Mỗi khi có đợt gió lồng lộng quật vào cửa sổ ngôi nhà của nhà văn Dạ Ngân, những trái me ngoài cửa rung lắc lộp cộp, tưởng như vỏ đạn rơi. Cây me này do người Mỹ trồng vài chục năm trước. Khu cư xá nơi Dạ Ngân ở cũng là họ xây, một sự thật ngẫm ra khá trớ trêu, vì chính bà đã từng tham gia kháng chiến chống Mỹ tại miền Nam ngày xưa.
Đây chỉ là một lát cắt nhỏ trong hàng hà sa số những khía cạnh trong cuộc đời đầy biến động của nhà văn, nhà báo Dạ Ngân. Sinh ra vào năm 1952, bà đã trải qua nhiều khó khăn, mất mát, sự chịu đựng và cả phản kháng như bao người Việt thuộc thế hệ mình, những trải nghiệm ai cũng ngầm hiểu, nhưng ít khi nói thành lời. Đây cũng chính là chất liệu để Dạ Ngân nhào nặn thành những truyện ngắn và bài viết của mình, bao gồm cả Gia đình bé mọn, tiểu thuyết mà theo tôi là nổi bật nhất trong sự nghiệp của bà.
Từng vạt tường trong ngôi nhà nhỏ của Dạ Ngân đều chi chít khung ảnh gia đình lớn nhỏ, cũ mới. Chúng tôi rảo quanh căn phòng. Đứng trước mỗi bức hình, Dạ Ngân chỉ vào từng gương mặt, kể cho tôi nghe rằng ai là khuôn mẫu của nhân vật nào trong Gia đình bé mọn. Kia là cô Ràng, người phụ nữ đứng đầu gia đình, đầy quyền lực, có thể “chẻ sợi tóc làm tư”; cô bé Thu Thi, cô con gái đi mót xơ dừa trước quán nước ở chợ về làm chất đốt; Đính, tác giả của “những con chữ buồn, run rẩy, và vẫn rất là lãng mạn,” người sẽ trở thành bạn đời của Tiệp; và đương nhiên không thể thiếu Tiệp, nhân vật chính của tiểu thuyết và phiên bản trong sách của Dạ Ngân.
Ảnh chụp ba của Dạ Ngân cùng gia đình chồng của bà. Ảnh: Kevin Lee.
Sau khi cho tôi xem loạt ảnh cũ, Dạ Ngân đem ra một chồng vở, từng trang phủ đầy nét chữ viết tay chân phương: đó chính là bản thảo gốc của Gia đình bé mọn. Phải mất hơn 5 năm, bà mới hoàn thành được bản thảo này, qua nhiều bận viết rồi lại ngưng, hay thậm chí có lần nguyên bản nháp cũng bị bỏ ngang. Cuối cùng, bên bờ hồ Đại Lải ở ngoại thành Hà Nội, Dạ Ngân tập trung viết suốt một tháng trời để nắn nót viết xong. Dòng nước đục ngầu phù sa cứ chậm rãi luồn quanh từng ngọn núi đầy sương, còn bà cứ viết, suốt 20 ngày liên tục, mỗi ngày một chương sách.
Ảnh: Paul Christiansen.
Chúng tôi trò chuyện qua từng câu phiên dịch của cháu trai Dạ Ngân. Bà chia sẻ rằng các chi tiết trong truyện cũng ít nhiều đến 80% là có thật. Biết được điều này càng khiến tôi bất ngờ về tác phẩm này. Gia đình bé mọn được xuất bản lần đầu tiên bằng tiếng Việt năm 2005, còn bản dịch tiếng Anh được trình làng vào 2009. Mạch văn xoay quanh chuyện đời của Tiệp, người phụ nữ quê Điệp Vàng, một thôn nhỏ ở miền Nam. Tiệp tham gia kháng chiến ngay thuở thiếu thời sau khi ba cô mất trong chốn ngục tù Côn Đảo.
Tiểu thuyết theo cấu trúc phi tuyến tính, bay nhảy khắp các mốc thời gian trong quá khứ và hiện tại, cho người đọc trải nghiệm nhiều lát cắt quan trọng trong cuộc đời nhân vật chính: khi bồi hồi phát hiện ra cái đẹp của văn chương bên ánh đèn cầy le lói trong căn cứ kháng chiến, cuộc hôn nhân đọa đày bên người chồng công chức, những khó khăn chồng chất khi phải nuôi con bằng đồng lương ít ỏi của một nhà văn. Nổi bật nhất trong cốt truyện là mối tình Bắc-Nam cách trở của bà và người đàn ông đã có gia đình, và đương nhiên, kéo theo định kiến xã hội và gia đình đối với hôn nhân đổ vỡ và vấn đề ngoại tình, đặc biệt trong bối cảnh cái nghèo và tham nhũng bủa vây. Như văn sĩ Wayne Karlin đã viết trong lời tựa sách, sau chiến tranh, Việt Nam trải qua 3 giai đoạn biệt lập, và “câu chuyện của Tiệp diễn ra, đại diện cho 3 thời đại: khai phóng, tước bỏ, và cách tân.”
Trên văn đàn, hầu hết những tựa sách phổ biến nhất về Việt Nam bằng tiếng Anh gần như đều có tác giả là nam giới da trắng. Dẫu rất nhiều tác phẩm có thông điệp đáng đọc, chúng chỉ được viết từ góc nhìn ngoài cuộc, và, vô tình hay cố ý, thường vẽ nên hình tượng người Việt là những nhân vật phụ đơn điệu, hay tệ hơn là theo khuôn mẫu đầy tính kỳ thị chủng tộc. Ngay cả khi ta tính cả sách do tác giả Việt viết, được biên dịch sang tiếng nước ngoài, thì cũng chỉ toàn những câu chuyện về chiến trường, về những người lính, người đàn ông. Hiếm khi độc giả thực sự quan tâm đến Việt Nam thời hậu chiến được đọc tiểu thuyết ngoài những chủ đề vượt biên, và hiếm khi người đọc được trải nghiệm vai trò và chuyện đời phụ nữ Việt Nam trong giai đoạn thống nhất đất nước.
Đây đều là những chủ đề trọng tâm trong Gia đình bé mọn, nên thật thất vọng khi thấy tiểu thuyết hầu như rất ít được biết đến trong văn đàn Anh Ngữ. An Insignificant Family, bản dịch của dịch giả Rosemary Nguyen được trình làng qua Northwestern University Press, một nhà xuất bản nhỏ nhưng rất được tôn trọng, nhất là qua bộ sách “Voices from Vietnam” (Tiếng nói Việt Nam). Khi sách mới được xuất bản, Dạ Ngân đã được mời tham gia chuỗi hoạt động quảng bá sách khắp nước Mỹ, nhưng rủi thay, biên tập viên đã qua đời trước khi các hoạt động bắt đầu, nên chuyến đi cũng vì vậy mà không thành. Tuy sách vẫn được bày bán trực tuyến và nhiều giáo sư cũng biết đến sách để cho vào danh sách tác phẩm cần đọc trong khuôn khổ môn học của mình, tác phẩm hầu như không phổ biến trong bối cảnh văn học Việt hiện đại bằng tiếng Anh. Ngay cả Dạ Ngân cũng hiếm khi được cầm trên tay bản dịch, vì bà hay tặng sách làm quà cho người thân yêu.
Ảnh: Kevin Lee.
Tuy vậy, thật đáng mừng rằng các tác phẩm của Dạ Ngân rất được nhìn nhận và yêu mến ở Việt Nam. Rảo qua quầy văn học Việt Nam trong bất cứ nhà sách lớn nào trong thành phố, bạn chắc chắn sẽ tìm được vài tựa với cái tên Dạ Ngân. Gia đình bé mọn cũng được nhiều cơ quan báo chí đưa tin, và giành được nhiều giải thưởng, như Giải thưởng Hội Nhà văn Hà Nội và Hội Nhà văn Việt Nam.
Nói đi thì phải nói lại, ngay cả khi đã đoạt giải và được lên báo, Gia đình bé mọn vẫn ít được biết đến trong mắt bạn đọc Việt Nam. Tất nhiên, chuyện trung bình người Việt đọc rất ít sách nói chung là vấn đề muôn thuở, nhưng ngay cả trong vòng những “mọi sách” tôi hỏi, không ai biết đến Dạ Ngân và tác phẩm đỉnh cao của bà. Sách không được trích dẫn trong sách giáo khoa, và lần cuối cùng sách được in là năm 2010, dù độc giả hứng thú có thể tìm đọc sách trên website của bà.
Những giai thoại Dạ Ngân lấy cảm hứng viết sách chắc chắn cũng là trải nghiệm thân thuộc của nhiều người lớn trong cuộc đời chúng ta, nhưng có mấy khi chúng được chia sẻ một cách sâu sắc và chi tiết như trong văn chương. Cho nên, đọc Gia đình bé mọn là cử chỉ đẹp để người Việt hiểu hơn lịch sử nước mình và trau dồi khả năng thấu cảm đối với đồng bào mình qua những giai đoạn truân chuyên nhất.
Dạ Ngân (chính giữa, đứng) cùng hai con (đứng), mẹ và cô (ngồi). Ảnh: Website của tác giả.
Nói thẳng ra, Tiệp là một biểu tượng nữ quyền, và rộng hơn, Dạ Ngân cũng vậy. Tuy cuộc đời của bà rất tương đồng với nhân vật, để bạn đọc dễ theo dõi, tôi sẽ chỉ dùng tên Tiệp trong khuôn khổ bài viết này. Tiệp thường xuyên hành động trái ngược với mẫu hình phụ nữ cam chịu trong văn học. Xung quanh cô là rất nhiều những phụ nữ can trường khác — nhiều người là phận góa bụa, phải bươn chải nuôi con, chăm lo cho ba mẹ già, kiếm tiền nuôi gia đình — nhưng Tiệp vẫn nổi bật nhất nhờ tính cách bộc trực và độc lập.
Ngay từ lựa chọn theo đuổi văn chương và báo chí cũng đã tách biệt cô khỏi lối mòn truyền thống “nữ công gia chánh,” nhưng chính đời sống cá nhân của Tiệp mới là khía cạnh phơi bày tính nữ nổi loạn của mình. Gia đình Tiệp không ép được cô hàn gắn lại với người chồng cũ và từ mặt cô vì vẫn kiên quyết đi tìm hạnh phúc dù , nhưng cô vẫn để ngoài tai để tìm kiếm tình yêu đích thực.
Dù người chồng của Tiệp và vợ của Đính đều ngầm biết mối quan hệ của hai người, sự đánh giá của xã hội lại là chuyện khác. Chưa kể, trong giai đoạn đó, ngoại tình là một tội danh có thể dẫn đến tù tội, và thậm chí chỉ cần bị tình nghi ngoại tình đã có thể mất việc. Tiệp không nhụt chí vì rủi ro, hay khúm núm lạy lục người có địa vị để được châm chước. Một hôm, cấp trên gọi cô vào để bắt cô thú nhận, nhưng cô trả lời đanh thép, không ngại phơi bày đạo đức thối nát của chính những kẻ đang cáo buộc mình, mặc kệ hệ quả ra sao.
Đôi lúc, nội lực không chỉ bao hàm việc chống lại chông gai và đạp lên gông cùm khuôn mẫu, mà còn thể hiện qua khả năng biết hạ thấp cái tôi của mình. Quyết định của Tiệp cũng đồng nghĩa với chuyện phải nhìn con mình sống trong khó khăn, mặc áo rách, ăn “rau muống dành cho heo và cá ươn chợ chiều.” Trong phần lớn mạch sách, Tiệp rất kham khổ. Để gặp được Đính, cô phải lây lất nằm co ro trên giấy báo trên xe lửa ghế cứng suốt 60 tiếng đến Hà Nội, xung quanh toàn những tên yêu râu xanh chực chờ gạ gẫm, cảm thấy như “một con vật bị trói thúc và đang chờ bị chở sá đi đâu đó.” Khi đến nơi, chuyến thăm tưởng mặn nồng nhưng lại phải lén lút, cậy nhờ vào bạn bè đủ tốt cho hai người mượn phòng và lý do để gặp nhau. Mọi sự đều trầy trật, và sau cùng, khi Tiệp được minh oan, đó chính là bằng chứng hùng hồn nhất cho quyền tự chủ của phụ nữ.
Ảnh chụp Dạ Ngân thời trẻ.
Bên cạnh khắc họa hình tượng phụ nữ kiên định, Gia đình bé mọn cũng là bức tranh thể hiện sống động cảnh nghèo đầy rẫy khắp xã hội Việt Nam thời hậu chiến. Rất nhiều sách nước ngoài về Kháng chiến chống Mỹ kết thúc vào thời điểm Mỹ rút khỏi Việt Nam năm 1975; ngay cả khi tác giả nói về sau giải phóng, ít khi nào nội dung đi vào chi tiết tình cảnh nghèo đói của Việt Nam. Dạ Ngân chọn miêu tả tất cả những khó khăn ấy bằng ngôn từ xác đáng, không câu nệ. Nói về khu tập thể Hà Nội, tiểu thuyết đặc tả: “Những ngôi nhà tầng lắp ghép đơn điệu, sơ sài, những cái lồng sắt vô trật tự và xấu xí, những sợi dây phơi không cần thẩm mỹ và lịch sự. Càng đi luồn vào trong khu chung cư của bạn Đính, Tiệp càng nghe rõ mùi than đá bếp lò, mùi chuột gián, mùi mốc meo lưu cữu và mùi của những cái nhà vệ sinh công cộng thiếu nước.”
Tương tự, khi Tiệp vào ăn tại một tiệm phở quốc doanh, cô kể “những cái muỗng gọi là thìa ấy bị đục một cái lỗ tròn nhỏ ở chỗ đáng ra nó phải rất nguyên rất lành để làm một cách trọn vẹn và tốt đẹp chức năng giúp cho người ta húp được nước phở.” Người ta đục thìa để chống trộm cắp, và mỗi tiệm đều đếm kỹ bát đũa sau mỗi ngày nấu ăn, vì đôi lúc khách quá túng quẫn có thể “thó” vài chiếc. Dĩ nhiên, cái thìa lỗ chỗ thế thì ăn làm sao ngon miệng, nhưng đối với Tiệp, tô phở nước lèo lõng bõng vài mảnh thịt thừa cũng đã khó nuốt rồi. Cảnh khốn khó như thế có lẽ sẽ gây ấn tượng với bất kì ai sinh ra vào thời bình, với hàng quán sung túc, bún chả đầy ắp thịt, pizza ngoại béo ngậy phô mai và tôm to kềnh.
Sau giải phóng, tệ nạn xã hội cũng tràn lan khắp mọi nơi. Trong tiểu thuyết, các chị điều dưỡng làm việc tại cơ sở nạo phá thai hay giấu lọ nước giải đem bán, phần nước cho nông dân bón rau, còn phần lọ cho dân nấu rượu lậu làm đồ đựng. Chưa hết, có một “bí mật không cần bật mí” rằng vợ một cán bộ chuyên buôn lậu kim cương, thuốc lá. Gia đình bé mọn hoàn toàn không giấu giếm tất cả những hiện thực xấu xí ấy, và còn giúp phơi bày cách chúng ảnh hưởng trực tiếp lên người dân, nhiều tệ nạn vẫn có hệ lụy âm ỉ tồn tại đến ngày nay.
Tiệp vẫn rất tỉnh táo trước những lời đường mật của giới chức về tương lai giàu sang của đất nước, nhưng chính cô cũng không lường trước được rằng tình hình đấu đá nội bộ và phân biệt đối xử đã tệ lậu đến mức này. Thay vì tập trung hàn gắn cách biệt, người ta chỉ chăm chăm mưu lợi cá nhân và trả đũa thù trước. Chẳng hạn, trong truyện, con gái của một cựu đại tá bị ép ở trong chòi dựng tạm bợ trong căn biệt thự của chính gia đình họ, giờ đã bị tịch biên. Cô phải mưu sinh bằng nghề làm móng cho gái làng chơi.
Dạ Ngân rất thẳng thắn lột trần tất cả những chi tiết nhơ nhớp trong tình trạng tha hóa của xã hội ngày ấy, ví dụ như những đau đớn cả về thể xác và tâm hồn của việc phá thai. Bên cạnh đó, bà cũng bày tỏ quan điểm về giai tầng xã hội, đặc biệt những vấn đề về giới mà ngày ấy rất khó có thể nói ra ngoài. Tương tự, tiểu thuyết cũng đem đến rất nhiều suy nghĩ sâu sắc về vấn đề ngoại tình, yêu đương, gian khổ một cách thẳng thắn đến mức dễ gây ngượng. Văn sĩ khác có lẽ đã chọn lược bỏ, nhưng Dạ Ngân thì không, và phần miêu tả của bà đem đến những lát cắt rất chân thực về một giai đoạn lịch sử có lẽ sẽ không được các thế hệ sau biết đến nếu không có người ghi chép lại.
Đối chiếu cuộc đời của chính tác giả với sách có lẽ là một cách độc giả có thể tìm cho mình câu trả lời về số phận của từng nhân vật. Cũng như Tiệp, sau khi chính thức chấm dứt hôn nhân với chồng trước và hơn 11 năm yêu xa, Dạ Ngân chuyển ra Hà Nội sống năm 1993 và kết hôn với Nguyễn Quang Thân. Ông cũng là một văn sĩ có tiếng và là hình mẫu ngoài đời cho Đính trong Gia đình bé mọn. Hai người ở trong căn hộ chỉ 25 mét vuông và phải dùng nhà vệ sinh chung với hàng xóm. Dù đời sống túng thiếu, ông bà vẫn viết rất chắc tay, trở thành cây đa cây đề trong làng văn học Việt Nam. Dạ Ngân vẫn nhắc đến các bạn văn với ánh mắt trìu mến, nhớ đến thời cùng nhau ngồi lại thưởng trà, trò chuyện. Có cùng nhau phê bình, tán thưởng và quảng bá tác phẩm của nhau, họ mới cùng nhau xây dựng, định hình nền văn học, báo chí Việt Nam sau giải phóng.
Dạ Ngân và Nguyễn Quang Thân. Ảnh: Kevin Lee.
Năm 2017, Nguyễn Quang Thân từ trần khi ông vừa 82 tuổi. Dạ Ngân để tang chồng bằng cách chăm sóc bàn thờ ông kĩ lưỡng. Trên đó, bên cạnh bình bông tươi mới, đĩa chuối xoài, là tập sách ông đã xuất bản. Cháu Dạ Ngân kể với tôi rằng chính em cũng đọc sách khi còn nhỏ và thậm chí thích sách ông viết hơn bà viết. Em rất tự hào và tin rằng độc giả vẫn sẽ ngày ngày quay lại với những con chữ ấy trong tương lai.
Bên cạnh những sự kiện trong sách, cuộc đời của Dạ Ngân cũng không chỉ toàn màu hồng. Chồng mất, bị khai trừ khỏi Hội nhà văn, và sống xa hội bạn viết lách — sẽ không có gì để bàn tán nếu Dạ Ngân quyết định về an hưởng tuổi già trong yên bình. Nhưng ngược lại, bà hoàn toàn không có ý định đó. Với sự ủng hộ của gia đình, bà vẫn mọi bạn bè, các nhà văn đến thăm nhà mình, đi quảng bá sách của chồng mình, và du lịch khắp Việt Nam. Cả tính bộc trực của Dạ Ngân cũng vẫn chưa có dấu hiệu phai mờ. Sau khi chúng tôi ngồi nói chuyện về một số thứ hơi chính trị, tôi trấn an bà rằng sẽ không viết phần này vào bài. “À không sao, con muốn in gì thì in,” Dạ Ngân vừa cười láu lỉnh vừa trả lời. “Có gì thì đâu phải báo của cô bị đình bản đâu.”
Tôi hỏi Dạ Ngân nếu bà đã từng bao giờ nghĩ đến chuyện ra nước ngoài định cư không, như Dương Thu Hương hay Phạm Thị Hoài, vì tình hình xuất bản phát triển hơn và dễ tiếp cận độc giả quốc tế. Dạ Ngân gạt đi liền. “Nhà văn phải ở gần người mình,” bà nói. Bà là văn sĩ viết về người Việt, cho người Việt. Dẫu việc đem tác phẩm ra cho thế giới cũng quan trọng, cái quan trọng nhất đối với bà vẫn là công cuộc thể hiện quá khứ, hiện tại, và tương lai nước mình, cho người mình. Như Dạ Ngân viết trong một bút ký chưa xuất bản: “Ở bất cứ đâu trên thế giới, nhà văn luôn luôn là những người tiên phong thầm lặng, nhưng cũng vô cùng quan trọng, thấu cảm được tâm hồn và bày tỏ sâu sắc được cảm xúc.”
Sự chính xác của trích dẫn ấy càng làm tôi cảm thấy tiếc rằng rất ít bạn đọc, dù là người Việt hay ngoại quốc, đã thưởng thức Gia đình bé mọn, một tuyệt phẩm đã lưu giữ các giai thoại và chi tiết quan trọng mà, một khi bị mai một, sẽ chôn vùi cùng chúng tiềm năng giúp chúng ta hàn gắn, thấu hiểu nhau hơn.