Tôi đến với thế giới văn chương của cố nhà văn Nguyễn Huy Thiệp nhờ cô giáo dạy văn trong đội tuyển trường cấp ba. “‘Muối của rừng,’” cô nói, “hãy đọc và phân tích diễn biến tâm lý nhân vật, các con sẽ thấy tâm hồn con người phức tạp thế nào.”
Tôi đọc và giữ cho mình một niềm tin khó lung lay về bản chất bất phân cực của vạn vật, nhưng cũng chẳng thiết tha gì những tác phẩm khác của tác giả. Cho đến gần đây, nghĩa là ba năm sau, tôi tìm đọc Những ngọn gió Hua Tát và ngộ ra được đôi điều.
Nguyễn Huy Thiệp và Những ngọn gió Hua Tát
Nửa cuối thế kỷ 20, Nguyễn Huy Thiệp như một làn gió mới bước vào văn đàn. Ngòi bút của ông vừa huyền hoặc, kì bí, vừa trần trụi. Gọi là cổ tích cũng không đúng, mà hiện thực xã hội cũng không xong. Đến với nghiệp viết khi tuổi đã đầu ba, các tác phẩm của ông đều lần lượt được dịch ra nhiều thứ tiếng, nhận các giải thưởng trong và ngoài nước. Tác phẩm ‘Tướng về hưu’ được chuyển thể thành phim điện ảnh và gây nhiều tiếng vang. Người ta sớm gọi ông là bước ngoặt của đổi mới văn học. Văn chương của ông kiệm lời, vô hình trung làm liên tưởng đến vẻ tối giản của thẩm mỹ hiện đại. Ông đặt một tinh thần tự nghiệm, phản tỉnh vào trong bút pháp truyền kỳ.
Chân dung Nguyễn Huy Thiệp. Nguồn ảnh: Báo Phụ Nữ Online.
Những ngọn gió Hua Tát in lần đầu năm 1989, giữa cao trào của đổi mới văn chương sau 1986. Tác phẩm là kết quả của một thập kỷ Nguyễn Huy Thiệp đến làm ông giáo vùng cao bản ở bản Hua Tát, Sơn La.
Là một tập gồm mười truyện ngắn, Những ngọn gió Hua Tát vẽ ra từng mảnh ghép của một ngôi làng khuất sâu thung lũng. Không như bộ Truyện Tây Bắc của Tô Hoài, không có nào “dân công,” “du kích,” Hua Tát tách biệt hoàn toàn với thời thế chiến tranh còn đang ăn mòn vào từng tấc đất. Họ cũng không hiện lên như những vị anh hùng, hừng hực tinh thần kháng chiến như trong “Chim trời bay về sau cơn mưa" của Ma Văn Kháng. Họ, sống giữa núi rừng linh thiêng của họ, làm người từ bản chất.
Bức tranh mang màu thần thoại của Tây Bắc
Dưới ngòi bút của Nguyễn Huy Thiệp, bản Hua Tát hiện ra trong mắt tôi như những bức tranh trường phái ấn tượng của Monet. Mờ nhòa và rực rỡ. Cứ như núi rừng đã mọc lên và sương mù đã phủ kín để bọc lấy loài hoa ban khờ dại, con suối mỏng, hay để làm chốn yên thân cho những vị thần.
Hua Tát là địa bàn của các loài cây dại, chúng mọc um tùm khắp các tập truyện. Ở lời mở đầu, hoa cúc dại đã “nở vàng đến nhức mắt” cả mùa thu. Có mùa, củ mài lại chen chúc khắp rừng, “người ta đào được những củ mài to tướng dễ như bỡn” (Nàng Bua). Cây cối ở Hua Tát mang những cái tên như bước ra từ huyền thoại, nào “mè loi, vầu, bứa, muỗm,” cả những loài dây leo không tên (Nàng Sinh). Cũng có những tháng ngày khô hạn, cả loài cây to nhất cũng phải xác xơ, và muông thú cũng trốn đi biệt (Con thú lớn nhất).
Dù ngập tràn những điểm màu li ti, Hua Tát vẫn mờ ảo bởi một màn sương trắng. Hoa ban trắng xóa bầu trời, sương muối trắng những ngọn cây khô. Đến đàn cá cũng trắng (Sạ) và con người cũng trắng những bạc (Nàng Bua, Tiệc xòe vui nhất, Đất quên, Chiếc tù và bị bỏ quên, Sạ, Nạn dịch). Nói về “thứ sương mù bàng bạc” quanh năm ở nơi này, tác giả gọi đó là “thứ không khí huyền thoại.”
Hua Tát. Nguồn ảnh: VnEconomy.
Những ngọn gió Hua Tát còn thổi vào văn đàn lúc bấy giờ một thứ mùi hoang sơ. Con người đến, dựng lên những nhà sàn, mang theo cuốc cày bừa vào đất xốp. Họ mang theo cả rượu và âm nhạc. Giữa thung lũng, tiếng khèn của người Thái Đen như quả còn vọng qua vọng lại. Khèn vang lên trong trời xuân để gọi nhân tình (Trái tim hổ) khèn là cái oai của người trai tráng (Sạ). Và rượu cần nữa. Ôi những vò rượu như suối mát, làm chao đảo một cuộc xòe (Tiệc xòe vui nhất) rượu chữa bách bệnh (Trái tim hổ, Nạn dịch) rượu gột rửa thân người (Tiệc xòe vui nhất, Chiếc tù và bị bỏ quên).
Con người, thời sự
Nếu bối cảnh đảm đương phần “huyền thoại” trong màn sương kín kẽ, các nhân vật của Nguyễn Huy Thiệp lại trưng ra một hiện thực lõa lồ. Con người của Hua Tát…chỉ là con người, mang trong mình cá tính và niềm tin thoát khỏi những tính từ nhị nguyên. Họ trượng phu, dịu dàng, mê tín, nhân ái, sát khí, ấm áp, lầm lì. Họ hiện diện xuyên chiều không thời gian. Ta dễ nhận ra dáng dấp của họ trong một số câu chuyện ngày nay.
Trong ‘Nàng Bua,’ tác giả đặt ngay vấn đề về quyền tự do của đàn bà mà mãi bây giờ dân chúng mới bàn luận sôi nổi. Nàng Bua bị cả làng dèm pha vì ‘chửa hoang,’ cái chửa mà những người đàn ông uy tín cũng không dám đứng ra chịu trách nhiệm. Vượt qua những điều tiếng, nàng yêu thương và chăm sóc các con, biết tự vui với cuộc sống của mình, biết mình muốn gì và chỉ cho phép người mà nàng thực sự yêu được cùng xây tổ ấm. Từ lâu trên các diễn đàn, tôi gặp không biết bao nhiêu màn tranh luận của người đời về lựa chọn cuộc sống của một người phụ nữ. Cặp đại gia hay trai trẻ cũng soi, ly hôn cũng nói, cãi nhau ỏm tỏi chuyện người ta phá thai hay nuôi con đơn thân. Thế mà nửa thế kỷ trước, Nguyễn Huy Thiệp có một câu trả lời gọn lỏn: kệ.
Minh họa ‘Nàng Sinh’ bởi Lê Thiết Cương.
Đến với ‘Sói trả thù,’ ta bắt gặp câu chuyện về một phụ huynh tham vọng, kéo con cái khỏi khung trời ngây thơ bằng những bài học vượt sức. Ta bắt gặp câu chuyện thế này nhiều lần khắp cõi mạng, nào cô bé mười một tuổi được 8.0 Ielts, nào những buổi học toán giàn giụa nước mắt, những lịch học thêm chi chít từ sáng đến khuya. Ẩn dụ cho một tuổi thơ bị đánh cắp, nhân vật San bị chính thành quả mình săn được giết chết ở tuổi 13, độ tuổi chớm dậy thì.
Truyện cuối của tập, ‘Nàng Sinh’ lại mang dáng vẻ của thực trạng chảy máu chất xám và sự trao quyền bất cân trong xã hội. Trong đó, nàng Sinh là một nhân vật thấp cổ bé họng, “người ta quên bẵng mất nàng.” Làng có cục đá thiêng (tượng trưng cho việc khó, trùng hợp nó nằm trong miếu thờ chàng Khó) nhiều người chạm vào nhưng không ai nhấc được (tượng trưng cho giải quyết công việc). Người ta cũng không “giao việc” cho nàng, đến khi một người ngoài mời đến. Nàng giải quyết nó “dễ như bỡn,” nàng đẹp lên (hay là người ta bỗng thấy nàng có giá trị). Cuối cùng nàng đi theo ông khách lạ, người duy nhất trao quyền cho nàng, để sống một cuộc đời được trân trọng.
“Tôi căm ghét sâu sắc những kết thúc có hậu”
Nguyễn Huy Thiệp từng quả quyết như thế. Cả mười tập truyện hết bảy truyện kết thúc bằng cái chết chưng hửng. Trong ‘Trái tim hổ,’ chàng Khó chết ngay khi bị cướp công lúc lấy tim hổ cho nàng Pùa, rồi Pùa cũng chết. Trong ‘Con thú lớn nhất,’ lão thợ săn tự sát khi bắn oan vợ mình. Nàng Bua chết sau khi chưa hưởng trọn hạnh phúc muộn màng trong truyện cùng tên. Ông Nhân mất đứa con duy nhất trong “Sói trả thù,” ông Pành chết trên đường tìm tình yêu trong ‘Đất quên,’ chiếc tù và thần cũng thành xấu xí trong ‘Chiếc tù và bị bỏ quên.’ Còn ở ‘Nạn dịch,’ con bạc Lù sống một kiếp đỏ đen chỉ để kiếm tiền trả cho cái chết.
Dù “Sạ” cũng chết trong câu chuyện cùng tên, tôi không cho nó là cái chết chưng hửng thứ tám. Sạ đã sống một cuộc đời du mục trọn vẹn, đã làm tất cả những gì mình muốn thay vì răm rắp theo nề nếp làng. Ngày về, Sạ mang theo đôi chân cụt, đôi mắt đục và những câu chuyện ly kỳ. Khi chết đi, ông tin rằng những ngày tháng bình dị ở Hua Tát mới chính là quãng đời phi thường nhất. Điều này khiến tôi nhớ đến Nhà giả kim, người ta cứ mải miết đi tìm kho báu ở tận đẩu tận đâu, để rồi thấy kho báu ngay trước hiên nhà.
Minh họa 'Sạ' bởi Lê Thiết Cương.
Quay lại với hai kẻ lạc loài có hậu, tôi tin rằng tác giả hẳn có những ẩn ý đằng sau, mà thực tế nó cũng chẳng có hậu mấy. Nếu ‘Nàng Sinh’ hé lộ vấn đề rất thời sự nêu trên, thì ‘Tiệc xòe vui nhất’ mang những dấu hiệu ngầm khó nhận biết. Lý do nó khó nhận biết chính bởi vấn đề nằm trong tiềm thức của mỗi người, mà chúng ta thường phớt lờ những thứ thuộc về tiềm thức.
‘Tiệc xòe vui nhất’ trêu ngươi chính định kiến trong mỗi chúng ta. Truyện kể về một cuộc kén rể cho con gái trưởng làng, nàng E. Chàng đầu tiên đã chứng minh được tính dũng cảm của mình, nhưng bị bỏ qua bởi “người dũng cảm sẽ mải mê với sự nghiệp.” Chàng thứ hai chứng minh được sự khôn ngoan, cũng bị bỏ qua bởi “những người khôn ngoan bao giờ cũng sẽ đau khổ, (vì) họ biết quá nhiều.” Chàng thứ ba rủng rỉnh bạc vàng, sự giàu có trông thấy được bằng mắt, cũng bị bỏ qua vì “không thể giàu có mà không giả dối.” Chàng cuối cho rằng mình trung thực, và dù không cần chứng minh, E như cũng tin con người này. Chàng còn cầu mưa để chứng minh tính trung thực, thế mà mưa xuống thật.
Tôi vắt tay lên trán cả tối mà không nghĩ ra vì sao trời đổ mưa vào đúng lúc chàng cần, vì sao E biết chàng trung thực mà tin trong khi đã có những định kiến vô xác thực dành cho ba chàng trai trước? Phỏng chừng, E đã mến Hặc trong một lần gặp gỡ vô tình nào đó giữa rừng. Hay nhỡ như chàng đã xem dự báo thời tiết rồi lòe cả thiên hạ rằng mình gọi được mưa. Và phỏng chừng, đã có một kẻ dối trá lấy được vợ hiền chỉ bởi hắn may mắn thuyết phục được rằng hắn trung thực?
Nguyễn Huy Thiệp cao tay như thế, mang chính người đọc tham gia vào tác phẩm, rồi thách thức những giá trị như đã đóng đinh trong đầu người ta.