“Tôi luôn mang trong mình nỗi nhớ quê hương da diết. Với tôi, viết chính là cách để trở về. Đó là lý do tôi phải làm sống dậy một Việt Nam trên từng trang sách. Tôi cần được nghe tiếng người ta trò chuyện, nghe âm nhạc, nghe ngôn ngữ. Tôi phải ngửi thấy mùi vị thức ăn, ngắm nhìn phong cảnh quê nhà — đó là cách riêng để tôi tìm về nguồn cội. Mỗi khi lòng trĩu nặng nỗi nhớ nhà, tôi lại tìm đường về qua những con chữ.”
Trong một dịp “trở về” theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nhà văn Nguyễn Phan Quế Mai đã chia sẻ với tôi về động lực thôi thúc chị viết nên cuốn tiểu thuyết mới nhất mang tên Đời gió bụi (tựa tiếng Anh: Dust Child). Hôm ấy, chúng tôi ngồi cùng nhau tại sảnh khách sạn Majestic, trò chuyện về cuốn sách ngay tại một trong những địa danh được chị chọn làm bối cảnh cho tác phẩm.
Tôi gặp Quế Mai lần đầu hơn 5 năm trước, trong một quán cà phê trên đường Pasteur, khi thực hiện bài phóng sự chân dung về chị. Thời điểm đó, dù những bản thảo tiểu thuyết chắc hẳn đã thành hình, nhưng trong mắt tôi và nhiều độc giả nói tiếng Anh, chị vẫn chủ yếu được biết đến với vai trò một nhà thơ và dịch giả. Thế nên, thật thú vị khi giờ đây tôi có dịp hội ngộ và cùng chị dạo bước qua những không gian của Đời gió bụi — tác phẩm nối tiếp thành công vang dội của tiểu thuyết The Mountains Sing (tiếng Việt: Những ngọn núi ngân vang).
Dạo bước giữa Quận 1, ghé thăm những địa danh gắn liền với các phân đoạn cao trào và xúc động trong sách, chúng tôi đã cùng đàm luận về nguồn cảm hứng, quy trình sáng tạo cũng như tâm nguyện mà chị gửi gắm. Trong không gian ấy, tôi còn được lắng nghe chị đọc những trích đoạn tương ứng với những nơi mà chúng tôi dừng chân.
Với Quế Mai, Sài Gòn chính là nhà. Chị từng học tập, làm việc tại đây nhiều năm; cha mẹ và anh em chị cũng đang sinh sống ở đây. Đời gió bụi là cơ hội để chị bày tỏ tình yêu dành cho thành phố, cũng như sự trân trọng đối với quá khứ đa diện của nó.
Là một bản trường ca đậm chất thơ, khéo léo lồng ghép những góc khuất về chiến tranh, sắc tộc, những tổn thương và cả khát vọng hàn gắn, Đời gió bụi đưa độc giả về lại Việt Nam để chứng kiến sức mạnh của lòng trắc ẩn giữa những tàn khốc của nhân loại. Tác phẩm đan cài ba tuyến truyện song song, lúc tách rời, lúc giao thoa và cuối cùng thắt chặt vào nhau: Dan, một cựu binh Mỹ cùng vợ trở lại Việt Nam vào năm 2016 để đối diện với nỗi ám ảnh và hối tiếc thời chiến dưới sự dẫn dắt của Thiên, người hướng dẫn viên; Phong, một người con lai tại Bạc Liêu đang chật vật tìm cách đưa vợ con thoát khỏi cảnh nghèo khó; và hai chị em Quỳnh-Trang (Kim) rời quê nghèo Kiên Giang lên Sài Gòn mưu sinh trong những năm tháng chiến tranh khốc liệt.
Bưu điện Trung tâm Sài Gòn
Đó là bưu điện Sài Gòn, được xây từ năm 1886 đến năm 1891,” Thiên trả lời.
“Trông đậm kiến trúc Pháp, rất Pháp,” Linda nhận xét.
“Phải... Tòa nhà đó được xây vào thời Việt Nam còn là một phần của Đông Dương thuộc Pháp, do kiến trúc sư Villedieu và phụ tá Foulhoux thiết kế.”
“Đặc biệt quá ha...” Linda gỡ kiếng đen, nhìn chăm chú.
Dan nhìn kỹ các cửa sổ vòm và mặt tiền hoa văn cầu kỳ. Hồi trước ông đã thấy nhưng không để tâm.
Tòa nhà này và nhà thờ Đức Bà bên kia khiến tôi nhớ tới mấy kiến trúc tuyệt đẹp ở Paris,” Linda nói.
“Tôi ước gì được qua Paris một lần. Để làm được, tôi cần việc có lương cao hơn.”
Dan suýt bật cười. Thiên thật khôn lanh, bóng gió về một khoản tiền boa hậu hĩ sau chuyến tham quan.
Họ băng qua đường. Dan nhìn thiên hạ nườm nượp ra vào bưu điện. Nếu Kim sống ở Sài Gòn, chắc thỉnh thoảng cô cũng đến đây.
Khi Linda tiến lại mấy bậc cấp dẫn lên bưu điện, Thiên ra dấu cho Dan dừng lại. Ông chờ cho Linda xa tầm nghe rồi mới hạ kính râm xuống, nhìn vào mắt Dan, vết sẹo giật giật. “Tôi nghĩ ông không cần người hướng dẫn. Nếu có cần thì tôi cũng chẳng quan tâm. Bữa nay là ngày cuối tôi làm việc cho ông.”
Khi các cựu binh Mỹ hỏi người Việt về cuộc chiến từ nửa thế kỷ trước, họ thường nhận được câu trả lời: “Chuyện cũ qua rồi, cứ để quá khứ ngủ yên.” Cách nói này như một lời trấn an rằng người Việt luôn rộng mở đón chờ họ, sẽ không có sự trách cứ nào, và tất cả nên cùng nhìn về một tương lai hòa hợp. Đó là một cảm xúc chân thành, nhưng nếu chỉ nhìn quá khứ theo cách đơn giản hóa là “đã chôn vùi” thì vô tình chúng ta sẽ phớt lờ những nỗi sợ, sự thù nghịch hay những vết thương lòng vẫn cần được gỡ bỏ để cùng nhau xây dựng một tương lai tươi sáng hơn.
Phân đoạn tại Bưu điện Trung tâm Sài Gòn diễn ra ở giữa cuốn sách đã bộc lộ những hoài nghi vẫn còn đeo đẳng trong Dan, khi ông mặc định rằng người chàng hướng dẫn viên sẽ bày kế để trục lợi từ mình. Quế Mai chia sẻ rằng qua tác phẩm này, chị hy vọng có thể góp phần “xoa dịu nỗi đau cho những ai chịu ảnh hưởng từ xung đột và ly tán.” Chị tâm niệm: “Tôi viết về thân phận con người, với mong muốn xóa nhòa ngăn cách bằng cách nuôi dưỡng sự thấu cảm giữa người với người.”
Tuy nhiên, muốn chạm tới sự thấu cảm, Dan và Thiên buộc phải đối diện và thừa nhận những rạn nứt vẫn còn hiện hữu trong lòng. Quế Mai giải thích: “Tôi phải vượt qua nỗi sợ của chính mình khi viết về những chủ đề khó và ít được chạm tới này. Nhưng tôi tin cần có người lên tiếng. Chừng nào chưa dám đối mặt với những vấn đề hóc búa, chúng ta chưa thể tạo ra những cuộc đối thoại để cùng nhau chữa lành.”
Tình tiết này là mấu chốt cho thấy Dan vẫn chưa thoát khỏi những định kiến về cách người Việt nhìn nhận mình. Tương tự, Thiên, một người từng tham chiến cho chế độ cũ, cũng phải học cách thấu hiểu những cựu binh Mỹ đang tìm đường về. Những khác biệt giữa họ sẽ còn bùng nổ mạnh mẽ hơn nữa, nhưng khoảnh khắc này đã phơi bày một thực tế: hành trình hàn gắn không hề bằng phẳng hay dễ dàng như chúng ta hằng mong đợi.
Công viên 30 tháng 4
Cỏ trong công viên 30 Tháng 4 vẫn còn ướt sau trận mưa chiều. Một làn gió lạnh cứa vào người Phong. Sợ áo ướt khi ngả lưng xuống cỏ, nên anh cởi áo, đặt lên ngực, trùm lên mặt. Bình đã giặt bằng tay, rồi ủi chiếc áo này trước khi họ lên Sài Gòn. Anh hít hà tình thương của chị. Anh hy vọng chị và các con đã về nhà bình an, không bị thiếu tiền dọc đường. Anh ước gì mình đã làm huề với chị trước khi chia tay, nói là anh xin lỗi. Nhưng anh bực mình về chuyện thị thực và thái độ của chị. Khi Bình bằng lòng cưới anh, thiên hạ xì xầm là chị làm vậy để có cơ hội qua Mỹ định cư. Nhưng anh biết thiên hạ lầm. Anh biết chị yêu anh.
Anh đã từng tin mình không xứng đáng được ai đó yêu thương, vì đời anh bị nguyền rủa. Anh từng tin rằng ba má anh đã làm điều gì đó vô cùng sai trái nên anh bị trừng phạt. May mắn của đời anh là gặp được Bình. Vì chị tin anh nên anh có thể lấy lại niềm tin vào chính bản thân mình. Dẫu vậy, suốt bao năm, anh cứ sợ chị chỉ là một ảo ảnh đẹp đẽ và khi anh tỉnh giấc thì chị sẽ không còn ở bên anh nữa.
Tiếng nói của người Việt vốn chưa có được vị thế xứng tầm trên văn đàn thế giới, và những nhân vật con lai lại càng vắng bóng hơn. Với nhiều độc giả phương Tây, thuật ngữ “Amerasian” (con lai Mỹ-Á) thậm chí vẫn còn là một khái niệm xa lạ. Thế nhưng, đây lại là một hệ quả tất yếu từ các mối quan hệ giữa binh lính Mỹ và phụ nữ Việt trong suốt những năm tháng chiến tranh. Qua câu chuyện về Phong, Quế Mai đã tái hiện sinh động những kỳ thị và gian truân mà những người con lai này phải gánh chịu sau năm 1975, một vấn đề nhức nhối vẫn còn âm ỉ đến tận hôm nay.
Quế Mai đã dành nhiều năm ròng rã thực hiện các cuộc phỏng vấn và nghiên cứu tư liệu tỉ mỉ để hóa thân vào những nhân vật khác biệt về xuất thân, giới tính lẫn sắc tộc. Chẳng hạn, để xây dựng nhân vật Dan, một người đàn ông da trắng, chị đã đồng hành cùng các cựu binh Mỹ trong những chuyến thăm Việt Nam và gặp gỡ những người từng ở bên kia chiến tuyến. Hướng tiếp cận này đã đảo ngược hoàn toàn thực trạng thường thấy trên văn đàn: thay vì để các tác giả nam giới da trắng viết về phụ nữ Việt qua lăng kính của họ, Quế Mai đã chủ động cầm bút để khắc họa tâm tư của chính những đối tượng ấy.
Với nhân vật Phong, Quế Mai đã chắt lọc chất liệu từ vô số cuộc trò chuyện cùng những người con lai, cùng trải nghiệm của chính chị trong nhiều năm ròng rã hỗ trợ họ tìm lại người thân và danh tính cá nhân. Nguồn tư liệu ấy còn được bồi đắp bởi các bản hồi ký, những thước phim tài liệu và các tác phẩm điện ảnh cùng chủ đề.
“Nhân vật Phong trong tiểu thuyết của tôi bị bỏ rơi từ lúc chào đời, không biết chữ, rồi phải đi tìm cha mẹ và đi tìm chính mình. Lấy cảm hứng từ những mảnh đời có thật, tôi quyết tâm khắc họa Phong không phải như một nạn nhân cam chịu, mà là một người luôn làm chủ vận mệnh của mình. Phong không để bi kịch định đoạt cuộc đời; anh mạnh mẽ đối mặt với định kiến, kiếm sống bằng sức lao động lương thiện và luôn sẵn lòng bảo vệ những người xung quanh. Qua việc chăm sóc vườn tược hay những ngón đàn tâm huyết, anh nâng niu giá trị của sự sống. Chính tình yêu dành cho vợ con đã tiếp thêm sức mạnh, giúp anh thắp lên hy vọng về tương lai,” Quế Mai nói.
Tiểu thuyết của Quế Mai luôn tràn đầy sự bao dung và lòng trắc ẩn, hướng độc giả đến những kết cục tốt đẹp nhất có thể đạt được bằng nỗ lực và một trái tim chân thành. Phong, dù đầy khiếm khuyết, lại chính là nơi tinh thần ấy hiện ra rõ nhất. Đoạn trích ở công viên cho thấy hy vọng vẫn có thể tồn tại ngay trong những lúc căng thẳng, bế tắc. Vẻ đẹp của tình người và những điều tử tế hiện hữu trong cuộc đời này sẽ nâng đỡ con người ta vượt qua những nghịch cảnh ngặt nghèo nhất
Bánh Mì Như Lan
Bánh mì Như Lan tương tự các quán ăn Kim từng dẫn ông tới, chỉ rộng hơn và đông khách hơn. Nằm ở góc ngã tư đường nhộn nhịp, ồn ào, hai bên cửa tiệm là các quầy bán nhiều loại thức ăn trông hấp dẫn, và cả đồ khô. Khách ngồi xe máy chạy xe tới tận quầy mua mà còn không phải tắt máy. Đằng sau quầy là các bàn Formica và ghế nhựa. Linda nhíu mũi, nhìn rác nằm rải rác dưới sàn nhà. Thiên cam đoan với họ rằng nơi như vầy mới bán đồ ăn thuần Việt. Ông gọi món và chẳng mấy chốc phục vụ dọn đồ ăn ra, bày đầy trước mặt họ: những ổ bánh mì giòn rụm, kẹp thịt heo quay xắt mỏng, pa tê, dưa chua, hành ngò; đĩa chả giò chiên vàng ươm; đĩa gỏi cuốn để lộ mấy con tôm hồng hào; mấy tô bún, phở, mì bốc khói nghi ngút.
Dù đã là một tiểu thuyết gia lừng danh thế giới, nhưng trong mắt tôi, Quế Mai trước hết vẫn là một nhà thơ. Cách chị họa lại hình ảnh món ăn tại tiệm bánh mì nức tiếng Sài Gòn cho thấy khả năng khơi gợi cảm hứng đầy tinh tế qua những chi tiết chân thực và sắc sảo. Dẫu Đời gió bụi không thiếu những ẩn dụ táo bạo hay những đoạn văn hoa mỹ, nhưng ở phân đoạn này, chị lại chọn cho mình sự tiết chế của một người kể chuyện, giữ cho chất thơ vừa đủ để không làm lấn lướt hiện thực.
Quế Mai từng chia sẻ với Saigoneer rằng tình yêu và ẩm thực luôn song hành với nhau trong miền ký ức. Bởi vậy, thật dễ hiểu khi chỉ một bữa bánh mì giản đơn cũng đủ sức đưa Dan trở về 46 năm trước, những ngày còn đóng quân tại Sài Gòn bên người tình tên Kim. Dan quay lại Việt Nam để đối diện với những ám ảnh quá khứ, nhưng dường như ông lại chưa sẵn sàng để chạm vào những ký ức hạnh phúc cùng những cung bậc cảm xúc phức tạp mà chúng mang lại. Phân cảnh này chính là điểm khởi đầu cho mạch cảm xúc xuyên suốt và đầy sức nặng của cuốn tiểu thuyết.
Khách sạn Majestic
Khách sạn Majestic trông vẫn đường bệ như xưa, với những ô cửa sổ vòm, cửa ra vào rộng thênh thang với những đường nét trang trí cầu kỳ và người bảo vệ. Tòa nhà sơn màu vàng nhạt giờ có lá cờ đỏ sao vàng tung bay bên trên tên khách sạn. Dan nhìn lên tầng cao nhất, nhớ lại rằng nơi đó có góc nhìn đẹp bao quát thành phố. Ông nhủ mình phải dẫn Linda lên đó, kể bà nghe những câu chuyện về các phóng viên nước ngoài thường la cà trên quán bar tầng thượng thời chiến tranh.
Bên phải, đường Tự Do, giờ gọi là Đồng Khởi, trải dài trước mắt ông, sáng bừng với những chiếc đèn nhiều màu. Những quán bar ngày xưa còn ở đó không? Trong tháng cuối cùng trước khi rời Sài Gòn, ông là khách quen ở đó, nơi có các cô gái trẻ hơn Kim, không đòi hỏi và không mang thai.
“Tòa nhà này do một doanh nhân người Việt gốc Hoa xây năm 1925.” Thiên huơ tay về phía khách sạn Majestic. “Tên ổng là Huỳnh Văn Hoa, hay Hui Bon Hoa theo tiếng Phước Kiến, nhưng người ta thường gọi ổng là chú Hỏa. Ổng từng là người giàu có nhứt Sài Gòn. Gia tộc của ổng đã xây hàng ngàn tòa nhà, kể cả Bảo tàng Mỹ thuật ngày nay.”
“Trời, vậy sao? Tôi chưa biết.” Linda ngắm nhìn tòa nhà. “Đẹp quá... Kiến trúc Pháp của khách sạn này làm tôi nhớ mấy tòa nhà từng thấy ở Paris.” Linda ngẩng đầu nhìn lên những cửa sổ đang sáng đèn ở các tầng cao.
Khi Linda nhắc đến kiến trúc Pháp, Dan nghĩ về những điều tàn bạo người Pháp đã làm với người Việt. Họ đã đô hộ đất nước này hàng nhiều thập kỷ, chia rẽ người dân, gây nên cuộc chiến tranh Đông Dương thứ nhất thảm khốc, khiến hàng trăm ngàn người chết. Rồi ông nhận ra lời nói vô tình của Linda làm ông lập tức nghĩ đến chủ nghĩa thực dân Pháp. Một khi ở Việt Nam thì như vậy đó. Ở Mỹ ông có thể giả vờ như lịch sử thế giới không can dự gì đến đời ông. Nhưng vừa trở lại bầu không khí nóng nực của đất nước này, ông biết rằng mỗi đời người bị tác động sâu sắc bởi lịch sử thế giới.
Đời gió bụi liên tục luân chuyển giữa các mốc thời gian, khi thì qua từng chương, lúc lại diễn ra ngay trong dòng ký ức của nhân vật. Trong phân đoạn này, Dan cùng lúc trải nghiệm một Sài Gòn hiện đại đầy sức sống lẫn một Sài Gòn nguy hiểm của những năm tháng chiến tranh. Sự giao thoa ấy mang lại một trải nghiệm đặc biệt cho những độc giả Việt Nam, bởi họ có thể thấy thực tại của chính mình đang được soi chiếu trong những bóng hình xưa cũ.
Dù ở bất kỳ thời điểm nào, Quế Mai cũng lồng ghép khéo léo những tư liệu lịch sử, chẳng hạn như giai thoại về Chú Hỏa. Chia sẻ về quá trình sáng tác, chị nói: “Tôi luôn cố gắng viết nên một cuốn sách mà chính mình cũng muốn đọc. Một tác phẩm chân thực với cảm nhận của tôi về lịch sử và hiện tại của Việt Nam. Tôi gửi gắm vào đó những thông điệp quan trọng từ chính trải nghiệm, quan điểm cá nhân và cả những câu chuyện có sức lay động với người Việt mình.”
Đằng sau những lời chia sẻ ấy là những gắn kết đời thực mà độc giả khó lòng nhận ra nếu chỉ đọc qua trang sách. Ngồi tại khách sạn Majestic, Quế Mai bồi hồi nhớ lại đám cưới của chính chị vào năm 1999 tại nhà hàng Maxim’s ngay sát vách, nơi cũng xuất hiện trong tiểu thuyết. Năm ấy, bạn bè từ thời du học Úc và gia đình chồng đều bay sang chung vui, tất cả cùng chị lưu lại khách sạn này. Với Quế Mai, khách sạn Majestic không đơn thuần là bối cảnh văn học, mà là nơi lưu dấu những kỷ niệm riêng tư. Một cuốn sách đầy ắp nỗi niềm như Đời gió bụi đặt bối cảnh tại đây như một lẽ tự nhiên.
Quế Mai cũng chọn Majestic vì đây là nơi Graham Greene đã viết cuốn Người Mỹ trầm lặng. Tôi tin rằng độc giả sẽ bị lay động bởi Đời gió bụi theo cái cách họ từng say mê tác phẩm kinh điển kia. Tuy nhiên, có một sự khác biệt đáng kể: nếu trong Người Mỹ trầm lặng, cô gái Việt tên Phượng hiện lên khá mờ nhạt và luôn cần lính Mỹ cứu rỗi, thì ở Đời gió bụi, hai chị em người Việt lại đứng ở vị trí trung tâm, bằng sự mạnh mẽ và độc lập, đã tìm cách tháo gỡ những bi kịch mà cuộc chiến để lại cho những người lính.
Tôi hy vọng độc giả khi ghé thăm Sài Gòn sẽ thử lần theo những dấu chân này, để được sống cùng những con chữ và những thân phận mà Quế Mai đã dày công tạo nên.
Độc giả có thể tìm mua phiên bản tiếng Việt của Đời gió bụi tại đây.