Sài·gòn·eer

BackVăn Nghệ » Màn Ảnh » 'Quán Kỳ Nam' và ván cược điện ảnh bằng phim nhựa 35mm

'Quán Kỳ Nam' và ván cược điện ảnh bằng phim nhựa 35mm

“Đến Việt Nam thôi!” Sabrina Baracetti, chủ tịch Far East Film Festival (Liên hoan phim Viễn Đông - FEFF) tại Udine, Ý, hào hứng tuyên bố khi khép lại phần giới thiệu bộ phim Quán Kỳ Nam của đạo diễn Leon Lê. Ngồi trong nhà hát Teatro Nuovo, lần đầu tiên chứng kiến Quán Kỳ Nam mở ra trên màn ảnh rộng, tôi cảm thấy một niềm tự hào trào dâng mãnh liệt.

Quán Kỳ Nam thực sự làm được đúng như lời Baracetti hứa hẹn: tác phẩm không phô bày một Việt Nam siêu hiện đại, đang phát triển nhanh chóng. Trái lại, bộ phim nắm bắt tinh thần Việt Nam một cách chân thực và sống động, được cô đọng qua ánh lửa bập bùng của một ngọn đèn dầu hay tiếng rền rĩ của chiếc quạt điện hoen rỉ. Cùng khán giả quốc tế thưởng thức tác phẩm, tôi xúc động khi hình ảnh con người nước mình hiện lên thật tử tế và tinh tế; họ kiên cường cùng nhau tái thiết đất nước sau chiến tranh.

Điều cốt lõi là, Leon đã để cho các nhân vật của mình mang những khiếm khuyết tuyệt đẹp. Họ cư xử có lúc nhỏ nhen, dè dặt, nhưng đồng thời cũng hiền từ một cách dễ mến. Đó là những con người đang thận trọng dò dẫm trên vùng đất mới mẻ của thời bình, sau nhiều năm gồng mình chống chọi với nghịch cảnh. Tất cả những xung đột âm ỉ và tĩnh lặng ấy được đan cài khéo léo qua một mối tình ngang trái giữa một trí thức trẻ và một góa phụ từng dính líu đến chế độ cũ.

Nữ diễn viên Quán Kỳ Nam Ngô Hồng Ngọc (thứ hai từ trái sang), đạo diễn Leon Lê (thứ hai từ phải sang) và chuyên viên tuyển phim Việt Nam của FEFF (ngoài cùng bên phải).

Anh Nguyên Lê, giám tuyển phim Việt Nam của FEFF, chia sẻ anh luôn tìm kiếm những tác phẩm “lấy chất liệu bản địa nhưng mang ngôn ngữ biểu đạt toàn cầu.” Như anh nhận định rất chuẩn xác, Quán Kỳ Nam “làm được chính xác điều này.” Tác phẩm mượn cấu trúc kinh điển của một mối tình tay ba nhưng lại đặt vào bối cảnh đặc thù của Việt Nam những năm 1970. Bộ phim khắc họa những khoảnh khắc tĩnh lặng, đời thường của kiếp nhân sinh một cách tươi mới, thu hút khán giả quốc tế mà không cần dùng đến các khuôn mẫu xa lạ hay bị dị thường hóa.

Thế nhưng, sự đón nhận nồng nhiệt dành cho Quán Kỳ Nam tại Udine không chỉ đến từ chiều sâu của câu chuyện. Tiếng vang mà bộ phim tạo ra còn đến từ thắng lợi vẻ vang về mặt kỹ nghệ làm phim: đây là bộ phim điện ảnh Việt Nam đầu tiên trong suốt 20 năm qua được quay hoàn toàn bằng phim nhựa 35mm.

Gian nan bước đường tiên phong

Với kỹ thuật xử lý liên tục phát triển, phim nhựa 35mm không còn là chất liệu nghệ thuật mỏng manh, khó bảo quản như nhiều thập kỷ trước nữa. Định dạng này vẫn được “tôn thờ” tại các nền điện ảnh lớn như Hollywood hay Châu Âu nhờ chất lượng hình ảnh và hạt phim độc đáo. Thế nhưng tại Việt Nam, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Ở mảng phim điện ảnh chiếu rạp, đã 20 năm nay chưa có một tác phẩm nào được quay trọn vẹn bằng phim 35mm. Với mảng truyền hình, khoảng trống này thậm chí còn rộng hơn. Do ngành phim nội địa đã chuyển hẳn sang kỹ thuật số từ 3 thập kỷ trước, hệ thống máy móc analog giờ đây nếu không lỗi thời, hỏng hóc thì cũng đắp chiếu, không thể dùng được nữa. Thiếu vắng hoàn toàn thiết bị chuyên dụng, Leon Lê cùng ê-kíp phải đối mặt với một thử thách khổng lồ.

Nhớ lại những ngày đầu thai nghén dự án, Leon thừa nhận mình vô cùng may mắn khi nhận được hậu thuẫn vững chắc từ các nhà đầu tư ngay từ vạch xuất phát. “Tôi biết rằng với mức kinh phí đó, mình sẽ quay bằng phim nhựa,” anh giải thích. “Lý do các nhà đầu tư đồng ý ủng hộ dự án phần lớn là vì họ yêu thích bộ phim đầu tay của tôi, Song Lang. Họ hiểu rất rõ rằng một dự án như Quán Kỳ Nam là một bước đi mạo hiểm về mặt doanh thu.”

Tuy nhiên, nguồn kinh phí dồi dào để quay phim nhựa mới chỉ giải quyết được một nửa bài toán. Dù khả thi về mặt tài chính, dự án lại dường như bất khả thi về mặt vận hành. Bài toán này chỉ tìm được lời giải khi giám đốc hình ảnh Bob Nguyễn (Quán Kỳ Nam, Song Lang) chứng minh được điều ngược lại bằng cách tự tay xây dựng mọi thứ từ nền móng.

“Giám đốc hình ảnh phải đứng ra đào tạo cho toàn bộ thành viên còn lại trong đoàn,” Leon nhớ lại. “Những nhà làm phim trẻ chưa từng làm việc hay thực hành với phim nhựa, họ không biết cách lắp phim cũng như cách gắn hộp chứa phim vào máy quay. Giám đốc hình ảnh đã phải cùng họ đi qua một quá trình huấn luyện bài bản.”

Chặng đường học hỏi không chỉ gói gọn trong phạm vi trường quay. Leon chia sẻ: “Chúng tôi phải hợp tác với một phòng lab tráng phim và hướng dẫn họ [...] Họ vốn chỉ quen tráng các cuộn phim ảnh 35 kiểu, nên làm sao biết cách tráng một cuộn phim dài đến 5 phút? Dù vậy, tôi vẫn tin tưởng tuyệt đối vào đội ngũ của mình.”

Nhờ sự kiên định của Leon cùng ê-kíp, Việt Nam cuối cùng đã có một bộ phim điện ảnh 35mm mới, mang lại trải nghiệm điện ảnh chân thực, giàu chiều sâu và phá vỡ thế độc tôn của những khung hình kỹ thuật số sắc nét nhưng khô khan suốt nhiều năm qua.

Một cảnh trong phim Quán Kỳ Nam.

Hồi sinh phim nhựa hay chỉ là ngoại lệ đơn độc?

Leon vẫn kiên định gắn bó với chất liệu này và đặt trọn niềm tin vào ê-kíp cho các dự án 35mm tương lai. “Với tất cả các dự án sắp tới, tôi vẫn dự định quay bằng phim nhựa, đồng thời tiếp tục tráng và quét phim ngay tại Việt Nam,” anh tiết lộ. Niềm tin của anh bắt nguồn từ sự linh hoạt của con người nơi đây: “Nhìn chung, người Việt Nam rất thông minh. Họ thích mày mò vì tò mò rồi cuối cùng cũng sẽ tìm ra cách. Chỉ là họ còn ngần ngại nên chưa làm, chứ nếu đã muốn thì họ đều có thể làm được.”

Dẫu vậy, Leon không hề ảo tưởng rằng khao khát mang tính cá nhân này có thể tạo ra một cuộc cách mạng cho toàn bộ nền điện ảnh Việt Nam. “Sẽ có những kẻ điên rồ như tôi muốn dấn thân vào con đường này, nhưng để gọi đó là sự phục hồi hay hồi sinh của phim nhựa thì chắc là không,” anh thừa nhận. Theo anh, rào cản lớn nhất còn xuất phát từ thực trạng của dòng phim thị trường Việt Nam hiện nay: “Nhìn vào thị trường điện ảnh Việt Nam lúc này, chúng ta thấy mọi thứ vẫn còn đang chật vật. Quy trình sản xuất từ khâu lên ý tưởng, viết kịch bản, tuyển diễn viên, bấm máy, làm hậu kỳ cho đến ngày ra rạp... đều bị đẩy đi quá nhanh và hời hợt. Làm sao họ dám đầu tư [vào phim nhựa] được? Vừa rủi ro lại vừa tốn kém. Người làm phim phải thực sự yêu thành quả lẫn quá trình thực hiện mới có thể kiên trì chịu đựng được.”

Giám tuyển Nguyên Lê cũng chia sẻ nỗi lo ngại về thực trạng ngành phim, khi chỉ ra điểm va chạm giữa cách làm phim nhựa và thị hiếu của người Việt hiện đại. “Thật tiếc khi định dạng này lại ngốn quá nhiều tiền bạc và thời gian giữa một xã hội luôn đong đếm từng đồng, từng phút; chưa kể chúng ta lại đang sống trong một nền văn hóa chuộng tư duy cứ mới nhất là tốt nhất.”

Dẫu vậy, anh vẫn mong tinh thần không thỏa hiệp của Leon Lê sẽ lan tỏa. Anh dự đoán các định dạng này sẽ “tiếp tục sống” ở mảng phim ngắn, lấy tác phẩm Chín (Ripe) làm ví dụ gần đây; hoặc giới làm phim sẽ “nghiên cứu và kế thừa” phương pháp kể chuyện chi tiết của Leon cùng ê-kíp, để từ đó “mở đường cho những tác phẩm chất lượng cao hơn, đủ sức cạnh tranh trên trường quốc tế.”

Lắng nghe những chia sẻ của họ, tôi không khỏi băn khoăn. Ranh giới rạch ròi giữa dòng phim độc lập và phim thương mại tại Việt Nam là điều không thể chối cãi. Hai mảng này khác nhau hoàn toàn từ cách gọi vốn, phương pháp sản xuất cho đến đối tượng khán giả mục tiêu. Để thắng đậm trên sân nhà, các tác phẩm thương mại giải trí thường phụ thuộc nặng nề vào các hình mẫu nhân vật quen thuộc và những chi tiết văn hóa dễ dãi, điều mà Nguyên mô tả là “rập khuôn kiểu ao làng.”

Cách tiếp cận này hoàn toàn đối lập với tiêu chí “chất liệu bản địa, ngôn ngữ toàn cầu” vốn đã giúp Quán Kỳ Nam chạm đến khán giả quốc tế. Nếu không chịu thu hẹp khoảng cách này, điện ảnh Việt Nam chắc chắn vẫn sẽ chật vật tìm kiếm một vị thế xứng đáng trên bản đồ thế giới. Điều đó đòi hỏi ngành phim nội địa phải biết đặt tính khắt khe về nghệ thuật lên trên những xu hướng thương mại vội vã và giới hạn bởi tư duy trong nước.

Hiểm họa rình rập từ AI và kỹ xảo máy tính

Trong Quán Kỳ Nam, những khán giả tinh mắt đôi khi sẽ nhận ra các công trình hiện đại thấp thoáng xa xa trong các cảnh quay trên sân thượng. Khi được hỏi về điều này, Leon trả lời thẳng thắn đến bất ngờ. “Tôi rất ghét kỹ xảo hình ảnh, bởi vì những hiệu ứng vật lý thực hiện ngay trên trường quay trông sắc nét và chân thật hơn hẳn so với vẽ kỹ xảo máy tính (VFX). Nhất là với các phim hành động, võ thuật của Hollywood hiện nay, họ lạm dụng kỹ xảo quá nhiều khiến mọi thứ trông rất giả. Thế nên, không phải cái gì mới cũng tốt, quan trọng là phải phù hợp.”

Triết lý này hoàn toàn phù hợp với thế giới của Quán Kỳ Nam. Khán giả quốc tế vốn dễ dàng bỏ qua những chi tiết hiện đại lạc lõng đó. Ngược lại, nếu cố dùng kỹ thuật số để chắp vá các chi tiết này nhằm tạo ra một không gian hoài cổ hoàn hảo thì sẽ phản tác dụng. Những mảng kỹ xảo thô vụng sẽ lộ rõ mồn một trên chất phim 35mm có độ hạt tự nhiên, phá nát bối cảnh Việt Nam những năm 1970 chân thực mà ê-kíp đã dày công gầy dựng.

Cá nhân tôi cho rằng, kỹ xảo hình ảnh nên đóng vai trò công cụ nâng tầm nhãn quan của đạo diễn, chứ không phải miếng băng gạc nhân tạo dán lên để che đậy lỗi lầm hay cắt xén bớt quy trình sản xuất. Thế nhưng, thói lạm dụng Trí tuệ Nhân tạo (AI) đang len lỏi một cách tinh vi và nguy hiểm hơn nhiều; đó là một sự xâm phạm không thể chấp nhận được vào tiến trình sáng tạo, trực tiếp cướp đi sinh kế của các nghệ sĩ chân chính. Chúng ta đang chứng kiến một thời kỳ đáng báo động khi AI được vội vã đón nhận để trục lợi, trong khi luật pháp vẫn chật vật chạy theo sau để bù đắp những tổn hại mà giới nghệ sĩ đang phải gánh chịu.

Tuy vậy, khi được hỏi về nguy cơ AI thay thế nhà làm phim, Leon vẫn vô cùng tự tin. “Chúng không bao giờ làm được công việc của tôi.” Đối với anh, quá trình sáng tạo mang đậm bản tính con người. Chỉ có anh mới lưu giữ những ký ức sống động, nhức nhối về việc mẹ và các dì đi thăm ông ngoại tại trại cải tạo sau chiến tranh, những ký ức vốn là nguồn cảm hứng trực tiếp nhào nặn nên nhân vật Kỳ Nam. Không một công nghệ nào trên thế giới, dù ở hiện tại hay tương lai, có thể sao chép vô hồn những tổn thương sâu sắc, cảm xúc cá nhân và nhãn quan nghệ thuật như thế.

Ngô Hồng Ngọc (trái) và đạo diễn Leon Lê (phải) tại liên hoan phim.

Ngược lại, giám tuyển Nguyên Lê lại đưa ra góc nhìn bi quan hơn về thực trạng hiện tại của điện ảnh nước nhà. “Tôi không nghĩ các nhà làm phim khác có cùng suy nghĩ với Leon, nhưng tôi mong mình sai. Như tôi đã nêu trong bài luận và báo cáo chuyên ngành tại kỳ FEFF năm nay, AI hiện đã len lỏi vào rất nhiều công đoạn của quy trình sáng tạo điện ảnh tại Việt Nam. Có người coi đó là món quà trời ban, nhưng cũng có người xem đó là một lối tắt ăn xổi.”

Sự phản kháng của điện ảnh “con người”

Nhận định của Leon về ngành làm phim thị trường trong nước hoàn toàn có cơ sở, nhưng có lẽ anh đã bỏ sót một tín hiệu đáng mừng. Cục diện điện ảnh nội địa đang chuyển mình rõ rệt khi một thế hệ nhà làm phim độc lập trẻ tuổi bắt đầu lấn sân sang mảng thương mại và gặt hái thành công vang dội. Ở quy mô quốc tế, việc Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Mỹ siết chặt quy chế gần đây, quy định nghiêm ngặt rằng phim tranh giải Oscar phải do con người đứng tên tác giả, chính là lời đáp trả đanh thép từ các tổ chức chính quy nhằm chặn bước làn sóng AI tạo sinh.

Suy cho cùng, điện ảnh là loại hình nghệ thuật được xây dựng hoàn toàn từ những rung cảm mong manh của con người. Tôi hoàn toàn đồng cảm với lời đúc kết cuối cùng của Nguyên Lê: “Cứ cho tôi những bộ phim dù còn khiếm khuyết nhưng giàu linh hồn, tôi luôn sẵn lòng đón nhận, và thực tế là tôi yêu thích không ít tác phẩm như vậy!”

Ảnh cung cấp bởi Far East Film Festival.

Bài viết liên quan

in Màn Ảnh

Phim hài lãng mạn về Việt Nam do Netflix sản xuất chuẩn bị bấm máy quay

Lấy bối cảnh ở Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng, Hội An và Hà Giang, A Tourist's Guide to Love sẽ là bộ phim quốc tế đầu tiên được quay ở Việt Nam từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát.

in Màn Ảnh

'Loin du Vietnam' (1967): Bản tuyên ngôn phản chiến đầy trăn trở của điện ảnh Pháp

Thập niên 1960, nước Pháp chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Làn sóng Mới (French New Wave), phong trào điện ảnh được xem là có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất lịch sử phim ảnh nước này. Những trí thức dẫ...

Khôi Phạm

in Màn Ảnh

Review: 'Quán Kỳ Nam,' chuyện tình duy mỹ, từ tốn, nhưng lưu luyến mãi không quên

Với mạch phim nhẩn nha, bình thản, Quán Kỳ Nam chắc sẽ không cuốn hút được lớp khán giả thích sôi động, không đủ kiên nhẫn ngồi nhấp trà nhắm bánh chờ hoa quỳnh nở trong đêm. Tuy vậy, những ai dành đư...

in Màn Ảnh

Tháng 2 này, lễ hội điện ảnh Nhật Bản chiêu đãi khán giả Việt với 20 phim xuất sắc

Trong hai tuần cuối tháng 2 này, khán giả Việt sẽ được chiêu đãi đại tiệc điện ảnh với 20 “món ngon” đến từ xứ sở hoa anh đào trong khuôn khổ Liên hoan phim Nhật Bản trực tuyến 2022.

in Màn Ảnh

Bộ phim Việt sản xuất năm 1974 ra mắt khán giả online sau nhiều thập kỷ 'đắp chiếu'

Câu chuyện bắt đầu vào năm 2009, tại buổi hội thảo dành cho người thất nghiệp được tổ chức ở Sydney, Úc do tôi chủ trì.

in Màn Ảnh

'Bên Trong Vỏ Kén Vàng': Suy niệm về đức tin trên hành trình 'tìm hồn' giữa xứ sương mù

Song hành trong giới điện ảnh chiêm nghiệm với những cái tên như Andrei Tarkovsky, Thái Minh Lượng và Theo Angelopoulos, Phạm Thiên Ân và cuốn phim đầu tay của anh, Bên Trong Vỏ Kén Vàng (tựa tiếng An...