Một người bạn từng tặng ông Phùng Đình Giáp một bài thơ mang tên ‘Người giữ hồn đồ chơi dân gian.’ Suốt hơn 60 năm, ông và vợ, bà Nguyễn Thị Điểu, là những người cuối cùng ở khu phố Đông Khê, phường Song Hồ, thị xã Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, còn nặn phỗng đất. Mỗi nhân vật ông sư, ông phỗng, con chim, con rùa bằng đất thó và giấy bản đều mang theo một bài học đạo đức.
Trong tủ kính nhà ông Phùng Đình Giáp, cạnh những tác phẩm bằng đất nung, có một tờ giấy đã ngả màu: bài thơ ‘Người giữ hồn đồ chơi dân gian’ mà một người bạn, ông Vũ Kim Tôn, viết tặng ông vào tháng 6/2020. Đó là cách gọi chính xác nhất cho việc ông Giáp đã làm suốt hơn 60 năm qua.
Thăm anh vào một chiều hè
Được nghe anh kể một nghề đam mê
Sinh ra từ một làng quê
Truyền thống các cụ làm nghề dân gian
Chỉ từ đất sét làm nên
Nào là ông phỗng lại thêm chim, rùa
Thời gian dầu dãi nắng mưa
Giữ gìn nghề tổ sớm trưa miệt mài
Không bon chen chẳng khoe tài
Thổi hồn vào đất biệt tài nghệ nhân
Song Hồ nhân kiệt địa linh
Ngàn năm văn hiến danh vinh làng nghề.
Ngày 19/6/2020 — Vũ Kim Tôn
Bài thơ ‘Người giữ hồn đồ chơi dân gian’ do ông Vũ Kim Tôn tặng ông Giáp ngày 19/6/2020.
Đằng sau 5 nhân vật truyền thống
Ông Giáp học nghề từ bố từ năm 6-7 tuổi. Ông không chỉ học cách vê đất, nặn hình, mà học cả câu chuyện đằng sau từng nhân vật. Bộ phỗng truyền thống gồm 5 nhân vật, mỗi nhân vật ẩn chứa một bài học: ông sư mang tính chất tâm linh, là hình mẫu các cụ muốn dạy con cháu có tâm có đức, từ bi, sống lương thiện mới thành người tốt. Ông phỗng đứng tượng trưng cho thế hệ người cao tuổi; em bé tay cầm bông hoa, tượng trưng cho thế hệ mầm non. Hai nhân vật ấy đứng cạnh nhau như một lời nhắc về sự nối tiếp: người già rồi cũng mất đi, nhưng luôn có một thế hệ mới sinh ra, như tre già măng mọc.
Đôi bàn tay của ông Giáp, nhào nặn đất thó từ năm ông mới 6, 7 tuổi.
Con chim mang hai lớp nghĩa: trước hết là khát vọng, luôn sải cánh bay cao mang thông điệp hòa bình; sau đó là sự đoàn kết, bắt đầu từ anh chị em trong nhà, rồi đến ông bà cha mẹ, rồi lan rộng ra ngoài xã hội. Con rùa cũng mang hai lớp nghĩa: không được lùi bước, vì việc nhỏ nhất cũng cần sự kiên trì; và phải quyết tâm vươn lên vượt qua khó khăn, như những vị thần rùa trong truyền thuyết Việt Nam — Thần Kim Quy, Thần Rùa Hoàn Kiếm. Đó là lý do, ông nói, mình theo nghề không hẳn vì miếng cơm: “Cảm thấy bộ phỗng có giá trị giáo dục đạo đức rất cao nên cứ âm thầm thích, giữ gìn thế thôi.”
Bộ phỗng đất truyền thống 5 nhân vật — ông sư, ông phỗng đứng, em bé cởi trần mang bông hoa, con chim và con rùa — mỗi nhân vật mang một bài học đạo đức ông Giáp được cha truyền lại từ nhỏ.
Một nghề truyền thống trăm năm, giờ chỉ còn một gia đình gìn giữ
Theo lời bà Nguyễn Thị Điểu, vợ ông Giáp, nghề phỗng đất đã có ở Đông Khê từ rất lâu trước khi bà về làm dâu, có khi đã hàng trăm năm, truyền từ đời này sang đời khác một cách tự nhiên, đến mức không ai trong nhà còn nhớ rõ mốc thời gian chính xác.
Nghề mai một, theo ông Giáp, đến từ hai nguyên nhân. Một là thiếu người quảng bá, tuyên truyền để nghề được biết đến rộng rãi hơn. Hai, và đây mới là lý do khiến gần như cả làng bỏ nghề, là phỗng đất chỉ “sống” đúng một lần mỗi năm, vào dịp Trung Thu, nên không mang lại lợi ích kinh tế đều đặn. Người làng dần chuyển sang cấy lúa, làm ruộng, và về sau là làm vàng mã, những nghề mang lại thu nhập đều đặn hơn quanh năm. “Đây chỉ coi như là nghề phụ,” ông nói.
“Bây giờ chỉ còn một mình tôi,” ông nói, “làm để phục vụ con cháu trong nhà rồi anh em con cháu hàng xóm.” Một gia đình vẫn âm thầm giữ nghề truyền thống trong bối cảnh kinh tế thị trường biến đổi, mang theo tâm niệm những bài học từ ông cha.
Nguyên liệu đầu tiên, và cũng gần như là nguyên liệu duy nhất tạo nên phần cốt của một con phỗng, là đất thó, loại đất sét đặc biệt mà ông Giáp phải đào tận dưới đáy ao, đầm, hoặc ruộng cạn nước. “Ngày xưa thì lấy ngay tại trong làng, đào sâu dưới lòng đất khoảng 2,5–3m là lấy được,” ông kể. “Còn bây giờ phải ra đồng, ao cá, đầm sen đào dưới đáy để tìm.” Đất lấy về được phơi khô, cất trữ như cất thóc, có khi để dành cả năm, có khi vài năm mới dùng hết một mẻ.
Đất thó khô và giấy bản xé nhỏ — hai nguyên liệu chính tạo nên một con phỗng đất.
Đất thó khô được giã trong cối đá, rồi dần bằng dần tre cho đến khi lấy được lớp bột mịn nhất.
Đất thó khô được giã trong cối đá, theo lời ông Giáp, “như giã cua,” trước khi dần lấy lớp bột mịn nhất.
Song song đó là giấy bản, cùng loại giấy làm từ vỏ cây dó dùng để in tranh Đông Hồ, được ngâm nước khoảng một tuần cho đến khi nhuyễn như cháo. Bột đất và giấy bản nhuyễn được trộn, đập, nhồi vào nhau đến độ dẻo vừa đủ để nặn. Bà Điểu nói về cách bà nhận biết đất đã đủ dẻo: “Cảm nhận đất nặn được là nó vừa cái tầm nặn, không rắn không nát.”
Bột đất thó được trộn với giấy bản đã ngâm nhuyễn, sau đó đập và nhồi đến độ dẻo vừa đủ để nặn.
Nặn hình là công đoạn kỳ công nhất, và cũng là công đoạn quyết định một con phỗng có “hồn” hay không. Ba trong số các nhân vật truyền thống có khuôn để đảm bảo kích thước đồng đều, nhưng ngay cả hình nặn từ khuôn cũng phải được ông vuốt sửa lại từng đường nét bằng tay.
Vê đất thó tạo hình trước khi nặn để tạo ra những nhân vật có “hồn.”
Những chi tiết nhỏ nhất — mắt, mỏ, từng đường lông — đều được người nghệ nhân khắc bằng một que tre nhỏ, một tay giữ khối đất, tay kia tỉ mẩn khắc từng nét. Ông nói. đặc điểm của đồ thủ công là cùng một dáng nhưng không bao giờ lặp lại y hệt.
Ông Giáp khắc chi tiết mắt, mỏ cho một con chim đất còn ướt.
Nặn xong, phỗng được xếp trên ván, đem phơi ngoài nắng tự nhiên, tuyệt đối không sấy lửa. Nhân vật nhỏ nhất cũng cần một ngày rưỡi nắng mới khô kiệt, gặp trời âm u có khi kéo dài cả tuần.
Phỗng đất đã tạo hình được xếp trên ván gỗ
Sau khi khô, phỗng được quét một lớp hồ điệp. Đây là bột gạo tẻ nấu chín trộn với điệp, bột vỏ sò nghiền mịn cùng loại dùng trong tranh Đông Hồ, phơi khô, rồi tráng thêm một lớp nữa. Đây chính là công đoạn được người dân dùng để đặt tên cho Làng Hồ. Bởi từ quy trình làm tranh Đông Hồ cho đến phỗng đất,“tất cả các thứ đều phải dùng đến hồ gạo,” bà giải thích.
Sau khi quét hồ điệp, phỗng chuyển sang màu trắng ngà, chờ khô hẳn trước khi tô màu.
Cuối cùng, phỗng được tô bảy màu tự pha theo công thức truyền thống — xanh, đỏ cánh sen, đỏ son, tím, vàng, đen, trắng — rồi quét một lớp bóng để hoàn thiện.
Bộ màu tự pha và bút lông ông Giáp dùng để tô bảy màu truyền thống lên từng con phỗng.
Người hậu phương lặng lẽ của nghệ nhân phỗng đất
Ông Phùng Đình Giáp và bà Nguyễn Thị Điểu trong xưởng nhỏ nhà mình.
Trong câu chuyện về nghề phỗng đất Đông Khê, bà Nguyễn Thị Điểu, vợ ông Giáp, sinh năm 1953, thường chỉ xuất hiện lặng lẽ đứng sau chồng. Bà là người làng khác, về làm dâu Đông Khê khi nghề này đã có từ trước đó rất lâu, “có khi từ hàng trăm năm,” theo lời bà. Tự nhận tay nghề “không khéo bằng chồng và bố chồng,” bà đảm nhận những công đoạn phụ: giã đất, nặn quả, trộn giấy đất, và đặc biệt là đánh hồ điệp.
Nhưng có một quãng thời gian bà thực sự là người giữ nghề chính. Khi ông Giáp đi bộ đội hơn 5 năm, bà cùng bố chồng ở nhà tiếp tục nặn phỗng. Ở thời kỳ chưa có điện thoại hay mạng xã hội để rao bán, bà tự đạp xe, có khi đi bộ, mang sản phẩm đi khắp các phiên chợ trong vùng: chợ Thuận Thành, chợ Mão Điền, chợ Chẹm, chợ Dâu, chợ Keo, chợ Hồ, chợ Núi. “Bắt đầu từ mùng 9, mùng 10 tháng 8 âm lịch, tôi bắt đầu đạp xe đi bán các chợ vì chồng không có nhà,” bà kể. Ngày đó, bà mới ngoài 30 tuổi, một mình rong ruổi qua từng làng, cả những xóm lân cận không thuộc phiên chợ chính — “gọi là đi bán rong.”
Hỏi bà có bao giờ muốn hai ông bà nghỉ làm nghề này không, bà lắc đầu. “Nhiều khi không bán được nhiều, như thời chiến tranh, nhưng hàng xóm thấy ông bà nặn, bôi vẽ thì sang chơi vui lắm,” bà nói. “Không bao giờ nghĩ rằng sẽ bỏ.” Với bà, nghề phỗng đất không chỉ là một nguồn thu nhập theo mùa, mà còn là một niềm vui âm thầm được nuôi giữ qua hàng chục năm, thứ khiến căn nhà nhỏ ở Đông Khê chưa bao giờ thực sự vắng khách.
Bà Nguyễn Thị Điểu về làm dâu Đông Khê và học nghề từ bố chồng và chồng.
Mang hồn đồ chơi dân gian vào cuộc sống hiện đại
Trước khi ông Giáp đi bộ đội, bộ phỗng đất Đông Khê chỉ gói gọn trong năm nhân vật truyền thống, thêm con chim và con gà. Trở về sau quân ngũ, ông Giáp bắt đầu sáng tác thêm để “hòa nhập với thị trường,” không phải đi ngược truyền thống, mà để nghề tiếp tục sống được, tiếp tục mang những câu chuyện cũ đến với những người mua mới.
Mẫu sáng tạo chính mà ông theo đuổi nhiều năm nay là bộ 12 con giáp — mỗi con một tư thế riêng, vẫn nặn từ đất thó theo đúng quy trình cũ, chỉ khác ở hình dáng và tên gọi. Trong 12 con giáp ấy, bà Điểu ấn tượng nhất với con ngựa. “Nó có sức tươi trẻ, dũng mãnh mà lại rất là gần gũi với cuộc sống,” bà nói, nhất là vào năm Bính Ngọ này. “Con ngựa giúp đỡ người dân mình được nhiều việc trong dân gian.”
Bộ 12 con giáp, mẫu sáng tạo của ông Giáp.
Bà Điểu yêu thích con ngựa bởi “nó có sức tươi trẻ, dũng mãnh mà lại rất là gần gũi với cuộc sống.”
Ngoài bộ 12 con giáp, ông còn nặn thêm một số nhân vật khác tùy theo nhu cầu đối tượng khách hàng, từ học sinh, phụ huynh đặt hàng dịp rằm Trung Thu đến khách hàng từ nhiều quốc gia đặt đa dạng đủ mẫu mã. Ông đã từng nặn những hình tượng gắn liền với dân gian con chó đá (biểu tượng bảo vệ ở những gia đình khá giả, gợi sự bình yên), hay mâm ngũ quả gắn liền với dịp Trung thu. Đối với mẫu truyền thống, ông cũng sáng tạo nên bộ phỗng treo, hay tìm cách gắn còi vào con chim, con cá, để biến chúng thành món đồ chơi gần gũi với giới trẻ.
“Con chim, con rùa, con cá, mấy loại cá nặn gắn còi vào, sáng tạo thêm để thu hút lớp trẻ.”
Mâm ngũ quả bằng đất nặn, tô màu sặc sỡ, một trong số các mẫu ông làm thêm theo yêu cầu khách đặt.
Những con phỗng treo với tua chỉ đỏ, vàng cùng chuông nhỏ, móc trên khung cửa sổ sắt.
Tủ trưng bày các sản phẩm phỗng đất và con giống bằng đất của gia đình ông Giáp, gồm cả loại đã tô màu và loại còn để mộc màu đất nung.
Ghi dấu ấn của phỗng đất lên bản đồ trong nước và quốc tế
Suốt nhiều năm làm nghề, sản phẩm của ông Giáp được ghi nhận qua nhiều giải thưởng và sự kiện cả trong và ngoài nước. Năm 2020, bộ phỗng truyền thống của ông đạt giải Khuyến khích tại Hội thi sản phẩm thủ công mỹ nghệ toàn quốc. Từ năm 2005, sản phẩm của ông đã được trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam. Từ năm 2017, ông được mời đến Trung tâm Triển lãm Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam. Từ năm 2018 đến nay, năm nào ông cũng có mặt tại sự kiện phố bích họa Phùng Hưng.
Bộ phỗng đạt giải Khuyến khích Cuộc thi Sản phẩm Thủ công mỹ nghệ Toàn quốc.
Ông cũng thường xuyên được mời đi dạy nặn, vẽ phỗng đất tại các trường mầm non, tiểu học ở Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội; tại Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Bắc Ninh Năm 2025, ông được nhà nước mời sang Pháp cùng đoàn nghệ nhân quan họ, nghệ nhân tranh dân gian Đông Hồ và nghệ nhân thư pháp tỉnh Bắc Ninh, đại diện cho làng tranh Đông Hồ ký nhận chứng chỉ UNESCO, góp phần ghi tên làng nghề dân gian Đông Hồ vào bản đồ di sản thế giới.
Nghề phỗng đất của ông cũng từng được một số bạn trẻ khởi nghiệp tìm đến hợp tác theo một cách rất khác, qua sản phẩm bánh Trung Thu. Một nhóm bạn trẻ ở thương hiệu cà phê “Cà Phê Nhẹ” tại Bắc Ninh từng đặt ông làm bộ phỗng đất năm nhân vật để in hình lên hộp bánh dẻo dịp Trung Thu. Mỗi chiếc bánh trong hộp mang hình một nhân vật phỗng, ghép lại thành trọn bộ năm nhân vật.
Tương lai nghề làm phỗng đất sẽ đi về đâu?
Trăn trở với nghề, ông Giáp chia sẻ: “Phỗng đất sẽ không mất đi đâu, nhưng còn phát triển hay không lại do truyền thông rồi mọi người tìm hiểu đến, quảng bá rộng rãi — càng rộng rãi thì độ bền giữ được nghề lại càng được lâu.” Ở độ tuổi ngoài 70, cả ông Giáp và bà Điểu vẫn cần mẫn làm nghề, giữ gìn mẫu cũ và sáng tạo các mẫu theo đơn đặt hàng của nhiều đối tượng khách khác nhau. Tuy nhiên, ông bà nhận thấy trong 20 năm nữa, khi họ đều đạt ngưỡng gần 100 tuổi, thì tương lai của nghề “không nói trước được điều gì.”
Con cháu trong nhà ông Giáp, bà Điều đều được học và biết cách nặn, vẽ phỗng đất. Từ anh con trai đến cháu đích tôn đều có thể nặn phỗng thành thục dù chưa tinh xảo bằng ông. Cháu gái cũng có thể vẽ và làm những hình phỗng đơn giản. Tuy nhiên, để thích nghi trong một xã hội ngày càng phát triển, các cháu cần đảm bảo việc học văn hóa và mong muốn học Đại học tại Hà Nội, còn các con ông cũng cần mưu sinh bằng những nghề có thu nhập ổn định để duy trì cuộc sống gia đình. Bởi vậy, thời gian để có thể dành cho việc phát triển nghề làm phỗng không còn nhiều. Ông Giáp chia sẻ rằng: “Chỉ lăn tăn đầu ra kém không đảm bảo được cuộc sống, bởi nghề chỉ bán được một lần mỗi năm. Chứ nếu đảm bảo được đầu ra thì các cháu cũng làm được.”
Hai nghệ nhân dành cả đời gìn giữ nghề làm đồ chơi dân gian, mong muốn phỗng đất có thể được gìn giữ và phát triển
Khi được mời đến các trường, lớp học để dạy cho các cháu học sinh nặn, vẽ phỗng đất, ông không gò các cháu phải làm giống mình, chỉ để các cháu tự nghĩ, tự vẽ theo ý thích. Ông cũng kể rằng năm nào cũng có những lớp thanh thiếu niên muốn tìm hiểu và về học hỏi tại xưởng.
Trong suốt hành trình chia sẻ, giáo dục và truyền bá về phỗng đất ấy, bà luôn đồng hành cùng ông. Bà Điểu kể, mỗi lần ông được mời đi dạy, đi sự kiện, hai ông bà lại cùng nhau lên đường, bất kể là Hà Nội, Hải Dương, hay một trường mầm non nhỏ ở đâu đó. “Ông đi đâu tôi đi đấy,” bà nói. Có lẽ đó mới là cách bền nhất để giữ hồn một nghề, sự đồng hành của hai vợ chồng đi cùng nhau qua từng mùa Trung Thu.