Ở Việt Nam, liệu có loài hoang dã nào chưa từng bị săn lùng đến sát bờ vực tuyệt chủng, hay chưa biến thành món hàng bị người ta định giá rạch ròi bằng miếng thịt, nhúm lông?
Thật khó để bật ra ngay một cái tên, nhưng lịch sử từng ghi nhận một ngoại lệ “khổng lồ”: Gigantopithecus. Khoảng 2 triệu năm trước, loài vượn đồ sộ mang hình dáng đười ươi này từng sinh sống khắp miền Nam Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam ngày nay. Theo ước tính, chúng cao hơn 3m và nặng từ 200 đến 300kg.
Ảnh phác họa môi trường sống của Gigantopithecus do Garcia và Joannes-Boyau (Đại học Southern Cross). Nguồn ảnh: National Geographic.
Gigantopithecus, loài linh trưởng lớn nhất từng tồn tại trên Trái Đất, vô tình được phát hiện cũng chính nhờ những bài thuốc y học cổ truyền đang đẩy động vật hoang dã ngày nay vào cửa tử.
Tại Trung Quốc vào đầu thế kỷ 20, người ta thường dùng xương và răng động vật để bào chế đủ loại thần dược và gọi chúng bằng những cái tên mỹ miều như “long cốt.” Các thầy lang thường chỉ bốc thuốc theo kinh nghiệm chứ hiếm khi soi xét tỉ mỉ cấu tạo của những mẩu xương hay răng thú cất trong tủ như cách các nhà khoa học vẫn làm.
Nắm bắt được thực trạng này, nhà địa chất học kiêm cổ sinh vật học người Hà Lan Ralph von Koenigswald thường lùng sục các tiệm thuốc đông y mỗi khi đi khảo sát thực địa trong vùng. Trong một lần đến Hồng Kông vào năm 1925, ông tình cờ phát hiện một chiếc răng hàm có hình dáng hệt như răng người nhưng kích thước lại lớn gấp 5 lần.
Mẫu chuẩn (holotype) răng hàm (trái) và xương hàm dưới (phải) của Gigantopithecus. Nguồn ảnh: Wikipedia.
Nhận thấy tầm quan trọng của hiện vật, Koenigswald bắt tay tổ chức các chuyến thám hiểm khoa học tại Trung Quốc đại lục. Dưới sự hỗ trợ của các hợp tác xã thu mua và cung ứng địa phương, ông khoanh vùng tìm kiếm tại các hang động ở miền Nam Trung Quốc, ngay sát biên giới với Việt Nam, và tìm thấy thêm hàng trăm chiếc răng tương tự. Những chiếc răng khổng lồ này mang đặc điểm hoàn toàn khác biệt, đủ để giới khoa học công nhận đây là một loài mới. Theo thông lệ ngày xưa, ông đặt tên cho loài vượn này là Gigantopithecus blacki để vinh danh tiền nhân Davidson Black, nhà cổ nhân chủng học người Canada từng nghiên cứu về tiến trình tiến hóa của loài người tại Trung Quốc và vừa qua đời một năm trước đó.
Ảnh chụp núi Đỉnh Hồ ở Triệu Khánh, tỉnh Quảng Đông, miền nam Trung Quốc ngày nay. Nơi đây được cho là có cảnh quan giống với môi trường sống của Gigantopithecus. Nguồn ảnh: Wikimedia.
Trong những thập kỷ tiếp theo, giới chuyên môn tìm thấy thêm hàng trăm chiếc răng và 4 đoạn xương hàm dưới của Gigantopithecus, trong đó có cả những mẫu vật ở Việt Nam. Thậm chí, nhiều nhà khoa học Mỹ đã bất chấp lệnh cấm vận năm 1990 để lặn lội sang tận nơi cùng tham gia tìm kiếm; khát vọng khoa học đã vươn lên trên mọi rào cản chính trị. Thế nhưng, kỳ lạ ở chỗ, dù thu về la liệt răng và hàm, tuyệt nhiên không ai đào được bất cứ mảnh xương thân mình nào. Nhiều khả năng, toàn bộ phần thân cốt đồ sộ của bầy vượn đã bị lũ nhím gặm sạch từ trước khi kịp hóa thạch. Dẫu vậy, chỉ từ vài mảnh vỡ, các nhà khoa học vẫn có thể đưa ra những kết luận đáng kinh ngạc. Khi quan sát chiếc răng hàm to, phẳng, men răng dày cắm trên bộ hàm nặng nề và phân tích cặn bám, họ đoán Gigantopithecus sống sót nhờ nhai thực vật cứng và nhiều xơ. Lớp cặn carbon soi dưới kính hiển vi điện tử sau này cho thấy loài vượn này ăn tạp, tiêu thụ cả trái cây, hạt vả lẫn một số loại cỏ và rất có thể là cả tre trúc.
Hình ảnh mô phỏng so sánh kích cỡ Gigantopithecus và đười ươi hiện đại. Nguồn ảnh: Brainmaze.
Chế độ ăn và ước tính giải phẫu cho thấy, khác với họ hàng gần nhất là đười ươi hiện đại, Gigantopithecus trưởng thành có thân hình quá khổ nên không thể trèo cây hái quả. Các mô hình toán học phác họa chúng cao hơn 3m và nặng vượt 540kg (để dễ hình dung, loài khỉ đột cũng chỉ đạt tối đa khoảng 180kg). Nhờ dữ liệu này, giới khoa học và các họa sĩ mới có cơ sở phỏng đoán về hình dáng của chúng, dù màu lông hay độ vạm vỡ thực tế vẫn là ẩn số. Tương tự, những đặc điểm về hành vi, tính khí, trí thông minh hay các mối quan hệ xã hội của loài này cũng chỉ được suy luận thông qua việc quan sát các giống loài họ hàng.
Ranh giới mờ ảo giữa hóa thạch và huyền thoại
Gigantopithecus được cho là đã tồn tại trong khoảng 1 triệu năm và biến mất vào 100.000 năm trước. Tức là, chúng rất có thể từng sống chung với tổ tiên loài người trong những cánh rừng nguyên sinh. Dù con người không phải là tác nhân khiến loài vật này tuyệt chủng (tôi sẽ bàn kỹ hơn ở phần sau), những cuộc chạm trán năm xưa dường như vẫn len lỏi vào kho tàng thần thoại qua những câu chuyện về Người tuyết Yeti hay loài quái vật hình vượn bí ẩn.
Hình ảnh Người tuyết Yeti trong truyền thuyết và văn hóa đại chúng phương Tây, cụ thể là trong một cuốn truyện tranh Mỹ năm 1971. Nguồn ảnh: New York Times.
Truyền thuyết kể rằng Yeti là một loài dã nhân lông lá, chuyên lang thang trên dãy Himalaya. Giai thoại này được truyền miệng từ các cộng đồng người Tây Tạng và Nga sang phương Tây, nơi chúng đôi khi được gọi là “Người tuyết gớm ghiếc” (Abominable Snowman). Sự biệt lập của vùng núi cao hiểm trở đã nuôi dưỡng trí tưởng tượng của công chúng cho đến tận giữa thế kỷ 20. Khi đó, các nhà thám hiểm phương Tây bắt đầu đổ xô đến đây để săn lùng những bằng chứng mập mờ như những bức ảnh mờ căm, những dấu chân khổng lồ hay vài túm lông bí ẩn, cốt chỉ để thỏa mãn sự hiếu kỳ của khán giả quốc tế. Thế rồi, khi từng tấm da thú hay dấu vết lần lượt bị công nghệ ADN và khoa học hiện đại vạch trần là đồ giả, sự hoài nghi cứ thế lớn dần, cho đến khi ai nấy đều tin chắc rằng chẳng có sinh vật huyền bí nào tồn tại trên đời.
Thế nhưng, với những cộng đồng săn tìm sinh vật bí ẩn, Yeti vẫn còn sống đâu đó ngoài đời thực. Họ lý giải đó là một quần thể Gigantopithecus nhỏ lẻ, bị cô lập và sống sót đến tận ngày nay. Tạm gác lại thực tế rằng những ngọn núi băng giá hoàn toàn không giống với hệ sinh thái vốn có của loài vượn này, một số người vẫn ngoan cố tin rằng một nhóm nhỏ đã tồn tại suốt hàng chục nghìn năm và tự thích nghi được với khí hậu khắc nghiệt. Hơn nữa, các truyền thuyết thường miêu tả Yeti đi bằng hai chân, trong khi Gigantopithecus lại di chuyển bằng bốn chân giống đười ươi, một mâu thuẫn rành rành mà chưa ai đưa ra được lời giải thích thỏa đáng. Suy cho cùng, nỗ lực xâu chuỗi người tuyết với loài vượn cổ đại thực chất chỉ lột tả khao khát mượn danh khoa học để hợp lý hóa thần thoại của con người thế kỷ 21, cũng như nỗi ám ảnh về bằng chứng thực nghiệm của thời đại này, chứ không hề chứng minh được Gigantopithecus vẫn còn sống.
Minh họa sinh vật huyền bí. Nguồn ảnh: the Cryptid Archives.
Ta cũng nên đặt dấu chấm hỏi tương tự trước những đồn đoán cho rằng Gigantopithecus là nguồn cơn của truyền thuyết “vượn đá.” Dù chưa từng xuất hiện trên các tạp chí học thuật hay thu hút sự chú ý của báo giới, nững câu chuyện về sinh vật này thường xuyên xuất hiện trên các trang blog hay diễn đàn của cựu binh Mỹ. Những người từng chạm trán luôn quả quyết chúng là động vật bình thường chứ không phải quái thú thần thoại, và gọi là “vượn đá” bởi thói quen ném đá vào binh lính.
Thực tế, những lời kể về việc chạm trán vượn đá, hay nhặt được lông và phát hiện dấu chân của chúng, đã xuất hiện từ cả trước lẫn sau chiến tranh, thậm chí từng được bộ đội Việt Nam xác nhận. Dù vậy, những giai thoại lan truyền rộng rãi nhất vẫn chủ yếu xuất phát từ lính Mỹ đóng quân tại các chốt vùng cao. Đáng nói là, dù sinh vật trong các lời đồn này thấp hơn rất nhiều so với mốc 3m của Gigantopithecus, một số người vẫn khiên cưỡng cho rằng đây là một quần thể vượn cổ đại sống sót, vô tình bị kích động bởi sự hiện diện của con người.
Việc loài vượn đá hoàn toàn bặt vô âm tín trong nhiều thập kỷ qua đủ để khẳng định rằng chúng chưa từng tồn tại, và đương nhiên giả thuyết chúng là loài Gigantopithecus lại càng vô căn cứ. Dù vậy, qua những giai thoại này, ta có thể rút ra một số kết luận về tâm lý quân nhân trong thời chiến. Bị bủa vây bởi chiến tranh tàn khốc và môi trường xa lạ, những người lính đã bấu víu vào các yếu tố siêu thực để duy trì sự tỉnh táo. Cách lý giải này hoàn toàn trùng khớp với chi tiết về một sinh vật khổng lồ giống vượn trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của nhà văn Bảo Ninh. Trong tác phẩm, người lính đã nổ súng tiêu diệt sinh vật mang hình dáng đười ươi, dù thực tế là giống loài này không hề sinh trưởng ở Việt Nam. Thay vì xem những câu chuyện như vậy là manh mối về một loài thú thất truyền, ta có thể hiểu đó là sự bất lực của con người trong việc dùng lý trí để lý giải nỗi kinh hoàng của chiến tranh. Chỉ khi viện đến sự hiện diện của những sinh vật đã tuyệt chủng, hay khả năng những sinh vật thời tiền sử còn sống sót tới tận ngày nay, con người mới có cớ để hợp lý hóa những hành vi man rợ mà chính đồng loại đang gây ra cho nhau.
Giải mã một cuộc đại tuyệt chủng
Nếu Gigantopithecus không hề lẩn trốn trên dãy Himalaya hay trong những cánh rừng hẻo lánh ở Việt Nam mà đã thực sự tuyệt diệt, thì điều gì đã hạ gục chúng? Các nhà khoa học đã đưa ra những giả thuyết vô cùng hấp dẫn. Đơn giản mà nói, chúng quá to lớn để có thể thích ứng với biến đổi khí hậu. Những động vật có kích thước đồ sộ như Gigantopithecus đòi hỏi nhu cầu trao đổi chất khổng lồ nhưng lại sinh sản rất ít. Đặc điểm này khiến chúng cực kỳ dễ bị tổn thương trước sự thay đổi của thảm thực vật — hệ quả tất yếu từ những biến động nhiệt độ và lượng mưa toàn cầu. Thật không may cho chúng, kịch bản tồi tệ này đã thực sự ập đến vào khoảng 300.000 năm trước.
Phân tích phấn hoa trong hóa thạch cho thấy, suốt giai đoạn này, những cánh rừng nhiệt đới trù phú đã biến mất dần, nhường chỗ cho các trảng cỏ thưa thớt. Một bài báo học thuật gần đây lý giải: “Ngay trước và trong khung thời gian tuyệt chủng từ 295.000 đến 215.000 năm trước, sự phân hóa các mùa ngày càng rõ rệt đã khiến môi trường biến động mạnh mẽ, kéo theo sự thay đổi quần xã thực vật và sự mở rộng của các khu rừng thưa. Trong khi họ hàng gần Pongo weidenreichi (đười ươi) xoay sở thay đổi sở thích ăn uống và tập tính để thích nghi, thì G. blacki lại bộc lộ những dấu hiệu căng thẳng mạn tính, kéo theo sự suy giảm quần thể. Rốt cuộc, chính sự chật vật trong quá trình thích nghi đã đặt dấu chấm hết cho loài linh trưởng vĩ đại nhất từng sống trên Trái Đất.”
Quá trình tuyệt chủng không diễn ra trong một sớm một chiều. Khi các khu rừng ngày càng khô hạn, nguồn thức ăn yêu thích của chúng cũng cạn dần. Vượn non, giống như loài đười ươi từng sống ở Việt Nam, có thể trèo cây hái quả, nhưng những cá thể trưởng thành đành phải phụ thuộc vào lớp thực vật đang thưa thớt dần trên mặt đất. Bằng chứng cho thấy chúng buộc phải ăn nhiều vỏ cây, lau sậy và các loại thức ăn thô ráp kém dinh dưỡng hơn. Thế nhưng, với kích thước khổng lồ, ngần ấy thức ăn rốt cuộc cũng không đủ để cầm cự. Món khoái khẩu biến mất, bản thân chúng lại không thể tiêu hóa các loài thực vật mới sinh sôi để lấp đầy khoảng trống sinh thái, giống loài này đành chấp nhận kết cục buồn. Chúng ta sẽ vĩnh viễn không biết được con vượn lớn cuối cùng đã gục ngã ở đâu và vào lúc nào.
Nguồn ảnh: Reddit.
Vậy chúng ta học được gì từ sự biến mất của Gigantopithecus? Ở một góc độ nào đó, thật an ủi khi biết con người không phải thủ phạm của mọi cuộc tuyệt chủng, và vạn vật rồi cũng sẽ đến hồi kết giống như loài khủng long. Nhưng tôi không muốn lấy đó làm lời kết, bởi lẽ góc nhìn phó mặc ấy rất dễ trở thành tấm bình phong bao biện cho thói tàn phá thiên nhiên vô tội vạ của chúng ta. Thay vào đó, tôi muốn mượn cuộc đời của Gigantopithecus để nhắc nhở nhau rằng: Trái Đất luôn dung chứa những phép màu, miễn là chúng ta chừa cho thiên nhiên đủ không gian và thời gian.
Không một giống vượn lớn nào có thể sinh sôi trên mảnh đất lấp biển đầy rẫy lô cốt bê tông bóp nghẹt những rặng ngập mặn đứt gãy; chẳng loài thú nào có thể phát triển dọc theo những bờ biển trơ trọi cây xanh nay đã biến thành khu nghỉ dưỡng xa hoa; và chắc chắn sẽ không có sinh vật nào kịp tiến hóa giữa tiếng búa xẻ đá vôi chát chúa hòng dựng nên một công viên giải trí giả Âu lạc lõng. Chẳng ai trong chúng ta từng biết đến Gigantopithecus. Vậy hãy thử tưởng tượng xem, thế giới ngoài kia còn bao nhiêu loài cỏ cây muông thú tuyệt diệu mà ta sẽ vĩnh viễn không bao giờ được chiêm ngưỡng, nếu con người không chịu bừng tỉnh và thôi coi Trái Đất như một món hàng để vơ vét thay vì một ân huệ thiêng liêng.