Sài·gòn·eer

Back Di Sản » Đường Nguyễn Tất Thành và bài toán mở rộng dang dở từ thời thuộc địa

Từ trăm năm trước, chính quyền thuộc địa đã phải đau đầu tìm cách giải quyết bài toán ách tắc giao thông tại khu vực ven bờ sông Sài Gòn. Đi kèm với đó là hàng loạt tham vọng lớn nhằm lột xác toàn bộ diện mạo nơi đây.

Đường Nguyễn Tất Thành năm 2025 chạy dọc theo khu đất đang được san lấp để làm công viên. Ảnh: Quỳnh Trần/VnExpress.

Năm 2026, TP. HCM chính thức tái khởi động dự án mở rộng đường Nguyễn Tất Thành, tuyến giao thông huyết mạch nối cầu Khánh Hội với cầu Tân Thuận, vốn là “điểm đen” ùn tắc kéo dài qua Quận 4 (cũ). Kế hoạch đề ra mục tiêu nâng lộ giới từ 4 lên 6–8 làn xe, với tổng mức đầu tư gần 3.000 tỷ đồng. Song song đó, 32ha đất ven sông Sài Gòn tại khu vực cảng Nhà Rồng – Khánh Hội sẽ được chuyển đổi thành công viên cây xanh. Dự án dự kiến khởi công vào ngày 2/9/2026, đúng dịp kỷ niệm 50 năm thành phố mang tên Bác.

Tuy dự án mở rộng tuyến đường mới được triển khai gần đây, bài toán hạ tầng tại đây thực chất đã tồn tại từ hơn một thế kỷ trước. Hồ sơ Phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ (GouCoch) tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II trên đường Lê Duẩn cho thấy giới chức thời đó từng nhiều lần tìm cách gỡ rối cho chính trục giao thông này.

Con kênh chia cắt vùng đất

Câu chuyện quy hoạch nơi đây không bắt đầu từ một con đường bộ mà khởi nguồn từ một tuyến đường thủy.

Ngày 6/2/1904, chính quyền thành phố đã cấp phép cho Công ty Công nghiệp Viễn Đông Pháp nạo vét và cải tạo hệ thống sông rạch Sài Gòn trong vòng 8 năm. Hạng mục then chốt là một con kênh chuyển dòng nhằm giảm tải cho rạch Bến Nghé. Lúc bấy giờ, tuyến đường thủy kết nối Chợ Lớn với miền Tây không những hẹp, cạn mà còn chật cứng tàu thuyền, vượt quá sức chịu đựng của hệ thống vận tải. Do đó, giới kỹ sư đã quyết định đào thêm một tuyến kênh song song đi về hướng Nam.

Con kênh hình thành từ dự án năm đó chính là kênh Tẻ.

Bản đồ Sài Gòn và Chợ Lớn năm 1906 thể hiện dự án kênh đào và kế hoạch sáp nhập lãnh thổ (Hồ sơ GouCoch, TDNK, 16753).

Việc đào kênh giúp giao thông đường thủy thông suốt nhưng lại vô tình biến làng Khánh Hội thành một hòn đảo. Dòng nước mới trở thành ranh giới tự nhiên chia cắt Quận 4 ở phía Bắc (nay gồm các phường Khánh Hội, Vĩnh Hội, Xóm Chiếu) với Quận 7 và Quận 8 ở phía Nam và Tây Nam (nay thuộc các phường Tân Hưng, Tân Thuận, Chánh Hưng). Ranh giới địa lý này vẫn tồn tại đến tận ngày nay.

Hình phóng to từ bản đồ năm 1906 nêu trên, tập trung vào khu vực các làng Khánh Hội và Chánh Hưng được đề xuất sáp nhập vào Sài Gòn (GouCoch, TDNK, 16753).

Ngôi làng lọt vào tầm ngắm quy hoạch

Từ trước khi người Pháp xuất hiện, cộng đồng cư dân Khánh Hội đã sinh sống đông đúc trên bờ Nam rạch Bến Nghé. Nhờ vị trí kề cận cảng Sài Gòn, nơi đây nhanh chóng trở thành vùng đệm hậu cần dù trên giấy tờ vẫn thuộc tỉnh Chợ Lớn. Phía Nam làng đa phần là ruộng lúa và đầm lầy hoang sơ. Vùng đất trũng này phải mất thêm gần một thế kỷ mới hoàn tất quá trình đô thị hóa. 

Khi con kênh mới thành hình, Khánh Hội chính thức bị đứt rời khỏi Chợ Lớn. Nằm kẹt giữa hai dòng nước, mảnh đất nhanh chóng lọt vào mắt xanh của giới quy hoạch thuộc địa nhờ sở hữu vị thế vô cùng đắc địa.

Cận cảnh các khu vực quy hoạch: Khánh Hội (đánh dấu 'A') và Chánh Hưng ('B') sẽ được sáp nhập Sài Gòn (GouCoch, TDNK, 16753).

Tháng 10/1906, Đốc phủ sứ Chợ Lớn là ông Bos gửi thư đề xuất với Thống đốc Nam Kỳ xin cắt hẳn làng Khánh Hội giao cho Sài Gòn quản lý. Ông đưa ra những lý lẽ rất thực tế. Cụ thể, một phần khu vực này đã tập trung nhiều nhà máy cùng mật độ dân cư đông đúc, trong khi dải đất ven sông phía Bắc cũng đã được ghi nhận trong sổ địa chính của Sài Gòn. Nằm ngay trên vùng giáp ranh này là trụ sở hãng vận tải biển Messageries Maritimes, công trình mà sau này người dân quen gọi là Bến Nhà Rồng. Từ chính bến cảng đó, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã bước xuống tàu vào năm 1911, khởi đầu hành trình bôn ba nhiều thập kỷ trước khi trở thành Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Ủy ban Đô thị Sài Gòn chính thức thông qua dự án sáp nhập vào ngày 7/11/1906. Một tháng sau, tấm bản đồ mang tên “Dự án mở rộng thành phố Sài Gòn” ra đời thể hiện rõ ý đồ của giới cầm quyền thuộc địa. Họ không chỉ muốn nắn chỉnh ranh giới hành chính mà còn tham vọng biến toàn bộ dải đất thành một “đảo công nghiệp” tích hợp chặt chẽ vào mạng lưới vận tải trung tâm.

Lá thư từ làng Khánh Hội

Chủ trương sáp nhập lập tức vấp phải sự kháng cự từ người dân trong vùng. Chiếu theo quy định thuộc địa, mọi thay đổi địa giới đều phải thông qua ý kiến của hương chức cấp làng. Trái ngược với thái độ đồng thuận nhượng đất của làng Chánh Hưng lân cận, đại diện làng Khánh Hội lại rất kịch liệt phản đối.

Thư của đại diện làng Khánh Hội ngày 12/11/1906 nằm bên trái và Cáo thị về dự án xây dựng nhà máy tại Khánh Hội năm 1909 (hồ sơ GouCoch, TDNK, 16753 và 20665).

Ngày 12/11/1906, 10 chức sắc đại diện làng Khánh Hội cùng ký đơn gửi lên chính quyền Chợ Lớn. Văn bản trong hồ sơ GouCoch TDNK 16753 phản ánh nỗi lo của dân làng khi Tòa Đô chính Sài Gòn không cho phép xây nhà lá bên cạnh các công trình gạch trong khu công nghiệp. Do thành phố đã áp dụng quy định cấm nhà lá từ năm 1878, việc sáp nhập đồng nghĩa với nguy cơ người dân nghèo ở Khánh Hội bị giải tỏa và mất chỗ ở.

Hội đồng thuộc địa đã bác bỏ những lời khiếu nại này vào ngày 27/4/1907. Họ cho rằng hành động này xuất phát từ tư lợi cá nhân chứ không phải vì lợi ích chung. Cuối năm 1907, toàn bộ hồ sơ, sổ thuế và giấy tờ địa chính của Khánh Hội chính thức được bàn giao từ Chợ Lớn về Sài Gòn.

Thế nhưng, tư liệu lưu trữ lại phản ánh thực tế phức tạp hơn hẳn quyết định bác bỏ mang tính thủ tục của chính quyền. Các hồ sơ xin thuê đất tại Khánh Hội từ thập niên 1920 cho thấy nhiều xóm nhà lá cùng mồ mả gia tộc vẫn bám trụ dai dẳng qua nhiều năm sau cuộc sáp nhập mà không hề phải chịu sự can thiệp nào. Thực chất, giới chức thuộc địa chỉ dồn lực khai thác mặt tiền ven sông phía Bắc nhằm phục vụ quy hoạch công nghiệp thay vì siết chặt khu dân cư nằm sâu trong đất liền. Các mục tiêu phát triển kinh tế luôn được ưu tiên hàng đầu còn khâu quản lý dân sinh thì gần như bị bỏ ngỏ.

Dự án cải tạo và nối dài đường Jean Eudel (mực đỏ), 1925 (GouCoch, TDNK, 29240).

Con đường liên tục bị trì hoãn

Khung cảnh Khánh Hội vào thập niên 1930 với các nhà máy và cơ sở công nghiệp. Ảnh: Minhchan Le.

Bước sang thập niên 1920, Khánh Hội dần mang dáng dấp của một khu công nghiệp sầm uất đúng như kỳ vọng của giới chức thuộc địa. Hàng loạt cơ sở lần lượt ra đời bao gồm nhà máy oxy xây dựng năm 1910, xưởng thuộc da hoạt động từ năm 1909 đến 1914, cơ sở ươm tơ có từ những năm 1860, nhà máy chưng cất rượu và hệ thống kho chứa da trâu đồ sộ của công ty Maison Denis Frères. Bản quy hoạch tổng thể về tái thiết đô thị năm 1925 đã đề xuất cải thiện hệ thống xe điện cùng với việc sắp xếp lại các khu công nghiệp và mở rộng bến cảng dọc theo bờ sông Khánh Hội. Cùng năm đó, một báo cáo của Kiến trúc sư trưởng Công trình Dân dụng cũng vạch ra nhiều hạng mục nâng cấp hạ tầng cho khu vực. Trong đó, trọng tâm cải tạo luôn xoay quanh con đường huyết mạch chạy dọc bờ nước.

Hồ sơ GouCoch TDNK 29240 giai đoạn 1931 đến 1933 mang tiêu đề “Dossier relatif au prolongement de la rue Jean Eudel à Khánh Hội” tức “tài liệu về việc kéo dài đường Jean Eudel ở Khánh Hội.” Trên bản vẽ lưu trữ, dự án cải tạo và mở rộng này được phác họa bằng mực đỏ dọc theo tuyến đường Nguyễn Tất Thành ngày nay. Các kỹ sư thuộc địa đã vẽ ra những hạng mục cần nâng cấp, trong khi hồ sơ ghi lại chi tiết các cuộc thảo luận. Dự án dường như chỉ được triển khai một phần, phần còn lại mãi mãi dở dang.

Bản đồ minh họa dự án cải tạo đường Jean Eudel khoảng năm 1931 đến 1933. Các đường chấm nét đứt thể hiện khu vực chịu ảnh hưởng của dự án (hồ sơ GouCoch 29240).

Tới tháng 9/1941, trong một chuyến đi khảo sát cầu Chữ Y, đích thân Đô đốc Decoux đã phải đăng đàn phàn nàn trên tờ Tribune Indochinoise về tình trạng giao thông bế tắc giữa Khánh Hội và trung tâm Sài Gòn. Ông kiến nghị rằng hạ tầng nơi đây quá sức xập xệ và phải được cải tạo ngay lập tức.

Ngay sau đó, quân đội Nhật Bản tiến vào chiếm đóng, chấm dứt giai đoạn phát triển thuộc địa giữa hai cuộc thế chiến. Dự án mở rộng con đường đành tiếp tục chịu cảnh đắp chiếu.

Bài toán hạ tầng vắt qua một thế kỷ

Điều đáng chú ý khi xem xét các lớp tài liệu lưu trữ này không phải là sự thất bại của bất kỳ kế hoạch đơn lẻ nào, mà là tính dai dẳng của vấn đề, cũng như sự lặp lại của các giải pháp được đề xuất. Giới quy hoạch thời nào cũng liên tục kêu gọi mở rộng tuyến đường huyết mạch, cải thiện khả năng kết nối, phát triển quỹ đất cảng, cũng như công nghiệp hóa hòn đảo và tăng cường liên kết giữa đảo và thành phố.

Dự án đào Kênh Tẻ giai đoạn 1906–1907 đã làm thay đổi hoàn toàn diện mạo Khánh Hội, khi vừa chia cắt ngôi làng khỏi đất liền, vừa tạo tiền đề để sáp nhập vùng đất này vào Sài Gòn. Trục đường Jean Eudel, vốn mang tên một viên chức thuộc địa Pháp và sau này đổi thành đường Nguyễn Tất Thành, chính là tuyến giao thông dần biến quyết định sáp nhập đó thành hiện thực.

Thế nhưng từ đó đến nay, quy mô hạ tầng tại đây luôn trong tình trạng quá tải và tụt hậu. Mặt đường hiện chỉ dừng lại ở 4 làn xe dù nhu cầu thực tế đòi hỏi ít nhất 8 làn, trong khi dải đất ven sông vẫn ngổn ngang những cầu cảng cũ dù các bản quy hoạch đã định hướng làm công viên từ nhiều thập kỷ trước.

Giờ đây, sau bao nhiêu năm tắc nghẽn triền miên, dự án mở rộng đường Nguyễn Tất Thành và cải tạo khu vực Bến Nhà Rồng thành công viên ven sông cuối cùng cũng có lộ trình rõ ràng. Theo quy hoạch mới, lộ giới sẽ được nâng lên đến 8 làn xe với chiều rộng đạt 30 đến 40m. Lễ khởi công ấn định vào ngày 2/9/2026. 

Bản vẽ mô phỏng bằng AI về dự án mở rộng đường Nguyễn Tất Thành cùng không gian công viên liền kề. Nguồn ảnh: VNExpress.

Quay ngược thời gian, những vị chức sắc của làng Khánh Hội khi viết lá thư năm xưa chắc cũng không thể mường tượng được quy mô sầm uất của đô thị sau này mọc lên trên mảnh đất quê nhà. Dù vậy, họ hiểu rất rõ hậu quả khi giới chức trách bắt đầu vạch ra những ranh giới mới trên tấm bản đồ nơi mình sinh sống. Họ nhận thức được rằng quy hoạch hạ tầng không đơn thuần là chuyện xây một con đường hay đào một dòng kênh, nó còn là quyền định đoạt xem ai được phép ở lại và ở lại dưới những điều kiện khắt khe nào.

Khi dự án chính thức khởi công vào tháng 9 tới, những tài liệu lưu trữ trăm năm mang đến một góc nhìn thực tế hơn, thay vì chỉ đơn thuần ca ngợi sự phát triển bề nổi của đô thị. Dải đất ven sông ấy đã phải chờ đợi quá lâu để được khoác lên mình diện mạo mới. Và từ rất lâu trước khi các nhà quy hoạch đặt chân đến, người dân đã đặt ra những câu hỏi mà đến tận bây giờ, các bản quy hoạch hoành tráng vẫn hiếm khi có câu trả lời thỏa đáng.

Bài viết sử dụng tư liệu khai thác tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP.HCM), thuộc Phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ (GouCoch), các hồ sơ TDNK 16753, 29240 và 29345. Đây là một phần trong dự án nghiên cứu về quy hoạch đô thị thời thuộc địa tại Sài Gòn – Chợ Lớn do Khoa Truyền thông và Thiết kế, Đại học RMIT Việt Nam thực hiện.

Bài viết liên quan

in Di Sản

Câu chuyện lịch sử đằng sau 'Nhà Thờ Hồng' của Tân Định

Ở Sài Gòn, có lẽ ai cũng đã từng nghe danh Nhà thờ Tân Định với màu hồng vô cùng đặc trưng. Tuy nhiên, ít ai biết rằng đằng sau vẻ ngoài ấn tượng, công trình là còn là một trong những thánh đường Công...

Paul Christiansen

in Di Sản

Dự án lưu trữ độc lập và giấc mơ du hành thời gian qua những tấm bản đồ cổ

Tọa lạc giữa đại lộ Nguyễn Huệ sầm uất, tòa nhà Sun Wah Tower mang dáng dấp của một khối kiến trúc hiện đại, minh chứng cho dòng chảy kinh tế toàn cầu và sự hội nhập mạnh mẽ của Việt Nam. Thế nhưng, c...

in Di Sản

Hoài niệm về đường sắt Việt Nam qua loạt ảnh tư liệu thời kỳ Đổi mới

Loạt ảnh của phó nháy Françoise Demulder, chụp tại Việt Nam trong thập niên 1980–1990, đã ghi lại những khoảnh khắc đời thường gắn với hệ thống đường sắt khi đất nước bước vào thời kỳ Đổi mới.

in Di Sản

Hồ Con Rùa, minh chứng sống động của lịch sử đa tầng Sài Gòn

Khu vực Công trường Quốc tế-Hồ Con Rùa đã trải qua nhiều thay đổi về thiết kế và công năng xuyên suốt dòng lịch sử của vùng đất Sài Gòn. Từ một cổng thành của công trình phòng thủ quân sự thời Ng...

in Di Sản

Lược sử tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho: Chuyến xe lửa đầu tiên của Đông Dương

Tuyến đường sắt Sài Gòn - Mỹ Tho khánh thành ngày 20/7/1885, chính thức trở thành tuyến xe lửa đầu tiên của xứ Đông Dương.

in Di Sản

Lịch sử ngành sản xuất nước đá thời thuộc địa: Cơn khát của giới cầm quyền Pháp tại Đông Dương

Dạo quanh đường phố Sài Gòn ngày nay, chúng ta sẽ thấy những thùng, xô đá lạnh khắp mọi nơi. Từ trà đá, cà phê sữa đá đến ly sinh tố vỉa hè, thức uống nào cũng cần vài viên đá mát lạnh để xua tan...