Sài·gòn·eer

Back Đời Sống » Natural Selection » Rừng thông đặc hữu của Đà Lạt: 'Phép màu' của vùng nhiệt đới trước áp lực đô thị hóa

 "Hàng thông lấp loáng đứng trong im / Cành lá in như đã lặng chìm / Hư thực làm sao phân biệt được!"

Ảnh: Alberto Prieto.

Đúng như những vần thơ của Hàn Mặc Tử, rừng thông Đà Lạt luôn khơi dậy những rung cảm mãnh liệt. Nhà thơ tài hoa xứ Bình Định không phải là người duy nhất tìm thấy nguồn cảm hứng bất tận từ những tán thông xanh. Trong bài thơ ‘Đà Lạt chớm đông,’ Yên Sơn cũng từng viết: “Tôi lặng ngắm… chập chùng thông bát ngát / Vùng núi đồi trùng điệp một màu xanh / Tấm lụa vàng và màu nắng long lanh / Trải rất nhẹ như choàng vai vạn vật / Bỗng nhớ quá những ngày xưa xa khuất.”

Ảnh: Alberto Prieto.

Hình ảnh cây thông thường xuất hiện trong những tác phẩm kết tinh từ nỗi đau, sự cô độc hay một mối tình dang dở. Long Vương từng viết: “Thành phố buồn lạnh căm cơn quặn thắt / Hàng thông reo như giăng mắc tơ sầu / Khóc cho ai hồn tan nát phai nhàu.”

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Ở một cung bậc cảm xúc khác, Ái Nhân khép lại bài thơ ‘Chiều say’ bằng những câu chữ phóng khoáng: “Vi vu bạt ngàn thông hát / Thả hồn khao khát vào say!” gợi lên một sự hòa quyện tuyệt đối với thành phố, đến mức việc buông mình vào cơn say dường như là cách phản hồi duy nhất hợp lẽ. Ngược lại, khi xót xa trước cảnh mỹ quan thành phố bị xuống cấp, Phan Nhiên Hạo đã dùng hình ảnh thông trong một phép ẩn dụ đầy bất lực: “Tôi thấy một con bửa củi lật ngửa những cái chân thông / xơ xác chĩa lên trời ngọ ngoạy.”

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Tại sao thơ ca và nhạc họa lại ưu ái rừng thông Đà Lạt đến thế? Có lẽ lý do không chỉ đơn thuần vì Đà Lạt là “thành phố ngàn thông.” Những cây thông dường như là biểu tượng hoàn hảo nhất để tôn vinh vẻ đẹp và vị thế của Đà Lạt trong tâm tưởng công chúng. Với nguồn gốc từ thời Pháp thuộc và khí hậu ôn đới đặc trưng, Đà Lạt mang một bản sắc độc nhất vô nhị tại Việt Nam, và những rừng thông (vốn hiếm gặp ở các vùng miền khác) cũng mang trong mình sự khác biệt tương tự. Chính sự mới lạ ấy đã mời gọi biết bao tâm hồn nghệ sĩ khắc họa.

Tất nhiên, chẳng cần phải là thi sĩ mới nhận ra vẻ đẹp của thông. Bất kỳ ai đặt chân đến Đà Lạt cũng đều bị thu hút ngay lập tức bởi những thân cây nâu trầm, được bao phủ bởi lớp lá kim bóng bẩy trải dài dọc các cung đường hay phủ kín những ngọn đồi xa, tỏa vào không khí se lạnh mùi nhựa thông thanh khiết. Chính cái lạnh ấy đã kéo những đôi tình nhân lại gần nhau hơn trong những quán cà phê nhỏ xinh, và những thảm cỏ trải dài bên hồ hay giữa rừng sâu đã dệt nên danh tiếng của “thành phố tình yêu.”

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Nhưng vì sao nỗi buồn lại thấm đẫm trong những vần thơ về rừng thông? Sự tĩnh lặng và không gian thoáng đãng vốn nuôi dưỡng sự gần gũi, đồng thời cũng là nơi để người ta chiêm nghiệm về những vết thương lòng hay những ký ức khó quên.

Có lẽ bản chất thường thấy của tình yêu là những bi kịch, nên khi người ta đến đây để tìm kiếm sự lãng mạn, họ vô tình chạm vào những liên tưởng đau thương. Và dĩ nhiên, người ta thấy cô đơn nhất là khi xung quanh toàn những cặp đôi, như Duy Sơn từng cảm thán: “Chiều tà bên gốc thông xưa / Lá rơi lác đác, hoa thưa phai màu / Người đi chẳng ngoảnh lại đâu / Mây trời vội vã qua cầu gió bay / Mình ta đứng giữa chốn này / Nên đi tiếp bước hay dừng chốn đây? ”

Không một thành phố nào khác ở Việt Nam có được sự hội tụ đặc biệt của cảnh sắc thiên nhiên, lịch sử, dấu ấn con người và những câu chuyện riêng tư như thế. Chúng ta cảm nhận được điều đó, nhưng chính các nhà thơ mới là người gọi tên cảm xúc một cách trọn vẹn nhất.

Bưu thiếp quảng cáo Đà Lạt thời thuộc địa. Nguồn ảnh: trang Flickr manhhai.

Từ thuở khai sinh, Đà Lạt luôn được mô tả như một chốn nghỉ dưỡng mang dáng dấp nước Pháp hơn là Việt Nam. Điều này thể hiện rõ qua một bút ký tiếng Pháp từ năm 1908: “Sau chuyến leo núi nghẹt thở qua những cánh rừng đầy rẫy bệnh tật và cái chết, không khí dần trở nên nhẹ nhàng hơn, hiện ra trước mắt là một vùng núi phủ kín thông xanh. Ngỡ như đang hít thở bầu không khí của chính nước Pháp vậy.”

Các tài liệu quảng bá thời kỳ đầu bằng cả tiếng nước ngoài lẫn tiếng Việt đều gắn tên thành phố với những ý niệm lãng mạn, song hành cùng những truyền thuyết nhuốm màu bi thương. Nổi tiếng nhất có lẽ là giai thoại về "đồi thông hai mộ.” Chuyện kể về một đôi trai gái yêu nhau nhưng bị gia đình ngăn cấm vì không môn đăng hộ đối. Tuyệt vọng, chàng trai xin ra trận rồi hy sinh. Nghe tin dữ, cô gái cũng trầm mình xuống hồ Than Thở. Ngày nay, rừng thông vẫn sừng sững vươn cao bên hai ngôi mộ ấy như một minh chứng cho mối tình thủy chung.

Những “hóa thạch sống” trên cao nguyên

Bên cạnh các văn nghệ sĩ, giới khoa học cũng đóng góp những góc nhìn giá trị về rừng thông Đà Lạt. Trong mắt người thường, thông Đà Lạt trông không khác gì những cây thông trong phim Giáng sinh phương Tây hay phim ảnh Nhật Bản. Tuy nhiên, các loài thông ở đây có những điểm đặc trưng riêng.

Nằm ở độ cao 1.500m tại điểm cuối của dãy Trường Sơn, Đà Lạt là một phần của khu dự trữ sinh quyển Langbiang. Khí hậu mát mẻ này nuôi dưỡng nhiều loài thông, phổ biến nhất là thông ba lá và thông nhựa. Thế nhưng, quý giá nhất phải kể đến hai loài cực kỳ hiếm: thông năm lá Đà Lạt (Pinus dalatensis) và thông lá dẹt (Pinus krempfii). Hai loài này hầu như không tìm thấy ở nơi nào khác ngoài Đà Lạt và vùng phụ cận. Vì quá khan hiếm, hai loài thông này chỉ mới được nghiên cứu chuyên sâu trong những năm gần đây.

Minh họa thông năm lá. Nguồn ảnh: Turbosquid.

Thông năm lá hội tụ đầy đủ những đặc tính phổ biến của giống thông: cao tới 40m, tán hình nón, thân nâu đỏ và lá kim nhọn. Với người bình thường, chúng trông giống như những cây thông trang trí trong sảnh khách sạn sang trọng mỗi mùa lễ hội, chỉ khác là cành không mọc sát gốc như các loài vân sam hay lãnh sam.

Thông lá dẹt thì kỳ lạ hơn. Các nhà cổ thực vật học từng ghi nhận hóa thạch của loài thông có lá bản lớn và phẳng, vốn được cho là đã thích nghi với khí hậu nhiệt đới từ hàng triệu năm trước. Tưởng chừng đã tuyệt chủng, loài này bất ngờ được nhà thực vật học người Pháp M. Krempf tìm thấy vào năm 1921 tại Nha Trang (dù hiện nay chúng không còn xuất hiện ở đó nữa). Phát hiện này đã đưa thông lá dẹt vào danh sách những “hóa thạch sống” quý giá.

Thông lá dẹt được phát hiện tại Nha Trang bởi M. Krempf. Nguồn ảnh: Harvard.

Dù giống thông này ít khi xuất hiện bên ngoài lãnh thổ Việt Nam, những nghiên cứu chuyên sâu về thông lá dẹt đã mở ra nhiều hiểu biết quan trọng về lịch sử tiến hóa của họ Thông. Thuộc bộ Lá kim, cây thông vốn dĩ chỉ cư ngụ ở Bắc bán cầu và gần như vắng bóng tại các vùng rừng nhiệt đới. Trong khi nhiều loài lá kim khác vẫn sinh trưởng tốt ở Nam bán cầu, thì họ Thông lại thường yếu thế hơn.

Sở dĩ có sự thua thiệt này là do hệ mạch dẫn kém hiệu quả, tốc độ quang hợp thấp cùng cấu trúc lá đơn gân vốn không phù hợp để cạnh tranh trong môi trường rừng rậm rạp. Ở những nơi tầng thấp luôn bị che phủ bởi bóng râm, các hạt giống thông thường rất khó lòng nảy mầm và vươn lên. Thế nhưng, thông lá dẹt lại mang trong mình một cơ chế sinh tồn hoàn toàn khác biệt.

Rừng thông lá dẹt. Nguồn ảnh: iNaturalist.

Với chiều cao sừng sững từ 35 đến 55m, thông lá dẹt vươn mình vượt khỏi tầng tán rừng ở cao độ từ 1.200 đến 2.000m. Chỉ cần nhìn qua, người ta có thể nhận diện ngay loài cây này bởi chúng không mang hình chóp nón thường thấy, mà sở hữu những tán cành xòe rộng và bằng phẳng, dễ gây liên tưởng đến những cây bonsai được cắt tỉa tỉ mỉ. Tầm vóc to lớn này là thành quả của những đặc tính thích nghi tiến hóa ngay từ khi cây còn non.

Những chiếc lá dài, dẹt như lưỡi kiếm giúp cây quang hợp tối ưu ngay cả trong điều kiện thiếu sáng nơi tầng thấp rậm rạp của rừng nhiệt đới. Đồng thời, những biến đổi về mặt sinh lý cũng giúp nâng cao hiệu suất dẫn nước cho cả thân gỗ và lá cây. Chính những đặc điểm khác biệt hoàn toàn với họ Thông truyền thống này từng khiến giới khoa học phải đau đầu và làm lung lay các hệ thống phân loại quy củ.

Phải đến khi có kết quả xét nghiệm di truyền, cuộc tranh luận mới thực sự ngã ngũ để khẳng định đây chính xác là một loài thông. Khả năng sinh tồn của chúng tại các khu rừng mưa ở cao độ thấp không chỉ mang lại cái nhìn giá trị về sự phát tán của họ Thông trên toàn cầu, mà còn mở ra giả thuyết rằng sau hàng triệu năm tiến hóa, có thể họ nhà thông sẽ thực sự chinh phục được cả Nam bán cầu.

Cấu trúc lá độc đáo của cây thông lá dẹt. Nguồn ảnh: Harvard.

Bóng ma quá khứ dưới tán thông xanh

Thực trạng bảo tồn của thông lá dẹt và thông năm lá Đà Lạt tuy không quá bi quan như nhiều loài động thực vật ít tên tuổi khác tại Việt Nam, song những dữ liệu thu thập được vẫn dẫn đến nhiều kết luận đáng lo ngại. Vào thời kỳ thuộc địa, nhờ định hướng phát triển Đà Lạt thành nơi nghỉ dưỡng nên hệ thống rừng tại đây không bị khai thác công nghiệp trên diện rộng. Riêng hai loài thông quý kể trên, do số lượng trong tự nhiên vốn đã ít ỏi và giá trị chủ yếu nằm ở khía cạnh thẩm mỹ thay vì thương mại, nên vẫn tạm thời giữ được sự ổn định về quần thể.

Tuy nhiên, số phận của các loài động vật cư ngụ dưới tán thông lại hoàn toàn trái ngược. Các loài thú lớn như hổ, báo, voi, gấu và hươu nai đã trở thành mục tiêu của giới săn bắn giải trí người Pháp và tầng lớp thượng lưu Việt Nam. Ngay cả Vua Bảo Đại cũng từng biến các khu rừng thông thành địa điểm tổ chức những cuộc săn lùng muông thú quy mô lớn. Đến thập niên 1920, tình trạng săn bắn quá mức đã khiến số lượng động vật sụt giảm nghiêm trọng. Trước thực trạng đó, chính quyền thuộc địa buộc phải tìm giải pháp cân bằng giữa lợi ích kinh tế từ săn bắn với việc bảo tồn cảnh quan phục vụ du lịch. Dựa trên mô hình hệ thống công viên quốc gia đang hình thành tại Mỹ, họ đã thiết lập 16 khu bảo tồn tại Đông Dương, bao gồm một “khu trú ẩn” (parc de refuge) bao trọn cao nguyên Langbiang.

Ảnh: Jimmy Art Devier.

Dù các nhà quản lý và cộng đồng đều thống nhất rằng giá trị của rừng Đà Lạt nằm ở cảnh quan thiên nhiên thay vì khai thác nguyên liệu, hệ sinh thái này vẫn đang đứng trước nhiều rủi ro. Tình trạng đô thị hóa nhanh chóng tại trung tâm thành phố khiến diện tích cây xanh bị thu hẹp đáng kể. Cùng lúc đó, sự phát triển mạnh mẽ của ngành nông nghiệp đang biến nhiều khu vực rừng thành những vùng nhà kính trải dài, trực tiếp làm gia tăng nhiệt độ vi khí hậu tại địa phương.

Đáng chú ý, việc phá rừng thường diễn ra dưới nhiều thủ đoạn tinh vi. Đơn cử như năm 2022, cơ quan chức năng đã ghi nhận vụ hủy hoại rừng có quy mô lớn nhất từ trước đến nay tại thành phố này. Ngoài ra, tình trạng xâm hại cây thông đơn lẻ vẫn tiếp diễn qua các hành vi như khoan thân lấy nhựa hoặc đầu độc cây. Mục đích của những việc làm này là khiến cây chết dần, từ đó biến diện tích đất lâm nghiệp vốn đang được bảo vệ thành đất có thể canh tác nông nghiệp.

Đà Lạt ngày càng bị bao phủ bởi nhà kính. Ảnh: Thịnh Doãn.

Việc rừng thông tiếp tục biến mất sẽ khiến khí hậu Đà Lạt nóng lên và trở nên khắc nghiệt hơn; các thảm họa thiên nhiên như sạt lở đất và xói mòn cũng theo đó mà gia tăng cả về tần suất lẫn mức độ nguy hiểm. Kéo theo đó, môi trường sống của nhiều loài động vật đặc hữu như hoẵng, cầy vằn, gấu chó, thỏ vằn Trường Sơn, sẻ thông Việt Nam và khướu đầu đen má xám sẽ bị đe dọa nghiêm trọng. Về mặt khoa học, sự biến mất của các quần thể này sẽ tước đi cơ hội để giới nghiên cứu tìm hiểu tường tận về nguồn gốc tiến hóa cũng như khả năng thích nghi của họ Thông trước những biến động môi trường trong tương lai.

Sâu xa hơn, khi rừng thông không còn, nguồn cảm hứng làm nên linh hồn nghệ thuật của Đà Lạt cũng sẽ dần cạn kiệt. Nhà thơ Bùi Chí Vinh từng viết: “Trái tim tôi mọc một rừng thông khi ghé thăm Đà Lạt.” Thật khó hình dung chúng ta sẽ tìm thấy gì trong tâm hồn mình khi đặt chân đến đây mà không còn bóng thông để chiêm ngưỡng, cũng chẳng còn vần thơ nào được cất lên để ngợi ca vẻ đẹp của phố núi nữa.

Ảnh: Alberto Prieto.

Bài viết liên quan

Paul Christiansen

in Natural Selection

Con cò: Biểu tượng của hồn quê Việt Nam

Đã bao giờ bạn tự hỏi Chim Lạc là loài chim gì chưa?

Michael Tatarski

in Natural Selection

Cầy vằn bắc: Nạn nhân bất đắc dĩ của ngành công nghiệp cà phê chồn

Qua chuyên mục Natural Selection, Saigoneer đã giới thiệu nhiều loài động vật mà ai cũng quen mặt như cọp, voi, và mèo, nhưng nhân vật chính của bài viết hôm nay sẽ là một cái tên mới toanh ...

in Natural Selection

Luận công, luận tội hoa sữa, nàng thơ gây tranh cãi của mùa thu Hà Nội

Sớm, mở toang cánh cửa sổ đón những tia nắng đầu tiên, tôi nghe mùi hoa đặc trưng quen thuộc thoang thoảng trong không khí se se lạnh. Năm nay, trời vào thu sớm, và chỗ tôi hoa sữa cũng đã bung nở nhữ...

Paul Christiansen

in Natural Selection

Luận tội lục bình, kẻ xâm lược sông nước Việt bằng vẻ đẹp phù phiếm

Trôi khắp bao nhánh sông, những hệ thống rễ, cuốn, lá đan xen tạo thành bao bụi lục bình xanh mướt, nhấp nhô theo dòng nước nhờ phần thân rỗng xốp, điểm xuyết bởi những cánh hoa hồng tim tím xếp nếp, ...

Paul Christiansen

in Natural Selection

Lần đầu tiên, trái thanh long có trong bài viết Natural Selection

Trong tất cả các thành tựu mà tôi đạt được, thứ đỉnh nhất tôi từng chế ra có lẽ chính là "Banana Line" — hiểu nôm na trong tiếng Việt là "Hệ Quy chiếu Trái chuối." Giải thích ngắn gọn, đây là một than...

Paul Christiansen

in Natural Selection

Rắn hổ mang chúa, kẻ hướng nội ôn hòa, nhưng mang danh hung hãn

Rắn hổ mang chúa có lẽ có team truyền thông rất mạnh. Chỉ cần nhìn vào tiểu cảnh trang trí Đường hoa Nguyễn Huệ năm Ất Tỵ là thấy ngay minh chứng: bức tượng đồ sộ nhất, bắt mắt nhất miêu tả hình tượng...