Sài·gòn·eer

Back Di Sản » Chuyện chiếc cà mên Việt đi qua những thời khốn khó và đủ đầy

Chuyện chiếc cà mên Việt đi qua những thời khốn khó và đủ đầy

Giờ ăn trưa ở văn phòng, tôi nhận ra có đồng nghiệp thường đem cà mên nhôm đựng bữa trưa nhà nấu. Cà mên từng là một vật dụng không thể thiếu trong gia đình tôi, nhưng giờ chỉ thi thoảng dùng, có lẽ chỉ ông bà, bố mẹ dùng cà mên sắp đồ ăn cho con cháu là nhiều.

Ở trước cổng bệnh viện, tôi vẫn thấy người ta cầm theo cái cà mên khi xuôi ngược đi chăm người ốm. Cái cà mên xách trên tay những người thân có thể là dấu hiệu của sự bình phục, ai đó đã bắt đầu có khẩu vị trở lại rồi đây. Những phần cháo nhà nấu, bát phở nóng hổi mua ở tiệm quen, bát canh hầm bổ dưỡng cùng tình thương được giữ nóng trong cà mên đã trở thành một phần tuổi thơ của bao thế hệ.

Dẫu không dùng thường xuyên, cái cà mên vẫn thân thuộc, khiến tôi nhìn lại thời của ông bà, bố mẹ mình. Món đồ cũ họ vẫn dùng như một thói quen cố hữu, bởi nó gắn liền với những hoàn cảnh lịch sử khó quên. Cái cà mên đã đựng thiếu thốn, đủ đầy trong đời sống người Việt bao năm tháng.

Cà mên những năm xưa

Cà mên là “phiên bản đời đầu” của hộp cơm trưa giữ nhiệt hiện đại. Cà mên gồm nhiều ngăn rời bằng nhôm, inox hoặc nhựa để đựng các món riêng biệt, xếp chồng lên nhau, đậy kín nắp và có khóa gài, quai xách để mang đi. Cà mên còn được gọi là cặp lồng, cà mèn, gà mên tùy từng địa phương. Tên gọi này bắt nguồn từ “gamelle” trong tiếng Pháp, vốn có gốc Latin “camella” là cái bát. Cà mèn Pháp phổ biến từ giữa thế kỷ 19 và được sử dụng trên chiến trường ở rất nhiều quốc gia trên thế giới, mỗi nơi một thiết kế khác nhau. Cà mên có thể đã theo chân người Pháp vào Việt Nam.

Cà mên làm bằng nhôm của quân đội Pháp giai đoạn Thế chiến thứ hai.
Thiết kế cà mên tương tự cũng được lưu giữ bởi các cựu quân nhân Việt Nam từ thời kỳ kháng chiến. Nguồn ảnh: Marna Militaria

Thời Pháp thuộc, cà mên gắn liền với những tiệm cơm tháng ở Sài Gòn. Trong quảng cáo trên tờ Trung Lập Báo, tiệm cơm tháng hương vị miền Trung tên Vi Tiên ở số 42 đường Amiral Courbet (nay là đường Nguyễn An Ninh) có quảng bá hình thức bán cơm trong cà mên để khách không tiện ăn trong tiệm thì “xách gà-mên về nhà củng (cũng) tiện.” Hình ảnh những bà vợ Tây xách cà mên đạp xe đi đưa cơm cho chồng khiến cho đoàn xe đạp thể thao phải nhường đường cũng từng xuất hiện trên một số Vịt Đực, một tờ báo trào phúng sản xuất từ năm 1938.

Cà mên cơm tháng và cơm nhà thời Pháp thuộc. Nguồn ảnh: Thư viện Báo chí - Thư viện Quốc gia Việt Nam.

Cà mên được trưng dụng trong đời sống người lính Việt Nam, thường được sơn hoặc bọc trong túi vải để tránh ánh sáng phản chiếu vào bề mặt làm lộ vị trí đóng quân. Cà mên vừa đựng thức ăn đi đường dài, vừa dùng để đun nấu lại thức ăn còn các ngăn nhỏ thì lấy ra làm bát.

Vì sự tiện lợi ấy mà sau chiến tranh, người dân Việt Nam tiếp tục sử dụng cà mên quân sự, cà mên Liên Xô viện trợ cho Việt Nam rất dày dặn và chắc chắn. Loại cà mên nhôm “kém xịn” hơn được bán ở cửa hàng mậu dịch thì mỏng, chỉ cần rơi nhẹ là bị méo.

Cà mên được dùng nơi chiến trường, ảnh năm 1973. Nguồn ảnh: TTXVN.

Tương tự, từ một vật dụng của binh lính phương Tây, cà mên cũng trở nên phổ biến ở một số nước châu Á khác từng là thuộc địa. Tại Ấn Độ, cà mên cơm trưa gọi là tiffin, được giao bởi một hệ thống những người giao hàng gọi là dabbawalla. Thời thuộc địa, từ tiffin được người Anh dùng để miêu tả bữa ăn trưa nhẹ nhàng nhằm thích nghi với thời tiết nóng bức ở Ấn Độ. Ngày nay, khắp đường phố Mumbai giờ nghỉ trưa là những dabbawalla giao cơm trong tiffin đủ loại. Những người cửu vạn lấy cà mên cơm được đánh dấu bằng mã màu sắc trên sườn hộp từ hàng cơm bình dân hoặc từ gia đình, giao tới cho người lao động rồi đến chiều lại giao hộp rỗng về. Đây cũng là hình thức giao cơm trưa lâu đời ở Malaysia và Indonesia. Cà mên phổ biến ở các nước này cũng vì khả năng đựng tách biệt nhiều món ăn kèm, nhiều món nước như cà ri vào riêng ngăn nhỏ, không bị lẫn lộn mà vẫn gọn gàng.

Thời bao cấp trong cà mên cơm ít ỏi

Nếu như ngày nay, câu hỏi “Trưa nay em ăn gì thế?” của đồng nghiệp thật dễ dàng để trả lời thì thời bao cấp, câu hỏi này dường như thừa thãi và cũng không có chút hào hứng nào. Cà mên của nhiều người thời ấy giống nhau: cùng đựng món chính là sự thiếu thốn.

Thời bao cấp, một bữa cơm đủ gạo, chưa nói đến đủ rau, thịt là mơ ước của nhiều người dân Việt Nam. Theo lời Giáo sư Đặng Phong, đến tháng 3/1978, người dân Hà Nội chỉ còn mua được 4kg gạo mỗi tháng, còn lại là khoai lang và sắn. Nhu cầu mua gạo thị trường của người dân trong thành phố rất cao, còn gạo mậu dịch thì không đủ bán, giá quá rẻ và chất lượng không tốt, chủ yếu là người dân mua rẻ rồi bán lại, đổi lấy gạo quê để ăn. Nông dân, chủ vựa thì không muốn bán gạo cho nhà nước vì sợ bị thiệt vì giá. Sản lượng lương thực và khả năng huy động lương thực của nhà nước vào những năm 1979, 1980 thậm chí còn giảm so với năm 1976.

Người dân xếp hàng mua gạo năm 1985. Nguồn ảnh: ZNews.

Cà mên thời bao cấp nghèo nào đến mức, lỡ đánh rơi mới biết bên trong cũng chẳng có món gì ngon lành, hoành tráng cả, như nhà văn Đỗ Phấn từng kể lại: “Cơm độn mì sợi đóng bánh trong đáy cà mên văng ra bon bon chục mét trên đường mới tạm dừng.” Cơm thì độn với ngô, bo bo, rồi mì, còn món mặn thì chỉ xuất lác đác, chủ yếu là rau luộc, canh, lạc rang mặn hoặc cà muối. Lâu lâu khi nhà có người ốm, cà mên đựng bát phở mậu dịch, có tiền thì có thịt, còn nghèo hơn thì phở “không người lái.”

“Hà Nội trong cà mên cơm ít ỏi của em” là lời của nhà thơ Thanh Thảo trong Hà Nội — nhìn về phía tôi. Thời bao cấp, những người cán bộ đi làm thường mắc cà mên cơm vào ghi đông xe đạp, treo toòng teng mang đi làm để ăn trưa. Hình ảnh ấy in đậm tới nỗi những người mang cơm trưa đi làm được gọi là “cán bộ cặp lồng,” sáng xách đi, chiều xách về như một thứ phụ kiện bất đắc dĩ trong thời gian đói kém. Cà mên còn là “vật chứng” của văn hóa tranh thủ, khi công chức đựng đồ nấu nhờ bếp điện của cơ quan cho tiết kiệm rồi tan sở lại xách về.

Cà mên treo trên xe đạp thời bao cấp. Nguồn ảnh: CGvDT.

Mở cà mên là thấy cả một hiện thực cuộc sống hiện ra. Mở cà mên ra xem bữa trưa công sở có gì trở thành một cách đánh giá chân thực về điều kiện sống của người lao động. Trong số báo Lao động ngày 17/03/1988 về vấn đề tiền lương của lao động ngành y tế, có chuyện về các bác sĩ bị ngất vì đuối sức. Khi giáo sư mở cà mên cơm trưa của họ, chỉ có “lưng cơm với một gắp rau, dưa và vài hạt lạc kho.” Đúng là cuộc sống thấy rõ trong cái cà mên cơm.

Trước khi đất nước mở cửa giao thương, không dễ để người ta mua sắm đồ gia dụng cơ bản. Những món đồ dùng trong quân đội như cà mên được tái sử dụng vì độ bền. Đồ gia dụng trở thành tài sản lớn, nên cái cà mên nằm trong danh sách những món quà mừng cưới, cùng với những chậu thau, phích nước, vải vóc.

Khi đời sống người Việt sau Đổi Mới dần được cải thiện, cà mên vẫn được trưng dụng cho những bữa cơm bình dân. Tôi nhớ hình ảnh những bộ cà mên bốn, năm tầng của tiệm cơm tháng Sài Gòn trong phim Quán Kỳ Nam đã khiến khán giả không khỏi đói bụng. Vẫn là những món cơm nhà bất hủ: thịt kho, đậu hũ sốt cà chua, canh chua cá, rau xào… song khi đựng trong cà mên, mỗi ngăn mở ra như một bất ngờ và bữa cơm cảm giác đa dạng món hơn. Dù đã ăn tối trước khi vào rạp, tôi tin trên đời này có một kiểu đói bụng dành riêng cho cơm nhà tươm tất, ngon lành trong bộ cà mên.

Bộ cà mên cơm tháng trong phim Quán Kỳ Nam.

Bộ cà mên sử dụng trong Quán Kỳ Nam làm bằng nhôm mạ bạc và có hoa văn nổi bắt mắt, giống với mẫu cà mên truyền thống thường dùng ở Thái Lan và có thể đã du nhập vào Việt Nam những năm 1980. Người Campuchia cũng dùng mẫu cà mên có họa tiết, gọi là chan srak, để đựng đồ dâng cúng ông bà tổ tiên và dâng lên các vị sư ở chùa vào lễ hội Pchum Ben.

Kết

Trong suốt lịch sử, thời chiến tranh rồi bao cấp, cà mên chứa đựng những chật vật của cuộc sống. Thời bao cấp, cà mên văng ra đường mà nghèo khó rơi theo. Khi cuộc sống tốt hơn, cái cà mên vẫn im lìm ở một góc tủ bếp sẵn sàng “nhận nhiệm vụ.” Có bao nhiêu bàn tay tần tảo đã thức dậy sớm hơn thường nhật, chuẩn bị cà mên cơm, gói ghém sự ấm áp từ gia đình tới bữa trưa vội vã. Người ta vẫn mong chờ mở cà mên xem bữa nay ăn gì, mỗi ngăn nhấc ra vẫn thấy món khoái khẩu, hương vị thân quen.

Và tôi vẫn bâng khuâng khi bắt gặp cà mên ngoắc trên xe, giờ đây đã mang theo những đủ đầy.

Bài viết liên quan

in In Plain Sight

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam Hà Nội: Dấu ấn phụ nữ trong dòng chảy lịch sử, văn hóa

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở Hà Nội mang trong mình một sứ mệnh quan trọng.

in Di Sản

Câu chuyện lịch sử đằng sau 'Nhà Thờ Hồng' của Tân Định

Ở Sài Gòn, có lẽ ai cũng đã từng nghe danh Nhà thờ Tân Định với màu hồng vô cùng đặc trưng. Tuy nhiên, ít ai biết rằng đằng sau vẻ ngoài ấn tượng, công trình là còn là một trong những thánh đường Công...

Paul Christiansen

in Di Sản

Dự án lưu trữ độc lập và giấc mơ du hành thời gian qua những tấm bản đồ cổ

Tọa lạc giữa đại lộ Nguyễn Huệ sầm uất, tòa nhà Sun Wah Tower mang dáng dấp của một khối kiến trúc hiện đại, minh chứng cho dòng chảy kinh tế toàn cầu và sự hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam. Thế nhưng, c...

in Di Sản

Hoài niệm về đường sắt Việt Nam qua loạt ảnh tư liệu thời kỳ Đổi mới

Loạt ảnh của phó nháy Françoise Demulder, chụp tại Việt Nam trong thập niên 1980–1990, đã ghi lại những khoảnh khắc đời thường gắn với hệ thống đường sắt khi đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới.

in Di Sản

Hồ Con Rùa, minh chứng sống động của lịch sử đa tầng Sài Gòn

Khu vực Công trường Quốc tế-Hồ Con Rùa đã trải qua nhiều thay đổi về thiết kế và công năng xuyên suốt dòng lịch sử của vùng đất Sài Gòn. Từ một cổng thành của công trình phòng thủ quân sự thời Ng...

in Di Sản

Loạt ảnh tư liệu ghi lại Sài Gòn thế kỷ 19 thuở đô thị còn sơ khai

Nếu một người Sài Gòn thời nay bước lên cỗ máy thời gian quay ngược về những năm 1860, cảnh quan thành phố lúc bấy giờ chắc chắn sẽ khiến họ cảm thấy hoàn toàn xa lạ.