầu trước một câu hỏi nhạy cảm hơn: tác phẩm này là nghệ thuật thực thụ hay chỉ dừng ở mức là đồ thủ công mỹ nghệ?

Ông Khang vẫn kiên định với mức giá đã chốt và tuyên bố sẵn sàng bán tác phẩm cho bên khác, thậm chí ra nước ngoài, nếu chính quyền Hà Nội từ chối mua. Khó khăn chồng chất khi sức khỏe của ông ngày một suy yếu, cần chi phí điều trị tốn kém hàng tuần. Cơ quan quản lý dùng dằng chưa quyết, bản thân lại mang gánh nặng bệnh tật, vị họa sĩ đành để ngỏ số phận tác phẩm tâm huyết của cả đời mình.

Một bài báo VnExpress khác xuất bản ngày 9/5/2001 đưa tin họa sĩ Nguyễn Thế Khang đã nhắm mắt xuôi tay trong những tháng ngày mỏi mòn chờ đợi. Gia đình mong chính quyền tôn trọng di nguyện của ông và mua lại tác phẩm. Đại diện cơ quan chức năng gửi lời chia buồn sâu sắc và khen ngợi bức tranh đã lột tả xuất sắc không khí lịch sử. Ngặt nỗi vì bức tranh quá lớn nên thành phố cũng không tìm đâu ra không gian đủ rộng để trưng bày cố định.

Lên đường tìm kiếm bức tranh

Quán cà phê ở 47 Triệu Việt Vương, nằm sát vách nhà cũ của họa sĩ Nguyễn Thế Khang.

Thế là mùa hè vừa qua, mang theo tinh thần của họa sĩ Khang, tôi thuê một phòng khách sạn trên phố Chân Cầm trong khu Phố cổ, và bắt đầu lân la gõ cửa các bảo tàng, không gian triển lãm xem bức tranh có đang lưu lạc nơi đâu. Bặt vô âm tín. Tôi quyết định đổi hướng tìm kiếm quyết liệt hơn.

Từ chỗ tôi ở đi bộ nửa tiếng là tới nhà cũ của ông Khang ở số 47 Triệu Việt Vương. Theo địa chỉ, tôi bước vào một khoảng sân yên tĩnh, nằm sát vách một quán cà phê nhỏ xíu. Lúc cô nhân viên trẻ bưng ly cà phê đá ra, tôi vận dụng mớ tiếng Việt bập bõm hỏi thăm về chủ cũ của căn nhà. Tôi viết tên ông cùng dòng chữ “tranh Phố cổ Hà Nội 36 phố phường” rồi vẽ nguệch ngoạc mấy nét phác họa. Cô gái mở Google Dịch lên và đưa tôi xem đúng một chữ: “Đợi.”

Lúc cô quay lại, tôi lờ mờ đoán được cô vừa chạy đi hỏi thăm hàng xóm và biết ông Khang có người con trai tên Nguyễn Thế Duy. Đáng tiếc là cô không có địa chỉ hay số điện thoại. Dù đã tiến thêm một bước, nhưng chặng đường phía trước xem ra vẫn còn mù mịt.

Thật may, một giám đốc sáng tạo tại Hà Nội, Trịnh Lan Hương, cũng hứng thú với câu chuyện này. Cô nhanh chóng kết nối được với anh Nguyễn Thế Duy và xác nhận anh đúng là con ruột của họa sĩ. Chúng tôi đánh xe rời phố cổ đến thăm anh và được đón tiếp nồng hậu. Có vẻ như cả gia đình đều có máu làm nghệ thuật: anh Nguyễn Thế Duy nay đã là một nhạc sĩ thành danh. Căn hộ của anh trông chẳng khác nào phòng tranh thu nhỏ, treo đầy các sáng tác cá nhân. Lẫn trong số đó, tôi nhận ra những bức sơn mài mang chữ ký Nguyễn Thế Khang.

Chữ ký của họa sĩ Nguyễn Thế Khang trên nhiều tác phẩm trưng bày tại nhà con trai ông.

Khi được hỏi thăm về các bức tranh sơn mài, anh Duy úp mở đôi chút rồi mở trang web của Old Streets Gallery. Toàn bộ tác phẩm hiện ra ngay trước mắt chúng tôi. Bức tranh không chỉ có 16 tấm như dự kiến ban đầu mà lên tới 21 tấm. Hai tấm ngoài cùng khắc chữ, 19 tấm còn lại phác họa toàn cảnh Hà Nội xưa kéo dài từ Hàng Than đến Hàng Khay và từ bờ sông Hồng đến tận Hàng Gai cùng Hàng Quạt.

Nhưng bản gốc hiện đang ở đâu? Hóa ra, tác phẩm đang được trưng bày tại cửa hàng Hồng Ngọc Fine Art ở số 110B Ngọc Hà thuộc quận Ba Đình.

Hồng Ngọc Fine Art, số 110B Ngọc Hà — nơi lưu giữ tác phẩm đồ sộ của họa sĩ Nguyễn Thế Khang.

Hành trình tái ngộ

Tôi đặt chân đến Hồng Ngọc Fine Art vào một ngày tháng Tư ấm áp. Cửa hàng bày biện la liệt tranh thêu, y phục, tượng điêu khắc cho đến vàng bạc, đá quý. Đích đến của chúng tôi nằm ngay gần cửa ra vào, nép mình khiêm tốn bên những món đồ lưu niệm bình dân. Dọc theo bức tường phía sau quầy thu ngân là những tấm ván sơn mài nằm cạnh tấm biển đề “tác phẩm sơn mài lớn nhất Việt Nam” mang tên ‘36 phố phường Thăng Long Hà Nội thế kỷ XIX.’

Đáng tiếc là không gian trưng bày lại không xứng tầm với tác phẩm. Dài hơn 15 mét, bức tranh dường như lọt thỏm giữa những bức ảnh khổ lớn và vô số hàng hóa phục vụ khách du lịch. Lớp sơn mài bóng bẩy phản chiếu đồ đạc trong cửa tiệm. Một quầy thu ngân dài chắn ngang khiến người xem không thể chiêm ngưỡng toàn cảnh hoặc tiến lại gần để ngắm nhìn kỹ các chi tiết. Rải rác quanh đó là vài mẩu giấy giới thiệu, kèm theo bản dịch các tấm hoành phi chữ Nôm.

Không gian trưng bày hiện tại của ‘Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX.’

Dù đã tìm lại được tác phẩm, nhưng liệu nhiệm vụ của chúng tôi đã thực sự khép lại? Cả nhóm muốn liên lạc với người chủ sở hữu. Theo lời anh Nguyễn Thế Duy, người này vốn yêu nghệ thuật và đã ngưỡng mộ tài năng của họa sĩ Khang từ lâu. Sau khi ông qua đời, vị khách này đã thuyết phục vợ ông nhượng lại bức tranh để mang về trưng bày tại cửa hàng. Về sau, vì nhiều biến cố cá nhân, ông phải sang nhượng cửa hàng và cũng rời khỏi Hà Nội. Mọi nỗ lực liên lạc với người chủ hiện tại đều đi vào ngõ cụt. Và bao nhiêu thắc mắc của chúng tôi đến nay vẫn đành bỏ ngỏ.

Dù vậy, chúng tôi không coi sự dang dở này là dấu chấm hết cho hành trình. Toàn bộ trải nghiệm vừa qua âu cũng là một cơ duyên, thắt chặt thêm tình cảm của tôi với mảnh đất, con người Hà Nội và cả Việt Nam.

Biết đâu đấy, câu chuyện chưa hẳn đã dừng lại ở đây, bởi giờ đây, khi nó được lan tỏa, nhiều cánh cửa mới có thể sẽ mở ra, không chỉ cho chúng tôi mà còn cho đông đảo công chúng. Khát khao lớn nhất của cả nhóm là tìm được một không gian triển lãm xứng tầm với hoài bão của họa sĩ Nguyễn Thế Khang. Tại đó, người xem sẽ có cơ hội gặp gỡ trực tiếp nguyên bản, khám phá tác phẩm thông qua công nghệ kỹ thuật số và tìm hiểu thêm về Hà Nội xưa qua một cuốn sách nghệ thuật được biên soạn chỉn chu. Còn hiện tại, bức tranh vẫn nằm đó, nhẫn nại chờ đợi những tâm hồn yêu nghệ thuật chịu khó gác lại vẻ ngoài khiêm tốn của một tiệm đồ lưu niệm để chiêm ngưỡng kiệt tác chắt chiu từ tầm nhìn và tâm huyết của cả một đời người.

]]>
info@saigoneer.com (Olaf Husby và Trịnh Lan Hương. Ảnh: Olaf Husby. Ảnh bìa: Mai Khanh.) Đặc biệt In Plain Sight Văn Nghệ Sun, 11 Oct 2026 10:00:00 +0700
Chuyện chưa kể về chuyến du hành của 'vua hề' Sác-lô tại Việt Nam https://saigoneer.com/vn/heritage/18225-chuyện-chưa-kể-về-chuyến-du-hành-của-vua-hề-sác-lô-tại-việt-nam https://saigoneer.com/vn/heritage/18225-chuyện-chưa-kể-về-chuyến-du-hành-của-vua-hề-sác-lô-tại-việt-nam

Cách đây gần 90 năm, bộ phim Modern Times (tạm dịch: Kỷ nguyên mới) đã ra mắt khán giả. Ngay từ tựa đề, tác phẩm đã mang theo một lời cảnh báo: bộ phim lên án gay gắt quá trình công nghiệp hóa cùng những nỗi khốn khổ mà nó trút xuống người lao động. Song, một bộ phim lên án những hiểm họa của thời hiện đại lại được kể bằng ngôn ngữ điện ảnh câm lặng, bất chấp việc kỷ nguyên phim có tiếng đã bùng nổ từ gần 10 năm trước. Charlie Chaplin, người một tay đảm nhiệm từ kịch bản, đạo diễn, sản xuất, soạn nhạc cho đến đóng vai chính, đã chủ đích đi ngược lại xu hướng chung của Hollywood lúc bấy giờ.

Nhân vật Gã lang thang (Sác-lô) mắc kẹt giữa các bánh răng nhà máy, một trong những khung hình mang tính biểu tượng của Modern Times.

Năm 1936, ở thời điểm ngành điện ảnh thế giới còn rất đỗi non trẻ, Chaplin đã có đến hơn 20 năm tuổi nghề. Dù là một trong những tên tuổi thành công nhất của Hollywood, trên màn bạc, ông lại chuyên sắm vai những kẻ chật vật, luôn bị bỏ lại phía sau sự phát triển của thời đại. Sự thay đổi chóng mặt của thế giới dường như đã thôi thúc ông tạm gác công việc để thực hiện một chuyến đi xa. Con trai ông, Charles Chaplin Jr., đã viết về chuyến đi này như sau: “Tâm trí trăn trở của ông bắt đầu tìm kiếm một điều gì đó mới mẻ và thú vị để hướng tới. Và rồi, ông quyết định chọn phương Đông làm điểm đến, nơi đã để lại cho ông ấn tượng sâu sắc từ chuyến đi vòng quanh thế giới trước đó.”

Diễn viên Paulette Goddard chụp ảnh quảng bá bộ phim Modern Times, tác phẩm bà đóng cùng Chaplin trước khi cùng ông đến Hà Nội

Vào tháng 2/1936, Modern Times được công chiếu ở New York và Los Angeles. Ngay khi chiến dịch quảng bá khép lại, Chaplin đã cùng bạn diễn lúc bấy giờ và hôn thê tương lai Paulette Goddard lên đường sang châu Á. Rời bến cảng Sài Gòn trên con tàu Aramis vào giữa tháng 4, họ ngược dòng về Phnom Penh và Angkor, qua Đà Lạt, Đà Nẵng, Huế, trước khi đặt chân đến thủ đô Hà Nội vào chiều tối ngày 29/4, lưu trú tại khách sạn Metropole trên đường Ngô Quyền thuộc khu nhượng địa Pháp.

Hà Nội lúc bấy giờ cũng đang rục rịch bước vào “kỷ nguyên mới” của riêng mình, dù không hề giống với những gì Chaplin mường tượng. Những công trình mới, xe điện, rạp chiếu bóng, tòa soạn, trường học và nhà ga đang dần định hình lại đời sống thành thị. Dưới sự quản lý của chính quyền thuộc địa, Bắc Kỳ vẫn chưa bị ảnh hưởng quá nhiều bởi quá trình công nghiệp hóa; nơi đây chỉ mới bắt đầu định hình một bản sắc văn hóa đô thị cùng một tầng lớp xã hội mới.

Khách sạn Métropole, nơi Chaplin và Paulette Goddard lưu trú trong chuyến thăm Hà Nội vào tháng 4/1936. 

Nhiều góc phố Chaplin từng đi qua nay vẫn giữ nguyên dáng vẻ năm nào. Nhà thờ Lớn với hai tháp chuông mô phỏng Kiến trúc Nhà thờ Đức Bà Paris là điểm nhấn của khu phố cổ. Nhà hát Lớn tọa lạc ngay gần khách sạn Metropole. Bắc qua sông Hồng, cầu Long Biên vẫn phục vụ xe cộ cùng những chuyến tàu qua lại, và cầu Thê Húc vẫn là biểu tượng gắn liền với hồ Hoàn Kiếm.

Điện ảnh theo chân người Pháp du nhập vào Hà Nội từ thời Thế chiến thứ nhất. Ban đầu, loại hình giải trí này chủ yếu phục vụ giới thị dân, và khách sạn Metropole là một trong những địa điểm tiên phong đưa bộ môn nghệ thuật này đến với công chúng. Theo Tuổi Trẻ, các buổi chiếu phim đầu tiên diễn ra tại đây từ tháng 6 năm 1916, trong đó có cả phim của Chaplin. Rồi 4 năm sau, rạp Pathé khánh thành cạnh đền Bà Kiệu, là rạp chiếu bóng chuyên biệt đầu tiên của Hà Nội. Trong cuốn Đi ngang Hà Nội, nhà báo Nguyễn Ngọc Tiến cho biết các rạp thuở ấy chỉ chiếu phim câm; mãi đến giữa thập niên 1930 mới chiếu phim có tiếng, mở màn bằng tác phẩm Phía Tây không có gì lạ.

Rạp Pathé cũ được đổi tên thành Le Variétés vào năm 1933, nằm ngay góc đại lộ Francis Garnier. Cũng trên con phố này, Chaplin đã ghé lại thưởng thức đồ uống tại quán Taverne Royale.

Đến năm 1936, danh xưng “Sác-lô” (phiên âm từ Charlot, tên gọi tiếng Pháp của Gã lang thang) đã trở nên vô cùng quen thuộc với công chúng Đông Dương. Báo Hà Thành Ngọ Báo từng đưa tin về việc ông cùng đoàn tùy tùng ghé quán Taverne Royale trên đại lộ Francis Garnier (nay là đường Đinh Tiên Hoàng) và nán lại ký tặng người hâm mộ. Một lần khác, ông cùng Paulette Goddard ghé hiệu nhuộm Tây Hồ ở số 46 phố Hàng Trống để chọn mua lụa, quần áo và đồ lưu niệm. 

Sau cuộc gặp gỡ với Mahatma Gandhi, nhà lãnh đạo phong trào độc lập Ấn Độ, Chaplin càng nhận thức rõ những mặt tối của bộ máy tư bản. Ông đem nỗi niềm đó cùng những bất an của chính mình trước thế giới đang thay đổi quá nhanh và biến chúng thành chủ đề xuyên suốt của Modern Times. Bộ phim trực diện phê phán quá trình công nghiệp hóa, nạn thất nghiệp và hệ thống sẵn sàng vắt kiệt người lao động vì lợi nhuận.

Trong Modern Times, khán giả gặp lại hình tượng Gã lang thang nghèo khó đã gắn liền với tên tuổi của Chaplin, nhưng cuộc mưu sinh lần này lại bộn bề hơn hẳn. Những thay đổi của thế giới bên ngoài đã tác động trực tiếp lên nhân vật, khiến Gã lang thang bộc lộ nỗi hoang mang, vô định chưa từng thấy.

Trong một bài phỏng vấn với Chaplin cho tờ báo Phong Hóa, nhà văn Thạch Lam cho biết vị đạo diễn đã say sưa miêu tả nỗi khốn khổ của nhân vật chính trong Modern Times, khắc họa cảnh một người công nhân dây chuyền bị vắt kiệt sức đến mức tay chân co giật và rơi vào hoảng loạn. Nghe vậy, Thạch Lam đã đáp: “Mà ở nước tôi không có máy móc, không có nhà máy gì hết. Ông không cần phải trốn máy móc nữa.” Qua mẩu đối thoại, người đọc có thể phần nào hình dung khoảng cách vời vợi giữa thế giới công nghiệp điên đảo trong tâm trí Chaplin và hiện thực tĩnh lặng mà ông đang tận mắt chứng kiến tại Hà Nội.

Đám rước thần đi qua khu phố cổ Hà Nội.

Tuy nhiên, những nét tương đồng giữa bộ phim và thành phố có lẽ không chỉ dừng lại ở bề nổi như Thạch Lam nhận định. Cùng năm đó, cây bút trào phúng Vũ Trọng Phụng tung ra tiểu thuyết Số đỏ, phơi bày bức tranh xã hội tương phản gay gắt của Hà Nội: từ chốn vỉa hè nhớp nháp nơi phố chợ, cho đến những dinh thự xa hoa của tầng lớp tư sản học đòi Âu hóa. Nhân vật chính Xuân Tóc Đỏ một bước lên tiên không nhờ chút thực tài nào, mà hoàn toàn nhờ sự tung hô mù quáng của xã hội rởm đời khoác lên hắn cái mác vĩ nhân.

Ở Modern Times, sự tàn khốc của thời đại nuốt chửng vạn vật, biến con người thành những bánh răng xộc xệch trong một cỗ máy khổng lồ mà họ không thuộc về. Cả hai tác phẩm đều mượn tiếng cười trào phúng để châm biếm những xã hội đang ra sức ngụy tạo vỏ bọc văn minh; đồng thời phơi bày một hiện thực tàn nhẫn: những thân phận mắc kẹt trong ảo ảnh đó đều có thể bị gạt bỏ một cách dễ dàng.

Tờ báo L'Impartial ở Sài Gòn đã miêu tả Chaplin bằng những từ ngữ như “trầm lặng, nghiêm túc, nói năng từ tốn và phảng phất nỗi buồn” — dáng vẻ điềm tĩnh có vẻ trái ngược với hình tượng nghệ sĩ quen diễn trò cường điệu trên màn bạc, song lại phản ánh rất đúng con người ông ngoài đời. 

Những nhân vật do Chaplin thủ vai thường phải gánh chịu nhiều oan trái, phần nào lấy cảm hứng từ chính tuổi thơ cơ cực của ông. Tương tự, thân phận bé mọn của Gã lang thang luôn phảng phất bóng hình người nghệ sĩ, dẫu Modern Times đã soi chiếu số phận ấy dưới một lăng kính xã hội rộng lớn hơn.

Chaplin (đứng giữa, mặc áo trắng) chụp ảnh cùng một nhóm người tại Hà Nội. Bức ảnh mang dòng chữ đề tặng từ báo Đông Pháp, ghi ngày 29/4/1936, hôm ông đặt chân đến thành phố này.

Chuyến thăm Việt Nam để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng đạo diễn. Ông từng nhận xét: “Trong mắt tôi, xứ sở này khác xa những nơi tôi từng đi qua.” Tại Hà Nội, Chaplin tìm thấy một không gian đô thị mà thế giới công nghiệp ồn ã vẫn chưa kịp chạm đến theo cách thức tương tự. Ngày 5/5, hai người tham quan Vịnh Hạ Long, khép lại chuyến hành trình quanh miền Bắc Việt Nam. Sau đó, họ lên tàu từ cảng Hải Phòng thẳng tiến tới Hồng Kông, rồi tiếp tục sang Quảng Châu, Trung Quốc. Nhiều nguồn tin cho rằng cặp đôi đã bí mật kết hôn vào khoảng thời gian này, dù cả hai chưa từng lên tiếng xác nhận hay để lộ bất cứ giấy tờ giá thú nào.

Chaplin cùng diễn viên nhí Jackie Coogan trong The Kid (1921), một trong những vai diễn nổi bật đầu sự nghiệp của ông.

Hà Nội cho Chaplin một khoảng lặng hiếm hoi, cho phép ông tạm thoát khỏi bầu không khí ngột ngạt mà bản thân liên tục đưa lên màn ảnh suốt nhiều năm. Nếu Modern Times là cuộc tháo chạy tuyệt vọng của một người đàn ông khỏi nhà máy, thì tại Hà Nội, Chaplin lại có dịp dạo bước thong dong giữa một thành phố chưa bị guồng quay tư bản nuốt chửng. 

Mỉa mai hơn, toàn bộ tài sản và danh tiếng của Chaplin đều đến từ hệ thống được xây dựng dựa trên quá trình công nghiệp hóa và sản xuất hàng loạt, cũng chính là bộ máy mà ông từng chế giễu và phê phán trên màn ảnh. Ông trở nên giàu có nhờ việc hóa thân thành những nhân vật bị xã hội và thời đại bỏ lại phía sau; và chính khối tài sản vĩ đại ấy đã ban cho ông đặc quyền tận hưởng sự bình yên, tại một thành phố chỉ mới bắt đầu trải qua những thay đổi mà ông đã từng chứng kiến và châm biếm. Hệ thống bị ông công kích kịch liệt nhất, rốt cuộc, lại là chiếc vé thông hành duy nhất cho phép ông tháo chạy khỏi chính cuộc đời mình.

Theo lời Thạch Lam, khi được hỏi về Hà Nội, Chaplin đã thốt lên: “Êm đềm, êm đềm lắm!”

]]>
info@saigoneer.com (Liam Smith. Ảnh bìa: Ngọc Tạ.) Đặc biệt Di Sản Tue, 06 Oct 2026 12:00:00 +0700
Gạch hoa gió trong dòng chảy kiến trúc miền Bắc Việt Nam https://saigoneer.com/vn/vietnam-architecture/18224-gạch-hoa-gió-trong-dòng-chảy-kiến-trúc-miền-bắc-việt-nam https://saigoneer.com/vn/vietnam-architecture/18224-gạch-hoa-gió-trong-dòng-chảy-kiến-trúc-miền-bắc-việt-nam

Từ kinh nghiệm ứng phó với thời tiết khắc nghiệt của người Việt xưa đến làn sóng “nhiệt đới hóa” kiến trúc Xô Viết thời kỳ tái thiết, những ô gạch hoa gió mỏng mảnh chính là điểm giao thoa tài tình giữa triết lý sống thuận tự nhiên xưa cũ với dòng chảy kiến trúc hiện đại — nơi gió, ánh sáng và thời gian cùng hòa vào làm một.

Ngôn ngữ của gió và ký ức kiến trúc Việt

Nếu ai đó dừng chân thật lâu trước những mảng tường của những ngôi nhà, ngắm nhìn những ô gạch đục rỗng với muôn hình vạn trạng hoa văn chạy dọc theo hành lang các khu tập thể hay trên những bức tường nhà dân… nhiều người sẽ nhận ra một ngôn ngữ chung của các ngôi nhà Việt Nam: ngôn ngữ của gió, của ánh sáng và của sự thích nghi khí hậu.

Những ô gạch ấy, người đời quen gọi bằng cái tên rất đỗi thân thương và đầy thi vị là gạch hoa gió, hay gạch bông gió. Dù có tên gọi là gì, nó vẫn chính là loại gạch kết nối triết lý sống thuận tự nhiên của người Việt xưa với hơi thở nhiệt đới hóa của kiến trúc hiện đại.

Bóng đổ của ánh sáng xuyên qua bức tường gạch hoa gió. Ảnh/Thiết kế: Chí Trung.

Ngược dòng thời gian về vùng Đồng bằng Bắc Bộ thời kỳ tiền đại công nghiệp, kinh nghiệm thích nghi với khí hậu khắc nghiệt, nhất là từ cái nắng hè oi nồng của gió phơn Lào, cái lạnh mùa đông gió bấc cho đến những ngày nồm ẩm kéo dài, đã sớm trở thành một phần bản sắc trong đời sống cư dân. Thay vì đối đầu với thiên nhiên, người Việt xưa từ thế kỷ XI–XIX đã vận dụng tri thức dân gian và thuật phong thủy (với cốt lõi là điều tiết dòng chảy của gió và nước) để xây dựng không gian sống hòa hợp. Như PGS. TS Chu Quang Trứ trong cuốn Kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam đã tổng kết, các công trình nhà ở truyền thống luôn ưu tiên mở hướng Nam hoặc Đông Nam để đón gió mát, đồng thời chắn kín hướng Bắc nhằm hạn chế không khí lạnh.

Khép lại thời kỳ phong kiến với những nếp nhà tre gỗ dân dã cùng hệ thống đình, đền, chùa mang đậm đời sống tâm linh, cảnh quan kiến trúc miền Bắc bước vào giai đoạn biến đổi sâu sắc trước những biến động lịch sử lớn của thế kỷ XIX và XX.

Một nhà dân có tuổi đời hơn 100 năm, từng trùng tu vào năm 1987. Ảnh: Chí Trung.

Từ kinh nghiệm dân gian đến sự giao thoa Đông Tây

Khi người Pháp chính thức nổ súng xâm lược, họ mang theo tư duy không gian phương Tây, một triết lý thiết kế xuất phát từ vùng khí hậu ôn đới, coi trọng tính công năng, hình khối hình học chuẩn mực và xu hướng đóng khép không gian để giữ nhiệt. Ở thời kỳ đầu, tư duy này thể hiện rõ qua sự xuất hiện áp đặt của các công trình Tân cổ điển hoành tráng hay những ngôi biệt thự mang phong cách địa phương Pháp. Nhằm khỏa lấp nỗi hoài niệm quê hương của các kiều dân, người Pháp đã bê nguyên xi bản sao kiến trúc từ các vùng núi hay ven biển chính quốc sang Hà Nội.

Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình nhà xứ lạnh mau chóng bộc lộ hạn chế trước thực tế khí hậu nhiệt đới gió mùa. Những mảng tường dày đóng kín khiến không khí bên trong trở nên ngột ngạt, tích nhiệt oi nồng vào mùa hè và đọng ẩm bí bách trong những ngày nồm. Chính sự chênh lệch này đã buộc các kiến trúc sư Pháp phải điều chỉnh, tìm giải pháp thích ứng với điều kiện bản địa.

Cũng trong bối cảnh này, những ô gạch hoa gió (hay gạch bông gió/thông gió) theo chân người Pháp vào Việt Nam, công nghệ đúc gạch xi măng và gạch thông gió nhanh chóng được đưa vào xây dựng tại các biệt thự, công sở và nhà phố. Hệ thống hành lang sâu, vòm cửa thông gió và đặc biệt là gạch hoa gió bắt đầu được đưa vào thiết kế như những mắt xích thoát nhiệt tự nhiên, cho phép dòng không khí liên tục luân chuyển mà vẫn chắn được nắng gắt. Sự va chạm và dung hòa đó đã đặt nền móng cho sự ra đời của Phong cách Đông Dương từ thập niên 1920, nơi kỹ thuật xây dựng phương Tây hòa quyện cùng giải pháp che nắng, đón gió truyền thống của phương Đông.

Ô cửa gạch hoa gió quen thuộc với nhiều người dân Việt Nam. Ảnh: Chí Trung.

Sau mốc lịch sử ký kết hiệp định Geneva năm 1954, kết thúc chiến tranh Đông Dương chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, miền Bắc bắt đầu công cuộc tái thiết xã hội chủ nghĩa, và một diện mạo kiến trúc mới đã ra đời, trưởng thành từ trong gian khó và tro tàn chiến tranh. Sự tàn phá khốc liệt của những trận mưa bom bão đạn của cái gọi là “Chiến tranh hủy diệt” từ năm 1965 đến 1973 đã biến nhiều đô thị như Hà Nội, Hải Phòng, Vinh trở thành những tọa độ bị tàn phá nặng nề. Trong bối cảnh ấy, nguồn viện trợ từ các nước anh em Xã hội Chủ nghĩa như Liên Xô, Đông Đức, Triều Tiên… đã góp phần thắp lên hy vọng về một cuộc sống mới. Những thành phố hoang tàn nhanh chóng phục hồi với mong ước của người dân về một hạ tầng hiện đại, có điện, nước máy và không gian sống văn minh cho tất cả mọi người bắt đầu được hiện thực hóa.

Chính trong không gian lịch sử đặc biệt này, mô hình “tiểu khu nhà ở” hay các “Khu Tập Thể” (KTT) học hỏi từ lý thuyết “microrayon” và kiểu nhà “khrushchevka” của Liên Xô đã mọc lên khắp nơi. Các khu tập thể được xây dựng bởi các đất nước trong khối Xã hội Chủ nghĩa như Kim Liên, Nguyễn Công Trứ cho đến Giảng Võ, Thành Công. Đó là hình ảnh của những khối nhà bê tông lắp ghép hay xây gạch 4-5 tầng sơn màu vàng mù tạt trầm mặc, nằm thẳng tắp và ngay ngắn giữa những khoảng cây xanh tươi mát.

Khu tập thể Giảng Võ được chụp năm 1988. Ảnh: William E Crawford/VnExpress.

Trong cuốn Kiến trúc của các nước Xã hội Chủ nghĩa ở nước ngoài do tập thể các tác giả người Liên Xô viết và xuất bản giai đoạn 1966–1977, các khu tập thể ở Việt Nam điển hình với: “Trung tâm của các khu phố nhỏ và khu dân cư được thiết kế có tính đến khí hậu, theo nguyên tắc ‘trung tâm kiểu công viên,’ sao cho các khu phức hợp công trình dịch vụ được bao quanh bởi cây xanh.”

Dù mang tư duy quy hoạch Liên Xô hướng đến tinh thần cộng đồng, xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân với những hành lang dài dùng chung, nhà vệ sinh hay bếp chung đầy kỷ niệm, tác giả Đặng Hoàng Vũ đã chỉ ra “ảnh hưởng của kiến trúc Xô Viết đối với kiến trúc nhà ở và công cộng tại Hà Nội giai đoạn 1954-1986,” là việc các kiến trúc sư Việt Nam đã khéo léo điều chỉnh phương châm thiết kế từ “Bền vững-Thích dụng-Mỹ quan-Kinh tế” của người Nga, sang “Bền vững-Thích dụng-Tiết kiệm-Đẹp trong điều kiện có thể” để phù hợp với thực tế đất nước lúc bấy giờ.

Và điều kỳ diệu nhất là những khối bê tông khô cứng mang hơi thở Xô Viết ấy khi đặt vào dải đất miền Bắc Việt Nam đã được “nhiệt đới hóa” một cách đầy hợp lý và sáng tạo, mà sự hiện diện của những tường gạch hoa gió chính là minh chứng sống động nhất.

“Trung tâm công viên” Làng Chuyên gia Liên Xô Thủy điện Hòa Bình. Biên tập: Chí Trung.

Kế thừa bài học đắt giá từ quá trình thích ứng khí hậu của người Pháp như đã nói ở trên, thế hệ kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên, những người trưởng thành từ Trường Mỹ thuật Đông Dương hay từ Pháp, cả những lớp KTS du học Liên Xô về nước và những KTS nước ngoài (chủ yếu thuộc khối XHCN) làm việc tại Việt Nam, đã rút kinh nghiệm từ sai lầm sao chép nguyên bản những khối hộp hay mô hình nhà ở xứ lạnh.

Họ thừa hiểu rằng các khối nhà bê tông khrushchevka tiêu chuẩn Liên Xô sẽ nhanh chóng biến thành những “lò hấp” ngột ngạt nếu bê nguyên vẹn vào cái nắng gắt oi nồng và những mùa mưa bão miền Bắc. Đồng hành cùng các chuyên gia Liên Xô, Đông Đức, Triều Tiên sang viện trợ, họ đã chủ động cải biên bản vẽ, mang tri thức hiện đại nhiệt đới hòa lẫn vào triết lý sống nương tựa thiên nhiên của người Việt.

Trong bối cảnh nguồn lực tài chính quốc gia kiệt quệ, thiếu thốn vật tư sau chiến tranh và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kiểu xây dựng lắp ghép của Liên Xô cùng các nước Đông Âu, ngành xây dựng thời kỳ này đã chuyển dịch mạnh mẽ từ lối làm thủ công sang mô hình công nghiệp hóa mang tính rập khuôn cao. Việc sản xuất hàng loạt dần trở thành một đặc trưng lớn của các công trình Xã hội Chủ nghĩa tại Việt Nam thời kỳ này.

Các chi tiết kiến trúc như các dãy hành lang, ban công hay những viên gạch hoa gió đều tuân theo một vài khuôn mẫu hình dáng cố định, khiến hàng loạt tòa nhà tập thể ra đời có vẻ ngoài đồng điệu, y hệt nhau; đồng thời sự dập khuôn liên tục còn đảm bảo tiến độ xây dựng thần tốc cho hàng loạt dự án dãy nhà tập thể.

Các dãy nhà tại làng Chuyên gia Liên Xô Thủy điện Hòa Bình được xây dựng từ cuối những năm 1970 đến cuối những năm 1980. Ảnh: Chí Trung.

Khi phương châm thiết kế được chuyển đổi linh hoạt thành “Bền vững-Thích dụng-Tiết kiệm-Đẹp trong điều kiện có thể,” những viên gạch hoa gió đúc sẵn theo khuôn mẫu cố định đã xuất hiện như một giải pháp “cứu rỗi.” Nhờ kết cấu rỗng ruột tốn ít nguyên liệu hơn gạch đặc và giảm tải trọng công trình, nó vừa giảm chi phí xây dựng, vừa giải quyết bài toán lấy sáng, giúp những dãy hành lang hun hút thoát khỏi sự ngột ngạt, ẩm mốc, giải tỏa bức xạ nhiệt, và thả vào không gian sống những vũ điệu bóng nắng lung linh dệt trên sàn nhà, bức tường.

Khu tập thể Tôn Thất Tùng (xây dựng trong giai đoạn 1960–1980) mang phong cách nhà lắp ghép với hệ thống tường gạch hoa gió nổi bật (Ảnh: Cư Xá).

Chính sự kết hợp giữa tư duy kết cấu bê tông hiện đại, quy trình đúc khuôn công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và triết lý đón gió bản địa đã đưa gạch hoa gió đi sâu vào đời sống cư dân như một phần cơ thể của các khu tập thể.

Tên gọi và tư duy không gian

Theo tác giả Alexandra van der Essen, trên bản đồ kiến trúc thế giới, khi nhắc đến kiến trúc hiện đại nhiệt đới, người ta thường nghĩ ngay đến những kiệt tác lừng lẫy tại Brazil, Ấn Độ hay Ghana gắn liền với những tên tuổi vĩ đại như Le Corbusier hay Oscar Niemeyer. Rất ít ai biết rằng, tại Việt Nam, một dòng chảy kiến trúc hiện đại vô cùng phong phú và độc đáo đã tự mình đơm hoa kết trái.

Alexandra cũng chỉ ra rằng, khác với nhiều quốc gia châu Á, tại Việt Nam, giai đoạn giữa thế kỷ XX không có sự can thiệp trực tiếp của các kiến trúc sư lừng danh thế giới; thay vào đó, các kiến trúc sư Việt Nam, những người được đào tạo từ Trường Mỹ thuật Đông Dương hoặc trở về sau khi du học từ Pháp, đã tự tay nhào nặn nên một trường phái hiện đại của riêng mình. Họ không sao chép nguyên bản những khối hộp kính ngột ngạt của phương Tây mà tìm cách vừa “chắn nắng” vừa “hút lấy làn gió.”

Dưới bàn tay tạo hình của người thợ xây Việt Nam, những khái niệm kiến trúc hiện đại du nhập từ phương Tây đã biến chuyển thành một ngôn ngữ bản địa hóa đầy linh hoạt và giàu bản sắc dân tộc. Theo giáo sư, kiến trúc sư Andrew Cruse, trong các tài liệu lịch sử kiến trúc viết về Việt Nam bằng tiếng Anh, người ta thường dùng những thuật ngữ như “brise-soleil,” “shade blocks,” “pattern blocks,” “claustra” hay “breeze blocks” để gọi các bức tường hoa gió. Tuy nhiên, các cách gọi này thường chỉ nhấn mạnh vào công năng chắn nắng của chủ nghĩa hiện đại nhiệt đới. Thậm chí, từ “claustra” trong tiếng Pháp cổ vốn chỉ mang nghĩa là “mảng tường đục rỗng nhẹ,” còn chữ “breeze” trong breeze blocks thực chất lại dùng để chỉ loại xỉ than mịn thu được từ quá trình đốt than cốc, một thành phần cốt liệu nhẹ dùng để đúc gạch, chứ không hẳn xuất phát từ yếu tố làn gió.

Nhà phố Hà Nội những năm 1980–1990 với dấu ấn gạch hoa gió. Ảnh: William E Crawford qua VnExpress.

Sự khác biệt trong tên gọi đã phản ánh trọn vẹn sự khác biệt sâu sắc trong tư duy không gian. Nếu các thuật ngữ phương Tây thiên về vai trò chắn nắng, ngăn bức xạ nhiệt, thì các danh từ ghép trong tiếng Việt như gạch thông gió, gạch hoa thông gió, gạch hoa gió, hay gạch bông gió lại đặt sự lưu thông của không khí, luồng gió và tính thẩm mỹ làm trung tâm.

Andrew Cruse cũng chỉ ra yếu tố “hoa” có thể bắt nguồn từ khái niệm “hoa cửa” (花窗) truyền thống với những ô gốm tráng men đục rỗng mang họa tiết trang trí, vốn thường do thợ thủ công người Hoa sản xuất để điểm xuyết trên những bức tường gạch đặc. Tại Việt Nam, hệ thống mảng tường thông gió tồn tại dưới vô vàn kích thước, hình dáng và chất liệu: từ những vật liệu tự nhiên dễ phân hủy như gỗ, tre, lá cọ trong kiến trúc dân gian, đến các loại gạch đất nung, gốm tráng men, bê tông đúc sẵn và đá rửa (terrazzo). Người thợ có thể linh hoạt xếp những viên gạch nung nguyên khối theo kỹ thuật mạch hở, hoặc với các công trình có ngân sách lớn hơn, họ sẽ đúc bê tông hay đá rửa thành những khối hoa văn tùy chỉnh có kích thước vượt xa tiêu chuẩn thông thường.

Ô cửa tại Tiền Tế Đình làng Bạch Liên được thay thế bằng gạch hoa gió trong lần trùng tu năm 1987. Ảnh: Chí Trung.

Những viên gạch hoa gió mỏng mảnh, rỗng ruột mang trong mình một năng lượng kỳ diệu. Độ rỗng cao cùng cấu trúc thông thoáng giúp nó không bị tích nhiệt như tường gạch đặc, hỗ trợ không khí và ánh sáng đi xuyên qua một cách dễ dàng. Tác giả Hiếu Y trong “Brise soleil” đã chỉ ra ánh sáng chiếu vào mặt tiền, hệ thống gạch hoa gió tạo nên một bức tường hai lớp (double-skin), vừa nuốt trọn nhiệt độ bức xạ, vừa thả vào không gian bên trong nhà một vũ điệu của ánh sáng và bóng đổ.

Hay là cách tác giả Alexandra van der Essen nhận định về sự đa dạng của hình ảnh trên gạch hoa gió, từ hình chữ nhật, hình thoi, hình hoa mai hay những họa tiết cách điệu từ mạch nguồn Phật giáo, Nho giáo và văn hóa dân gian Việt Nam.

Mỗi khi bóng nắng chầm chậm xuyên qua những mắt lưới gạch, sẽ biến bức tường bê tông hay gạch đá vô cảm thành một bức tranh điêu khắc ánh sáng biến chuyển nhịp nhàng theo từng giờ trong ngày.

Gạch hoa gió tạo ra bức tranh biến chuyển theo ánh sáng thời gian thực. Ảnh/Thiết kế: Chí Trung.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, giá trị lớn nhất của gạch hoa gió Việt Nam không dừng lại ở câu chuyện chắn nắng hay trang trí giống như cách người nước ngoài đặt tên cho loại gạch, mà nằm ở khả năng điều tiết vi khí hậu và thông gió tự nhiên, một yếu tố mà nhiều nhà nghiên cứu quốc tế trong thế kỷ trước, khi nhìn vào kiến trúc nhiệt đới, thường bỏ sót.

Mùa mưa bão ở miền Bắc có những thời điểm lượng mưa trút xuống lên tới hàng trăm mm mỗi giờ, đi kèm với những cơn gió quật liên hồi. Việc dựng một bức tường hoa gió ngay trước hiên nhà, khoảng đệm lô gia hay hành lang đã tạo ra một khoảng không gian thở tài tình, nó cản bớt đà tạt của hạt mưa, nhưng vẫn cho phép luồng không khí ẩm tươi mới luồn qua các khe hở, lưu thông liên tục vào tận sâu bên trong căn nhà. 

Bài viết được phát triển trong khuôn khổ dự án nghiên cứu và xuất bản Black River Working Group/Dưới lòng Sông Đen (undercurrentsjournal.net). Những tìm hiểu về ký ức, đời sống và giá trị kiến trúc của Khu Chuyên gia Liên Xô là một phần trong nỗ lực rộng hơn của tập thể dự án nhằm ghi lại và tiếp cận những lớp lịch sử đang dần bị lãng quên của khu vực Sông Đà - Hòa Bình. Tôi trân trọng cảm ơn các thành viên của Black River Working Group, đặc biệt là nhóm sáng lập và thực hiện dự án, vì những trao đổi, góp ý, tư liệu và sự hỗ trợ trong quá trình nghiên cứu và điền dã, góp phần tạo nên nền tảng cho bài viết này.

]]>
info@saigoneer.com (Chí Trung. Ảnh bìa: Ngọc Tạ.) Đặc biệt Kiến Trúc Đời Sống Sun, 04 Oct 2026 15:00:00 +0700
Hẻm Gems: Đậm đà hương vị biển cả trong bánh canh hẹ Phú Yên https://saigoneer.com/vn/food/17597-hẻm-gems-đậm-đà-hương-vị-biển-cả-trong-bánh-canh-hẹ-phú-yên https://saigoneer.com/vn/food/17597-hẻm-gems-đậm-đà-hương-vị-biển-cả-trong-bánh-canh-hẹ-phú-yên

Từ nhỏ tôi đã là một đứa chẳng ưa gì rau củ, nhưng hành lá là một ngoại lệ đối với tôi. Tôi xem hành như loại gia vị tuyệt vời để tô điểm thêm màu sắc cho món ăn, và nếu vô tình bắt gặp dĩa cơm tấm hay hộp xôi mặn mà thiếu đi lát hành băm nhỏ, cơn thèm ăn của tôi sẽ lập tức bốc hơi. Nhưng có một lần, vào thời còn đi học, tình yêu của tôi đối với các loại hành ngò đã bị thử thách, khi tôi chợt thấy một bức ảnh chụp món bánh canh hẹ Phú Yên ở trên mạng.

Hình ảnh tô bánh canh với một màu xanh phủ khắp bề mặt khiến tôi không khỏi sốc. Sau lần đó, dù vẫn thỉnh thoảng gặp lại hình ảnh bánh canh hẹ khi đang lướt web, nhưng tôi không hề có ý định sẽ đi ăn thử, vì sự lạ lẫm của món ăn khiến tôi nghĩ rằng đó chỉ là chiêu trò câu like nào đó.

Thành phần chính của bánh canh hẹ là hẹ xắt nhỏ và sợi bánh canh Phú Yên.

Mãi cho tới gần đây, tôi mới biết được rằng bánh canh hẹ Phú Yên là một món đặc sản bình dân của miền Trung, được làm từ những nguyên liệu dễ mua và dễ tìm trong vùng. Như bánh canh được làm từ gạo Phú Yên, nước dùng được ninh từ cá đánh bắt ở nơi đây. Còn cái màu xanh nổi bật hơn tất cả là những lá hẹ cũng trồng ở ngay tỉnh nhà, có mùi thơm và hương vị nhẹ nhàng. Theo người dân địa phương, những lá hẹ được rải nhiều như thế vào bún để thay cho các loại rau giá và cũng làm giảm đi mùi tanh của nước dùng.

Thực đơn của quán Bánh Bèo Cô Mai được giữ nguyên không thay đổi qua năm tháng.

Khi vỡ lẽ ra rằng mình đã hiểu sai về thứ đặc sản vùng miền độc đáo này, tôi quyết định rằng phải đích thân đi trải nghiệm để xem hình thù của tô bún như thế nào. Tôi cùng đồng nghiệp tìm đến thiên đường ẩm thực Phan Xích Long và địa chỉ của Bánh Bèo Cô Mai tọa lạc trên đường Hoa Sứ. Chúng tôi đặt chân xuống quán ngay vào giờ trưa nên Bánh Bèo Cô Mai cũng khá đông khách, nhưng may mắn là vẫn có cơ hội trò chuyện cùng anh nhân viên để tìm hiểu thêm câu chuyện đằng sau quán ăn.

Quán đã nhiều năm mang hương vị bánh cạnh hẹ và bánh bèo Phú Yên đến người Sài Gòn.

Theo chia sẻ của anh, đây là quán ăn của một gia đình gốc Phú Yên. Trước đây, họ đã từng mở một quán ăn ở dưới chân núi Nhạn, thuộc thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên. Cách đây 7 năm, cả gia đình cùng chuyển ra Sài Gòn lập nghiệp và mở quán ăn. Thực đơn hoàn toàn giống với quán cũ, gồm ba món đặc sản Phú Yên: bánh canh hẹ, bánh bèo và bánh hỏi. Anh nói thêm về những nỗ lực của gia đình trong việc duy trì công thức truyền thống: “Ở dưới quê mình làm như thế nào thì ở đây làm y chang vậy. Không thay đổi gì hết.”

Bánh canh hẹ có hương vị tương đối dễ ăn, phù hợp để thưởng thức vào bất kỳ thời điểm nào trong ngày.

Cũng đến lúc món ăn đã được dọn ra bàn. Được chiêm ngưỡng món bánh canh hẹ lần đầu tiên trong đời, tôi bị ấn tượng bởi vẻ ngoài độc đáo và cũng phần nào ngạc nhiên bởi sự giản đơn của món đặc sản này. Lá hẹ cắt nhỏ tạo ra một lớp màu xanh mướt phủ trên mặt nước dùng, nhấp nhô trong nước dùng là những miếng chả cá chiên, trứng cút luộc và một lát cá thu, các loại “mồi” rất quen thuộc. Chỉ cần thêm vào một vài lát ớt nhỏ là ta đã có một món đặc sản Phú Yên hấp dẫn và lạ mắt.

Sự đặc biệt của hương vị bánh canh hẹ có lẽ đến chủ yếu từ nước dùng. Do được ninh từ cá nên nước dùng có mùi hơi tanh nhẹ nhưng không hề ảnh hưởng đến hương vị tổng thể của món ăn. Mùi hương đặc trưng của lá hẹ Phú Yên, của cá thu và những miếng chả cá, hòa quyện vào nhau tạo nên nước dùng ngọt và thanh mát. Khi nếm thử, tôi cảm thấy như mình đang được ngồi thưởng thức thứ đặc sản này ngay cạnh vùng biển khơi.

Một trong những thành phần chính của món ăn là cá thu phi lê.

Sợi bánh canh được làm từ bột gạo, nhỏ hơn và ít dai hơn so với những loại bánh canh thường thấy ở Sài Gòn như bánh canh cua. Sợi bánh được chủ quán trụng vừa đủ nên khi ăn vào sẽ thấy mềm và có độ dẻo rất dễ chịu khi nhai.

Những thành phần hải sản trong món bánh canh hẹ mang hai đặc tính trái ngược nhau. Miếng cá thu thì mềm và có độ béo, khi ăn vào thì rất thuận miệng. Ngược lại, chả cá chiên thì dai sần sật và để lại một dư vị ngọt nhẹ sau khi ăn. Thực khách có thể chấm cá với nước mắm của quán để thêm chút hương vị biển cả hơn nữa vào bánh canh hẹ.

Đến quán vì món bánh canh, nhưng cũng phải níu lại để ăn hết các món bánh bèo và bánh hỏi cũng ngon không kém.

Bánh bèo và bánh hỏi là các món ăn kèm. Mỗi chiếc bánh bèo được để nguyên trong chén hấp, phù hợp để nhiều người cùng thưởng thức. Cả hai loại bánh này sẽ được rưới dầu hẹ và rắc lên chà bông, vụn bánh mì và hành phi. Điểm nhấn của hai món ăn này chính là chén nước mắm chua ngọt ăn kèm.

Bất ngờ là ở đậu xanh sương sáo.

Nhìn chung, trải nghiệm “đầu đời” của tôi với bánh canh hẹ Phú Yên là một sự thành công. Vì yêu thích hương vị bánh canh của quán mà tôi đã quay lại vài lần. Qua những lần gặp lại, tôi mới để ý rằng hầu như quán lúc nào cũng đông đúc, nên có thể nói đây là một lời khẳng định gián tiếp về chất lượng món ăn của quán Cô Mai. Vì vậy, nếu bạn đang muốn thưởng thức những món ăn mang bản sắc của vùng biển, bạn có thể ghé thử quán Bánh Bèo Cô Mai, và trải nghiệm món bánh canh hẹ Phú Yên được làm từ tay nghề của những con người sinh ra và lớn lên ở vùng đất này.

Bánh Bèo Cô Mai mở cửa tử 7h sáng đến 10h tối. Một tô bánh canh hẹ có giá 45,000VND, các món bánh bèo và bánh hỏi đều đồng giá 40,000VND.

Tổng kết:

  • Giờ mở cửa: 7h sáng–9h tối
  • Gửi xe: Xe máy trước quán
  • Liên hệ: 0937 638 918
  • Giá: $ (khoảng 100,000VND mỗi người)
  • Thanh toán: Tất cả các hình thức
  • Giao hàng: ShopeeFood

Bánh Bèo Cô Mai Phú Yên

54 Hoa Sứ, Phường 7, Phú Nhuận, TP. HCM

]]>
info@saigoneer.com (Khang Nguyễn. Ảnh: Alberto Prieto.) Đặc biệt Ăn Ăn & Uống Sat, 03 Oct 2026 15:00:00 +0700
Kiến trúc hiện đại Việt Nam là điểm tựa hoài niệm giữa thời kỳ tái thiết đô thị https://saigoneer.com/vn/vietnam-architecture/18221-kiến-trúc-hiện-đại-việt-nam-điểm-tựa-hoài-niệm-giữa-thời-kỳ-tái-thiết-đô-thị https://saigoneer.com/vn/vietnam-architecture/18221-kiến-trúc-hiện-đại-việt-nam-điểm-tựa-hoài-niệm-giữa-thời-kỳ-tái-thiết-đô-thị

Đã hai năm nay, hầu như ngày nào tôi cũng vào xem nhóm Facebook Kiến trúc Hiện đại Việt Nam, nơi các thành viên thường xuyên chụp lại, chia sẻ hình ảnh những công trình kiến trúc hiện đại giữa thế kỷ 20 mà họ bắt gặp khắp mọi miền đất nước. Dù theo dõi đã lâu, lòng tôi vẫn cảm thấy háo hức mỗi lần thấy một ngôi nhà lạ mắt xuất hiện trên bảng tin.

Chừng 4 tháng trước, tôi bắt đầu nhận ra những thay đổi lớn. Thông báo gửi về máy dồn dập hơn, rồi nhóm bất ngờ đón nhận hàng trăm thành viên mới mỗi ngày. Tôi đã tự hỏi bao giờ “cơn sốt” này mới hạ nhiệt, nhưng lượng người tham gia không hề chững lại. Từ mốc 40.000 người vào năm ngoái, con số này đến nay đã chạm ngưỡng gần 150.000 thành viên, tức tăng gần gấp bốn lần chỉ trong vỏn vẹn vài tháng. Di sản kiến trúc hiện đại Việt Nam đang “trỗi dậy” vô cùng mạnh mẽ.

Suốt nhiều thập kỷ, kiến trúc hiện đại Việt Nam gần như không nhận được sự chú ý từ cả giới chuyên môn quốc tế lẫn công chúng trong nước. Trên thế giới, trào lưu này hoàn toàn bị lu mờ trước những nền kiến trúc hiện đại nhiệt đới được ghi chép bài bản hơn ở Brazil, Ấn Độ hay Ghana, nơi có sự bảo chứng của các kiến trúc sư có tên tuổi như Le Corbusier, Niemeyer hay Fry.

Trong nước, những ngôi nhà hiện đại lại xuất hiện dày đặc đến mức không ai buồn để ý; chúng hòa lẫn vào cảnh quan phố thị, quen thuộc tựa chiếc ghế nhựa đỏ hay phông chữ Cooper Black trên mọi biển hiệu. Ngay cả khách du lịch cũng dễ xiêu lòng trước một ngôi nhà thờ màu hồng sặc sỡ hơn là dừng chân ngắm nghía một căn nhà ống xám xịt đơn điệu. Khi một thứ trở nên quá đỗi bình thường, người ta thường quên mất giá trị thật của nó.

Những ngày đầu Việt Nam giành độc lập, kiến trúc hiện đại là đại diện cho niềm hy vọng của người dân và khát vọng vươn lên của đất nước. Nhưng rồi theo thời gian, chủ nghĩa hiện đại dần bước vào giai đoạn thoái trào, người ta lại xem đây là kiểu kiến trúc bình dân, thiếu thốn, một kiểu nhà mà gia chủ sẵn sàng đập bỏ để cất mới ngay khi vừa rủng rỉnh tiền nong. Biết bao công trình đã biến mất cũng vì lẽ đó. Theo một nghiên cứu năm 2024 dựa trên số liệu từ Bộ Xây dựng, các công trình ra đời trước năm 1975, giai đoạn hoàng kim của kiến trúc hiện đại Việt Nam, hiện chỉ còn chiếm vỏn vẹn 15% tổng diện tích xây dựng trên cả nước.

Nhóm Kiến trúc Hiện đại Việt Nam ra mắt vào năm 2015 dưới sự dẫn dắt của Mel Schenck, Tom Hricko, Tim Doling cùng Trần Hoàng, có sự đồng hành của Saigoneer từ những ngày đầu. Ban đầu, đây chỉ là góc nhỏ dành cho một số ít người tâm huyết lưu giữ hình ảnh các công trình trước bờ vực biến mất. Họ mong muốn tri ân những kiến trúc sư đặt nền móng cho phong trào này như Ngô Viết Thụ, Lê Văn Lắm hay Nguyễn Quang Nhạc. Giờ đây, từ một không gian lưu trữ tư liệu kén người xem, nhóm đã thu hút được sự mến mộ của đông đảo đại chúng. Tôi không còn đếm xuể số bình luận xuýt xoa “Đẹp quá!” bên dưới mỗi bài đăng.

Tôi tin động lực châm ngòi cho sự trở lại này xuất phát từ niềm hoài niệm. Chính xác hơn, một nỗi hoài niệm đô thị luôn thường trực trong lòng những thành phố không ngừng đập đi xây lại, nơi cảnh quan kiến trúc thay da đổi thịt hoàn toàn chỉ sau vài năm ngắn ngủi. Đại chúng hiếm khi dành nhiều tình cảm cho chủ nghĩa hiện đại, nên thật lạ lẫm khi trào lưu này lại khơi gợi trong họ một nỗi hoài niệm sâu sắc đến thế. Từng dòng bình luận tựa như những bức thư tình gửi gắm đến một bóng hình Việt Nam đang dần phai nhạt. Một vài chia sẻ tiêu biểu trong phần bình luận:

“Ở Cà Mau vẫn còn nhiều kiểu nhà như vầy... bao nhiêu kỷ niệm ùa về.”
“Nhìn mấy căn nhà kiểu này làm nhớ hồi còn nhỏ.”
“Hơn 50 năm, căn nhà gói trọn ký ức tuổi thơ của hai ba con mình!”

Những hình ảnh tôi đăng tải trên Instagram cũng nhận được phản hồi tương tự:

“Mình mê mẩn căn nhà này từ hồi còn đạp xe đi học thêm toán. Nay thấy bạn đăng hình,
tự dưng thấy bồi hồi và nổi cả da gà vì thời gian trôi qua nhanh quá.”

Có lẽ đúc kết trọn vẹn nhất cho những chia sẻ trên nằm ở một ảnh động do một thành viên đăng tải: phân cảnh nhà phê bình ẩm thực trong phim Ratatouille nếm thử một miếng ăn và ngay lập tức được đưa về khoảng trời tuổi thơ trong gian bếp của mẹ. Những bức ảnh nhà hiện đại dường như cũng đang khơi dậy dòng cảm xúc trào dâng mãnh liệt y hệt như thế. Chính vì quá đỗi phổ biến và gắn bó mật thiết với đời sống hàng ngày, những công trình này đang ôm trọn ký ức tập thể của vô số người Việt, tựa như chiếc bánh madeleine đánh thức miền ký ức xa xăm trong văn chương của Marcel Proust.

Sự quan tâm ngày càng lớn dành cho những giá trị xưa không chỉ dừng lại ở kiến trúc. Đây thực chất là một phần của làn sóng hoài niệm rộng lớn hơn tại Việt Nam, thể hiện rõ qua kha khá tài khoản Instagram chuyên lưu giữ những mảng ký ức chưa quá xa xôi. Tiệm Sách hơi cũ chuyên sưu tầm, cho thuê và bán các đầu sách nghệ thuật xưa; Slowz Nguyen mày mò tìm kiếm và phối lại những bản nhạc Việt cũ, chủ yếu từ trước năm 1970; còn Soulvenir thì miệt mài đăng tải những thước phim hoài cổ về một Việt Nam đang dần biến mấy.

Cơ chế đằng sau hiện tượng này có vẻ khá tương đồng với sự hồi sinh của trào lưu Y2K tại phương Tây thời gian gần đây: một kỷ nguyên tươi sáng luôn để lại những di sản thẩm mỹ mà con người ta muốn bấu víu vào mỗi khi thực tại trở nên bất an. Ở phương Tây, một trong những kỷ nguyên như thế chính là thời khắc chuyển giao thiên niên kỷ, một khởi đầu mới mang theo bao kỳ vọng về sự bứt phá của công nghệ. Để rồi 20 năm sau, giữa một thế giới siêu kết nối và bão hòa thông tin, những chiếc điện thoại nắp gập hay gu thẩm mỹ hoài cổ của những năm 2000 bỗng chốc trở lại như một điểm tựa tinh thần vững chãi. Với Việt Nam, kỷ nguyên đó là giai đoạn hậu độc lập: một quốc gia non trẻ khi ấy đang tràn đầy niềm tin hướng về một tương lai hiện đại, và những ngôi nhà bê tông mọc lên khắp các nẻo đường chính là minh chứng hiện diện rõ nét nhất cho khát vọng đó. Thứ con người ta thực sự nhớ nhung không đơn thuần là những khối bê tông vô tri mà là sự tự tin đầy kiêu hãnh của cả một thế hệ.

Cái gì khiến con người ta hoài niệm thì rồi cũng trở thành xu hướng. Tôi biết kiến trúc hiện đại Việt Nam đã thực sự vươn khỏi vùng an toàn khi tạp chí L'Officiel Vietnam ngỏ lời muốn đăng tải các bức ảnh của mình. Giữa muôn vàn hình ảnh người mẫu hạng A, người nổi tiếng được trang điểm lộng lẫy, một ngôi nhà bê tông thô ráp bỗng nhiên chễm chệ trên bảng tin thời trang được chăm chút tỉ mỉ ấy.

Bằng chứng rõ ràng nhất cho thấy phong cách này đang lên ngôi chính là việc người ta bắt đầu sao chép nó. Năm 2024, Cà Phê Linh mở cửa một chi nhánh ở phường Xuân Hòa; lần đâu tiên tôi nhìn thấy, tôi đã đinh ninh đây hẳn phải là công trình nguyên bản được tu tạo lại. Trên thực tế, tòa nhà được xây dựng hoàn toàn mới và tái hiện chính xác các quy chuẩn của kiến trúc hiện đại xưa. Bề mặt tường được hoàn thiện bằng lớp đá rửa mộc mạc. Những giàn dây leo trang trí họa tiết ngôi sao, mặt trăng và mặt trời điểm xuyết cùng gạch hoa gió và họa tiết hình thoi quen thuộc.

Chi nhánh đầu tiên của Cà Phê Linh, khai trương tại phường Xuân Hòa năm 2024, được xây mới hoàn toàn theo phong cách kiến trúc hiện đại giữa thế kỷ 20. Ảnh: Alexandra van der Essen.

Lối vào mang đậm phong cách hoài cổ với biển hiệu tráng men, ghế bành bọc da và sàn lát gạch, trong khi các chi tiết hiện đại trên mặt tiền nổi bật với họa tiết hình thoi cùng bề mặt hoàn thiện bằng đá rửa. Ảnh: Alexandra van der Essen.

Nhìn thấy tiềm năng thương mại, những người chủ đã mạnh dạn xây mới một công trình mang trọn dáng dấp của thời gian. Và họ đã đúng, quán lúc nào cũng đông nghịt khách, kéo theo sự ra đời của cơ sở thứ hai tại Sài Gòn vào cuối năm 2025. Hàng loạt quán xá khác cũng nhanh chóng bắt kịp trào lưu, chẳng hạn như Mai An 1983 hay Tibon by Jayden ở Long Xuyên. Đến giai đoạn này, thứ được người ta đem ra sao chép không còn là kiến trúc hiện đại Việt Nam nguyên bản nữa, mà chỉ đơn thuần là một công thức thiết kế ăn khách. Việc sao chép lại một bản sao cứ thế tiếp diễn, hệt như trò chơi tam sao thất bản, cho đến khi nó tự biến mình thành một hình thái kiến trúc hoàn toàn mới.

Cơ sở thứ hai của Cà Phê Linh khai trương tại Sài Gòn vào cuối năm 2025. Ảnh: Alexandra van der Essen.

Cùng lúc đó, ngày càng có nhiều quán cà phê và quán bar chọn những ngôi nhà hiện đại nguyên bản làm mặt bằng kinh doanh. Bước đi góp phần định hình lại phong cách kiến trúc ấy thành một giá trị văn hóa thực thụ, thay vì chỉ là tàn tích của quá khứ. Minh chứng rõ rệt nhất đến từ Highlands Coffee. Chuỗi cà phê lớn nhất Việt Nam đã cải tạo một căn biệt thự hiện đại trên đường Hoàng Văn Thụ thành cửa hàng mua mang đi đầu tiên của hãng. Chiến dịch quảng bá có sự tham gia của các nhà sáng tạo nội dung trên TikTok đã giúp một số video đạt hơn một triệu lượt xem. Một vòng tuần hoàn mới đã được sinh ra: các doanh nghiệp lựa chọn kiến trúc hiện đại vì đánh hơi được tiềm năng tạo xu hướng, và rồi mỗi cửa hàng mới mọc lên lại khiến phong cách này càng trở nên thịnh hành hơn chút nữa.

Trái: Căn biệt thự hiện đại trước khi được Highlands tiếp quản. Ảnh do gia đình chủ cũ cung cấp.
Phải: Hiện trạng công trình khi trở thành cửa hàng của Highlands Coffee. Ảnh: Alexandra van der Essen.

Tôi đem thắc mắc nhắn hỏi một vài chủ quán cà phê lý do vì sao họ cất công cải tạo nhà cũ thay vì xây mới như số đông vẫn làm, và tất cả câu trả lời đều hướng về một cụm từ: sự hoài niệm.

Chủ quán Căn Nhà Cũ ở Củ Chi từng lớn lên trong những ngôi nhà như thế và luôn khao khát truyền tải lại trải nghiệm ngày bé: “Bây giờ cái gì cũng hiện đại hóa hết rồi, nên mình muốn khơi gợi lại chút cảm giác ngày xưa, những hình ảnh của cuộc sống thời trước,” anh chia sẻ. “Tôi muốn mang đến một không gian chút hoài niệm cho các bạn trẻ bây giờ.”

Trong khi đó, đội ngũ NEO-HBT lại muốn lưu giữ một mảnh ghép tuổi thơ: “Với lứa 9x lớn lên ở Sài Gòn như chúng tôi, những ngôi nhà này là hình ảnh quá đỗi quen thuộc từ hồi nhỏ. Nhìn những nét đặc trưng của thành phố cứ biến mất dần, chúng tôi thực sự thấy tiếc.”

Vượt khỏi lăng kính hoài niệm, sự hồi sinh này còn là niềm tự hào về một di sản mà người Việt đang dần ý thức và trân trọng. Tại NEO-HBT, khoảng 90% những gì mọi người nhìn thấy đều là kết cấu nguyên bản. “Nhìn lại lịch sử kiến trúc nước nhà, những tên tuổi như kiến trúc sư Ngô Viết Thụ và các nhân vật cùng thời đã đóng góp vô cùng to lớn trong việc kiến tạo nên một bản sắc kiến trúc hiện đại đặc trưng của miền Nam Việt Nam, đủ sức vươn mình đầy kiêu hãnh trên trường quốc tế. Ngôi nhà này là một mảnh ghép sống động của di sản đó, và việc gìn giữ nó chính là một phần thiết yếu để mang văn hóa thiết kế của chúng ta giới thiệu đến bạn bè thế giới.”

Bảy Coffee, Đà Nẵng. Chủ quán quyết định giữ lại công trình năm 1986 vì “giá trị lịch sử, kiến trúc bền vững và các chi tiết trang trí tinh xảo. Ảnh: Tui đi cà phê.

Gìn giữ một ngôi nhà như thế này chẳng phải là một quyết định dễ dàng. Tại 3.Coffee, một dự án của 3 Hào Cà Phê, công tác dọn dẹp mặt bằng đã ngốn hơn 25 xe tải chở rác chỉ tính riêng trong ngày đầu tiên, trong khi chủ quán chỉ thuê nhà theo hợp đồng ngắn hạn, không có gì chắc chắn sẽ trụ đủ lâu để thu lại được số tiền đã bỏ ra.

Dù vậy họ vẫn quyết tâm làm, vì muốn “giữ lại nhiều nhất có thể một nơi mà bản thân thấy đẹp và có ý nghĩa.” Thành quả thu về lại đến từ chính phản ứng của khách hàng. Vài vị khách lớn tuổi tâm sự rằng những góc nhỏ trong quán làm họ nhớ đến những mái nhà Sài Gòn năm xưa. “Với tôi, đó là một lời khen rất đặc biệt. Tôi mong khi mọi người đến đây, họ không chỉ thấy một quán cà phê đẹp để chụp ảnh. Tôi mong họ cũng cảm nhận được đôi chút ký ức, không khí và tinh thần của một căn nhà Sài Gòn xưa.”

Lối vào của 3.Coffee điểm xuyết gạch hoa gió. Ảnh: San Dô.

Vượt ra khỏi phạm vi của ngành F&B, xu hướng này đã chính thức lan sang cả thị trường bất động sản. Nhóm Facebook Kiến trúc Hiện đại Việt Nam giờ đây ngập tràn các bài đăng tìm mua, rao bán, cải tạo hoặc cất mới những ngôi nhà theo phong cách này. Có người môi giới nọ còn đưa ra lời chào mời hấp dẫn: “Giữa lòng Sài Gòn có nếp nhà xưa bình yên từ thập niên 60, 70. Bán biệt thự đường Nguyễn Văn Đậu, quận Bình Thạnh.”

Một thành viên đăng ảnh căn nhà của gia đình trong nhóm.

Nhiều thành viên khác lại chọn con đường phục dựng thay vì đập bỏ, và thường tìm đến nhóm để mong nhận được những lời khuyên hữu ích: “Cả nhà ơi, ngôi nhà này có được tính là kiến trúc hiện đại không ạ? Mình muốn cải tạo mà vẫn giữ nguyên vóc dáng ban đầu, có thể thêm vài yếu tố hiện đại nữa. Mọi người ai có kinh nghiệm với các dự án kiểu này cho mình xin gợi ý về chi phí với?”

Những công trình mới xây theo phong cách kiến trúc hiện đại, hoàn thiện năm 2025.

Vậy vì sao làn sóng kiến trúc hiện đại lại bùng nổ ngay lúc này? Một cuộc hồi sinh như thế hiếm khi bắt nguồn từ một nguyên do duy nhất. Tựa như hiệu ứng domino, thật khó để ráp nối mọi mảnh ghép vào một bức tranh toàn cảnh: từ nhóm Facebook, cuốn sách của chú Mel Schenck, đến quyển sách của anh Phạm Phú Vinh, hay những năm tháng miệt mài lưu trữ tư liệu của Nguyễn Ngọc Sơn, và cả những quán cà phê ngoài kia. Tất cả đều cộng hưởng và tiếp sức lẫn nhau.

Tuy nhiên, ngòi nổ lớn nhất gần đây có lẽ đến từ một tin tức chấn động trên mạng xã hội. Ngày 19/5, rộ lên thông tin làng phong Quy Hòa, một quần thể kiến trúc hiện đại tại Quy Nhơn, sắp bị giải tỏa để nhường chỗ cho siêu dự án nghỉ dưỡng với sức chứa 40.000 người. Tin tức này như giọt nước tràn ly sau hàng loạt dự án du lịch đã xóa sổ các di tích khác trong vùng. Thời điểm thông báo đưa ra trùng khớp với lúc các hoạt động trên nhóm Facebook bùng nổ mạnh mẽ.

Hai trong số rất nhiều ngôi nhà hiện đại ở Quy Hòa vẫn đang được sử dụng, nhưng nay đã rơi vào danh sách phải tháo dỡ để nhường chỗ cho dự án nghỉ dưỡng. Ảnh: Alexandra van der Essen.

Tựu trung, thời kỳ phục hưng của kiến trúc hiện đại Việt Nam phụ thuộc vào 3 trụ cột chính. Trước tiên là nền tảng tư liệu từ các học giả, tác giả và nhà lưu trữ, những người đã cất công chứng minh giá trị và kêu gọi sự tri ân xứng đáng dành cho di sản này. Tiếp đến là yếu tố xã hội, thể hiện qua tâm lý hoài niệm trỗi dậy mạnh mẽ trong lòng công chúng mỗi khi chứng kiến không gian sống quanh mình liên tục bị đập đi xây mới. Sau cùng là yếu tố thương mại, xúc tiến bởi các trang tạp chí, chuỗi cà phê cho đến các kênh TikTok, những bên đang biến phong cách này thành một xu hướng bắt mắt và có sức lan tỏa. Dù xen lẫn những cá nhân trục lợi, phần đông trong số họ vẫn là những người thực lòng trân trọng cái đẹp. Các yếu tố này đan cài và tiếp sức cho nhau. Tư liệu cho hoài niệm một điểm tựa, để rồi hoài niệm lại trao tay thị trường một chất liệu giàu sức hút.

Dĩ nhiên, ta hoàn toàn có thể xem hiện tượng này như bao trào lưu hoài niệm khác, vì khát khao tìm về quá khứ vốn dĩ là tâm lý muôn thuở của con người. Nhưng một cơn sốt dành riêng cho chủ nghĩa hiện đại, lại bùng nổ ở quy mô lớn đến thế này, quả thực là chuyện xưa nay hiếm. Trong lịch sử, phong cách này ít khi được lòng đại chúng, ngoại trừ một vài trường hợp hiếm hoi như tại Brazil. Và Việt Nam chính là một ngoại lệ khác, nơi những người dân bình thường đã đồng loạt lựa chọn lối thiết kế này để dựng xây tổ ấm.

Ngoại lệ ban đầu ấy tiếp tục mở đường cho một ngoại lệ thứ hai: niềm say mê kiến trúc hiện đại không chỉ quẩn quanh trong giới mộ điệu, mà đã thực sự chạm đến số đông. Từng bị phớt lờ chỉ vì hiện diện ở khắp nơi, những ngôi nhà ấy giờ đây lại khiến người ta lưu luyến cũng từ sự thân thuộc đó. Những khối lam chắn nắng bằng bê tông bỗng làm khóe mắt ai đó cay cay vì trông hệt như căn nhà của ông bà ngày trước, bên cạnh các chi tiết hiện đại xưa cũ lại được tái hiện đầy sống động giữa những không gian cà phê sành điệu. Chẳng phải thật thơ hay sao, khi một phong cách kiến trúc do chính người dân tạo nên cho cuộc sống của mình, giờ đây lại được chính họ từng bước nâng niu và hồi sinh.

]]>
info@saigoneer.com ( Alexandra van der Essen. Ảnh bìa: Mai Khanh.) Đặc biệt Kiến Trúc Đời Sống Mon, 28 Sep 2026 09:49:08 +0700
Vai trò 'viên pin' khu vực của thủy điện Lào trong bối cảnh Việt Nam, ASEAN đều khát điện https://saigoneer.com/vn/vietnam-environment/18218-vai-trò-viên-pin-khu-vực-của-thủy-điện-lào-trong-bối-cảnh-việt-nam,-asean-đều-khát-điện https://saigoneer.com/vn/vietnam-environment/18218-vai-trò-viên-pin-khu-vực-của-thủy-điện-lào-trong-bối-cảnh-việt-nam,-asean-đều-khát-điện

Sau thập niên 90 dồi dào nguồn đầu tư nước ngoài, đất nước Lào bắt đầu gia tăng sản xuất điện dư dả để xuất khẩu tạo thu nhập. Ngày nay, Lào hiện đang xuất khẩu khoảng 80% sản lượng điện quốc gia, phần lớn là thủy điện, sang các nước láng giềng, mang về 2,6 tỷ USD cho quốc gia vốn được xem là khó khăn nhất khu vực Đông Nam Á. Các nước còn lại trong khu vực, bao gồm Thái Lan, Campuchia, Việt Nam, Singapore và Malaysia, đã và đang lệ thuộc rất lớn lên nguồn năng lượng từ Lào, nhưng có lẽ cục diện đang bắt đầu thay đổi.

Ảnh bìa: Matyas Rehak / Alamy.

Thủy điện Lào đang đối mặt với nhiều biến chuyển trong ngành năng lượng khu vực, nhất là sự phát triển của loại hình năng lượng tái tạo khác. Chính sự phát triển này, bên cạnh những bước đi nền móng đầu tiên để xây dựng một mạng lưới điện khu vực, đang ảnh hưởng trực tiếp đến vai trò cố hữu của Lào như một “viên pin của Đông Nam Á.”

Bên cạnh đó, các hệ quả môi trường, xã hội của hoạt động thủy điện, đặc biệt đối với đa dạng sinh học và sản xuất ngư nghiệp trong Tiểu vùng Sông Mekong Mở rộng, vẫn tồn tại, cho dù tương lai của thủy điện Đông Nam Á có ra sao.

Thái Lan: “Khách hàng thân thiết” của Lào

Thái Lan là khách hàng trọng điểm của ngành sản xuất điện Lào, ảnh hưởng trực tiếp đến tham vọng tăng cường ưu thế năng lượng của Lào. Tuy nhiên, các tổ chức xã hội dân sự ở Thái cũng hoạt động rất năng nổ để phản đối các dự án đập nước.

Con đập Xayaburi thuộc Tây Bắc Lào, được người Thái xây dựng, bắt đầu đi vào hoạt động vào năm 2019, với công suất gần 1.3 gigawatt (GW). Đây là dự án thủy điện chính dòng Mekong đầu tiên ở Lào, đến nay vẫn nằm trong những công trình thủy điện đồ sộ nhất quốc gia này. Trong suốt quá trình hình thành, Xayaburi luôn vướng tranh cãi vì nhà thầu che giấu ảnh hưởng thật sự của con đập lên môi trường và xã hội.

Dân làng Thái Lan biểu tình chống đối xây đập trên dòng Mekong; trong đó, nhiều biểu ngữ chỉ đích danh Xayaburi. Đây là một trong những dự án quy mô lớn nhất Lào, gây ảnh hưởng không nhỏ đến đa dạng sinh học của vùng hạ lưu sông. Ảnh: Apichart Weerawong / Associated Press / Alamy.

Trong mắt của người dân địa phương gần con đập, hệ lụy là không thể chối cãi. Nhiều người chỉ trích đưa ra bằng chứng về thiệt hại Xayaburi gây nên cho bè cá vùng hạ lưu, đồng thời làm giảm lượng phù sa nuôi dưỡng thủy sinh vật Mekong. Họ cũng gióng lên hồi chuông báo động về cách biện pháp xung thủy văn (hydropeaking) — quá trình xả nước nhân tạo, bất thình lình, nhằm đáp ứng nhu cầu điện ngắn hạn — ảnh hưởng đến động vật ven bờ, như chim làm tổ trên bờ biển.

Từ khi Xayaburi bắt đầu phát điện, nhiều dự án đập thủy điện khác cũng đã rục rịch hình thành trên giấy. Nổi cộm nhất là một dự án công suất 1.5GW sắp hoạt động năm 2030 gần Luang Prabang, di sản thế giới được UNESCO công nhận. Nhiều chuyên gia lo ngại rằng con đập sẽ khiến Luang Prabang bị tước danh hiệu.

Tuy vậy, phong trào hoạt động xã hội vì môi trường ở Thái Lan rất sôi nổi. Một ví dụ là dự án đập Sanakham, cách biên giới Thái-Lào 2km, bị chỉ trích vì gây ảnh hưởng đến sinh thái tự nhiên. Hai con đập Pak Beng và Pak Lay, đóng vai trò quan trọng với lợi ích quốc gia Thái Lan, cũng vấp phải cáo buộc liên quan đến kết quả khảo sát, tham vấn môi trường.

Dù gì đi nữa, Thái Lan vẫn là nhà đầu tư lớn nhất vào thủy điện Lào. Tâm điểm của các hợp đồng xuyên quốc gia này là hợp đồng mua bán điện (PPA), trong đó, Thái Lan cam kết sẽ mua điện từ đập sau khi xây xong. Suốt nhiều năm, những tổ chức như Mekong People’s Network (Mạng lưới Nhân dân Mekong) và Fair Finance Thailand (Tổ chức Tài chính Công bằng Thái Lan) đã không ngừng chống lại kế hoạch xây đập mới và các PPA. Các tổ chức phi chính phủ và giới nghiên cứu đặt cái tên cho các con đập là “giải pháp khí hậu dối trá.”

Một trại điện mặt trời ở miền Trung Thái Lan, vốn đang đẩy mạnh cả các dự án năng lượng mặt trời và điện mặt trời mái nhà, để bớt lệ thuộc vào khí thiên nhiên hóa lỏng, đồng thời bảo vệ thị trường khỏi giá xăng dầu trồi sụt. Ảnh: Thattaphon Sukborwornophat / Alamy.

Dẫu lợi ích của Thái Lan trong ngành thủy điện Lào không nhỏ, quốc gia này cũng đã bắt đầu quan tâm đến điện mặt trời. Nước cờ này chủ yếu để giảm sốc khi giá khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) leo thang do yếu tố bất khả kháng như xung đột eo biển Hormuz; LNG vẫn là nguyên liệu chủ lực trong bức tranh năng lượng Thái Lan. Mới đây vào tháng 9/2026, Thái Lan tuyên bố sẽ hướng đến mục tiêu lắp ráp đủ thiết bị điện mặt trời mái nhà với tổng sản lượng 5GW trong vòng 1 năm. Trong một bản dự thảo của Kế hoạch Phát triển Năng lượng 2020, Thái Lan dự kiến sẽ chuyển đổi gần 50% sản lượng năng lượng tái tạo trong giai đoạn 2026–2037 (gần 51GW) sẽ là điện mặt trời.

Việt Nam: Một đường hướng phát điện mới

Nhu cầu sử dụng năng lượng của Việt Nam đang tăng vọt, phần lớn do quy mô nhóm ngành sản xuất, chế tạo mở rộng. Trong tháng 3/2026, đỉnh điểm của mùa nóng — mùa sử dụng điện — Việt Nam đã đạt mức tiêu thụ 1 tỷ kWh, sớm hơn những năm trước vài tháng. Mức tiêu thụ tăng lên 1,1 tỷ kWh vào tháng 5, đến mức cơ quan chức năng phải khuyến cáo ngành điện giữ cung trong mức đủ cầu bằng nhiều biện pháp, bao gồm cả nhập khẩu điện từ Lào và Trung Quốc. Trong quý 1, sản lượng điện Việt Nam mua từ Lào tăng 120% so với cùng kỳ năm ngoái.

Năm 2025, Việt Nam nhập khoảng 1,5GW điện từ Lào, phần lớn có nguồn gốc thủy điện. Theo Kế hoạch phát triển điện lực công bố cùng thời điểm, Việt Nam dự tính sẽ tăng lượng điện nhập từ Lào lên ít nhất 8GW đến năm 2030, so với mức 5GW trong kế hoạch năm 2023.

Cùng với Lào, Việt Nam đang tích cực kiến tạo hạ tầng điện liên thông, góp phần hiện thực hóa giấc mơ mạng lưới điện toàn Đông Nam Á. Dự án gần nhất giúp kết nối lưới điện của hai nước là một đường dây tải dài 75km nối Khu phức hợp Thủy điện Nam Nha ở tỉnh Houaphanh, Đông Bắc Lào, với biên giới Việt Nam.

Dẫu thủy điện vẫn còn chiếm đa số sản lượng năng lượng Việt Nam nhập từ Lào, các dự án điện gió sẽ dần đạt tỷ trọng cao hơn. Chẳng hạn như Monsoon (tạm dịch: Gió mùa), dự án điện gió liên quốc gia đầu tiên ở Đông Nam á, đã bắt đầu truyền điện từ Lào sang Việt Nam vào nửa cuối năm 2025. Công trình này tọa lạc tại tỉnh Sekong và Attapeu của Lào, với công suất 600MW, được nối với Việt Nam qua dây tải cao áp 500-kV.

Trại điện gió và điện mặt trời ở miền Nam Việt Nam. Tuy Việt Nam vừa bắt đầu nhập khẩu điện từ Lào, ngành điện cũng đồng thời tìm cách mở rộng công suất phát điện tái tạo. Ảnh: Thịnh Doãn / Dialogue Earth.

Một số dự án điện gió đã và đang trong quá trình hình thành. Doanh nghiệp đầu tư điện tái tạo từ Đan Mạch Infrastructure Partners và nhà phát triển Việt Nam Fecon đưa ra đề xuất xây cơ sở điện gió công suất 1GW tại tỉnh Savannakhet thuộc miền Nam Lào, chủ yếu để cung cấp điện cho hoạt động sản xuất ở Việt Nam.

Bản chỉnh sửa kế hoạch phát triển điện lực quốc gia của Việt Nam đã cho thấy tham vọng lớn trong công cuộc gia tăng sản xuất năng lượng tái tạo khác ngoài thủy điện.  Năm 2023, Việt Nam chỉ đặt mục tiêu sản xuất khoảng 43GW điện từ nguồn mặt trời, gió, và sinh khối, nhưng kế hoạch mới nhất đưa mục tiêu này lên 75GW.

Campuchia: Tương lai nào cho mạng lưới điện?

Trong giai đoạn gần đây, Campuchia gặp rất nhiều khó khăn trong việc phát đủ điện để phục vụ đà đô thị hóa nhanh. Giai đoạn phát triển thiếu quy hoạch tại Phnom Penh và Sihanoukville khiến ngành điện quốc gia phải chới với tìm cách theo kịp nhu cầu điện, vốn đã tăng 14% vào năm 2025 so với 2024. An ninh năng lượng được củng cố phần nào nhờ quy mô điện mặt trời mở rộng, nhưng nhìn chung Campuchia vẫn lay lắt giữ lưới điện ổn định, nhất là trong bối cảnh giá xăng dầu trồi sụt thất thường dưới ảnh hưởng của khủng hoảng Eo biển Hormuz.

Campuchia mua khoảng 200MW thủy điện từ đập Don Sahong, cũng là một công trình gây tranh cãi do ảnh hưởng xấu đến ngành ngư nghiệp ở hạ lưu và đời sống của cá heo Irrawaddy đang trên đà tuyệt chủng. Các tổ chức hoạt động vì môi trường và dân quyền địa phương cũng rất quyết liệt phản đối các dự án thủy điện trong nước và khu vực. Năm 2020, Campuchia quyết định cấm hoàn toàn các dự án đập trên chính dòng Mekong trong vòng 10 năm, lấy lý do cần đa dạng hóa nguồn năng lượng.

Đập Don Sahong trên dòng Mekong, ngay trước khi dòng nước chảy qua địa phận Campuchia. Campuchia mua khoảng 200MW thủy điện từ đập này, một công trình gây tranh cãi do ảnh hưởng xấu đến ngành ngư nghiệp ở hạ lưu và đời sống của cá heo Irrawaddy đang trên đà tuyệt chủng. Ảnh: Andy Ball / Dialogue Earth.

Về lâu về dài, Campuchia nhắm tới tương lai chỉ phải nhập năng lượng từ Lào ở mức bình ổn, theo kế hoạch phát triển điện lực quốc gia công bố năm 2022. Dự kiến, mức này sẽ tăng lên 3GW vào năm 2030 và sẽ không thay đổi cho đến 2040.

Tuy nhiên, Campuchia cũng hy vọng sẽ tăng cường chia sẻ năng lượng với Lào thông qua kế hoạch liên thông tham vọng nhất khu vực: một lưới điện nối các quốc gia thuộc Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Chủ trương này đã bắt đầu thành hình từ 1997, với mong muốn đạt được kết nối năng lượng giữa tất cả các quốc gia thành viên, cả lục địa lẫn quốc đảo. Tháng 5/2026, Asean Centre for Energy (Trung tâm Năng lượng ASEAN), Electricité du Cambodge (Điện lực Campuchia) và Electricité du Laos (Điện lực Lào) đã ký khung nghiên cứu chung nhằm phát triển kết nối liên quốc gia. Đây là một phần của biện pháp cuốn chiếu để hướng tới Lưới điện ASEAN. Khung phát triển này bao gồm hợp tác về mặt khảo sát kỹ thuật, phân tích kinh tế, và khảo sát môi trường sơ bộ cho các dự án trong tương lai.

Lào và Campuchia cũng đã đạt được một bước tiến đáng kể vào năm 2023 trong liên thông khu vực khi cùng đưa vào hoạt động đường dây tải điện 500-kV (do Trung Quốc xây dựng) nối trạm biến áp thuộc tỉnh Champasak, Tây Nam Lào, với biên giới Campuchia.

Malaysia và Singapore: Ga cuối đường ray?

Cả Malaysia và Singapore đều không có biên giới chung với Lào, nên Dự án Hợp nhất Năng lượng Lào-Thái-Malaysia-Singapore (LTMS-PIP) chất chứa nhiều hy vọng sẽ giúp Lưới điện ASEAN tăng tốc về đích. Kế hoạch này bắt đầu hồi năm 2022.

Từ Lào, năng lượng thủy điện đi qua nước trung gian là Thái Lan đến Malaysia, và cuối cùng là Singapore. Đảo quốc đã bắt đầu mua 100MW điện qua đường dây này từ năm 2022, đánh dấu thương vụ trao đổi năng lượng liên quốc gia thành công đầu tiên của LTMS-PIP — xuyên qua 4 quốc gia từ các con đập ở Lào.

Công suất trần mà LTMS-PIP có thể xuất khẩu đã tăng lên 200 MW trong giai đoạn 2 của dự án, bắt đầu từ tháng 1/2026. Trong giai đoạn này, hoạt động trao đổi năng lượng đa chiều bắt đầu khả dụng, chẳng hạn như Singapore đã bắt đầu mua thêm 100 MW điện từ Malaysia.

Thủy điện nhập khẩu từ Lào là một trong những biện pháp giúp Singapore hướng tới mục tiêu môi trường của mình, nhưng nhiều chuyên gia lo ngại rằng hệ thống đa đập ở Lào và trên sông Mekong gây ra nhiều hậu quả môi trường nghiêm trọng, và không phải cứ đong đếm carbon là đủ.

Thông qua dự án LTMS-PIP, Malaysia đã bắt đầu xuất khẩu điện sang Singapore, hợp đồng bán điện qua 4 quốc gia đầu tiên trong khu vực. Ảnh: Stephen Browne / Alamy.

Dẫu sao đi nữa, nhu cầu điện ngày càng cao của Singapore đang là đòn bẩy giúp lưới điện ASEAN hình thành nhanh hơn. Một đường dây nối Sarawak (Malaysia) và Singapore ngầm dưới biển đang được nghiên cứu; dự kiến vào cuối năm 2026, các khảo sát kỹ thuật đầu tiên sẽ hoàn thành. Lượng thủy điện để xuất khẩu sẽ đến từ lãnh thổ thuộc Malaysia của đảo Borneo, với tầm nhìn đạt 1GW vào khoảng 2035.

Trung Quốc: Người thợ xây hạ tầng

Tháng 4/2026 vừa rồi, đường dây tải điện xuyên biên giới Lào-Trung Quốc bắt đầu hoạt động, kết nối thị trường năng lượng nội địa Trung với các cơ sở phát điện Lào. Tuy nhiên, vai trò của người Trung trong ngành điện Lào đã cắm rễ từ 2 thập kỷ trước. Hiện tại, rất nhiều dự án đập trên dòng Mekong, cả trên giấy lẫn đã hoàn thành, đều ít nhiều có bóng dáng doanh nghiệp Trung Quốc, từ mức độ sở hữu, cho đến các khoản vay và hợp tác xây dựng, dù ở nhiều cấp độ khác nhau. Các đập trọng điểm, như Pak Beng và Sanakham, trị giá ít nhất 2 tỷ USD, phần lớn vốn thuộc về các công ty Trung Quốc. Các dự án khác, như Don Sahong và Pak Lay, thì được nhà thầu Trung Quốc thực hiện.

Các công ty Trung Quốc cũng hỗ trợ xây dựng nhiều con đập lớn trên phụ lưu sông Mekong, như Hệ thống thủy điện bậc thang Nam Ou và các dự án ngoài thủy điện như Oudomxay, cơ sở điện mặt trời lớn nhất Đông Nam Á với công suất lên đến 1GW.

Dự án đập Luang Prabang, một trong những công trình thủy điện ít ỏi ở Lào không có Trung Quốc tham gia. Nhiều dự án đập trên dòng Mekong, cả trên giấy lẫn đã hoàn thành, đều ít nhiều có bóng dáng doanh nghiệp Trung Quốc. Ảnh: Richard Sowersby / Alamy.

Việc Trung Quốc nhúng tay vào phát triển tài nguyên quốc gia Lào cũng gây tranh cãi. Mỹ bày tỏ lo ngại đa phương về đà gia tăng tầm ảnh hưởng Trung Quốc trong khu vực, trong khi dư luận bài xích các đại công trình thủy điện vì lý do môi trường và dân sự. Một số tranh chấp pháp lý cũng phát sinh liên quan đến các đập do Trung Quốc thầu. Ví dụ, vào năm 2025, công ty quốc doanh PowerChina đâm đơn kiện Electricite du Laos (Điện lực Lào) để đòi 555 triệu USD tiền chi phí chưa chi trả thuộc dự án thủy điện Nam Ou, theo Reuters.

Ngày càng nhiều đập thủy điện đang hình thành trên chính dòng Mekong, bên cạnh định hướng nâng cao xuất khẩu điện, quy mô năng lượng tái tạo ngoài thủy điện, và mạng lưới điện khu vực. Cục bộ của “viên pin Đông Nam Á” chắc hẳn sẽ có nhiều biến đổi trong tương lai.

Bài viết được thực hiện bởi Dialogue Earth và được Saigoneer chuyển ngữ. Ghé thăm đường dẫn này để đọc bài viết nguyên bản bằng tiếng Anh.

]]>
info@saigoneer.com (Tyler Roney.) Đặc biệt Môi Trường Đời Sống Wed, 23 Sep 2026 14:00:00 +0700