Rác AI đã tràn ngập đường phố. Đi đến đâu, ta cũng bắt gặp những gương mặt hoạt hình y chang nhau, cười nhăn nhở trên phông nền loang lổ màu mè. Mọi khoảng trống đều bị bôi trát đủ thứ hình thù sặc sỡ để che đi những lỗi vẽ sai bét: nào đồng hồ méo mó chữ số, ổ bánh mì vỏ sần sùi như da rắn, hay trái chanh dây ứ nước, lỗ chỗ ở giữa.
Sài Gòn lúc nào cũng hối hả. Bước ra đường là bao nhiêu âm thanh, hình ảnh bủa vây khiến người ta hoa mắt chóng mặt, chẳng mấy ai rảnh rỗi để bận tâm đến từng tấm biển hiệu. Nhưng nếu chỉ dừng chân, lia mắt nhìn kỹ một chút thôi, bạn sẽ nhận ra làn sóng AI đang nhận chìm thành phố của chúng ta.
Từ xe bán hàng rong đến biển quảng cáo ngoài cửa sổ của các chuỗi cửa hàng, những hình ảnh do công nghệ tạo ra đã làm thay đổi diện mạo không gian đô thị Việt Nam. Sự thay đổi ấy diễn ra êm ả bởi nó hòa vào một bức tranh thị giác đã quá chật chội. Suy cho cùng, từ đầu những năm 2000, người ta đã thi nhau làm biển hiệu thật to, thật nổi, bám víu vào chủ nghĩa tối đa để tranh giành sự chú ý giữa môi trường cạnh tranh quá khốc liệt.
Việc AI thâm nhập vào ngành quảng cáo nước nhà không phải là diễn biến quá bất ngờ. So với các nước trong khu vực, Việt Nam cởi mở hơn hẳn với làn sóng công nghệ khi có tới 78% doanh nghiệp đưa AI vào vận hành; bên cạnh đó là tỷ lệ sử dụng cá nhân rất cao, đứng đầu là thế hệ Gen Z thường xuyên nhắn tin với các chatbot để làm việc, học tập, thư giãn và xin lời khuyên.
Chính phủ tuy kiểm soát gắt gao nạn tin giả và lừa đảo bằng AI, song vẫn ủng hộ tiềm năng của công nghệ này trong thúc đẩy công nghiệp và kinh tế, thậm chí còn ứng dụng AI vào các chiến dịch truyền thông công cộng. Vì thế, khoảng cách từ một câu lệnh tìm kiếm trên Gemini đến những hình ảnh món ăn méo mó dị dạng dán bên hông chiếc xe bún bò là vô cùng mong manh.
Động lực khiến các chủ quán tìm đến AI thay vì thuê thiết kế hay thợ vẽ biển hiệu là chi phí chứ không phải gu thẩm mỹ. Bạn bè lẫn đồng nghiệp đều bảo tôi, người ta tiết kiệm chi phí làm biển hiệu không có nghĩa là họ cũng bớt xén tiền nguyên liệu hay tiền lương nhân viên. Ừ thì, sẽ thật bất công nếu chúng ta trút giận lên những người bán hàng nặng gánh mưu sinh, không mấy bận tâm đến những tranh cãi về đạo đức hay các bài phân tích trên báo chí. Nhưng nếu vậy thì ai mới là người chịu trách nhiệm cho những sản phẩm mỹ thuật nghèo sáng tạo đang tràn ngập đường phố? Và chúng ta có thể làm gì trước thực trạng này?
Nếu không có được những lời giải đáp thỏa đáng, ta sẽ vô tình dọn đường cho giới tài phiệt công nghệ tiếp tục tung hoành, những quái vật khổng lồ, mà như nhà văn Arundhati Roy mô tả: “Một cái đầu duy nhất với một con mắt nhợt nhạt, không chớp mắt, đặt ngay trên trán, lệch hẳn về bên phải trung tâm, chiếu cái nhìn hằn học lên những con người bình thường và chỉ nhìn thấy những gì người thợ mỏ thấy ở một khu rừng giàu khoáng sản, hay những gì người xây đập thấy ở những dòng sông cuồn cuộn chảy. Tất cả chỉ là thứ để bòn rút, tích lũy rồi đem ra mua bán trên thị trường. Kệ xác khu rừng. Kệ xác dòng sông. Kệ xác con người.”
Thấy rác AI ngập tràn phố phường Sài Gòn song không ít người vẫn tặc lưỡi cho qua, cho rằng có khác gì thói dùng ảnh chùa suốt mấy chục năm nay ở nước mình đâu! Họ cho rằng vấn đề không nằm ở bản thân AI, mà do người ta xài nó quá cẩu thả. Nhiều ý kiến còn ca ngợi tiềm năng vô hạn của AI trong việc tạo ra hình ảnh, thậm chí sản xuất cả những phim chiếu mạng nhạt nhẽo, rồi kết luận rằng ảnh xấu hay dị dạng là do người nhập lệnh thiếu kỹ năng và kém chăm chút.
Tất nhiên, những tranh cãi này rồi cũng thừa thãi, bởi những lỗi ngớ ngẩn về chất liệu hay bố cục chủ yếu xuất hiện ở các mô hình AI đời cũ. Dăm bữa nửa tháng nữa thôi, máy móc sẽ tiến bộ đến mức khó mà phân biệt nổi đâu là thật đâu là giả. Nhưng sự hoàn hảo máy móc ấy cùng lắm chỉ càng làm người ta thêm nhớ những sơ suất, vụng về hay khiếm khuyết của những tấm biển hiệu vẽ tay mà thôi.
Xét cho cùng, sự xuất hiện của biển hiệu AI tại Việt Nam chỉ là triệu chứng của một căn bệnh thời đại. Tương tự như những trào lưu thẩm mỹ trước đó, AI đang làm cạn kiệt nguồn sáng tạo và san bằng nét phong phú trong trải nghiệm của con người. Được nhào nặn từ cùng những lối mòn thuật toán và dữ liệu, các tấm biển hiệu giờ đây trông không khác gì nhau, dù là ở Sài Gòn, Boston, Caracas hay Belgrade. Hiện tượng này cũng giống như việc các quán cà phê ngày nay đều mang phong cách tối giản chuẩn mực như một cửa hàng Apple Store, hay các video ca nhạc đều lặp đi lặp lại những động tác vũ đạo giống nhau.
Thử bắt một nghìn con chim rừng lông lá sặc sỡ nhất rồi nhào trộn hết lại mà xem, thứ trút ra chỉ là một vũng bùn xỉn màu đặc quánh. Và tất nhiên, tiếng hót véo von, nét đẹp hoang dại hay những khiếm khuyết vẹn toàn của bầy chim cũng theo đó mà biến mất vĩnh viễn.