Đôi khi lướt linh tinh trên mạng xã hội, tôi vẫn thấy những phàn nàn của thính giả về việc âm nhạc nước nhà ít đa dạng.
Là người đã bước một chân vào việc sáng tạo âm nhạc, tôi vừa đồng tình với những nhận xét ấy, vừa hiểu rằng để thay đổi nó thật khó khăn. Thứ nhất là cơm áo, nghệ sĩ cũng phải tìm cách chiều lòng nhiều người nhất có thể để được nhiều đón nhận, mà điểm thỏa mãn một cộng đồng lớn thường không nằm ở “ngách.” Thứ hai, cũng vì ít người xem, nên cũng ít người làm, ít tấm gương để noi theo, thành ra ít đa dạng.
Thế nhưng, đâu đó vẫn có những tấm gương đại tài, và những người hưởng ứng nhiệt thành, cùng nhau xây đắp nên một cộng đồng ngày càng vững mạnh. Tôi muốn giới thiệu với bạn đọc một trong những cộng đồng âm nhạc đầy đam mê đã liên tục đổi mới bản thân và điểm những sắc màu rất lạ cho dải âm thanh dân tộc, miệt mài từ những năm 1950.
Đó chính là nhạc jazz Việt Nam.
Jazz là gì?
Hẳn bạn đã từng nghe đến jazz và ấn tượng bởi sự lộn xộn hợp lý của nó. Điểm mấu chốt của jazz là sự ngẫu hứng, cấu trúc hòa âm phức tạp và những hợp âm màu hơn so với các bậc trưởng thứ thông thường. Sự “lệch chuẩn” này mang đến cảm giác vừa đúng vừa không đúng, cứ lâng lâng mơ màng nhưng cũng có lý do để mơ màng. Ta cũng thường nghe những điệu swing (nhấn phách 2 và 4 thay vì 1 và 3 như pop), tiếng kèn, tiếng chũm chọe, chổi chơi trống hay upright bass; chúng đều là những đặc trưng của jazz.
Jazz bắt nguồn từ cộng đồng người da đen ở Mỹ vào cuối thế kỷ 19, và theo ảnh hưởng của văn hóa phương Tây tràn vào miền Nam Việt Nam vào những năm 1950, thế nhưng không được lan truyền rộng rãi bởi tình hình đất nước lúc bấy giờ. Sau thống nhất, mãi đến cuối thập niên 1980, buổi biểu diễn jazz đầu tiên trước công chúng mới diễn ra tại Hà Nội.
Jazz Việt chào đời (với saxophone)
Người đầu tiên đưa jazz ra ánh sáng ở Việt Nam là Nghệ sĩ Ưu tú Quyền Văn Minh, hay được mọi người gọi vui là “cha jàzz” đất Việt. Thuở nước nhà chưa thống nhất, thông tin về âm nhạc ngoại quốc hay nghệ thuật nói chung đều hết sức khan hiếm. “Sách vở” của ông là chiếc radio mà ông chắt hết tiền túi để mua và vài băng cassette phải tìm mỏi mắt mới có.
Màn biểu diễn jazz đầu tiên trên sóng truyền hình Việt Nam do Quyền Văn Minh và band trình bày.
Sau hơn 20 năm tự mình dùi mài kinh sử, ông quyết định phải mang jazz đến cho cộng đồng. Năm 1988, Chương trình “Quyền Văn Minh với ba dòng nhạc: Cổ điển, dân gian và jazz” được biểu diễn tại Phòng hòa nhạc của Hội nhạc sĩ. Đây là cột mốc quan trọng khi lần đầu có một ban nhạc đủ đầy để chơi jazz, đương nhiên là dưới sự dẫn dắt của Quyền Văn Minh.
Buổi biểu diễn gây tiếng vang lớn, đưa jazz đến với đại chúng và đồng thời là báo hiệu cho một làn sóng sắp đổ bộ. Năm 1989, saxophone chính thức trở thành một ngành học tại Học viện Âm nhạc Quốc gia do chính ông giảng dạy. Hai năm sau, ông bắt tay vào sáng tác những tác phẩm độc quyền đầu tiên.
“Birth 99” do Quyền Văn Minh biên soạn và thể hiện là album jazz đầu tiên của Việt Nam và hiện vẫn đang là tượng đài cho các nghệ sĩ thế hệ sau. Các tác phẩm trong album đều phức tạp, nhiều phần, sử dụng nhiều kỹ thuật tinh tế mà người nghe nhạc đơn thuần như tôi chưa thể gọi tên hay miêu tả bằng lời. Chất lượng của những tác phẩm này thật vượt quá sức tưởng tượng dù đã hơn 30 năm từ khi nó được phát hành, chưa kể đến việc ông đã không có người chỉ dạy và cũng không có nhiều thông tin trong những năm Đổi mới.
Ca khúc ‘Ngẫu hứng Tây Nguyên’ từ album “Birth 99.”
Album mang nhiều dáng vẻ Việt Nam như bolero, âm nhạc Tây Nguyên, những điệu hò miền biển, khiến jazz Việt trở thành một địa hạt riêng biệt không lẫn vào những âm thanh ở địa cầu đối diện. Ông cũng đưa vào những triết lý của riêng mình về sự sống, sự chết, trọn vẹn từ hồn dân tộc đến bản sắc cá nhân trên âm thanh viễn xứ.
Sau thời của ông và các chiến hữu như TS Nguyễn Tiến Mạnh, PGS TS Lưu Quang Minh, ThS Hoàng Tùng, thế hệ nghệ sĩ saxophone tiếp bước mang đến những sắc màu âm nhạc mới mẻ hơn với những Quyền Thiện Đắc, Trần Mạnh Tuấn, Hồng Kiên.
Jazz cất những lời ca đầu tiên
Những năm 2000, đất nước bắt đầu mở cửa cho những làn sóng nhạc ngoại tràn vào. Pop, rock chiếm lĩnh thị trường, chúng ta yêu những Đan Trường, Hồ Quỳnh Hương, Ưng Hoàng Phúc với những bản ballad tình yêu.
Lúc ấy jazz hãy còn lẩn nấp trong chốn riêng của nó. Câu lạc bộ jazz Bình Minh của Quyền Văn Minh vẫn hoạt động hằng tối, vẫn tiếng saxophone cầu kỳ, nhưng đã có chút trở mình khi những câu hát đầu tiên trên nền jazz bắt đầu vang lên.
Những bản nhạc bất hủ của thế giới được cover lại tại các câu lạc bộ jazz.
Những bản jazz bất hủ của thế giới như ‘Fly me to the moon’ được cover tại một góc nhỏ Hà Thành, rồi nhạc Trịnh, nhạc Trần Tiến cũng được phối jazz. Giọng hát trầm lắng tự sự của cô ca sĩ trong không gian vàng vọt nơi quán nhạc năm ấy vẫn làm thính giả nhớ mãi về sau.
Kỷ nguyên của những bản tình ca nguyên bản
Với tinh thần cống hiến không ngơi nghỉ, những nghệ sĩ của chúng ta không chỉ dừng lại ở việc làm mới âm nhạc cũ, họ muốn tạo cả những cái mới, những cái chưa từng đến với đời.
Năm 2004, nữ nghệ sĩ Jazzy Dạ Lam sáng tác, phối khí và tự mình truyền tải album “Trăng và Em ” đến khán giả, một cây đa cây đề đã trở thành nguồn cảm hứng cho các ca sĩ chuyên nghiệp đương đại.
Album “Trăng và Em” của Jazzy Dạ Lam.
Trong giai đoạn tiếp theo, những nghệ sĩ nổi tiếng của làng nhạc Việt cũng bước chân vào thế giới của jazz. Hai tác phẩm ‘Thời gian để yêu’ và ‘Những khung trời khác’ (2008) của nhạc sĩ Đỗ Bảo do Nguyên Thảo thể hiện nhận được nhiều ngợi khen từ báo chí. Bộ ba Hà Trần, Tùng Dương và nhạc sĩ Giáng Sol cũng cho ra mắt album “Bóng Tối jazz” vào năm 2015, gây tiếng vang với bản nhạc ‘Thu cạn.’ Ca khúc đã trở thành một chuẩn mực “nhạc diva” với những nốt nhạc rất lỡ, một cá tính đau đớn và bướng bỉnh, mang đến nỗi buồn xơ xác như “chiếc lá khô rơi.”
Vocal jazz Việt đạt độ chín muồi ở “SAIGON FEEL” (2018), được sáng tác và sản xuất bởi nhạc sĩ Võ Thiện Thanh, thể hiện bởi giọng ca Hồ Trung Dũng. Theo tác giả, album là thành quả lao động của 6 năm ròng rã. Có những bản hit cũ được làm mới, cũng có thêm những bài hát mới. Điển hình như ‘Xích Lô,’ được Mỹ Tâm thể hiện vào năm 2001 mà tôi vẫn thường nghe mẹ ngân nga trên đường chở tôi đến trường tiểu học. Hay ‘Tình 2000’ mà Phương Thanh hát vào 1999 nay lại được ngân vang bởi một giọng nam trầm ấm.
Ca khúc ‘Sài Gòn có mùa thu’ từ album “SAIGON FEEL.”
Trong album, jazz đã đậm đặc hơn với âm thanh bộ kèn khò khè như người hút xì gà, tầng tầng lớp lớp nhạc cụ đan xen cầu kỳ nhưng vẫn hòa hợp với giọng hát. Ca khúc ‘Sài Gòn có mùa thu’ là hòa quyện của những nhịp trống và trombone, trumpet, hoặc có tiếng kèn khác mà tôi chưa nghe ra.
Tất cả hào hùng và ngập tràn như một đoàn người thành thị chờ giọt phin cuối rơi xuống rồi cùng lúc diễu hành đòi cho bằng được mùa thu. Giọng hát bẻ dẹt của Hồ Trung Dũng khiến tôi tưởng tượng vẻ mặt của một người đàn ông thèm khát đang lăm le xâm chiếm lấy mùa thu, anh ta đã nấp trong những tòa nhà cao tầng để chờ đợi từ lâu lắm rồi. Chỉ để cảm nhận cái mùa thu rất hời hợt mà Sài Gòn nhả cho.
Khi những giai điệu cũ tìm thấy tần số hiện đại
Nghệ sĩ hiện đại thừa hưởng gia tài sáng tác của các nhạc sĩ gạo cội và mang sắc màu mới đến những giai điệu, ca từ cũ. Album nhạc “Thanh Tùng” (2023) do Quỳnh Anh thể hiện là một đại diện tiêu biểu, gồm các ca khúc bất hủ như ‘Giọt nắng bên thềm,’ ‘Hoa tím ngoài sân,’ ‘Trái tim không ngủ yên.’ Thay vì hát trên nền nhạc cụ như tiền bối Quỳnh Phạm hơn 20 năm trước, album sử dụng kết hợp cả nhạc cụ và âm thanh điện tử một cách hòa hợp, giọng ca được xử lý trong trẻo, gọn gàng như phát âm của nghệ sĩ pop hiện nay.
Ngoài Thanh Tùng, Quỳnh Anh còn hát năm bản ‘Bức thư tình’ của Đỗ Bảo, và những khúc tình ca mùa xuân của các Văn Cao, Đoàn Chuẩn - Từ Linh, Dương Thụ trong album 19XX. Có lẽ vì bản thân tôi rất yêu câu từ của những cây bút cũ, nhưng lại không mấy mặn mà với phiên bản “Paris by night” của nó, nên khi bắt gặp cùng những câu từ ấy trong một âm thanh mới mẻ với giọng hát hiện đại, tôi như tìm được tần số của mình.
Bản làm mới ‘Trái tim không ngủ yên’ từ album “Thanh Tùng.”
Quyền Thiện Đắc có thể thay đổi tiết tấu, biến tấu nốt nhạc, lặp đi lặp lại một câu, thêm luyến láy cuối câu. Đấy chỉ mới là phần chế biến giai điệu của bài hát gốc, chưa kể đến những trường đoạn độc tấu saxophone dài mấy phút liền.
‘Chú ếch con' từ album “Ký ức.”
Trống chơi theo nhịp lẻ, nhịp giữa, một thứ nhịp khó gọi tên gì đó mà nếu bạn dựa vào nhịp trống để tìm thăng bằng, bạn sẽ ngã nhào ngay và không biết sắp xếp những thanh âm vào phách nào. Những tiếng cymbal sẽ đột nhiên xuất hiện vào lúc bạn ít ngờ tới nhất. Nhưng nó hợp lý và vững chắc; nó là một trò chơi giữ nhịp cho những đôi tai thính và là một ngọn núi thiêng cho những kẻ tìm xáo động.
Jazz tới tuổi nổi loạn và những nghệ sĩ indie
Giai đoạn năm 2016-2018, âm nhạc độc lập rục rịch lên ngôi. Nghệ sĩ tự do từng bước tìm được cho mình những sự công nhận nhất định, và khán giả yêu thích những màu sắc mới lạ và những cá tính không cần giống ai. Âm nhạc được quyền lệch chuẩn, được xáo trộn, được kỳ cục mà vẫn có cách len lỏi vào trái tim thính giả. Thế là nhạc fusion ra đời.
Album “Trong” của TRANG.
Với cô nghệ sĩ TRANG, cool jazz thường được kết hợp với bossa nova, điển hình như album “Trong” ra mắt năm 2025 gồm những ca khúc ‘Em chỉ nhìn thấy anh,’ ‘Làm bạn với em,’ ‘Hoang đảo,’ và ‘Ăn chay.’ Trong khi đó, Minh Tốc & Lam lại chọn khai thác modern jazz thông qua việc kết hợp các yếu tố điện tử và chất liệu swing hiện đại; người nghe có thể nhận thấy sự dịch chuyển này từ ‘Ngọc Lam’ đến ‘Một giấc mơ hoang đường.’
Sự biến tấu còn hiện diện trong ‘Thành phố đung đưa’ của ban nhạc Mèow Lạc. Họ vận dụng tiết tấu và lối chơi nhạc cụ đặc trưng của jazz nhưng được tinh chỉnh để gần gũi hơn với đại chúng bằng cách tiết chế các nốt biến âm (blue notes). Ở một góc độ khác, ‘Em và Jazz’ của Hali lại đưa tinh thần jazz vào funk với những tuyến giai điệu phức tạp đậm tính ứng biến và những câu scat đầy tận hưởng ở gần cuối bài.
Ca khúc ‘Em và Jazz’ của Hali.
Nghệ sĩ indie chơi jazz với rock, jazz với funk, jazz với rap, bất cứ thứ gì họ có thể nghĩ ra. Thành công của họ là những khám phá mới và những âm thanh lạ lùng ngon tai. Tôi vẫn luôn thích thú khi thấy muôn vàn cách biến tấu sáng tạo, và thấy jazz vẫn sống khỏe mạnh ở những nơi dành cho nó.
Jazz điểm hẹn
Viết tới đây, chân tôi đã nhịp theo những điệu jazz nhẹ nhàng, và đầu óc đã đuổi theo những câu bebop không điểm dừng. Có thể tối nay tôi lại lóc cóc đến một quán jazz bar để sống tiếp cho đầy những cảm giác lửng lơ. Nếu bạn cũng cảm thấy tương tự, xin mời bạn đến với những hội quán đã bao năm say mê với dòng nhạc này.
Hà Nội
Bình Minh Jazz Club: với những người yêu Jazz, mến mộ hai cha con Quyền Văn Minh và Quyền Thiện Đắc, thì đây chính là trái tim của jazz Việt. Nằm ngay góc đường Tràng Tiền, Hà Nội, quán nhạc có gần 30 năm lịch sử này sẽ mang đến những hương vị đậm đà nhất được chắt lọc từ một hành trình nhiều gian nan.
Long Waits Jazz Club: là một dự án của những người học trò ưu tú của huyền thoại Quyền Văn Minh, đã chơi hơn 100 album jazz khắp thế giới, và đã trở thành một phần không thể thiếu của Hà Nội.
Sài Gòn
Sax ‘n Art Jazz Club: tọa lạc giữa Thảo Điền lãng mạn nhiều cây xanh, hội quán jazz của nghệ sĩ saxophone Trần Mạnh Tuấn là một không gian để những người yêu nhạc được chìm đắm sau ban ngày ồn ã của Sài Gòn.
Cội: là một quán nhạc chuyên jazz, funk với các nghệ sĩ, ca sĩ, ban nhạc chuyên nghiệp. Nữ hoàng hát jazz Tuyết Loan và những cái tên quen thuộc trong giới yêu nhạc như Minh Nghĩa, Dattie Do, Tăng Tuệ Vĩ, Bút Chì Màu đều đã từng xuất hiện ở đây.