Nói Tết quy tụ những gì đẹp đẽ nhất của văn hóa Việt cũng không sai, bởi hơn cả một thời khắc chuyển giao giữa cũ và mới, đây cũng là lúc con người ta được “sống lại” với những giá trị truyền thống lúc bấy giờ.
Đó là những phiên chợ rộn ràng để tìm thấy hương vị quê nhà; chiếc bánh chưng vuông vắn như đất, đòn bánh tét tròn tượng trưng cho trời là chút lòng thành nhưng cao quý dâng lên tổ tiên; rồi chiều 30, ai nấy dựng trước nhà một cây nêu cao treo chuông con rung rinh với ý niệm xua đuổi những điều không lành.
Hay khi những nếp giấy đỏ bắt đầu được treo dọc khắp phố Hàng Mã, tôi lại ngẫm nghĩ về những ông đồ cho chữ trên giấy dó. Người xin xin gì nhiều hơn một câu chữ thư pháp? Còn người cho, cho gì nhiều hơn một nét mực tàu bay?
Áo dài, khăn đóng… ông đồ túc nho
Trong khoa cử Nho học, những sĩ tử đã thi qua ba kỳ thi đỗ Tú Tài sẽ được người đời gọi là ông Đồ. Họ có thể đậu những kỳ thi cấp thấp, không đỗ đạt hay chưa đủ để được nhà nước cho làm quan thì họ phải học thêm để thi những kỳ thi cao hơn sau đó như thi Hội, thi Đình… hoặc tạm kiếm sống bằng những nghề dạy học (gọi là “thầy đồ”), viết thuê.
Thầy đồ ngồi đọc sách, 1915. Ảnh: Léon Busy.
Ấn phẩm Nếp Cũ Con Người Việt Nam do tác giả Toan Ánh biên soạn có đoạn viết: “Học khai-tâm không có trường của nhà nước, nhưng tại làng xã nào cũng có một vài ông đồ dạy trẻ. Học trò thường học sách viết, sách in rất đắt, ông đồ nào cũng có một tủ sách, các học trò chép lại bài học qua những sách của ông đồ…”
Thế nhưng để được gọi là ông đồ, không phải chỉ cần mặc áo dài khăn đóng biết viết. Đây là một danh xưng để gọi những người vừa giỏi chữ vừa có đạo đức và hiểu biết sâu rộng. Dù có thể chưa đỗ đạt, nhưng họ vẫn giữ phẩm hạnh, sống ngay thẳng, giữ lễ nghĩa, bởi người xưa vốn đã quan niệm việc học là không chỉ học chữ, mà phải học cả đạo làm người. Ông đồ xưa chính là biểu tượng của trí thức, đạo đức, nhân cách trong xã hội truyền thống. Người ta trọng vọng ông đồ không chỉ vì chữ đẹp, mà vì ông có tâm sáng, lòng ngay, đạo nghĩa vững.
Tấm tắc ngợi thiên tài:
"Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa, rồng bay"
(Ông đồ - Vũ Đình Liên)
Người xưa thường tìm đến ông đồ khi cần “xin chữ,” hoặc cần người có chữ nghĩa và hiểu biết giúp việc văn tự. Tục xin chữ, cho chữ cũng đã ra đời từ đây, mỗi dịp hội hè lễ Tết, sĩ tử, người hiếu học xin chữ ông đồ như một cách “lấy vía” may mắn, giỏi giang. Song để xin chữ khi ấy không đơn giản mà như một nghi thức không thành văn. Để xin chữ thầy đồ, người xin phải sắm một phần lễ vật nhỏ gồm cau trầu, chè thuốc… nhưng thành tâm đến nhà. Người cho chữ cũng luôn phải nghiêm chỉnh, tôn kính, cho đúng người trọng chữ nghĩa chứ không kiểu “học giả thích làm sang.”
Ông đồ viết chữ trên phố Hà Nội, 1913-1917. Ảnh: Léon Busy.
Chữ được viết theo kiểu thư pháp, thường là chữ Nho và có thể viết theo nhiều cách trên nền giấy đỏ, bởi màu đỏ vốn là màu sắc đem lại sự may mắn theo quan niệm của người phương Đông. Người cho chữ tùy tâm trạng, tùy hoa tay mà tạo ra những hình thái con chữ lạ mắt, độc đáo. Mỗi chữ hiện ra dưới tay các thầy đồ không chỉ là những tác phẩm nghệ thuật thư pháp, mà còn bộc lộ tấm lòng, tính cách, tâm hồn và cả sự sáng tạo của mỗi cá nhân.
Mực tàu, nghiên bút, “nhất tự thiên kim”
Người xưa có câu “nhất tự thiên kim” tức “một chữ đáng nghìn vàng,” ảnh hưởng từ Lã Bất Vi theo Sử ký Tư Mã Thiên (Trung Quốc). Vị Thừa tướng cho treo sách ở quốc môn và thưởng vàng cho ai có thể thêm bớt chữ. Chính bởi quyền thế nghiêng trời lệch đất, chẳng ai dám bước ra sửa sách. Từ đó, câu nói trên trở thành điển cổ để chỉ văn tự, chữ nghĩa có giá trị rất cao.
Hơn cả sự hiện hữu về mặt hình, con chữ là cách để nhân loại lưu giữ, khai mở và kết nối. Do vậy người ta mới so sánh chữ quý như vàng. Thư pháp gia - TS Cung Khắc Lược giải thích: “Trong tư tưởng, trong tình cảm và trong tâm hồn bao giờ cũng được biểu hiện bằng lời, bằng từ vựng, bằng văn bản… Vậy thì một chữ trên văn bản, một chữ của tim, của óc nêu ra cho nhau, tặng nhau đáng nghìn vàng là vô cùng xứng đáng, quý hơn tiền của nhiều.”
Ông đồ viết chữ trước Chùa Hương, Hà Nội, 1995. Nguồn ảnh: tài khoản Flickr @lonqueta.
Việc xin chữ ngày một trở nên thịnh hành và trở thành phong tục đẹp của người Việt mỗi dịp Tết đến xuân về. Bất kể là ai, từ miền ngược đến miền xuôi và cũng chẳng phân biệt sang nghèo, chỉ cần có sự thành tâm thì đều có thể xin chữ.
Mỗi nét mực trên giấy của ông đồ chất chứa một nỗi niềm, một tâm tư hay một ý niệm nhất định. Xin chữ Cát Tường, Như Ý... để cầu mong sự bình an cho gia đình. Xin chữ Phát, Lộc, Tài… hy vọng việc làm ăn thành công, thuận buồm xuôi gió. Những người trẻ thì xin chữ Chí, chữ Đắc… để vững lòng trước những khó khăn.
Cũng không còn nặng nghi lễ như xưa, không phải cứ “áo the, khăn xếp,” áo nâu, râu tóc bạc phơ mới là người cho chữ mà người viết, “ông đồ Tây,” “bà đồ"... đều có. Không chỉ đóng khung trong “mực tàu, giấy đỏ” mà đã đủ các chất liệu gỗ, đá, trúc, tre, lụa, gấm. Rồi Triện, Lệ, Khải, Thảo, Hành… cách viết nào cũng có. Người người xếp hàng và chờ đợi dọc phố, dưới các đền chùa để xin những con chữ “phượng múa, rồng bay” như một tục lệ đẹp không thể thiếu của ngày đầu năm mới.
Muôn hình vạn trạng ông đồ, bà đồ ngày nay. Ảnh: Alberto Prieto.
Các “phố ông đồ” cũng ra đời nhằm tôn vinh phong tục truyền thống này. Văn Miếu - Quốc Tử Giám được biết đến như “Làng sĩ tử” phía Bắc. Tục xin chữ ở Nam bộ bắt nguồn từ thế kỷ thứ 17, thời chúa Nguyễn vào khai phá vùng đất phương Nam cùng với các đợt người miền Bắc, miền Trung di cư vào theo. Tuy nhiên, phải đến cuối thế kỷ 17 khi người Hoa bắt đầu định cư và khai phá ở Biên Hoà - Đồng Nai thì tục xin chữ mới nở rộ. Chính quá trình cộng cư lâu dài của các nền văn hóa cũng ảnh hưởng ít nhiều đến nét đặc trưng riêng của tục xin chữ vùng này.
Và tại các con phố này ngày nay, quá nửa “ông đồ” là sinh viên khoa Hán-Nôm hay người yêu nghệ thuật; người xin chữ thì đủ mọi lứa tuổi, tầng lớp, ngành nghề. Nhưng không phải là trào lưu nhất thời, tôi coi đây là sự trao truyền văn hoá, bởi ai thì ai, nhưng cốt lõi của phong tục vẫn được giữ trọn. Người cho thì thả theo nét bút cái tâm, cái tài. Người xin thì tôn trọng đạo nghĩa và nét đẹp truyền thống của dân tộc.
Ảnh: Alberto Prieto.
[Ảnh bìa: Léon Busy.]