Lịch sử kiến trúc hiếm khi ghi nhận một phong trào nào mang tính bứt phá như chủ nghĩa kiến trúc hiện đại Việt Nam (Vietnamese modernism). Không chỉ phản ánh quá trình chuyển mình và tự định hình bản sắc của một nền văn hóa qua các giai đoạn từ truyền thống, thuộc địa cho đến hiện đại, ngôn ngữ kiến trúc bản địa ấy còn mở ra những góc nhìn sâu sắc về tiềm năng sáng tạo vô hạn của con người.
Một tòa nhà mang kiến trúc hiện đại điển hình ở Sài Gòn.
Chủ nghĩa kiến trúc hiện đại Việt Nam gây ấn tượng bởi cách ứng dụng đầy sáng tạo các chi tiết thiết kế. Đó là những lam chắn nắng, bồn cây, giàn che và gạch hoa gió được sinh ra nhằm giải quyết bài toán về vi khí hậu; nhưng khi được đan cài dày đặc trên mặt đứng, chúng đã vượt khỏi vai trò ban đầu để trở thành những tuyên ngôn nghệ thuật đầy cá tính của gia chủ.
Khởi nguồn từ giữa thế kỷ 20 trong bối cảnh phi thực dân hóa, kiến trúc hiện đại đã trở thành tiếng nói khẳng định bản sắc của một quốc gia đang chuyển mình. Những công trình giai đoạn này cho thấy giới kiến trúc sư đã làm chủ hoàn toàn các vật liệu công nghiệp như bê tông, cốt thép hay kính để hiện thực hóa một triết lý thiết kế mới — lấy công năng và tính mạch lạc làm tôn chỉ. Họ mạnh dạn gạt bỏ những chi tiết trang trí rườm rà và các quy tắc gò bó để hướng đến một không gian tự do, lạc quan và mang đậm tinh thần vị lai.
Tòa nhà V.A.R ở Sài Gòn là một ví dụ điển hình cho các nguyên tắc kiến trúc hiện đại trên quy mô lớn. Ảnh: Alberto Prieto.
Tác phẩm nghệ thuật đầy sức sống được tạo nên từ bê tông cốt thép.
Thông qua các công trình tiêu biểu như tòa nhà V.A.R, Dinh Độc Lập, trụ sở đài VOH hay Thư viện Khoa học Tổng hợp, thế hệ kiến trúc sư theo trường phái hiện đại đầu tiên của Việt Nam (gồm Lê Văn Lắm, Ngô Viết Thụ, Phạm Văn Thâng, Nguyễn Quang Nhạc, Nguyễn Văn Hoa cùng nhiều tên tuổi khác) đã đưa ngôn ngữ kiến trúc hiện đại đến gần hơn với công chúng. Không dừng lại ở đó, họ còn tinh chỉnh ngôn ngữ này cho phù hợp với khí hậu nhiệt đới. Thay vì coi truyền thống là lằn ranh giới hạn, họ đúc kết kinh nghiệm từ kiến trúc dân gian, tận dụng hướng gió, nguồn nước, bóng râm và thảm thực vật để “nhiệt đới hóa” chủ nghĩa kiến trúc hiện đại theo một cách riêng biệt. Quá trình giao thoa ấy đã kiến tạo nên một hệ thống đa dạng các kiểu dáng lam chắn nắng, mái đua, bồn cây và gạch hoa gió.
Ứng dụng gạch hoa gió hiện đại trong nhà ở dân dụng.
Cũng trong giai đoạn này, chủ nghĩa kiến trúc hiện đại tại Việt Nam bất ngờ chứng kiến một bước chuyển mình song hành. Lần đầu tiên, người dân tiếp thu thứ ngôn ngữ thiết kế mới mẻ này và tự tay xây dựng nên không gian sống của mình ở cả thành thị lẫn nông thôn mà không cần đến kiến trúc sư. Dựa trên những khuôn mẫu sẵn có, họ đã nhào nặn nên các tác phẩm mang đậm tính cá nhân ngay trên chính mặt tiền ngôi nhà. Những giải pháp vi khí hậu một lần nữa được tái tạo qua lăng kính đời thường.
Người dân tung hứng với các yếu tố kiến trúc hiện đại một cách sáng tạo. Ảnh: Phạm Vinh.
Từ tần suất xuất hiện dày đặc của các chi tiết này, một ngôn ngữ kiến trúc độc đáo dần thành hình. Bỏ qua những tính toán công năng phức tạp, các cấu kiện như bồn cây, lam chắn nắng hay gạch hoa gió được sắp đặt theo trực giác đầy ngẫu hứng. Việc bài trí giống như một trò chơi thị giác đậm chất thơ nhưng không hề đánh mất giá trị thực tiễn. Người dân trên khắp mọi miền đất nước đã sử dụng chung một hệ “ngữ pháp” và “từ vựng” đúc kết từ những cấu kiện hữu dụng để tự do phác họa gu thẩm mỹ riêng. Cứ thế, văn hóa thiết kế bản địa đã “thuần hóa” ngôn ngữ kiến trúc hiện đại, biến nó thành một sân chơi sáng tạo hoàn toàn độc lập, tạo ra một dòng chảy chủ nghĩa hiện đại song song mang tính quần chúng và vắng bóng tên tuổi tác giả.
Kiến trúc hiện đại Việt Nam có vẻ mang tính tự phát, nhưng được cấu thành từ một cấu trúc cốt lõi. Cấu trúc ấy đóng vai trò như một bộ mã nền tảng, sở hữu hệ thống cú pháp và từ vựng riêng để cộng đồng sử dụng và không ngừng biến tấu. Vì thế, dẫu mỗi ngôi nhà là một thiết kế độc bản, người ta vẫn dễ dàng nhận ra chúng thuộc về một hệ ngôn ngữ chung.
Dạo bước qua không gian đô thị Sài Gòn, ta bắt gặp một bức tranh kiến trúc đầy sức sống. Những yếu tố như bồn cây có thể xuất hiện dày đặc như một thứ ‘từ vựng’ chung, lan tỏa từ khu phố này sang đô thị khác. Thế nhưng, tuyệt nhiên không có hai thiết kế bồn nào trùng lặp. Mỗi gia chủ đã biến tấu nguyên mẫu ấy, điều chỉnh hình khối và vị trí để tương thích với đặc thù hướng nắng, hướng gió của ngôi nhà mình. Chính sự lặp lại về ý tưởng song hành cùng tính độc bản trong thực thi đã giúp chủ nghĩa kiến trúc hiện đại bám rễ sâu vào bối cảnh bản địa. Sự gắn kết ấy không chỉ đến từ khả năng thích ứng với điều kiện khí hậu, mà còn phản ánh một bản sắc văn hóa đặc trưng: lối tư duy đầy phóng khoáng khi kết hợp các kết cấu, chi tiết và những mảng bóng đổ đan xen.
Thiết kế chậu trồng cây có giá đỡ.
Cảnh quan kiến trúc dần hóa thành không gian trao đổi của sự sáng tạo. Dường như luôn hiện hữu một diễn đàn trong tiềm thức, nơi các ý tưởng được truyền tay và lan tỏa. Thiết kế hiện đại khi ấy không còn là những công trình biệt lập mà trở thành trải nghiệm sống của cộng đồng, khơi mào cho một luồng kiến trúc chưa từng có: tự do hơn, tự nhiên hơn, đậm tính nhân văn và giàu sức gợi hơn hẳn những khuôn khổ giáo điều mà chủ nghĩa hiện đại truyền thống thường áp đặt.
Chủ nghĩa kiến trúc hiện đại Việt Nam xác lập một vị thế khác biệt trong bức tranh hiện đại toàn cầu. Lần đầu tiên, đại chúng tách rời ngôn ngữ thiết kế này khỏi khuôn khổ thể chế để đưa nó vào dòng chảy xây dựng thực tiễn. Nền văn hóa ấy tự vươn mình thành một trào lưu độc lập, dẫu phần lớn các tác phẩm đều không kèm theo tác giả.
Hiện tượng này làm rõ hai bước ngoặt trong tư duy tiếp nhận chủ nghĩa hiện đại của người Việt. Thứ nhất, trái với định kiến rằng các trào lưu hiện đại thường xa cách, những thực hành bản địa này lại có khả năng song hành cùng tính hiện đại một cách tự nhiên. Kiến trúc hiện đại Việt Nam là minh chứng rõ nét cho việc kiến tạo những không gian hài hòa với văn hóa và môi trường ngay trong lòng xã hội công nghiệp. Nhờ hình thành từ kinh nghiệm ứng biến với điều kiện khí hậu và gu thẩm mỹ đặc thù, những công trình này vừa thỏa mãn về mặt chức năng vừa tiệm cận với thói quen sinh hoạt đặc thù của người Việt.
Thứ hai, nó lý giải một khía cạnh sâu sắc thuộc về bản chất con người trải dài qua nhiều hoạt động văn hóa. Gần như tương đồng với ngôn ngữ tự nhiên, chủ nghĩa hiện đại bản địa Việt Nam thể hiện khả năng vận dụng một hệ ngữ pháp và từ vựng tập thể đầy mạnh mẽ. Những biểu đạt kiến trúc ấy luôn đan cài gu thẩm mỹ, sắc thái và biến tấu cá nhân, tựa như âm hưởng của giọng điệu vùng miền hay phong cách ăn nói đặc trưng của từng người.
Có vẻ như luôn tồn tại một ngôn ngữ văn hóa hằn sâu trong tâm trí, chi phối mọi hình thức biểu đạt của nhân loại. Nằm trong năng lực sáng tạo ngôn ngữ ấy, chủ nghĩa kiến trúc hiện đại bản địa Việt Nam làm bừng sáng cách bản ngã tinh thần của con người hiển hiện qua các thực thể vật chất, cả ở góc độ cá nhân lẫn cộng đồng. Hiểu theo cách đó, kiến trúc đã vượt khỏi ranh giới chuyên môn để trở thành một hành vi văn hóa, là kết tinh của ý thức tập thể.
Những đặc tính này mời gọi chúng ta nhìn nhận lại cách định giá kiến trúc. Giá trị kiến trúc không chỉ gói gọn trong không gian học thuật của một nhóm thiểu số, mà chính các thực hành đại chúng mới phản ánh chân thực nhất mã gen văn hóa và địa lý của môi trường nhân tạo. Nếu kiến trúc chính thống thường đặt nặng lý thuyết, thì chủ nghĩa hiện đại tại Việt Nam lại là kết tinh từ sự sáng tạo tự thân của chính người dân. Trào lưu này phát triển tự nhiên như một hệ thống ngôn ngữ, một thực thể văn hóa sống động không ngừng biến đổi, trưởng thành và tiến hóa theo cộng đồng. Quá trình đó đã định hình nên các ý tưởng, phong cách và gu thẩm mỹ, phản chiếu lăng kính độc nhất của cộng đồng ấy khi đối thoại với thực tại.

Dòng chảy hiện đại bản địa tại Việt Nam mở ra một cách tiếp cận khác biệt về lịch sử kiến trúc. Nó đòi hỏi chúng ta phải vượt qua những giáo điều hình thức để thấu hiểu việc xây dựng như một hiện tượng xã hội sống động. Chính những cư dân, những người thực hành không tên, đã định hình nên đại đa số không gian sống quanh ta. Khác với chủ nghĩa hiện đại mang tính thể chế, trào lưu này cho chúng ta cơ hội thoát khỏi dòng chảy kiến trúc tinh hoa đầy đặc quyền, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp trong ngôn ngữ thường nhật của quần chúng. Qua đó, hiện tượng này đã cất tiếng nói bảo vệ và tôn vinh những giá trị phi chính thống, vốn thường bị lãng quên trong lịch sử kiến trúc. Nó hối thúc chúng ta không chỉ bước qua giới hạn khô khan của tính khoa học trong kiến trúc, mà còn vươn khỏi cái bóng của những thủ phủ hiện đại lớn trên thế giới, để nhìn nhận kiến trúc như một phương thức biểu đạt cơ bản và dung dị của con người.
Chủ nghĩa hiện đại bản địa Việt Nam hiện vẫn là một khoảng trắng trong các diễn ngôn kiến trúc toàn cầu. Có lẽ, đây là lúc chúng ta nên tạm chia tay những quan điểm thẩm mỹ nặng tính lý thuyết, để bắt đầu đi tìm vẻ đẹp trong ngôn ngữ kiến trúc đời thường.