Sài·gòn·eer

Back Di Sản » Từ Quảng Nam đến Gwangju: Chương sử chiến tranh đen tối của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam

Trong tiểu thuyết Bản chất của người (Human Acts), nữ nhà văn Hàn Quốc vừa nhận giải Nobel, Han Kang, đã khắc họa sống động Phong trào Dân chủ hóa Gwangju ngày 18/5. Vào thời điểm đó, các cuộc biểu tình của sinh viên bùng nổ tại thành phố Gwangju nhằm phản đối cuộc đảo chính của tướng Chun Doo-hwan. Để đáp trả, chính quyền quân sự đã tiến hành đàn áp dã man và thảm sát dân thường vô tội.

Trong một chương của cuốn sách, lấy bối cảnh năm 1990, một giáo sư đại học đã phỏng vấn người kể chuyện, một người từng bị giam cầm và tra tấn. Khi được hỏi về bức ảnh chụp hàng dài xác trẻ em trong vụ thảm sát, người kể chuyện đã hồi tưởng lại ký ức đau thương đằng sau khung hình:

Chúng tôi phải áp mặt xuống tấm thảm hành lang theo lệnh của đám lính. Khi bình minh ló rạng, chúng lôi chúng tôi dậy và đưa ra sân. Chúng bắt tất cả quỳ thành hàng, lưng tựa vào tường, tay bị trói quặt phía sau. Một tên sĩ quan tiến lại gần trong trạng thái kích động tột độ. Hắn vừa chửi rủa, vừa nện đôi ủng đinh vào lưng chúng tôi, ấn đầu chúng tôi xuống đất. Hắn hét lên: “Tao từng ở Việt Nam đấy, lũ khốn. [...] Kim Jin-su quỳ ngay cạnh tôi. Tên sĩ quan dẫm lên lưng và nghiền nát mặt cậu ấy xuống sỏi. Khi hắn buông ra, tôi thấy những vệt máu rỉ ra trên trán Jin-su. [...]

Cách Han Kang đặc tả bạo lực đầy máu lạnh khiến người đọc không khỏi bàng hoàng. Tuy nhiên, điều gây ngạc nhiên hơn cả là việc tác phẩm nhắc đến Việt Nam.

Sinh viên tham gia biểu tình Gwangju bị binh lính áp giải. Nguồn ảnh: The New York Times.

Bản chất của người không phải là cuốn tiểu thuyết duy nhất của Han Kang đề cập đến chiến tranh Việt Nam. Hai tác phẩm lớn khác của bà là Người ăn chay (The Vegetarian) và Chúng ta không chia lìa (We Do Not Part) cũng xuất hiện những chi tiết liên quan đến cuộc chiến này.

Trong Người ăn chay, nhân vật chính Yeong-hye quyết định ăn chay và từ chối mọi thứ liên quan đến thịt sau những giấc mơ ám ảnh về việc giết mổ động vật. Cha của Yeong-hye đã vô cùng giận dữ trước lựa chọn của con gái. Ông tát cô và cố dùng tay nhét một miếng thịt lợn vào miệng cô, dẫn đến việc Yeong-hye tự cắt cổ tay và phải nhập viện. Đối với ông, việc con gái ăn chay là một nỗi nhục nhã cho gia đình, đặc biệt là thách thức quyền uy của nam giới.

Han Kang phát biểu khai mạc tại Đại hội Quốc tế các Nhà văn Viết ở Gwangju, năm 2023. Nguồn ảnh: Korea Herald.

Cuốn tiểu thuyết thứ ba cần nhắc đến là Chúng ta không chia lìa, kể về hành trình của Kyungha đến đảo Jeju theo lời khẩn cầu của người bạn tên Inseon. Chủ đề trung tâm của tác phẩm là vụ thảm sát Jeju kéo dài từ năm 1948 đến 1954. 

Cụ thể, trong giai đoạn từ tháng 4/1948 đến tháng 5/1949, người dân đảo Jeju đã nổi dậy phản đối cuộc bầu cử do Mỹ điều hành. Cuộc phản kháng bắt nguồn từ nỗi lo ngại về một viễn cảnh chia cắt hai miền Triều Tiên vĩnh viễn, một thực tế đau lòng đã thực sự xảy ra sau đó. Lấy cớ trấn áp các phần tử cộng tác với cộng sản, lực lượng quân đội và cảnh sát dưới quyền Chính quyền Quân sự Mỹ tại Hàn Quốc (USAMGIK) đã thực hiện những chiến dịch càn quét khốc liệt nhắm vào dân thường, khiến khoảng 25.000 đến 30.000 người thiệt mạng.

Tương tự như hai tác phẩm trước, Han Kang lại một lần nữa cài cắm những ẩn ý về chiến tranh Việt Nam vào Chúng ta không chia lìa. Nhân vật Inseon là nhà làm phim tài liệu từng phỏng vấn nhiều phụ nữ Việt Nam là nạn nhân bị lính Hàn tấn công tình dục thời chiến.

Vì sao Han Kang liên tục nhắc đến cuộc chiến tại Việt Nam? Những ẩn ý này tiết lộ điều gì và là dấu hiệu của vấn đề gì? Dù khơi nguồn từ văn chương, tôi muốn nhấn mạnh rằng những câu hỏi này mang tính lịch sử nhiều hơn là văn học. Để tìm lời giải, trước hết chúng ta phải can đảm đối diện với việc Hàn Quốc từng tham chiến tại Việt Nam. Đây là một chương quá khứ chưa bao giờ được nhìn nhận thấu đáo, dù nó vẫn đang âm thầm bám rễ trong lòng xã hội Hàn Quốc.

Cần hiểu rằng bạo lực mà quân lính Hàn Quốc gây ra tại Việt Nam đều cùng thuộc về một bộ máy bạo lực đã dẫn tới những vụ thảm sát tại Jeju hay Gwangju. Những thoáng hiện về Việt Nam trong văn chương Han Kang chính là sự ám ảnh từ một quá khứ mà Hàn Quốc đã trốn tránh bấy lâu.

Vai trò của Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam

Dù ít khi được đưa ra bàn luận rộng rãi, nhưng việc Hàn Quốc can dự vào chiến tranh Việt Nam có tầm ảnh hưởng đáng kể trên nhiều phương diện. Từ năm 1965 đến 1973, Hàn Quốc đã điều động tới 320.000 quân để hỗ trợ Việt Nam Cộng hòa, trở thành lực lượng nước ngoài lớn thứ hai trong cuộc chiến, chỉ sau Mỹ.

Việc Hàn Quốc dấn thân vào cuộc chiến này, trước hết, bắt nguồn từ hệ tư tưởng của chính quyền đương thời. Giống như Việt Nam, bán đảo Triều Tiên cũng là một “điểm nóng” trong vòng xoáy Chiến tranh Lạnh toàn cầu. Dưới sự điều hành của Park Chung-hee, bộ máy độc tài quân sự luôn xem việc đẩy lùi cộng sản là tôn chỉ tối thượng, một chủ trương xuyên suốt từ các đời độc tài tiền nhiệm cho đến tận sau này. Đây cũng chính là cội rễ dẫn tới những vụ thảm sát tàn khốc tại Jeju hay Gwangju.

Cựu Tổng thống Park Chung-hee (mặc vest đen) chào đón các binh sĩ quân đội Hàn Quốc trong thời gian họ đóng quân tại Việt Nam. Nguồn ảnh: Korea Pro.

Tuy nhiên, đòn bẩy thực sự khiến Hàn Quốc dấn thân vào cuộc chiến lại nằm ở những toan tính kinh tế. Ngay từ đầu, Park Chung-hee đã xem việc đưa quân sang Việt Nam là một nước cờ chiến lược để đổi lấy các đặc quyền tiếp cận tổ hợp quân sự-công nghiệp Mỹ. Và chính quyền Johnson đã “đáp lễ” xứng đáng. Không chỉ trả lương cho lính Hàn cao gấp 22 lần binh lính trong nước, Mỹ còn dành cho Seoul những ưu đãi đặc biệt trong chương trình mua sắm hải ngoại (OSP) của Bộ Ngoại giao. Điều này đã tạo nên cú hích khổng lồ cho nền kinh tế Hàn Quốc. Vào cuối thập niên 1960, các nguồn viện trợ và chương trình từ Mỹ chiếm tới 40-60% tổng vốn hình thành của Hàn Quốc; trong khi các tập đoàn chaebol như Hyundai thu được tới 77% tổng lợi nhuận từ các hợp đồng quân sự chỉ trong vòng 3 năm (1963-1966).

Người ta thường gọi quá trình Hàn Quốc vươn mình từ một quốc gia nghèo đói bậc nhất thế giới thành “con hổ” kinh tế Đông Á là “kỳ tích sông Hàn.” Thế nhưng, danh xưng “kỳ tích” này đã che đậy quá nhiều góc khuất. Có thể nói, việc tham gia chiến tranh Việt Nam chính là một chương không thể thiếu trong câu chuyện bùng nổ kinh tế thần tốc của quốc gia này.

Binh lính Hàn ở Bồng Sơn. Nguồn ảnh: The New York Times.

Song, cũng như mọi giá trị kinh tế được đánh đổi từ chiến tranh, những lợi ích mà Hàn Quốc gặt hái được tại Việt Nam luôn gắn chặt với những tội ác của chính quân đội nước này. Hai yếu tố đó song hành và không thể tách rời. Nếu các tội ác của Mỹ như ném bom rải thảm, rải chất độc da cam, tra tấn hay thảm sát Mỹ Lai đã quá rõ ràng, thì lính Hàn cũng từng gieo rắc nỗi kinh hoàng tương tự khi triệt hạ các làng mạc và cưỡng bức vô số phụ nữ. Quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam khét tiếng “hung hãn và tàn bạo,” đến mức ngay cả người Mỹ cũng phải thấy e dè.

Trong số các tội ác do quân đội Hàn Quốc gây ra tại Việt Nam, có thể kể đến những sự kiện sau: Tháng 12/1966, lính Hàn Quốc đã sát hại 430 dân thường không vũ khí, trong đó có 166 trẻ em tại làng Bình Hòa, tỉnh Quảng Ngãi. Tháng 2/1968, lính thủy đánh bộ Hàn Quốc tiếp tục giết hại 151 dân thường tại làng Hà My, tỉnh Quảng Nam. Trong số các nạn nhân, có 60 trẻ em dưới 10 tuổi và rất nhiều phụ nữ. Cũng trong tháng đó, lính thủy đánh bộ Hàn Quốc đã sát hại hơn 70 dân thường tại Phong Nhị-Phong Nhất, cũng thuộc Quảng Nam. Những bức ảnh do quân đội Mỹ ghi lại khi tiến vào làng ngay sau khi lính Hàn Quốc rời đi đã cho thấy những hình ảnh rợn người: trẻ em bị bắn chết, phụ nữ bị cắt xẻo ngực và những thi thể bị thiêu cháy. Tổ chức Justice for Lai Dai Han vẫn đang tiếp tục vận động để Hàn Quốc thừa nhận tội ác cưỡng bức phụ nữ của binh lính và trách nhiệm với hàng chục ngàn trẻ em được sinh ra từ những vụ việc này. Một nạn nhân, bà Trần Thị Ngải, đã kể lại nỗi kinh hoàng khi bị một binh sĩ Hàn Quốc đột nhập vào nhà và cưỡng bức vào năm 24 tuổi: “Hắn lôi tôi vào trong phòng, đóng cửa lại và cưỡng hiếp tôi nhiều lần. Hắn có súng trên người nên tôi vô cùng khiếp sợ.”

Từ Việt Nam đến Gwangju

Câu chuyện bạo lực của Hàn Quốc tại Việt Nam không chỉ dừng lại khi quân đội rút đi, bởi cuối cùng nó đã tìm đường trở về quê hương, tại Gwangju. Để biện minh cho việc mở rộng thiết quân luật và đàn áp Gwangju sau đó, bộ trưởng quốc phòng Hàn Quốc khi đó đã ví tình hình đất nước chẳng khác gì giai đoạn đầu của chiến tranh Việt Nam. Trong mắt chính quyền quân sự của Chun Doo-hwan, mối đe dọa từ cộng sản là không có biên giới: những gì xảy ra tại Sài Gòn trước đó vài năm được xem là bài học cần phải ngăn chặn bằng mọi giá, thôi thúc những chiến dịch quân sự tàn khốc.

Người dân Hàn Quốc tại Seoul chào đón các binh sĩ trở về từ Việt Nam vào ngày 20/3/1973. Nguồn ảnh: Korea Pro.

Trên thực tế, Chun Doo-hwan, người đứng đầu cuộc đảo chính, cũng như các nhân vật cộm cán khác trong chính quyền quân sự như Roh Tae-woo (người sau này kế nhiệm Chun làm tổng thống), đều từng tham chiến tại Việt Nam.

Khi phân tích việc chính quyền Chun sử dụng vũ lực quá mức, Cơ quan Tình báo Quốc phòng Mỹ (DIA) cho rằng chính kinh nghiệm của họ từ chiến tranh Việt Nam là yếu tố then chốt. Họ thậm chí gọi Gwangju là “vụ Mỹ Lai của Hàn Quốc,” nơi chính quyền đối xử với công dân nước mình như những kẻ thù ngoại quốc. Tại Việt Nam, cái cớ “không thể phân biệt dân thường và kẻ thù” trong chiến tranh du kích đã được dùng để hợp thức hóa việc giết chóc bừa bãi. Lý luận tàn nhẫn ấy đã được lặp lại y hệt tại Gwangju. Nhà văn Aimé Césaire từng viết về “hiệu ứng boomerang”: bạo lực thực dân ở nước ngoài cuối cùng sẽ quay trở lại để áp đặt lên chính nhân dân mình. Trong trường hợp này, bạo lực quân sự của Hàn Quốc đã dội ngược từ Việt Nam về thẳng Gwangju.

Vấn đề thực chất còn sâu xa hơn. Bạo lực không đơn thuần quay lại ám ảnh chính quốc sau những lần xuất quân ở nước ngoài. Thực tế, sự tàn bạo ấy vốn đã tồn tại ở Hàn Quốc từ rất lâu trước chiến tranh Việt Nam. Đó là thứ bạo lực được các chính quyền độc tài chống cộng dùng để đàn áp chính nhân dân mình dưới sự bảo trợ của Mỹ. Điển hình là thảm sát Jeju, vốn là sự tiếp nối những phương thức bạo tàn mà thực dân Nhật từng áp dụng trong thời kỳ chiếm đóng.

Dưới góc nhìn này, hoàn toàn dễ hiểu khi Han Kang coi Bản chất của ngườiChúng ta không chia lìa là hai mảnh ghép không thể tách rời. Cả hai tác phẩm cùng nhắc về Việt Nam bởi những tội ác tại đó, cũng như các cuộc thảm sát dân thường tại Jeju hay Gwangju, đều thuộc về cùng một hệ thống bạo lực chính trị. Tất cả đều vận hành theo tư duy đàn áp thời Chiến tranh Lạnh của các chính phủ do Mỹ hậu thuẫn.

Mối liên kết lịch sử này càng hiện rõ vào năm 2018, khi hai nạn nhân thảm sát tại Hà My và Phong Nhị-Phong Nhất đến thăm đảo Jeju. Một trong số họ đã bày tỏ: “Tôi không ngờ Jeju từng chịu nỗi đau lớn đến thế. Thật đau lòng khi thấy những cảnh tượng tương tự ngay tại đây.”

Người dân biểu tình ở Gwangju bị binh lính bắt giữ. Nguồn ảnh: AP.

Jeju, Việt Nam và Gwangju đều thuộc về một mạng lưới liên kết chặt chẽ. Trong tiểu thuyết Người ăn chay, hành động người cha thô bạo ép miếng thịt vào môi con gái gợi nhắc trực diện đến bạo lực tình dục. Hình thái bạo lực này bắt nguồn từ chính hệ thống gia trưởng từng dung túng cho những tội ác tương tự tại Việt Nam, cũng là chủ đề trong bộ phim tài liệu của nhân vật Inseon ở tác phẩm Chúng ta không chia lìa. Đó cũng là hệ thống mà chính quyền Park Chung-hee đã lợi dụng để thực hiện cuộc “tái nam tính hóa” quốc gia thông qua chiến tranh. Một lần nữa, bạo lực của quân đội Hàn Quốc tại Việt Nam không thể tách rời khỏi những bi kịch tại Jeju hay Gwangju. Những thoáng hiện về Việt Nam trong văn chương Han Kang tuy ngắn ngủi, nhưng chúng cùng chỉ ra những sợi dây liên kết lịch sử sâu sắc hơn nhiều so với những gì thể hiện trên bề mặt.

Thảm kịch đạo đức

Đối với các thảm kịch tại Jeju và Gwangju, nhà nước Hàn Quốc đã có những nỗ lực đáng kể để giải quyết bất công và các vi phạm nhân quyền. Đáng chú ý nhất là việc xét xử các cựu tổng thống Chun Doo-hwan và Roh Tae-woo, cùng sự ra đời của các ủy ban sự thật nhằm điều tra và tạo diễn đàn cho nạn nhân lên tiếng.

Song, câu chuyện hoàn toàn khác đối với chiến tranh Việt Nam. Dù một vài đời tổng thống cấp tiến từng bày tỏ hối tiếc về những đau thương mà Hàn Quốc đã gây ra, Seoul vẫn chưa một lần đưa ra lời xin lỗi chính thức tới Việt Nam. Điều này diễn ra ngay cả khi quốc gia này thừa nhận đã thu được lợi ích kinh tế khổng lồ từ việc tham chiến.

Trước thái độ né tránh của chính quyền, các nhóm xã hội dân sự Hàn Quốc đã bền bỉ đấu tranh đòi công lý cho nạn nhân và gia đình họ, đặc biệt là kể từ sau những cuộc điều tra đột phá của tờ báo cấp tiến Hankyoreh vào năm 1999.

Những năm gần đây chứng kiến hai chuyển biến đáng chú ý. Một mặt, các nạn nhân đang tìm kiếm sự bồi thường thông qua con đường pháp lý. Tháng 1/2025, bà Nguyễn Thị Thanh, một trong hai nạn nhân từng đến thăm đảo Jeju và là người sống sót sau vụ thảm sát Phong Nhị-Phong Nhất, đã nhận được phán quyết có lợi từ tòa án, yêu cầu bồi thường hơn 30 triệu KRW (~500 triệu VND). Chính phủ Hàn Quốc sau đó đã nỗ lực kháng cáo, một động thái mà phía Việt Nam gọi là “hết sức đáng tiếc.” Vụ thảm sát năm đó đã khiến bà Thanh mất đi người thân và mang thương tật vĩnh viễn ở bụng khi mới 8 tuổi.

Nguyễn Thị Thanh (phải) và chú của bà, Nguyễn Đức Chơi (trái), một nhân chứng của vụ thảm sát tương tự, tại buổi họp báo trước phiên điều trần tại Tòa án Quận Trung tâm Seoul vào ngày 9/8/2022. Nguồn ảnh: VICE.

Mặt khác, một nỗ lực nhằm khởi động cuộc điều tra chính thức về vụ thảm sát Hà My thông qua Ủy ban Sự thật và Hòa giải (TRC) (Hàn Quốc) cũng đang được thúc đẩy. Tuy nhiên, TRC đã bác bỏ yêu cầu này với lý do thiếu thẩm quyền đối với các sự việc xảy ra ngoài lãnh thổ và liên quan đến người nước ngoài. Đến tháng 8/2025, đơn kháng cáo của các nạn nhân tiếp tục bị tòa án cấp dưới bác bỏ. Các luật sư đại diện dự định sẽ đưa vụ việc lên Tòa án Tối cao.

Chỉ trích quyết định của TRC, luật sư Im Jae-seong thuộc Nhóm đặc trách về Chiến tranh Việt Nam của hội Minbyun (Luật sư vì một xã hội dân chủ), đã đặt câu hỏi: “Quốc tịch của nạn nhân quan trọng đến thế sao? Địa điểm xảy ra hành vi trái pháp luật có thực sự là vấn đề? Tại sao lại phân biệt đối xử và từ chối truy tìm sự thật chỉ vì nạn nhân là người nước ngoài?”

Xét cho cùng, bạo lực tại Jeju, Gwangju và Việt Nam cần được đặt trong cùng một lăng kính lịch sử, bởi cả ba đều là di sản từ các thiết chế độc tài thời Chiến tranh Lạnh trước khi Hàn Quốc dân chủ hóa vào năm 1987. Sự tương phản này làm nảy sinh một câu hỏi: Tại sao Seoul có thể can đảm đối diện với bóng tối lịch sử tại Jeju và Gwangju, nhưng lại khước từ thừa nhận những tội ác tương tự đã gây ra trên đất Việt?

Việt Nam trở thành một ngoại lệ bởi chính nơi đây đã đặt nền móng cho thời kỳ phát triển “thần kỳ” của Hàn Quốc. Sự tồn tại của ngoại lệ này ngầm khẳng định một thông điệp tàn nhẫn: bạo lực, dù ở mức độ dã man và tàn độc nhất, vẫn được phép tồn tại nếu nó phục vụ cho mục tiêu tăng trưởng kinh tế.

Đối với phong trào phản chiến tại Mỹ, cái tên Việt Nam từ lâu đã trở thành biểu tượng cho sự băng hoại đạo đức trong chính sách can thiệp quân sự của Mỹ. Cuộc chiến này thường xuyên được nhắc đến như một bài học đắt giá, một vết xe đổ không bao giờ được phép lặp lại ở bất cứ đâu. Tương tự, Gwangju cũng chiếm giữ một vị trí tương đương trong tâm thức cộng đồng người Hàn. Xét trên phương diện này, Gwangju đối với Hàn Quốc cũng như Việt Nam đối với nước Mỹ; cả hai địa danh đều đã trở thành những “danh từ chung” ám chỉ những sai lầm lịch sử không thể tẩy xóa.

Song, những điểm tương đồng này còn sâu sắc hơn cả ngôn từ hay tính biểu tượng đơn thuần. Ngay từ những ngày đầu, Gwangju vốn dĩ đã là “Việt Nam” của người Hàn. Hàn Quốc sẽ không bao giờ có thể đối diện thấu đáo với những bất công ngay tại quê hương nếu vẫn tiếp tục né tránh những tội ác đã gây ra ở nước ngoài. Thừa nhận, xin lỗi và bồi thường cho các tội ác chiến tranh tại Việt Nam chính là nghĩa vụ đạo đức đã quá hạn từ lâu.

Bài viết liên quan

in Di Sản

Một Sài Gòn chuyển mình trong loạt ảnh năm 1945

Năm 1945 đánh dấu một giai đoạn đầy biến động của Sài Gòn khi có sự can thiệp đồng loạt của nhiều thế lực ngoại quốc.

Paul Christiansen

in Văn Chương

Nguyễn Phan Quế Mai và hành trình trở về qua tiểu thuyết 'Đời gió bụi'

“Tôi luôn mang trong mình nỗi nhớ quê hương da diết. Với tôi, viết chính là cách để trở về. Đó là lý do tôi phải làm sống dậy một Việt Nam trên từng trang sách. Tôi cần được nghe tiếng người ta trò ch...

in Di Sản

[Ảnh] Huế và Đà Nẵng năm 1967 nhìn từ trên cao

Bộ ảnh sẽ cho ta một góc nhìn khác về những thành phố miền Trung cách đây nửa thế kỷ. 

Khôi Phạm

in Văn Chương

5 tựa sách bỏ túi cho bạn đọc yêu di sản văn hóa Việt Nam

Trên hành trình thực hiện nội dung cho chuyên trang, Saigoneer đã may mắn được gặp gỡ nhiều cá nhân cùng chia sẻ “duyên nợ” và tình yêu với công cuộc khám phá Việt Nam. Bằng đam mê và tìm tòi, họ đã c...

in Di Sản

Bên trong nhà nguyện cổ 160 tuổi tại Sài Gòn

Nằm bên trong Đại chủng viện thánh Giuse Sài Gòn là một nhà nguyện cổ trăm năm vẫn còn tồn tại.

in Di Sản

Câu chuyện lịch sử đằng sau 'Nhà Thờ Hồng' của Tân Định

Ở Sài Gòn, có lẽ ai cũng đã từng nghe danh Nhà thờ Tân Định với màu hồng vô cùng đặc trưng. Tuy nhiên, ít ai biết rằng đằng sau vẻ ngoài ấn tượng, công trình là còn là một trong những thánh đường Công...