Trong bối cảnh chiến sự Iran làm nhiễu loạn nguồn cung cấp chất đốt toàn cầu và đưa giá cả leo thang, chính phủ các nước Đông Nam Á nên tìm cách đa dạng hóa nguồn dầu mỏ và xăng để bảo vệ người dân nước mình.
Tuy nhiên, chính phủ cũng cần vượt ra khỏi khuôn khổ các biện pháp ngắn hạn để dẫn dắt quốc gia khỏi sự chi phối “nắng mưa thất thường” của nguyên liệu hóa thạch. Bên cạnh những mục tiêu như nâng cao hiệu suất năng lượng tái tạo và nâng cấp mạng lưới điện để phù hợp với nhiều nguồn năng lượng mới, một bước đi khôn ngoan cho toàn khu vực Đông Nam Á là cân nhắc kỹ việc nhập khẩu xăng dầu và gia tăng tỷ lệ sử dụng xe điện (EV).
Xuyên suốt Đông Nam Á, giao thông đường bộ vẫn là đầu tàu trọng tâm thúc đẩy nhu cầu đốt nhiên liệu, và khí đốt vẫn đóng vai trò cốt lõi trong hoạt động phát điện của nhiều nước. Tình hình chiến sự tại Eo biển Hormuz, Iran đã và đang ảnh hưởng trực tiếp đến khoảng 20% lưu lượng dầu và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) trên toàn thế giới. Năm ngoái, khoảng 90% lượng dầu khí vận chuyển qua Hormuz đều phục vụ cho thị trường châu Á.
Trong vòng hơn 2 thập kỷ, Đông Nam Á vẫn là khu vực nhập khẩu ròng dầu mỏ. Dân số ngày càng tăng, và các nước Đông Nam Á vẫn tiếp tục đáp ứng nhu cầu nhiên liệu qua một công thức thiết lập từ những năm 1990: nhiều xe hơi hơn và trợ giá nhiên liệu nhiều hơn; nhập nhiều khí đốt gia dụng hơn; và gia tăng công suất điện từ khí đốt. Dẫu vậy, quy mô sản xuất dầu khí tại Đông Nam Á lại suy giảm.
Đơn cử như Indonesia, với khả năng sản xuất dầu khí đạt đỉnh vào thập niên 1990, nhưng hiện tại phải nhập khẩu khoảng 60% để phục vụ nhu cầu trong nước, chưa kể hàng tỷ đô la mà chính phủ Indonesia phải chi trả mỗi năm để bình ổn giá điện cho hộ gia đình. Khả năng sản xuất dầu khí của Thái Lan cũng đã suy thoái dần từ giữa thập niên 2010, nhưng khoảng 65% nhu cầu điện ở Thái vẫn đến từ loại nhiên liệu này. Theo số liệu năm 2023 từ Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), Thái Lan đã nhập khẩu gần một nửa nhu cầu chất đốt quốc gia.
Dù toàn khu vực đang nỗ lực tăng cường sản xuất dầu khí, chủ yếu qua khoan khai thác, dự báo tương lai khá rõ ràng: dù có sản xuất nhanh bao nhiêu, thì cũng không bắt kịp nhu cầu tiêu thụ gia tăng . Đông Nam Á đã và đang trên đường trở thành khu vực nhập dư dầu khí.
Do đó, để ổn định nguồn năng lượng trong tương lai, Đông Nam Á cần mau chóng thực hiện chuyển đổi nhiên liệu sang điện trong ngành vận tải, sử dụng nhiều EV hơn đồng thời củng cố sự phát triển năng lượng sạch, để đạt mục đích cuối cùng là mở ra đường lối ổn định trong tự chủ năng lượng.
Vai trò của xe điện trong tương lai
Người ta thường đánh giá thấp lợi ích các phương tiện điện (EV) đem lại trong bối cảnh “miếng bánh” nhiên liệu hóa thạch vẫn còn chiếm phần lớn trên thị trường. Tuy nhiên, vẫn có một giải pháp: điện hóa vận tải và mở ra nhiều cơ hội để năng lượng xanh được dùng rộng rãi trong lưới năng lượng quốc gia. Theo nghiên cứu của BloombergNEF, ngay cả khi xe điện chạy bằng năng lượng do nhiên liệu hóa thạch sản xuất, chúng vẫn thải ra ít ô nhiễm hơn so với xe xăng, tính theo vòng đời. EV tránh được phát thải từ ống xả khi đi đường, và sẽ dần đạt được điểm “hòa vốn” về phát thải.
Quan trọng hơn, một khi đạt được tỉ lệ xe điện đủ lớn và lưới điện sạch hơn, Đông Nam Á sẽ dễ dàng giảm bớt lệ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch; ngược lại, xe chạy xăng hay dầu diesel không đem đến lối thoát nào. Năng lượng xanh sẽ mở ra lộ trình vừa giảm khí thải vừa hướng đến tự chủ năng lượng.
Theo dữ liệu từ BloombergNEF, vào năm 2025, toàn bộ EV đã giúp giảm nhu cầu dùng khoảng 2,3 triệu thùng dầu mỏ trên toàn cầu. Dẫu số lượng ấy chỉ chiếm 2% nhu cầu tiêu thụ dầu, đây là tín hiệu rất rõ ràng rằng một con đường khác biệt đang hiện hữu ngoài kia.
Trung Quốc mạnh dạn chọn EV một phần cũng vì sự phụ thuộc quá nhiều lên dầu nhập khẩu, vốn chiếm khoảng 70% nhu cầu quốc gia. Chiến lược chuyển đổi nhiên liệu này có vẻ đã đạt được thành công nhất định trên thềm khủng hoảng năng lượng Vùng Vịnh. Nếu Đông Nam Á cũng muốn đi theo hướng này, chính phủ các nước cần đạt được mức ủng hộ nhất định về mặt chính trị và xã hội đối với EV, bằng nhiều cách như xây dựng hạ tầng trạm sạc hay phối hợp với nhà sản xuất EV để gia tăng sản xuất và tạo việc làm.
Khí đốt có phải là nguồn thay thế thích hợp trong giai đoạn chuyển giao?
Trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng toàn cầu vẫn chưa kết thúc, giá khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) tại châu Á vẫn trồi sụt mạnh, nên phương án thay thế dầu bằng khí đốt đã không còn khả thi như trước. Khủng hoảng hiện tại đã phơi bày hệ lụy đằng sau cách Đông Nam Á đã và đang mở rộng vai trò của khí đốt trong sản xuất năng lượng.
Khí đốt thường được quảng bá rộng rãi như một biện pháp tạm thời giúp Đông Nam Á giảm khí thải CO2 và giảm phụ thuộc vào than đá, trong khi hạ tầng năng lượng tái tạo thành hình. Theo nghiên cứu của Viện Chuyển đổi Năng lượng, nơi tôi đang công tác, nhiều nước châu Á xem phát triển khí đốt là một giải pháp đầu tư bền vững. Tuy nhiên, dù đúng là quá trình đốt LNG thải ra ít CO2 hơn than, khi có rò rỉ trong bất kì bước nào trong chuỗi giá trị, loại khí này có khả năng làm nóng khí hậu gấp 80 lần CO2.
Ngoài ra, hoạt động nhập khẩu LNG cũng gắn theo chi phí cao, đắt gấp nhiều lần so với khí được sản xuất nội địa, cung cấp qua đường ống.
Khí đốt cũng khó dự trữ hơn dầu rất nhiều, gây rủi ro cho các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu. Lỗ hổng này lộ ra trong khủng hoảng năng lượng năm 2022, sau khi chiến sự Ukraine bắt đầu. Giá LNG tăng nhanh và nhiều tàu chở khí đến Pakistan quyết định đổi hướng bán cho châu Âu vì thương nhân muốn tận dụng mức giá cao để kiếm lời. Tình huống này nhiều khả năng sẽ tiếp diễn khi khủng hoảng xảy ra trong tương lai.
Phát triển tài nguyên và nguồn dự trữ nội địa vẫn rất cần thiết, vì tương tự như dầu mỏ, khí LNG vẫn đóng vai trò nhất định trong sản xuất năng lượng và vật liệu công nghiệp, nhất là đối với những ngành công nghiệp ít công nghệ thay thế, như sản xuất phân bón.
Trung Quốc vẫn là một ví dụ điển hình: năm 2023, LNG chiếm 8% tổng nguồn cung năng lượng quốc gia, trong đó, gần 40% là nhập khẩu. Sự thật này, bên cạnh tốc độ phát triển năng lượng tái tạo rất nhanh của Trung Quốc, cho thấy hướng đi rõ rệt: giảm lệ thuộc lên nhập khẩu năng lượng và dành khí đốt dự trữ cho đối tượng thật sự cần thiết.
Nếu Đông Nam Á tiếp tục dựa dẫm vào khí đốt nhập khẩu, các quốc gia sẽ đối mặt với nguy cơ tương tự, nhất là khi Đông Nam Á chỉ mới vừa nếm trải khó khăn gây ra do lệ thuộc vào dầu.
Chính phủ và các cơ quan tiện ích Đông Nam Á thường lấy lý do chi phí đầu vào cao khi nói về rào cản trong quá trình hiện đại hóa mạng lưới năng lượng và phát triển điện tái tạo, nhưng lại dễ dàng ký kết hợp đồng nhập khẩu khí LNG mà không chút do dự như vậy. Ngoài ra, nhiều quốc gia cũng đang tiêu hao ngân sách rất lớn suốt khủng hoảng năng lượng hiện tại: tiền trợ cấp bình ổn chất đốt của Malaysia đã tăng gấp 10 lần. Trong khi đó, phần trợ cấp của Indonesia để giữ giá nhiên liệu vừa tầm với người tiêu dùng lên đến 6.7 nghìn tỷ rupiah ($387 triệu đô la Mỹ) cho mỗi đô la Mỹ giá dầu tăng. Thực trạng này gióng lên hồi chuông báo động: làm thế nào để sử dụng ngân sách quốc gia một cách hiệu quả nhất để ổn định năng lượng cho khu vực?
Các biện pháp “chữa cháy” tạm thời là cần thiết, nhưng khả năng lãnh đạo thực sự trong công cuộc gây dựng nguồn năng lượng ổn định cần những mục đích dài hạn, có tầm nhìn. Khi nhiều ưu tiên khác nhau trong ngân sách xung khắc, và nhu cầu năng lượng quá cấp bách, những giải pháp tạm thời thường được trọng dụng hơn, như đa dạng hóa nguồn cung dầu và khí đốt, bên cạnh các kho dự trữ khẩn cấp.
Tuy nhiên, trong ngành năng lượng, không có giải pháp nào là nhanh chóng; mấu chốt là sự kiên trì theo đuổi đường lối thay đổi. Đông Nam Á chưa thật sự tìm được lối thoát giúp giảm nhẹ ảnh hưởng từ khủng hoảng dầu và khí đốt bên ngoài. Bài học từ khủng hoảng dầu mỏ năm 1970 đã nhóm lên sự cần thiết trong phát triển năng lượng tái tạo, và khủng hoảng hiện tại có lẽ cũng sẽ thay đổi đáng kể cách thế giới nhìn nhận hệ thống năng lượng quốc gia.
Việc đẩy mạnh triển khai năng lượng sạch là không thể tránh khỏi. Tuy quá trình chuyển dịch sẽ hao tốn thời gian, nhưng điểm khởi đầu rất rõ ràng: chính phủ các nước phải chuyển đổi phương tiện điện càng sớm càng tốt trước khi khủng hoảng tiếp theo đến.
Ảnh bìa: Xe điện đang sạc tại một trạm sạc ở Bali, Indonesia. Ảnh: Carrot/Alamy.
Putra Adhiguna hiện là giám đốc điều hành của Viện Chuyển đổi Năng lượng (Energy Shift Institute), cơ quan nghiên cứu về tài chính năng lượng tập trung vào châu Á.
Bài viết được thực hiện bởi Dialogue Earth và được Saigoneer chuyển ngữ. Ghé thăm đường dẫn này để đọc bài viết nguyên bản bằng tiếng Anh.