Những bó nhang đỏ rực được nghệ nhân mang ra từ sáng sớm, trong màn sương mù bảng lảng, thoang thoảng mùi quế thơm vào khúc giao mùa năm mới.
Làng nhang Lê Minh Xuân
Gọi là “làng” nhưng không gian của xã Lê Minh Xuân (huyện Bình Chánh) đã lẫn không ít dấu vết của đô thị; những mái tôn cũ, mới chồng chéo, xiêu vẹo, tạo thành những mảng đối lập.
Cơ sở nhang Minh Phước.
Gần 50 năm gắn bó với xã Lê Minh Xuân (huyện Bình Chánh cũ), chị Nguyễn Cát Bội Thúy, chủ cơ sở nhang Minh Phước, đã chứng kiến bao thăng trầm của vùng đất. Chị hồi tưởng: “Trước đây, quanh khu vực này là đất trống, dần dà mới lập các căn chòi bằng lá, về sau khấm khá hơn, người dân cùng sự hỗ trợ của ban ngành xã, mới cất thành nhà tôn như bây giờ.”
Bằng đôi tay lao động bền bỉ và sự chịu thương chịu khó, chị không chỉ giữ lửa nghề truyền thống mà còn tạo sinh kế cho nhiều hộ gia đình khó khăn. Từng bôn ba mưu sinh nhiều nơi, chị thấu hiểu sâu sắc hoàn cảnh của những ai tìm đến nơi này.
Chị Nguyễn Cát Bội Thúy.
Một ngày làm việc của nghệ nhân làng nhang thường bắt đầu từ 6 giờ sáng và kéo dài đến 6 giờ chiều. “Em thấy làm nhang không khó, chỉ một ngày là em biết làm hết các khâu,” một cô bé tuổi đôi mươi chia sẻ với chất giọng nhẹ tênh.
Một ngày làm việc bắt đầu từ tờ mờ sáng.
Chị Thúy bắt đầu kể chuyện với tôi một cách rành rọt, đôi bàn tay nhuộm đỏ bột đan vào nhau với tất thảy niềm tự hào. Để làm nên một nén nhang cần bốn nguyên liệu chính: keo, tăm tre, bột áo và màu nhuộm. Cả bốn nguyên liệu đều được nhập từ khắp Việt Nam, như keo là đặc trưng của vùng cao nguyên Gia Lai, còn tăm nhang (bằng tre) thì nhập từ tận thủ đô vào.
Chị chia sẻ thành thật: “Cơ sở chị không tự sản xuất từng nguyên liệu được, vì ở mỗi nơi sẽ có chuyên gia, mỗi người mỗi khâu, mỗi công đoạn để hoàn thành công việc. Như làm tăm nhang, là chẻ những cây tre ra, nghe có vẻ đơn giản, nhưng nếu không khéo thì hỏng hết.”
Mỗi người chịu trách nhiệm cho một công đoạn.
Dù đã qua chục năm nhưng quy trình làm nhang vẫn theo chừng đó công đoạn, người nào cũng có thể học và làm mọi vị trí. Đầu tiên, tăm tre được nhuộm chân đỏ phía bên ngoài cơ sở. Mỗi thiên nhang (tức 1.000 cây nhang) được đặt xuống một hồ nước sơn đỏ hình chữ nhật bằng xi măng, ngâm khoảng 5 phút và cho ráo màu, sau đó đưa vào sân để nắng hong khô từng thớ tre mảnh. Sơn thừa được chắt chiu vào thúng rồi đậy nắp kỹ càng cho lần sử dụng sau.
Tăm tre được nhuộm đỏ.
Chỉ qua một bước đơn giản, những thanh tre mảnh khảnh vốn mang màu vàng nhạt đã khoác lên mình sắc đỏ đặc trưng, nằm đợi dưới nắng tròn một ngày để màu thực sự “chín.”
Tăm được phơi khô dưới nắng một ngày để lên màu đẹp nhất.
Tiếp đó, những người thợ sẽ đưa tăm vào máy se nhang để cuộn bột cho thật tròn đều, trước khi mang đi sấy suốt 12 tiếng đồng hồ. Công đoạn cuối cùng là đóng gói ngay trước hiên nhà.
Công đoạn se nhang.
Nhang đạt tiêu chuẩn là khi nó không bị nứt, đều như vắt tranh và khi đốt lên thì cháy liền mạch từ đầu đến cuối. Chị thủ thỉ, mỗi lần cắm một nén nhang được làm từ chính đôi tay và lòng thành của mình, đều cảm thấy tự hào, an tâm mà gửi gắm trọn vẹn đến với tổ tiên trên bàn thờ.
Sấy nhang.
Ký ức se nhang truyền thống và chiếc máy đếm tiền bị “bỏ quên”
Ngày trước, công đoạn cực nhọc nhất là se nhang bằng tay, bởi nghệ nhân phải dùng ván lăn từng cây nhang một. Thế rồi, bước ngoặt về năng suất ra đời, nhưng không phải từ xưởng cơ khí mà là từ… vựa phế liệu. Đó là chiếc máy se nhang được một anh nhặt ve chai sáng chế từ chiếc máy đếm tiền trong ngân hàng bị vứt bỏ. Nhờ sáng chế đó, công đoạn làm nhang rút gọn hơn, nếu trước làm 1.000 cây nhang, có tới 800 cây bị hư, thì giờ tỷ lệ hư hao chỉ còn khoảng 80 cây.
Công đoạn se nhang.
Thế nhưng, hiện đại cũng đi kèm lo toan về chi phí vận hành và sửa chữa máy móc. Trong tiếng máy rền rĩ chạy suốt một ngày dài, nghệ nhân phải khoác lên mình chiếc áo kỹ sư “bán chuyên,” vừa làm vừa canh chừng từng sợi dây điện, góc máy để đảm bảo an toàn lao động.
Trong xưởng nhang, người lao động thuộc đủ mọi thế hệ hiện diện. Từ người già, tóc điểm muối tiêu, cặm cụi bó từng thiên nhang trước hiên nhà với chiếc lưng đã còng, đến những người trẻ vì hoàn cảnh mà phải nghỉ học từ sớm. Họ đến từ nhiều nơi khác nhau, có người ở sát vách nhà, có người tha hương tìm tới từ tận miền Tây.
Người làm nghề nhang đến từ nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Chị Thúy kể, công nhân ở đây ra vào liên tục, có người làm vài ba năm rồi nghỉ, gầy dựng dựng cơ sở riêng khiến làng nghề trở nên sôi động. Có người thì nghỉ hẳn, lặng lẽ rời đi tìm sinh kế khác. Nhưng dù thế nào, họ đều đã góp phần gìn giữ cái hồn của làng nghề bằng chính mồ hôi của mình.
Cứ thế, những bó nhang rời xưởng và bắt đầu cuộc hành trình riêng. Chúng tập kết tại chành xe Chợ Lớn, rồi mỗi chuyến xe lại chở theo hàng vạn nén tâm hương tỏa đi khắp mọi miền, từ vùng quê đến thành thị. Để rồi khi được thắp lên trong gian nhà ấm cúng cửa thiền trang nghiêm, tĩnh lặng, mỗi nén nhang lại hoàn thành sứ mệnh cao cả, làm cầu nối giữa thực tại và cội nguồn.
Những mùa vụ không hẹn ngày trở về
Trong trí nhớ của nhiều người, đại dịch COVID-19 đã là câu chuyện của nhiều năm về trước, nhưng nó vẫn để lại dư chấn cho nghề truyền thống đến tận bây giờ. Kinh tế khó khăn, nhiều biến động, giá cả nguyên liệu làm nhang tăng vọt. Từ đó, người ta ưu tiên thu mua sản phẩm nhang giá rẻ, nhưng kém chất lượng; dẫn tới các cơ sở làm nhang chân chính bị quên lãng.
Chân nhang được phết thêm một lớp sơn để đều màu.
Ngày trước, mùa nhang thường rơi vào trước Tết Nguyên Đán hoặc tháng 7 Âm lịch, nhưng giờ đây cái không khí sôi động ấy không biết ngày trở về. Dù đã qua cái thời của nó, nghệ nhân cũng chẳng lỡ dừng lại: “Nhưng mà bây giờ mình làm cái nghề này đã quá lâu rồi. Nghỉ cũng thấy buồn, thôi kệ, mình cứ làm rồi hy vọng, biết sao sau này nó bình ổn lại.” Niềm tin được chị gửi gắm vào thế hệ con cái, với dự định sẽ đưa nén nhang quê mình lên các nền tảng bán hàng trực tuyến, thay vì chỉ dựa vào những chành xe truyền thống.
Nhang đã đóng gói chuẩn bị lên những chành xe đi muôn ngả đất nước.
Mỗi nén nhang thắp lên là đưa lời nguyện cầu của con cháu đến với tổ tiên một cách thành khẩn, thiết tha nhất của con người Việt Nam, chứa đựng cả những câu chuyện tâm linh, tín ngưỡng từ bao đời. Cái nén nhang ấy cũng chứa đựng câu chuyện về đời sống mưu sinh, cần mẫn và đầy lặng lẽ của biết bao số phận người.