Mùa hè 1982, được đến Cư xá Thanh Đa, với tôi là một hạnh ngộ. Khu nhà ở có quy mô lớn nhất Sài Gòn nửa đầu thập niên 1970 — gần 4.000 căn hộ khép kín gồm khoảng 50.000 cư dân. Cư xá nghĩa là dành cho những người có nghề nghiệp ổn định, cộng đồng an vui kiểu mẫu. Ở những căn hộ 3 phòng ngủ, những viên chức, giáo chức, bác sĩ, kỹ sư, quân nhân từ hàm tá trở lên vui thích với niềm tự hào của những người tạo ra một tiểu khu như thế.

Làm khách
Mới có 7 năm từ bản lề 1975 đến khi tôi làm khách ở Cư xá Thanh Đa. Bảy năm đâu có dài, nhưng cơn lốc lịch sử đã khuấy đảo không chừa ngóc ngách nào. Những người mà tôi gọi là tinh hoa phần lớn đã bật đi tới tận đâu, tôi hình dung được. Sự sàng lọc vừa thẳng thừng vừa tế nhị đã để những người bình thường và an phận được sống tiếp, trám vào là những đợt sóng từ chiến khu về và từ miền Bắc đổ vô. Ai âm thầm cứ âm thầm, ai hớn hở cứ hớn hở. Tôi đã kịp thấy một nếp sống vừa kịp định hình, có phần thôn dã tình làng nghĩa xóm: những dây phơi võng xuống trước ban công; những lò than tổ ong đặt thản nhiên trên bãi cỏ công viên; những người đàn ông mình trần cố hứng nước ở những cái vòi có thể rặn ra nước; những người đàn bà đánh quần áo ngủ nhăn nhúm ra chợ hoặc ngồi xổm tám chuyện ở bất cứ chỗ nào có thể ngồi để tám!




Bình minh quanh những lô số.
Chiếc Honda cọc cạch của đứa cháu rốt cùng cũng giúp chúng tôi khám phá xong đường Xô Viết-Nghệ Tĩnh năm đó dài đến chừng nào. Nó vắt qua các phường 15, 17, 21, 22, 25, 26, 27 của Quận Bình Thạnh, kết thúc ở một bến đò cũng cọc cạch như chiếc Honda của chúng tôi. Nghĩa là bắt đầu từ Thị Nghè, qua Hàng Xanh, qua cầu Kinh và đi 8 cây số hoang sơ Bình Quới nữa. Dân ở bờ kia muốn sang Quận 3 và Quận 1 thì phải “chung thân” với bến đò này. Xe máy chưa nhiều, chủ đò khéo xếp xe đạp của khách một cách ngăn nắp như cửa hàng buôn bán xe để lấy chỗ cho người đứng. Chiếc máy dầu phành phạch, chúng tôi đứng xem vừa ngao ngán vừa thích thú. Nhà văn Nguyễn Quang Thân, chồng tôi, ưa tự trào, phán ngay: “Người ta đã xong sự nghiệp nông thôn hóa Hà Nội, giờ đây tới lúc Sài Gòn sẽ hưởng cái phúc ấy, nhưng mà, nhưng mà cứ để Bình Quới thôn dã như này có vẻ hợp lý hơn!”




Nhịp sống vẫn chứa chan tình làng nghĩa xóm ở Thanh Đa.
Làm cư dân



Cầu thang bên trong được thắp sáng bằng bóng đèn, nhưng người dân phải tự làm “giáp” cho đèn vì bóng đèn hay bị mất cắp.
Năm 2005, chúng tôi Nam tiến, không đu theo thiên hạ mà chính vì bà mẹ của anh Thân mất ở Thanh Đa và tro cốt của bà an vị ở chùa Thập Phương gần cầu Kinh. Từ hạnh ngộ đến hạnh duyên. Chúng tôi đã cật lực 15 năm ở Hà Nội — thiển nghĩ, như bao người đã từng sống ở đây trước 1975. Theo tôi, không ai ngửa mặt lên trời để chờ tiền chờ lộc rơi xuống cả, không ai, cho dù Bên-Cũ hay Bên-Mới. Và một khi đã chọn Thanh Đa làm chỗ an cư thì chúng tôi là lớp liêm sỉ với lao động của chính mình. Khi ấy, so với rất nhiều bạn hữu đã nhà cao cửa rộng sau 20 năm Đổi Mới, Thanh Đa là sự chọn vừa phận, an yên, biết đủ. Anh Thân khi đó 70 tuổi, tôi thì sắp sửa về hưu.


Họa đồ mô tả khu Cư xá Thanh Đa và bán đảo.
Không kể chuyện phải mượn cháu ruột đứng tên mua nhà vì “có hộ khẩu thành phố Hồ Chí Minh thì mới mua được nhà ở Sài Gòn,” — phải, những chuyện đáng thở dài, gọi là ngăn sông cấm chợ ấy, sẽ làm phiền người đọc hôm nay. Mãi khi tôi về hẳn thì cháu mới sang tên nhà cho chúng tôi và, khi đã có nhà, chúng tôi mới được chuyển hộ khẩu, rồi thì chuyển lương hưu về theo. Lại những lần thở dài khi nhớ lại, một thời giống như câu đồng dao vô nghĩa “kỳ đà là cha cắc ké, cắc ké là mẹ kỳ nhông, kỳ nhông là ông kỳ đà,” tìm ra căn gốc của sự lòng vòng này, có thể bị giảm thọ, mất công!



Thì ra lô nhà nào cũng bị nghiêng và bị thấm dột trầm trọng. Do thời các đài nước chỉ làm cảnh, trong khi sông Đồng Nai vẫn cho nước đầy đủ mà nhà máy mới cấp được nước cho Thanh Đa ban đêm. Vậy là sinh ra các bồn chứa bằng nhựa ở ban công sau: nhà diện tích nhỏ một bồn, các căn của đám “tinh hoa” treo hai bồn luôn cho đủ và cho oách, các lô nhà không nghiêng mới là lạ. Và mái tôn phía sau để tránh các bồn nước tống sang, nước bắn vào tận phòng ngủ của láng giềng, mái tôn phía trước ở các dãy giáp đất để buôn bán lặt vặt, hoặc để trông giữ xe và để… không cho taxi và ô tô nhỏ ra vô được nữa, ít ra cũng vì cái sự lởm khởm của đường dân cư và các rãnh thoát nước. Cây bàng được trồng vô tội vạ để lấy bóng mát mưu sinh, trồng cả xoài và cả dừa bên trên những “chuồng sắt” của nếp sống Hà Nội vào theo. Chúng tôi thở dài dày hơn, vì cư xá Thanh Đa đã “bỏ thì thương, vương thì tội.” Không hề có Ban quản lý từ khi các lô Số chính thức bị treo: nghĩa là ai ở đâu thì ở đó chờ, không được sang bán, ai thích buôn bán lậu (sang tay) cứ việc, nữa dự án giải tỏa bắt đầu thì các vị mất tiền và mất nhà luôn, đừng trách!




Chỉ cách lô số vài bước chân là công viên tương đối rộng, nhưng cũng nhiều chỗ xuống cấp vì không được chăm sóc.
Lời từ biệt khó khăn
Quy luật của thời gian, quy luật của biến đổi, quy luật của được mới thì nới cũ. Người ta cần một ốc đảo Bình Quới–Thanh Đa thành niềm tự hào đô thị đẹp, có thể là đẹp nhất trong tương lai. Tôi từng thấy ở Budapest của Hungary những chung cư dấu ấn thời Xô Viết được giữ nguyên trạng; dĩ nhiên họ có thang máy ngay từ đầu chứ không hề dùng thang bộ như chung cư cũ của Sài Gòn. Họ bảo tồn như di sản, cho tham quan, trong đó các cụ ông cụ bà như chúng tôi thong dong với sinh thái cổ, với nhịp sống chậm từng là của mình.




Thanh Đa không được chăm sóc nên không thể làm thực thể cảnh cho di sản, cho du khách. Thanh Đa là đất vàng, đất kim cương trong mắt các nhà quy hoạch thích quy hoạch, thích đại đô thị. Tôi nhớ gì, ngoài chuột gián đưa thoi trên mặt đất, trong từng căn hộ, làm hốt hoảng con cháu chúng tôi, thế hệ đã sớm an toàn ở những khu cao cấp? Không, tôi nhớ những thứ mà tôi chịu ơn hai chục năm nay. Ấy là tường 20 đặc biệt dày vừa chắc vừa mát, ân huệ của cái thời bản vẽ cẩn trọng và những nhà thầu thanh liêm, minh bạch. Ấy là ban công mặt trước mặt sau, là các căn phòng có cửa cho gió đối lưu để không tốn nhiều quạt, nói chi máy lạnh. Ấy là những khung cửa lớn và cửa sổ, cả cửa thoát hiểm cho gian bếp khi có cháy nổ. Một sự thiết kế, tôi nghĩ, của cái thời thấu đáo dành cho các cư dân thấy mình được sống trong văn minh và hậu hĩnh.
Sẽ quá vãng hết. Có sinh thì có diệt. Hơn nửa thế kỷ, lòng người còn phôi pha huống chi bê tông và đá sỏi. Người dân bắt đầu thấy đồng thuận với giải tỏa để sẽ được sớm tái định cư, ở một nơi mà vượt qua cầu Kinh là đất trời sẽ cho Thanh Đa giảm mấy độ so với Hàng Xanh–Thị Nghè. Những nhánh sông ân tình, những ngọn gió đứng ở đâu trên cù lao Bình Quới cũng nhận được sủng ái ấy, thật kỳ diệu và đáng để bịn rịn hoặc mong mỏi được trở lại, đặt hành trang xuống cho những năm tháng còn lại phía trước.



Tôi mong cây me chứng nhân thời cuộc hơn nửa thế kỷ trước ban công nhà tôi vẫn đứng vững cho dù người ta có đào móng và xây những toà nhà cao, cao mãi. Cây bồ đề, cây gòn nữa, liệu có còn không? Bọn chim sẻ rợp trời kia, lũ sóc đuôi dài trong vương quốc me của chúng, và lũ bướm lũ thằn lằn lũ ong mật ong ruồi liệu có còn không?
Lịch sử lại một lần nữa vặn vẹo mình mẩy và gọi tên Thanh Đa trong cuộc đảo lộn ghê gớm này. Đành thôi.








