Sài·gòn·eer

Back Văn Nghệ » Màn Ảnh » 'Loin du Vietnam' (1967): Bản tuyên ngôn phản chiến đầy mâu thuẫn của điện ảnh Pháp

Thập niên 1960, nước Pháp chứng kiến sự trỗi dậy mạnh mẽ của Làn sóng Mới (French New Wave), phong trào điện ảnh được xem là có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất lịch sử phim ảnh nước này. Những trí thức dẫn dắt phong trào luôn khao khát tìm kiếm phương thức kể chuyện mới lạ, phá vỡ những khuôn khổ trước đó. Hầu hết họ đều theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa và kịch liệt phản đối việc can thiệp quân sự của Mỹ tại Việt Nam.

 

 

Dù thường xuyên bất đồng với công chúng trong nhiều vấn đề, các nhà làm phim thời bấy giờ lại tìm thấy tiếng nói chung với dư luận khi nhắc đến Việt Nam. Xã hội Pháp coi sự hiện diện của Mỹ là hành vi xâm lược, chà đạp lên quyền tự quyết của nhân dân. Khi chiến sự leo thang vào năm 1965, làn sóng ủng hộ Việt Nam càng trở nên mạnh mẽ. Thế nhưng, giữa bầu không khí sục sôi ấy, giới làm phim bản địa lại im hơi lặng tiếng một cách lạ thường. Sự im lặng này khiến Robert Bozzi, một chủ phòng tranh đang kêu gọi quyên góp thuốc men cho Việt Nam, không khỏi ngạc nhiên.

Khi nghe người bạn thân Robert Bozzi kể lại câu chuyện, đạo diễn Chris Marker đã lập tức quyết định thực hiện một dự án điện ảnh dành riêng cho Việt Nam. Vốn bị xem là “kẻ ngoại đạo” vì phong cách làm phim mang tính tiểu luận hơn là điện ảnh thuần túy, Marker có phần kín tiếng hơn các đạo diễn cùng thời. Xuyên suốt sự nghiệp, ông luôn kiên trì khai thác mối liên hệ mật thiết giữa nghệ thuật và chính trị. Bộ phim Loin du Vietnam (Xa Việt Nam), thành quả ra đời từ nỗ lực này, cũng không phải là ngoại lệ.

Áp phích phim. 

Rất khó để xếp Loin du Vietnam vào bất kỳ khuôn mẫu điện ảnh nào sẵn có. Marker đã tập hợp hơn 150 nhà làm phim, trí thức và sử gia cùng tình nguyện tham gia, trong đó có cả những cái tên gạo cội như Joris IvensWilliam KleinClaude LelouchAgnès VardaJean-Luc Godard và Alain Resnais. Ban đầu, nhóm dự định tạo ra một tác phẩm thống nhất, nhưng sau đó, dự án đã phát triển thành một bộ tiểu luận gồm 11 chương ra mắt vào năm 1967. Tác phẩm không dừng lại ở việc phê phán sự can thiệp của Mỹ mà còn khéo léo đan cài giữa hư cấu và tài liệu, mở ra nhiều lăng kính khác nhau, từ những ghi chép lịch sử đến những tự sự đầy riêng tư.

Cuộc chiến của kẻ giàu chống lại kẻ nghèo 

Góc nhìn của bộ phim về toàn bộ cuộc chiến được thiết lập ngay từ đoạn thuyết minh mở đầu:

“Một bên là Hoa Kỳ, cường quốc quân sự mạnh nhất mọi thời đại. Từ năm 1965, khi chiến tranh bắt đầu leo thang, người Mỹ đã ném hơn một triệu tấn bom xuống miền Bắc Việt Nam, vượt xa lượng bom rơi xuống nước Đức trong Thế chiến thứ hai. Một quốc gia với 200 triệu dân, chi tiền cho giấy gói quà còn nhiều hơn 500 triệu người Ấn Độ chi cho thực phẩm, dĩ nhiên chẳng thiếu nguồn lực cho quân đội. Mỗi sáng trên vịnh Bắc Bộ, các tàu sân bay của Hạm đội 7 lại chất đầy bom đạn. Đó là cuộc chiến của kẻ giàu. Ở phía bên kia chiến tuyến là cuộc chiến của kẻ nghèo, của 17 triệu người dân miền Bắc cùng đồng bào miền Nam đang chiến đấu vì độc lập. Họ nghèo nhất nhưng không hề yếu nhất. Họ ít người nhất, nhưng chẳng hề cô độc nhất.”
 

Phân cảnh từ phim.

Những thước phim đã lột tả sự tương phản này một cách trần trụi: nước Mỹ với những con tàu ăm ắp khí tài, phô diễn sức mạnh cơ giới áp đảo để làm chủ biển khơi; và ngay ở khung hình kế tiếp, bóng dáng người Việt hiện lên giữa những cánh đồng, mình khoác lá ngụy trang để hòa vào thiên nhiên, biến chính mảnh đất quê hương thành tấm khiên che chở. Thông điệp hiện ra rất rõ ràng: đây là một cuộc chiến không cân sức. Thế nhưng, cái bất công nghiệt ngã nhất lại nằm ở mục đích của cuộc chiến, như lời thuyết minh diễn tả: miền Bắc Việt Nam chiến đấu để giành lấy “quyền được kiến tạo của người nghèo, vì sự tiến bộ, vì một xã hội không dựa trên lợi ích của kẻ giàu,” còn Mỹ chiến đấu chỉ để “chứng minh cho thế giới thấy rằng mọi cuộc cách mạng chỉ dẫn đến ngõ cụt.”

Sự chênh lệch quá lớn về nguồn lực đã bóc trần tính chất tàn khốc của cuộc xâm lược. Điều này được thể hiện rõ qua góc nhìn của Joris Ivens, vị đạo diễn vừa ra mắt một bộ phim tài liệu tiếng tăm về miền Bắc bấy giờ. Trong chương đầu mang tên ‘Bomb Hanoi’ (Đánh bom Hà Nội), ông ghi lại cảnh những hầm trú ẩn mà người dân thủ đô dựng lên để đối phó với các đợt oanh tạc triền miên. Đó là những chiếc hầm bê tông đúc sẵn, chôn dọc đường để người dân có thể ẩn nấp nhanh chóng ngay khi tiếng còi báo động vang lên.

Ivens bắt trọn vẻ bình thản đến kinh ngạc trên đường phố Hà Nội: “Khi sống cùng họ, ta cũng trở nên bình thản như họ và tin chắc vào thắng lợi.” Vẻ thản nhiên ấy khiến người xem không khỏi xót xa, bởi nó chỉ là khoảng lặng ngắn ngủi trước cơn bão tố hiện hình ngay khung hình kế tiếp. Tiếng còi hú bất thần xé toạc bầu không khí, khiến dòng người vội vã tìm nơi trú ẩn. Thế nhưng, ngay trong cảnh hỗn loạn đó, vẫn có những bóng người thong dong bước đi trên phố.

Trẻ em chơi đùa bên hầm trú bom ở Phố Cổ, tháng 5/1968. Ảnh chụp bởi Sommer Mark.

Thước phim của Ivens phác họa một cuộc đối đầu không cân sức. Nước Mỹ với những con tàu đầy ắp vũ khí, phô diễn sức mạnh của một đế quốc công nghiệp. Và ở phía ngược lại, dù đối phương có sức mạnh áp đảo, tinh thần kiên cường của con người vẫn là chìa khóa để giành chiến thắng. Phần thuyết minh nhấn mạnh thông điệp này: “Phía Mỹ hoàn toàn mù tịt về đối thủ của mình. Xã hội Mỹ vận hành theo nguyên tắc: kẻ nghèo nhất luôn là kẻ kém cỏi nhất. Họ không hiểu rằng chính sự nghèo khó có thể tạo nên một sức mạnh tinh thần vượt trội so với kẻ xâm lược giàu có.”

Muôn sắc thái phản ứng

Để thể hiện sức ảnh hưởng của cuộc chiến với công dân toàn cầu, Loin du Vietnam còn lồng ghép những thước phim bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. William Klein đã đem đến một góc nhìn về cuộc chiến thông qua cảm xúc của con người. William Klein chọn lột tả cuộc chiến qua những rung cảm trần trụi của con người. Vốn là một tay máy đường phố lừng danh, ông vận dụng phong cách direct cinema (điện ảnh trực tiếp), dùng máy quay cầm tay và thiết bị thu âm linh động để bắt trọn những cảm xúc nguyên bản trong các cuộc biểu tình.

William Klein.

Vì là công dân Mỹ duy nhất trong nhóm lúc đó, Klein có thể tự do đi lại và quay phim mà không bị nghi ngờ. Những thước phim ông ghi lại tại Phố Wall ngày 1/5 trong chương ‘A Parade is a Parade’ (Diễu hành là diễu hành) đã mang đến những lát cắt đa diện cho bộ phim. Giữa khu tài chính New York sầm uất, dòng người tuần hành chống chiến tranh giương cao biểu ngữ: “Kẻ giàu cứ giàu thêm, còn bạn thì phải đi lính.” Klein tiến xa hơn khi len lỏi vào giữa hai phe: một bên là người biểu tình, một bên là đám đông môi giới chứng khoán đang la ó, gào thét đòi “đánh bom Hà Nội.”

Không dừng lại ở việc quan sát, Klein còn trực tiếp khơi mào cho những cuộc tranh luận nảy lửa. Chương cuối mang tên ‘Vertigo’ (Chao đảo) đã khắc họa rõ vai trò này khi xoáy vào cuộc tuần hành khổng lồ do Martin Luther King dẫn dắt vào tháng 4/1967. Quy tụ hơn nửa triệu người từ đủ mọi tầng lớp đổ về Liên Hợp Quốc, đây là cơ hội để vị đạo diễn châm ngòi cho những cuộc đối thoại gay gắt. Klein lên án chiến tranh bằng cách kích thích tranh luận, với niềm tin rằng vì cuộc chiến này quá phi lý và bất công, lý tưởng của ông cuối cùng sẽ chiến thắng.

Ảnh được chiếu trong phim, chụp trong cuộc biểu tình phản chiến ngày 15/4/1967 tại New York.

Cuộc chiến phân cực trong một thế giới đa cực 

Dù nhìn nhận đây là một cuộc can thiệp phi nghĩa của Mỹ, Loin du Vietnam không hề đơn giản hóa vấn đề mà đặt chiến tranh Việt Nam vào một bối cảnh địa chính trị lắt léo.

Những lớp cắt lịch sử được bộ phim tái hiện trong chương năm mang tính diễn giải với tiêu đề ‘Flash Back’ (Hồi ức). Bắt đầu từ cuộc kháng chiến chống Pháp, chương phim không ngần ngại chỉ ra chính chủ nghĩa thực dân đã tạo tiền đề, là bàn đạp dẫn đến sự can thiệp của đế quốc Mỹ sau này. Mối liên hệ giữa hai thời kỳ xâm lược hiện lên qua các tư liệu lịch sử, nhưng lại kết thúc đầy bất ngờ bằng cảnh các nhân vật truyện tranh lao vào đánh đấm.

Lối dàn dựng này chịu ảnh hưởng rõ rệt từ phong trào Situationist International (Tình huống quốc tế), một phong cách đang rất thịnh hành lúc bấy giờ. Nhóm nghệ sĩ tiên phong và những người cánh tả này có thủ pháp đặc trưng là le détournement: họ mượn hình ảnh từ truyện tranh, quảng cáo hay phim ảnh rồi đặt vào những ngữ cảnh hoàn toàn khác để giễu nhại xã hội tư bản và chủ nghĩa tiêu dùng vô độ.

Ấn phẩm thuộc phong trào Situationist International (Tình huống quốc tế) vận dụng thủ pháp détournement. Nội dung của Raoul Vaneigem, minh họa bởi André Bertrand, 1967. Một trang truyện tranh trào phúng phê phán việc biến văn hóa thành món hàng trong xã hội tư bản.

Sử dụng một trào lưu chính trị ngách như vậy, bộ phim cho thấy nhãn quan của nhóm trí thức Pháp theo khuynh hướng Marxist, những người vốn có tiếng nói khá tách biệt với công chúng. Góc nhìn của họ là một phần không thể thiếu trong dư luận phương Tây thời bấy giờ, dù chưa thể đại diện cho toàn bộ tư tưởng xã hội. Đa số nhóm này đã phản đối chủ nghĩa đế quốc ngay từ thời thực dân Pháp; trong khi với đa số người dân Pháp, làn sóng chống chiến tranh chỉ thực sự lan rộng khi Mỹ đổ quân trực tiếp vào Việt Nam.

Chuyển biến trong nhận thức xã hội hiện rõ qua các con số. Trong một cuộc khảo sát vào tháng 1/1948, khi được hỏi về những sự kiện tiêu biểu của năm cũ, người dân Pháp dửng dưng với chiến tranh Đông Dương đến mức nó bị xếp vào mục “khác” với vỏn vẹn 6%. Thế nhưng đến năm 1966, cục diện đã đảo ngược hoàn toàn khi có tới 41% người được hỏi phản đối sự can thiệp của Mỹ, cao gấp bốn lần so với tỷ lệ 10% đồng thuận.

Mạch phim chuyển sang những sắc thái trừu tượng trong chương ‘Claude Ridder’ của đạo diễn Alain Resnais. Thay vì những thước phim tài liệu trực diện, Resnais khắc họa một trí thức tư sản Pháp hư cấu và nỗi giằng xé khi ủng hộ cuộc chiến của người Việt. Nhân vật này, vốn được xây dựng để gây khó chịu, đã bộc bạch những mâu thuẫn nội tâm đầy nghiệt ngã. Anh ta khao khát ủng hộ người Việt Nam hết lòng, nhưng lại bất lực trong việc thấu cảm hoàn toàn với họ. Sự bế tắc ấy được anh lý giải bằng chính trải nghiệm trong hàng ngũ Kháng chiến chống phát xít ở Thế chiến thứ hai:

“Người Đức là những con quái vật, điều đó không có gì phải bàn cãi. Tôi vẫn thấy sợ hãi mỗi khi nghe tiếng Đức. Rồi tôi nhớ lại những ngày cuối cùng, khi chúng tôi gặp một sư đoàn thiết giáp Mỹ gần một ngôi làng nhỏ. Những chiếc Jeep, pháo hạng nặng, xe tăng và cả kẹo cao su của năm 1944. Khi ấy chúng tôi đã rất hạnh phúc khi thấy họ đến. Suy cho cùng, chúng tôi không có đạn dược, và tôi nợ người Mỹ mạng sống này. Tôi sẽ luôn yêu quý họ. Cho đến tận cuối đời, tôi vẫn sẽ căm thù người Đức và yêu quý người Mỹ. Chỉ có điều, giờ đây người Mỹ lại chính là ‘người Đức’ của người Việt Nam. Mọi thứ trở nên thật phức tạp.”

Một khung hình trong chương ‘Claude Ridder’ của Alain Resnais. Nhân vật hư cấu này cũng xuất hiện trong bộ phim Je t’aime, je t’aime (1968) của cùng đạo diễn.

Trong mắt nhân vật này, việc một người Pháp xuống đường biểu tình sau một lịch sử thực dân dài đằng đẵng là hành động cận kề đạo đức giả. Anh thấy những lời phản kháng từ bên kia đại dương trở nên vô nghĩa trước máu xương đang đổ xuống nơi chiến trường. Thậm chí, anh còn tự vấn vì sao chỉ tập trung vào Việt Nam mà bỏ quên bao dân tộc khác cũng đang gánh chịu bạo lực. Những trăn trở đó dồn nén thành một cảm giác bất lực, lương tâm không cho phép anh lờ đi, nhưng bản thân lại thấy mình hoàn toàn thiếu hụt tư cách lẫn công cụ để đối diện với vấn đề.

‘Claude Ridder’ vì thế trở thành chiếc gương phản chiếu thế lưỡng nan của những người làm phim. Qua nhân vật này, các đạo diễn bộc bạch nỗi lòng của chính mình. Họ khao khát ghi lại cuộc chiến một cách chân thực nhất, nhưng muốn vậy, trước hết họ buộc phải lùi lại để tự vấn về cách bản thân đang quan sát và hình dung về cuộc chiến đó.

Để cuộc chiến "xâm chiếm" tâm trí

Sự hiện diện của nhân vật Claude Ridder đã khơi lên những trăn trở về vai trò của người ngoài cuộc giữa tâm bão chiến tranh. Nghệ thuật phải làm sao để chạm tới một đề tài phức tạp đến thế? Chính nhu cầu duy trì một khoảng cách tỉnh táo để soi xét vị thế cá nhân đã dẫn dắt bộ phim tới tầng sâu nhất. Jean-Luc Godard nỗ lực tìm lời giải cho câu hỏi này trong chương ‘Camera Eye’ — nơi khán giả chỉ còn nghe thấy tiếng ông độc thoại. Những khung hình đầu tiên có phần lạ lẫm: ông đứng sau một chiếc máy quay khổng lồ che khuất gần hết gương mặt. Nhưng thông điệp lại hiện lên rõ ràng: với tư cách một đạo diễn Pháp, vì sao việc lên tiếng phản đối cuộc chiến của Mỹ tại Việt Nam lại quan trọng đến thế?

Jean-Luc Godard

Godard mở đầu bằng cách liệt kê những gì ông dự định ghi lại nếu có cơ hội đặt chân đến Việt Nam: từ sức công phá của bom chùm lên cơ thể con người cho đến sự tàn khốc của chất độc màu da cam. Thế nhưng, những dự định đó mãi nằm trên trang giấy. Godard kể rằng ông từng xin phép chính quyền Hà Nội để đến tác nghiệp nhưng bị từ chối. Ông nhắc lại chuyện này với thái độ khiêm nhường, nhưng đâu đó vẫn phảng phất nỗi tiếc nuối, thừa nhận rằng mình hoàn toàn đồng tình với sự khước từ ấy. Bởi lẽ, với ông khi đó, lòng trắc ẩn mà thiếu đi trải nghiệm thực tế chỉ là một sự “hào phóng giả tạo.” Lời nói chẳng thể có sức nặng khi người ta đứng ngoài cuộc: “Thật khó để nói về những quả bom khi chúng chẳng hề rơi xuống đầu mình.”

Từ chiêm nghiệm ấy, ông chọn cách “để Việt Nam xâm chiếm tâm trí.” Ở đây, Việt Nam không còn là một quốc gia xa xôi trên bản đồ, mà đã hóa thành biểu tượng cho tinh thần phản kháng. Ông hiểu rằng cuộc chiến này không phải là một sự kiện tách biệt, mà là một phần của dòng chảy chung trên toàn thế giới. Khi nhiều quốc gia cũng đang phải đối mặt với chủ nghĩa đế quốc, Việt Nam trở thành hiện thân của lòng kiên cường, đúng lời Fidel Castro được đạo diễn trích dẫn, rằng chúng ta phải “tạo ra hai, ba, thật nhiều Việt Nam.”

Tâm thế ấy chính là nỗ lực tự tạo ra một “Việt Nam” bên trong mỗi người, và học cách kháng cự những áp bức bủa vây mình. Với riêng Godard, đó là cuộc chiến chống lại sức ảnh hưởng của nền kinh tế và thẩm mỹ điện ảnh Mỹ, thứ mà ông cho là đã làm tha hóa diện mạo điện ảnh toàn cầu. Là một nhà làm phim, ông quan niệm việc “để Việt Nam xâm chiếm” còn là không ngừng nhắc về Việt Nam trong các tác phẩm khác, như một cách lan tỏa biểu tượng của tinh thần bất khuất.

Một đoạn phỏng vấn Fidel Castro xuất hiện trong phim.

Dài 11 chương với vô vàn góc nhìn về một trong những cuộc chiến lớn nhất thế kỷ, Loin du Vietnam từng có một số phận đầy thăng trầm. Những buổi công chiếu ít ỏi đã sớm bị dập tắt bởi các cuộc biểu tình của phe cực hữu và những lời đe dọa đánh bom. Dù đã được phục chế cách đây khoảng 10 năm, bộ phim vẫn nằm ngoài vùng nhận thức của số đông và rất khó để tìm xem. Giờ đây, 6 thập kỷ sau ngày ra mắt, dù cuộc chiến đã được mổ xẻ qua vô số sản phẩm truyền thông, tiếng chuông cảnh tỉnh chống lại sự bạo tàn trong Loin du Vietnam vẫn vẹn nguyên giá trị. Không chỉ là một bộ phim tài liệu, tác phẩm còn là những suy ngẫm sâu sắc về sự áp bức toàn cầu và cách nó tác động đến toàn xã hội của chúng ta.

Loin du Vietnam hiện đang được đăng tải toàn bộ trên YouTube.

Bài viết liên quan

Linh Phạm

in In Plain Sight

Ở Bảo tàng Chiến thắng B-52, lịch sử thủ đô cô đọng qua kỷ vật chiến tranh

Một khối kim loại khổng lồ đập ngay vào mắt tôi ngay khi bước chân qua cánh cổng.

in In Plain Sight

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam Hà Nội: Dấu ấn phụ nữ trong dòng chảy lịch sử, văn hóa

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở Hà Nội mang trong mình một sứ mệnh quan trọng.

in Màn Ảnh

Phim hài lãng mạn về Việt Nam do Netflix sản xuất chuẩn bị bấm máy quay

Lấy bối cảnh ở Hà Nội, Sài Gòn, Đà Nẵng, Hội An và Hà Giang, A Tourist's Guide to Love sẽ là bộ phim quốc tế đầu tiên được quay ở Việt Nam từ khi đại dịch COVID-19 bùng phát.

in Di Sản

Từ Quảng Nam đến Gwangju: Chương sử chiến tranh đen tối của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam

Trong tiểu thuyết Bản chất của người (Human Acts), nữ nhà văn Hàn Quốc vừa nhận giải Nobel, Han Kang, đã khắc họa sống động Phong trào Dân chủ hóa Gwangju ngày 18/5. Vào thời điểm đó, các cuộc biểu tì...

in Màn Ảnh

Bộ phim Việt sản xuất năm 1974 ra mắt khán giả online sau nhiều thập kỷ 'đắp chiếu'

Câu chuyện bắt đầu vào năm 2009, tại buổi hội thảo dành cho người thất nghiệp được tổ chức ở Sydney, Úc do tôi chủ trì.

in Màn Ảnh

'Bên Trong Vỏ Kén Vàng': Suy niệm về đức tin trên hành trình 'tìm hồn' giữa xứ sương mù

Song hành trong giới điện ảnh chiêm nghiệm với những cái tên như Andrei Tarkovsky, Thái Minh Lượng và Theo Angelopoulos, Phạm Thiên Ân và cuốn phim đầu tay của anh, Bên Trong Vỏ Kén Vàng (tựa tiếng An...