Sài·gòn·eer

Back Văn Nghệ » Văn Hóa » Tín ngưỡng thờ Cá Ông: Dấu ấn của loài cá voi trong văn hóa tâm linh miền biển

Năm 1799, Nguyễn Ánh cùng tàn quân bị lực lượng Tây Sơn truy đuổi gắt gao, buộc phải tháo chạy ra biển. Giữa thế trận hiểm nghèo, một trận cuồng phong bất ngờ ập tới chặn đứng đường lui. Cột buồm rung lên bần bật, mạn thuyền chao đảo chực vỡ nát thành từng mảnh. Đúng lúc ấy, một con cá voi khổng lồ từ dưới đáy sâu trồi lên, nâng đỡ con thuyền và đưa nhà vua cùng quân lính đến nơi an toàn. Để tạ ơn cứu mạng, Nguyễn Ánh sau khi lên ngôi đã sắc phong cho loài cá này tước hiệu Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân Thượng Đẳng Thần, cái tên mà dân gian vẫn kính cẩn gọi tắt là Cá Ông.

Giai thoại nhuốm màu huyền hoặc ấy không phải là câu chuyện duy nhất về việc cá voi cứu người tại Việt Nam. Dọc các làng chài ven biển, ngư dân vẫn truyền tai nhau về những lần được loài cá này cứu giúp khi gặp nạn khơi xa. Trò chuyện với tôi, chú Mùi, người trông coi nghĩa trang Cá Ông ở làng chài Phước Hải gần Vũng Tàu, bồi hồi nhớ lại khoảnh khắc bản thân thoát chết nhờ cá voi vào năm 2016. Hôm đó, trên đường chèo thuyền về nhà sau chầu nhậu cùng bạn bè, con thuyền nhỏ của chú bất ngờ lật úp. Giữa những đợt sóng dữ bủa vây, chú tưởng mình đã cầm chắc cái chết. Đột nhiên, một sinh vật khổng lồ trồi lên ngay phía dưới, dùng tấm lưng vạm vỡ nâng đỡ người đàn ông đang chới với giữa dòng nước xiết. Sinh vật này liên tục xoay trở, giữ cho chú không bị hụt chân chìm xuống. Đến khi được cá voi đưa tới mạn một con tàu khác an toàn, người ngư dân già không lấy gì làm kinh ngạc, bởi chú vốn là một tín đồ thuần thành của Cá Ông từ lâu.

Bức họa được trưng bày trong lăng thờ Cá Ông ở Vũng Tàu.

Những vị thần hộ mệnh thầm lặng của đại dương

Tôi lần đầu biết đến tục thờ cá voi ở Việt Nam qua một dòng chú thích ngắn ngủi dưới bức ảnh tham gia cuộc thi nghệ thuật cấp quốc gia. Vốn luôn say mê loài sinh vật biển cổ đại, thông minh và mang vẻ đẹp kỳ vĩ lạ thường này, tôi không khỏi tò mò muốn tìm hiểu sâu hơn về một đức tin dành riêng cho chúng. Vài người bạn của tôi từng nghe phong phanh về tín ngưỡng này, nhưng không quen biết ai thực sự thực hành; thông tin trên mạng tuy có nhưng cũng khá rời rạc. Muốn hiểu thấu đáo ngọn ngành, tôi biết mình phải dấn bước về phía biển.

Bỏ lại Vũng Tàu sau lưng, tôi đi khoảng 20 cây số qua một thị trấn nhỏ, xuôi theo con đường ven biển đang ngổn ngang công trình để đến một bãi cát trải dài sát mép sóng. Bước qua chiếc cổng chào là một bãi đất rộng điểm xuyết những nấm mồ nhấp nhô có dựng bia đá. Chốn hoang vắng này chính là một nghĩa trang cá voi, một trong hàng chục khu lăng mộ tương tự nằm rải rác khắp các vùng duyên hải.

Người dân dâng hương trước nấm mộ Ông lụy.

Dừng tay xếp hoa, bày trái cây, rót rượu trắng và thắp nhang trước từng nấm mộ, một dì lớn tuổi nán lại trò chuyện cùng tôi. Dì tâm sự rằng mình sinh ra trong một gia đình làm nghề đi biển. Với dì, việc dâng lễ vật trước mộ những “Ông lụy” (từ dùng để chỉ cá voi trôi dạt vào bờ) và thành tâm khấn vái tại lăng chính là để cầu mong những mẻ lưới bội thu. Ngư dân quê dì thường đánh bắt xa bờ ở tận những vùng biển quốc tế, nên việc nhang khói cẩn thận còn là niềm tin mong cầu bình an trước sóng to gió lớn.

Chú Mùi, từng được Cá Ông cứu mạng, đã trông nom khu nghĩa trang này suốt 7 năm qua. Chú giải thích rằng Cá Ông không chỉ hiện lên cứu người khỏi đuối nước bằng xương bằng thịt. Chú kể câu chuyện về những ngư dân quê mình đi đánh bắt, không may lạc sang vùng biển Indonesia. Khi lực lượng tuần tra nước ngoài xuất hiện, nhóm người trên thuyền tin chắc mình sẽ bị giữ lại. Họ vội vàng tắt hết đèn đóm và tha thiết cầu khấn Cá Ông. Kỳ diệu thay, họ lách qua được vòng vây và tiếp tục trúng đậm một mẻ cá lớn.

Chú chia sẻ rằng, dù cá voi từng góp công hỗ trợ chống giặc ngoại xâm nhiều thế kỷ trước, loài vật này không hề phân biệt ranh giới quốc gia, mà luôn sẵn sàng giang tay cứu giúp bất kỳ ai hoạn nạn. Gần đây, chú thậm chí còn nghe kể về một con cá voi giải cứu tàu Mỹ và đưa dạt vào tận bờ biển nước Nga. Thành tâm khấn nguyện Cá Ông, theo chú, còn mang lại sức khỏe và duyên lành trong cuộc sống.

Cá Ông trong kiếp sinh linh

Trong nghiên cứu về tín ngưỡng thờ Cá Ông tại miền Trung Việt Nam, học giả Sandra Lantz đã ghi nhận nhiều câu chuyện có nét tương đồng với lời kể của chú Mùi. Điển hình là vào khoảng năm 1950, khi đang đánh bắt ngoài khơi Phan Thiết, ông Lý bất ngờ gặp bão lớn, chực chờ nuốt chửng chiếc thuyền con. Ông vội vã chắp tay khấn vái Cá Ông, rải muối và gạo xuống biển làm vật tế. Chỉ chưa đầy năm phút sau, cuồng phong dịu đi và lùi dần ra xa. Ngay lúc đó, một con cá voi bơi đến áp sát mạn thuyền, rẽ sóng đưa ông về đến tận khi ngọn núi ven bờ lấp ló hiện ra và con thuyền được thả neo bình an.

Cũng theo nghiên cứu của Lantz, người xưa quan niệm Cá Ông không chỉ cứu mạng người sống mà còn dẫn lối cho linh hồn những ngư dân tử nạn trên biển trở về đất liền. Nếu không thể tìm đường về bến bờ, những linh hồn ấy sẽ mãi vất vưởng giữa đại dương cô độc. Chỉ khi được đưa về nương náu nơi đất mẹ, họ mới có thể yên nghỉ ngàn thu.

Tuy nhiên, dưới lăng kính khoa học, hành động xả thân được dân gian tôn kính ấy lại có một cách lý giải thực tế hơn. Giữa tâm bão, bản thân loài cá voi cũng phải chật vật chống chọi với sóng dữ, do đó chúng thường có xu hướng nương tựa vào mạn thuyền để giữ thăng bằng. Thế nhưng, nỗ lực sinh tồn này đôi khi vắt kiệt sức lực của con vật, khiến chúng gục ngã rồi bị hải lưu cuốn dạt vào vùng nước nông. Tương tự, việc cá voi đánh đuổi các loài săn mồi hung tợn khác trên biển thực chất bắt nguồn từ bản năng bảo vệ con non, chứ không hẳn xuất phát từ một mối giao cảm đặc biệt dành cho con người.

Trở lại với Phước Hải, khu nghĩa trang này hiện quy tụ hơn 20 nấm mộ lớn nhỏ, mỗi mộ phần là nơi an nghỉ của một sinh vật dạt vào bờ biển quanh làng. Người ta ước tính mỗi năm có đến 20 cá thể biển trôi dạt vào khu vực này. Trong tín ngưỡng thờ Cá Ông, dân gian hiếm khi phân biệt rạch ròi giữa cá voi và các loài thú biển khác như cá heo. Mặt khác, giới khoa học Việt Nam cũng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu nhằm phân loại chính xác các sinh vật biển tại đây.

Hầu hết xác cá dạt bờ mà dân làng tìm thấy có kích thước khá khiêm tốn, chỉ dài chừng mét rưỡi. Do đó, xét về mặt sinh học, khả năng cao nhiều con trong số này không phải là cá voi. Thậm chí, ngay trong khuôn viên nghĩa trang còn có ít nhất một ngôi mộ dành cho rùa biển. Dẫu không phải là linh vật trung tâm của tín ngưỡng thờ cúng, loài rùa này vẫn được người dân thành kính đưa về chôn cất và nhang khói đàng hoàng.

Một nấm mộ lớn tại nghĩa trang Cá Ông ở làng Phước Hải.

Tại Phước Hải, có một ngôi mộ đồ sộ hơn hẳn. Đó là nơi yên nghỉ của một chú cá voi khổng lồ dạt bờ vào ngày 28/12/2017. Chú Mùi quả quyết cá thể này dài hơn 10m, trong khi người dì bày đồ cúng chỉ ước chừng khoảng 7m đến 8m. Dẫu kích thước thực sự là bao nhiêu, trong ký ức của dân làng, con vật nặng chừng 10 tấn này vẫn là sinh thể lớn nhất từng dạt vào vùng biển Phước Hải. Người ta đã phải huy động cả một chiếc cần cẩu để đưa xác cá vào nơi chôn cất hiện tại. Gần đây, nhiều cá thể cá voi có kích thước tương tự cũng bắt đầu xuất hiện dọc theo các bãi biển khác ở Việt Nam.

Chú Mùi đinh ninh rằng khi còn sống, “Ông” đã cứu vô số chuyến tàu ngang qua vùng biển này, rẽ sóng vươn tận Thái Lan, Myanmar và thậm chí là cả nước Nga xa xôi. Thế nhưng, trong một lần đành bất lực nhìn một chiếc tàu quá tải chìm dần giữa cuồng phong, vị phúc thần ấy đã tự lao mình lên bãi cạn. Chú Mùi một mực tin rằng hành vi tự dạt bờ ấy xuất phát từ nỗi dằn vặt khôn nguôi. Bởi truyền thuyết làng chài vẫn luôn lưu truyền rằng: một khi không thể cứu được ngư dân, loài cá thiêng này sẽ tự vùi xác nơi bãi cạn vì quá đỗi u buồn.

Bàn thờ Cá Ông ở nghĩa trang Phước Hải.

Lễ tang dành cho các Ông lụy được tổ chức trang nghiêm. Tiếng trống chiêng âm vang hòa cùng mâm cúng tươm tất với đủ loại trái cây, rượu, vàng mã và hoa tươi. Trong nghiên cứu của mình, Lantz ghi nhận các Ông lụy được khâm liệm trong quan tài tre lót giấy đỏ. Trước khi hạ huyệt, linh cữu sẽ được rước đi quanh đường phố để dân chúng có thể thành kính dâng hương. Thậm chí còn có lời đồn đại rằng trong những ngày diễn ra tang lễ, đàn cá voi ngoài khơi sẽ kéo vào sát cảng để nói lời từ biệt cuối cùng với đồng loại. Trong trường hợp xác cá quá lớn không thể di chuyển đến nghĩa trang mà không có xe cẩu, dân làng sẽ cử người túc trực canh gác Ông lụy, kiên nhẫn đợi đến khi phần thịt rữa hết khỏi xương để việc di dời trở nên dễ dàng hơn.

Nhiều tín đồ tâm niệm rằng người đầu tiên phát hiện ra Ông lụy sẽ gặp nhiều may mắn, song việc chôn cất chỉ được phó thác cho những người lớn tuổi. Căn nguyên là do người ta lo sợ linh hồn ngư dân tử nạn được cá voi đưa về bờ vẫn còn nhiều vướng bận trần gian, dễ tìm cách trú ngụ vào thân xác những người trẻ tuổi. Trên mỗi nấm mồ đều khắc bia đá ghi rõ ngày tháng hạ huyệt, cùng với tên của cá nhân hoặc chiếc tàu đã có công phát hiện ra Ông.

Bàn thờ Cá Ông ở Phước Hải.

Các Ông lụy sẽ yên nghỉ dưới lòng đất trong 3 năm. Suốt quãng thời gian này, người dân địa phương sẽ thay phiên nhau trông nom, nhang khói và dâng lễ. Theo phong tục vạn chài, Cá Ông cũng được làm lễ cúng thất tuần (49 ngày) và bách nhật (100 ngày) kể từ khi hạ huyệt. Qua thời hạn 3 năm, phần xương cốt được bốc lên và lau rửa cẩn thận bằng rượu trắng. Khác với người phàm thường được con cháu đưa hài cốt về thờ tự tại gia, di cốt của cá voi sẽ được trang trọng rước vào Lăng Ông để thờ phụng.

Đế bàn thờ chứa đầy xương thú biển.

Những Lăng Ông uy nghi

Tôi tìm đến Lăng Ông tại Phước Hải, ngôi đền tọa lạc ngay giữa làng và chỉ cách khu nghĩa trang vài dãy nhà. Bước vào gian phòng nhỏ, đập vào mắt tôi là bàn thờ Cá Ông nghi ngút khói hương và rực rỡ sắc hoa. Nơi đây đặt hai bức tượng cá voi chạm trổ tinh xảo cùng một bộ xương hoàn chỉnh của một sinh thể biển chưa rõ danh tính. Phần đế rỗng ốp kính của bàn thờ xếp đầy xương cốt, trong đó có ít nhất chục hộp sọ còn nguyên vẹn. Ngoài điện thờ chính, quần thể kiến trúc bề thế này còn là nơi sinh hoạt cộng đồng, nơi bà con vạn chài đến chiêm bái và gửi gắm niềm tin. Ở vị trí trang trọng ngay chính diện, một bệ nâng lớn đỡ lấy bức tượng Cá Ông bằng gỗ khổng lồ vừa được sơn mới, vươn mình sừng sững.

Cổng vào Lăng Ông ở Vũng Tàu.

Kiến trúc lăng tẩm này có nhiều nét tương đồng với những ngôi đền thờ trải dọc bờ biển cả nước, bao gồm cả Lăng Ông nằm ngay trung tâm thành phố Vũng Tàu mà tôi có dịp ghé qua. Chiếu theo tài liệu từ ban quản lý, ngôi đền được khởi dựng từ năm 1824. Các đời vua Thiệu Trị và Tự Đức sau này đã ba lần ban sắc phong vào các năm 1845, 1846 và 1850 để khẳng định vị thế linh thiêng của lăng. Bên cạnh hai tủ kính xếp chật kín những mẩu xương khổng lồ đầy ấn tượng, lăng còn lưu giữ một bộ cốt cá voi vĩ đại gần như nguyên vẹn cùng bức tượng gỗ lớn tạc hình loài vật này. Những bức họa vẽ Cá Ông treo quanh điện thờ càng khiến ranh giới giữa huyền thoại và thực tại sinh học trở nên mờ ảo.

Thầy Thứ Hải, người trông nom Lăng Ông ở Vũng Tàu.

Thầy Thứ Hải, người đã gắn bó và trông nom Lăng Ông Vũng Tàu 30 năm qua, chậm rãi giải thích cho tôi nghe về uy linh của Cá Ông. Gần như mọi người dân quanh vùng đều biết tiếng linh thiêng, thường xuyên lui tới dâng hương cầu mong cuộc sống ấm no, bình an. Cuộc trò chuyện của chúng tôi diễn ra bên mảng tường treo kín những bức ảnh nhuốm màu thời gian. Những khung hình ngả màu vàng úa khắc họa các đám tang và lễ hội suy tôn Cá Ông trải dài từ nhiều thập kỷ trước.

Song song với những tang lễ trang nghiêm, hằng năm, người dân miền biển còn nô nức mở hội để tỏ lòng thành kính với thần hộ mệnh của đại dương. Sự kiện kéo dài 3 ngày, được ấn định vào các mốc thời gian khác nhau tùy theo lịch âm của từng làng chài. Lễ hội là bức tranh văn hóa đa sắc màu với đủ nghi thức tế lễ, cầu an, hội đua thuyền, hát múa bả trạo, và đôi khi có cả những buổi diễn xướng tuồng cổ.

Dù mỗi cộng đồng lại có những biến tấu riêng trong cách thức tổ chức, đây vẫn luôn là dịp để dân làng hướng lòng về Cá Ông, cầu nguyện cho những người thân đã mãi mãi nằm lại nơi biển cả. Đây cũng là khoảng thời gian hiếm hoi họ gác lại những nhọc nhằn của cuộc sống mưu sinh thường nhật. Người người khoác lên mình bộ trang phục đẹp nhất, cờ hoa rợp trời trên ghe thuyền và khắp các nẻo đường.

Tương tự như bao tín ngưỡng khác, tục thờ Cá Ông cũng quan niệm “có kiêng có lành.” Nhiều tín đồ vẫn giữ thói quen kiêng ăn những loài thủy tộc được xem là “phụ tá” của Cá Ông như cá kiếm, tôm, cá ép và mực khổng lồ. Họ cũng tuyệt đối tránh xa thịt chó vì tin rằng loài vật này sẽ làm cá voi khiếp sợ. Cũng với lý do đó, ngư dân thường kiêng đeo trang sức làm từ móng vuốt hay nanh thú, e ngại vật linh này sẽ khiến vị ân nhân dưới đại dương chùn bước khi đến giải cứu. Một số nơi còn quan niệm rằng nếu phụ nữ đang trong kỳ kinh nguyệt bước vào Lăng Ông, ghe xuồng của gia đình họ sẽ mất đi sự chở che của cá voi khi ra khơi.

Chú Mùi (trái), quản trang nghĩa trang Cá Ông làng Phước Hải, cùng người bạn tên Ngọc (phải).

Khi được tôi hỏi về những luật lệ này, chú Mùi ví von chúng với tập tục ăn chay vào ngày rằm hay mùng một của Phật giáo. Tức là, việc tuân thủ hoàn toàn phụ thuộc vào lòng tin và cách diễn giải cá nhân của từng tín đồ. Dẫu vậy, chú cũng cẩn thận nhắc nhở không nên dùng thịt gà làm vật phẩm tế lễ dâng Cá Ông. Bản thân chú không dám chắc nguyên do sâu xa, nhưng lờ mờ đoán nó bắt nguồn từ thuở xa xưa, khi tiếng gà gáy rạng đông báo hiệu giờ khắc con người đổ ra đồng làm lụng, khiến xóm làng trở nên trống trải và dễ rơi vào tầm ngắm của giặc ngoại xâm.

Trong khi đó, thầy Hải ở lăng Vũng Tàu lại tỏ ra khá cởi mở về chuyện cấm kỵ ẩm thực hay quy định mâm cúng, khẳng định lòng thành kính dành cho cá voi cốt ở cái tâm chứ không câu nệ những rào cản khắt khe.

Tín ngưỡng thờ phụng và bài toán bảo tồn

Nguồn gốc thực sự của tục thờ Cá Ông ở Việt Nam cho đến nay vẫn là một ẩn số. Nhiều học giả đưa ra giả thuyết tín ngưỡng này đã du nhập vào miền Nam nhờ thương nhân đi biển người Chăm vào thế kỷ thứ 4, hoặc người Khmer vào thế kỷ thứ 10. Rất có thể, niềm tin vạn vật hữu linh của Ấn Độ giáo, vốn có sức ảnh hưởng đến các tôn giáo sơ khai của người Chăm, đã góp phần nâng tầm cá voi tại các vùng ven biển.

Phật giáo cũng đưa ra một cách lý giải riêng mang màu sắc từ bi. Tương truyền, khi chứng kiến nỗi thống khổ của những mảnh đời ngư dân nghèo khó luôn chật vật mưu sinh trên vùng Biển Đông, Quan Thế Âm Bồ Tát đã xé chiếc áo cà sa và ném xuống mặt biển. Những mảnh vải ấy bỗng hóa thành những con cá voi gánh vác sứ mệnh cứu vớt hoạn nạn. Thấy những sinh vật mới sinh ra có vóc dáng nhỏ bé, khó lòng trụ vững trước những trận cuồng phong, Bồ Tát liền gom nhặt xương voi trong rừng sâu và ban cho chúng. Kể từ đó, chúng sở hữu sức mạnh phi thường để hoàn thành trọng trách, đồng thời gắn liền với cái tên thuần Việt là “cá voi.”

Quá khứ của tục thờ Cá Ông vốn đã khó tường tận, mà tương lai của tín ngưỡng này xem ra cũng mịt mờ. Lớp trẻ ngày nay dần rời bỏ xóm chài thân thuộc để lập nghiệp ở các đô thị phồn hoa, bỏ lại phía sau nghề đi biển cha truyền con nối. Theo những bước chân ly hương ấy, niềm tin vào các giá trị tâm linh cũ cũng có nguy cơ nhạt phai theo năm tháng. Thêm vào đó, làn sóng đô thị hóa ven biển, với những cung đường mới, các khu dân cư mọc lên và hàng loạt dự án nghỉ dưỡng chiếm cứ mặt tiền biển, đang dần thu hẹp không gian sinh hoạt của các tập tục truyền thống Chưa kể, biến đổi khí hậu làm thay đổi dòng chảy thủy triều tự nhiên, khiến việc đưa xác cá voi vào bãi cạn an táng ngày càng nan giải hơn.

Cột sống cá voi trưng bày tại Lăng Ông Phước Hải.

Trước băn khoăn đó, chú Mùi quả quyết mọi đổi thay về kinh tế hay xã hội đều không thể quật ngã tục thờ Cá Ông. Chú cho rằng, dân làng luôn mang trong mình niềm tự hào mãnh liệt về tín ngưỡng này. Dẫu sau này không còn bám biển mưu sinh, họ vẫn được người đi trước truyền dạy cách thức thờ phụng Ông trang nghiêm nhất, để đức tin được lưu truyền mãi về sau. Thầy Thứ Hải mang niềm tin sắt đá ấy, khẳng định dòng người đổ về Lăng Ông Vũng Tàu chiêm bái trước nay chưa từng thưa vắng. Dẫu vậy, một câu hỏi vẫn lơ lửng: liệu lòng sùng kính nhiệt thành của ngày hôm nay có đủ sức neo giữ qua nhiều đời nữa, khi lớp con cháu mai sau dần mất đi cơ hội nhìn thấy cá voi vẫy vùng ngoài biển khơi, chứ chưa nói đến cơ duyên được “Ông” nâng đỡ lúc hoạn nạn.

Khác với giai đoạn trước, khi nhiều Lăng Ông phải chịu cảnh hoang phế hay đóng cửa vì thiếu chính sách, chính quyền địa phương gần đây đã bắt đầu chú trọng bảo tồn tập tục độc này hơn. Đơn cử như năm 2013, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã công nhận Lễ hội Nghinh Ông ở Cần Giờ là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia. Đến năm 2016, mười hai lễ hội tương tự tại Đà Nẵng cũng được vinh danh. Dù xuất phát từ tâm ý bảo vệ tín ngưỡng bản địa hay hướng đến tiềm năng khai thác du lịch, huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) cũng ráo riết phục dựng bộ xương Cá Ông khổng lồ dài 24 mét với tuổi đời 300 năm, đi kèm với việc xây dựng không gian trưng bày có tổng vốn đầu tư lên đến 10 tỷ đồng.

Xương cá voi được trưng bày ở Vũng Tàu.

Đứng từ ngoài nhìn vào, người ta rất dễ lãng mạn hóa một tín ngưỡng bản địa và gán cho nó những giá trị của thời đại mới. Sẽ thật đẹp nếu ta có thể coi tục thờ Cá Ông như một cách con người tôn vinh tự nhiên, gắn với sứ mệnh bảo vệ cá voi và đại dương xanh. Thế nhưng, thế giới tâm linh của vạn chài dường như thuộc về một hệ quy chiếu khác, chưa từng vướng bận về những thống kê về sự suy tồn của loài cá voi.

Chú Mùi bảo chú không thấy có gì thay đổi về lượng cá dạt bờ hay sản lượng đánh bắt, nhưng góc nhìn ấy lại chênh lệch quá nhiều với thực tế. Dẫu lệnh cấm săn bắt toàn cầu đã thắp lên chút hy vọng phục hồi, số lượng cá thể cá voi vẫn ở mức báo động sau hàng thế kỷ làm nạn nhân của ngành công nghiệp đánh bắt quy mô lớn.

Nghịch lý buồn đáng buồn nằm ở chỗ, loài sinh vật biển này đôi khi lại chịu tổn thương từ chính hoạt động mưu sinh của những con người hằng đêm cầu khấn chúng bảo bọc. Cá voi hay cá heo đều săn tìm cùng một nguồn hải sản với ngư dân. Vì thế, đằng sau hiện tượng Ông lụy dạt bờ, có lẽ không phải lúc nào cũng là câu chuyện tự sát vì u uất như người làng vẫn tin. Nhiều chú cá đã lặng lẽ kiệt sức dưới đáy đại dương sau khi vô tình vướng vào những tầng lưới bủa giăng

Ngồi nhâm nhi ly rượu với chú Mùi, lòng tôi không khỏi chùng xuống bởi những suy nghĩ đan xen. Vốn dành nhiều tình cảm cho cá voi, tôi trân trọng trí thông minh và sự thấu cảm diệu kỳ của loài vật này, tin rằng chúng hoàn toàn xứng đáng với sự sùng kính của con người. Nhưng ở góc nhìn của một khách phương xa, tôi cứ băn khoăn, liệu niềm tin này có đang vô tình đặt con người làm trung tâm, ngước nhìn một “vị thần” mà quên mất những tổn thương của một sinh vật tự nhiên? Liệu có mâu thuẫn không khi ta thành tâm thờ phụng một sinh mệnh nhưng lại chẳng thể chở che ngược lại cho chúng? Và việc tin rằng loài cá voi thanh cao đến mức tự kết liễu đời mình khi không cứu được người, phải chăng là gánh nặng tâm lý mà con người đang vô tình áp đặt lên chúng? Trái Đất này có đến 8 tỷ người, còn cá voi dưới lòng đại dương sâu thẳm ngoài kia, liệu còn lại bao nhiêu?

Nhưng suy cho cùng, một người ngoài cuộc như tôi đâu có quyền phán xét. Tạm biệt chú Mùi, tôi bước đến trước bàn thờ Cá Ông, thành kính thắp nén nhang thầm cầu nguyện cho sự sinh tồn của loài cá voi thiêng, cầu một cuộc sống ấm no cho dân làng, và xin cả chút bình an cho riêng mình, bởi những mong cầu đó đâu nhất thiết phải xung đột lẫn nhau. Làn khói hương vấn vít rồi tan vào thinh không, giống như tiếng hát cá voi xa xăm, lịm dần vào tĩnh lặng khi lặn sâu xuống đáy đại dương mịt mùng.

Bài viết liên quan

in Văn Hóa

Bên trong một trong những 'xóm tiền âm phủ' cuối cùng của Sài Gòn

Dân gian ta có quan niệm “trần sao âm vậy”: người âm cũng cần chi tiêu, sinh hoạt như người dương. Vì thế, thân nhân của người đã khuất thường đốt tiền âm phủ để họ có chút vốn liếng sử dụng ở thế giớ...

in Văn Hóa

Bên trong tháng Ramadan của cộng đồng Hồi giáo Châu Đốc

Cùng lúc Việt Nam bước vào chuỗi ngày lễ quốc gia dài hơi, cộng đồng người Hồi giáo trong nước cũng bắt đầu sự kiện quan trọng nhất năm với mình: tháng Ramadan.

in Văn Hóa

Đón giao thừa vào tháng 4, thấy một thoáng văn hóa Khmer giữa lòng Sài Gòn

Dưới cái nắng, cái gió giao mùa của tháng 4, khuôn viên chùa Candaransi lại trở nên rộn ràng và tấp nập hơn vẻ nghiêm trang thường ngày. Tiếng chuông và tiếng gõ mõ vang lên, quyện cùng tiếng cười của...

in Văn Hóa

'Thấy đỏ là thấy Tết' tại Hải Thượng Lãn Ông, phố trang trí sầm uất giữa lòng Chợ Lớn

Dạo một vòng quanh khu vực Sài Gòn - Chợ Lớn, tôi mới nhận ra chẳng ở đâu câu nói “thấy đỏ là thấy Tết” lại đúng như ở phố trang trí Hải Thượng Lãn Ông.

in Văn Hóa

Bên trong miếu Phù Châu, ngôi 'Miếu Nổi' bí ẩn giữa lòng Gò Vấp

Tọa lạc trên một cồn đất nhỏ trên sông Vàm Thuật ở quận Gò Vấp, miếu Phù Châu, hay còn được gọi bằng cái tên thân thương “Miếu Nổi,” đã mở cửa chào đón các đạo hữu trong hơn ba thế kỷ.

Linh Phạm

in Văn Hóa

Chuyện về danh họa Nguyễn Cát Tường, người thiết kế nên chiếc áo dài đầu tiên của Việt Nam

Điều gì tạo nên danh tính văn hóa của một quốc gia?

Đồng Sáng Tạo

in Ăn & Uống

Những Người Thử Lửa: H Cookware và tinh hoa ẩm thực đường phố

Một thương hiệu dụng cụ nhà bếp sẽ làm gì để chứng minh độ bền sản phẩm? H Cookware đã lựa chọn cách tiếp cận độc đáo: tôn vinh câu chuyện của những nghệ nhân ẩm thực đường phố.

in Giáo Dục

Khám phá ngành nhà hàng-khách sạn qua khóa học Junior Academy tại trường EHL, Thụy Sĩ

“Em từng là một người rụt rè... nhưng nhờ EHL, em đã có cơ hội gặp bạn bè đến từ nhiều nơi trên thế giới và có được kinh nghiệm làm việc qua kỳ thực tập. EHL giúp em vươn ra khỏi vùng an toàn và tự ti...

in Resort

Crowne Plaza Phú Quốc Starbay: Định nghĩa lại trải nghiệm du lịch đẳng cấp tại Phú Quốc

Chỉ trong một thập kỷ qua, Phú Quốc đã chuyển mình từ một hòn đảo hoang sơ thành một trong những thiên đường du lịch được yêu thích nhất trên cả nước.

in Dịch Vụ

Hành trình ‘xanh hóa’ rừng ngập mặn ở Trà Vinh của MangLub

Khi nhắc đến rừng phòng hộ, có lẽ những hình ảnh đầu tiên xuất hiện trong tâm trí mọi người là dáng tùng vững chãi hay hàng thông xanh rì trên non cao, mà ít ai nghĩ ngay đến những loài cây ngập mặn b...