Khi mặt trời từ từ ló dạng, chiếu ánh bình minh ấm áp lên bản làng Ban Wichit Pattana, thuộc vùng quê Đông Bắc Thái Lan, ông Chuchart Srithachum, 62 tuổi, lục tục bắt đầu bài tập thể dục buổi sáng. Ông chậm rãi nhấc từng bước trên vạt đường ngay trước nhà bằng chiếc chân giả của mình.
Lời từ ban biên tập: Bài viết có sử dụng một số hình ảnh mang tính chất nhạy cảm. Bạn đọc cân nhắc trước khi xem.
Hiện tại, ông Chuchart đã mất khả năng lao động. Ông chủ yếu sống nhờ tiền con trai gửi, kèm khoản trợ cấp tuổi già và khuyết tật từ chính phủ. Trước đây, ông từng là nông dân trồng lúa nước trên mảnh đất rộng 2.4ha ngoài rìa làng, thuộc tỉnh Nong Bua Lamphu.
Gần 9 năm trước, Chuchart đang làm ruộng như mọi khi, đầu đội trời, chân đạp đất, thì bỗng nhiên để ý thấy hiện tượng kỳ lạ: nước ruộng sao hôm nay có màu xanh lá dị thường. Ông cũng phớt lờ rồi lúi húi làm tiếp, nhưng rồi cơn ngứa ngáy chân ập tới. Khi đặt chân về tới nhà cũng là lúc lớp da chân đã nổi ban đầy, kèm cảm giác đau rát. Người ta đưa ông đến ngay trạm y tế địa phương.
Bác sĩ nói vết mẩn ngứa ấy là “triệu chứng điển hình của tiếp xúc với paraquat [một loại thuốc diệt cỏ],” Chuchart hồi tưởng. Da bị chất độc làm tổn thương, tạo điều kiện cho vi khuẩn gây nhiễm trùng, gây ra những hậu quả đau thương.
Năm 2017, chân ông Chuchart Srithachum, nông dân vùng Đông Bắc Thái Lan, bị cắt bỏ do nhiễm trùng sau khi tiếp xúc với paraquat, một loại thuốc diệt cỏ mạnh, thường gây bỏng hóa chất nếu con người chạm phải. Chất độc trong ruộng nhà Chuchart bị rò rỉ từ một đồn điền mía ngay trong tỉnh.
Paraquat là dung dịch thuốc diệt cỏ dùng để thanh trừng cây dại, gây cháy lá, thường sử dụng trong nuôi trồng hoa màu như cà phê, thơm, trà, và mía đường. Y văn khuyến cáo rằng paraquat kịch độc với người và động vật nếu uống, hít phải, hay đơn giản chỉ là chạm vào da. Tính ăn mòn của paraquat gây tổn thương sâu và bỏng hóa học khi tiếp xúc với da. Tại khu vực Đông Bắc và những vùng nông nghiệp khác của Thái Lan, chất độc này thường đi kèm với biến chứng khét tiếng mang tên viêm cân mạc hoại tử (necrotising fasciitis), tình trạng nhiễm trùng diễn tiến cấp kỳ, dẫn đến nhiều ca tử vong và cắt cụt chi.
Khi vào đến trạm xá, tình trạng của ông Chuchart bắt đầu trở nặng, vượt quá khả năng chữa trị của y tế địa phương, nên ông được chuyển lên bệnh viện tỉnh Nong Bua Lamphu. Nhưng mọi thứ đã quá trễ, người ta phải cắt chân phải để bảo toàn mạng sống cho ông. Sau đó, ông phải trải qua 6 tuần nằm viện để dưỡng thương.
Chuchart không phải là trường hợp độc nhất. Năm đó (2017), các cơ sở y tế địa phương ghi nhận hơn 50 ca tương tự, đều là nông dân, bị bỏng hóa chất rồi nhiễm trùng, rải rác khắp các vùng trồng mía thuộc khu vực Đông Bắc Thái. Đây là số liệu đến từ Mana Muangkhun, nhà hoạt động thuộc Hội Người tiêu dùng tỉnh Khon Kaen, tổ chức đã đệ đơn kiện các công ty nhập khẩu paraquat.
Chân của Natthanan Photiwong, một nạn nhân nhiễm độc paraquat hồi năm 2018, khi đang xịt thuốc trồng mía tại làng Ban Dong Sawan, tỉnh Nong Bua Lamphu.
Rất may, phần mô bị ăn mòn được nhân viên y tế loại bỏ đủ nhanh để bảo toàn cẳng chân, nhưng Natthanan không bao giờ dám tự xịt thuốc nữa.
Tại làng Ban Khok cạnh bên, số phận của ông Bunrod Yodda bi đát hơn. Chân ông được chỉ định cắt cụt vì nhiễm trùng quá nặng sau khi tiếp xúc với paraquat, trong lúc ông đặt rọ bẫy tôm trong ao.
Những trường hợp như Chuchart đã phần nào tiếp thêm lửa cho các tổ chức dân sự như Quỹ BioThai và Mạng lưới Cảnh báo Thuốc trừ sâu Thái Lan (Thai-PAN). Chiến dịch đã áp dụng nhiều biện pháp, như xét nghiệm dư lượng thuốc trừ sâu trên rau quả để nâng cao nhận thức người tiêu dùng, hay vận động trực tiếp cơ quan chức năng, để kêu gọi chính phủ cấm cửa hoàn toàn paraquat và 2 nông hóa phẩm tai tiếng khác: thuốc trừ sâu chlorpyrifos, thường gây dị tật não và chậm phát triển ở trẻ nhỏ; và chất diệt cỏ glyphosate, dược phẩm bị tổ chức Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) xếp vào nhóm “có thể gây ung thư cho người.”
Dần dà, càng nhiều bằng chứng khoa học được công bố, bổ trợ cho chiến dịch, nên vào tháng 4, 2017, Bộ Y tế Công cộng Thái Lan đã ra khuyến nghị cấm hoàn toàn paraquat và chlorpyrifos, và siết chặt lưu hành glyphosate, chậm nhất vào cuối năm 2019. Sau đó, tranh cãi phạm vi toàn quốc đã nổ ra, kèm theo làn sóng phản đối từ các bên liên quan, cả bên thuận và bên chống đều xuống đường biểu tình, và chính phủ bị đẩy vào thế phải xoay vòng theo chiều thắng thế.
Thế rồi, lệnh cấm cũng chính thức có hiệu lực vào tháng 6/2020. Paraquat và chlorpyrifos bị xếp vào nhóm hóa chất nguy hiểm Loại 4, mức độ nặng nhất. Không ai được phép sản xuất, kinh doanh, sử dụng hay thậm chí tàng trữ các chất trong nhóm này. Theo đó, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Thái Lan cũng cho ra đời chính sách không khoan nhượng đối với dư lượng các độc dược này, ngay cả trên nông sản nhập khẩu. Lúc đầu, glyphosate cũng suýt bị xếp vào Loại 4, nhưng chính phủ Mỹ và ông lớn trong ngành nông dược phẩm, Bayer, đã gây áp lực xoay chuyển tình hình. Cuối cùng, glyphosate được xếp Loại 3, nghĩa là hóa chất phải có giấy phép mới được sử dụng, với phạm vi sử dụng cực hạn chế trên vài loại hoa màu nhất định, và ngoài phạm vi lưu vực sông và những khu vực công cộng khác.
Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dừa
Tình trạng tồn dư paraquat và chlorpyrifos trên rau quả đã giảm thiểu đáng kể từ khi lệnh cấm có hiệu lực, điều phối viên Prokchon Usap thuộc Thai-PAN cho biết. Mạng lưới Thai-PAN và các thành viên chiến dịch đều cho rằng đây là một chiến thắng đáng mừng, nhưng cuộc chiến của họ vẫn chưa kết thúc. Đối với bà Prokchon, tất cả những nông dược phẩm đều “rất độc hại,” và ngoài kia vẫn còn hơn 230 hóa chất khác như vậy đang lưu hành. Quan trọng hơn cả, bà và các cộng sự cho rằng người ta đang lạm dụng hóa phẩm trong nông nghiệp, gây nguy hiểm trực tiếp cho cả người trồng và người tiêu dùng.
Tấm biển quảng cáo glufosinate-ammonium, một thuốc trừ cỏ Loại 3 tương tự như glyphosate. Ảnh chụp bên đường tại tỉnh Nakhon Sawan.
Kệ trưng bày nông dược phẩm, phần lớn là hóa chất bảo vệ thực vật công nghiệp, tại một cửa hàng thuộc tỉnh Nong Bua Lamphu. Rất ít nông dân ở Thái Lan được đào tạo kỹ lưỡng về cách sử dụng hóa chất an toàn.
Dù bị cấm, paraquat là cái tên phổ biến với người dân đến nỗi từ “paraquat” vẫn được dùng để quảng bá các loại thuốc trừ sâu khác. Ảnh chụp (tháng 11/2025) sản phẩm thuốc trừ sâu trên một ứng dụng mua hàng qua mạng. Sản phẩm có thành phần chính là diquat dibromide, nhưng hình quảng cáo vẫn có tên paraquat.
Thai-PAN đã kiểm nghiệm thực tế dư lượng hóa chất trên rau quả mua ở nhiều chợ địa phương vào cuối năm 2024. Kết quả: 68% mẫu xét nghiệm chứa dư lượng thuốc trừ sâu cao hơn mức tối đa do chính phủ ấn định, tuy mỗi loại thực phẩm có tiêu chuẩn khác nhau. Báo cáo cho thấy mức dư lượng cao hơn chuẩn khi xét đến các loại hóa chất Loại 3, như chlorfenapyr, fipronil và carbendazim.
Dược phẩm làm bà Prokchon lo ngại nhất chính là carbendazim, một loại thuốc diệt nấm thường được dùng trên nhiều giống hoa màu để kìm hãm bệnh cây. Hiện nay, carbendazim đã bị chính phủ nhiều nước cấm hoàn toàn.
“Chúng tôi phát hiện carbendazim trên gần như tất cả mẫu rau quả,” bà chia sẻ. “Đây là một hóa chất có nhiều tác hại cho sức khỏe, như gây hiếm muộn, vì nhiều nghiên cứu cho rằng carbendazim có thể làm suy giảm lượng tinh trùng ở nam giới.”
Sự lệ thuộc bất đắc dĩ
Trong vòng vài thập kỷ gần đây, Thái Lan đã có bước chuyển mình không nhỏ từ canh tác tự cung tự cấp sang nông nghiệp thương mại. Hiện nay, quốc gia này thuộc nhóm dẫn đầu thế giới về nuôi trồng và xuất khẩu nông sản thương phẩm như lúa gạo và trái cây nhiệt đới. Mía đường là một phần quan trọng của bức tranh nông nghiệp Thái Lan — hiện đang đứng thứ 5 về sản xuất và thứ 2 về xuất khẩu mía đường. Bước tiến này cũng kéo theo sự bành trướng của hóa dược phẩm. Thái Lan là quốc gia đứng thứ 15 toàn cầu về nhập khẩu thuốc trừ sâu tổng hợp; hồi 2016, trước khi lệnh cấm được ban hành, glyphosate và paraquat đứng đầu danh sách hàng nhập.
Trong khi cả nước đều dùng thuốc trừ sâu nhiều hơn, khu vực Đông Bắc ghi nhận mức tăng đột biến do “đồn điền mía và cao su mở rộng cấp kỳ” trong những năm gần đây, theo lời ông Patiwat Chalermchart, thành viên chủ chốt của chi nhánh vùng của Hội đồng Người tiêu dùng Thái Lan. “Cách nuôi trồng thương mại này rất lệ thuộc vào thuốc trừ sâu để giảm chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận,” ông giải thích. “Do đó, những ca ngộ độc paraquat đều tập trung ở đây.”
Dẫu đa số nông dân đều nhận thức được tác hại của thuốc trừ sâu, phần lớn vẫn không từ bỏ được thuốc. Họ không có cách nào khác, ông Patiwat nói, vì áp lực vốn liếng và nhu cầu giảm thiểu phí nhân công.
Vùng quê quanh làng Ban Dong Sawan, tỉnh Nong Bua Lamphu, bị cây mía bao phủ. Khoảng 45% sản lượng mía đường quốc gia được sản xuất tại khu vực Đông Bắc. Nông hộ nhỏ lẻ chiếm phần lớn, với khoảng 70% mía trồng trên thửa đất dưới 10ha, theo hợp đồng với nhà máy đường.
Thửa ruộng thuộc huyện Suwannakhuha cháy khô sau khi được phun thuốc trừ sâu cực mạnh để phát hoang, lấy đất chuẩn bị cho mùa gieo trồng mới.
Thuốc trừ sâu có thể giảm bớt phí nhân công trên đồn điền mía, nhưng một lượng lớn công việc vẫn phải qua tay người. Thu hoạch là công đoạn rất nặng nhọc, nên nhiều hộ phải thuê thêm người phụ.
Một nông dân ở Suwannakhuha tưới vườn rau nhà mình ngay cạnh ruộng mía. Nhiều hộ làm nông nhỏ lẻ hiểu được mức độ độc hại của thuốc trừ sâu, nên họ hạn chế xịt thuốc lên hoa màu trồng nhà ăn, nhưng tình trạng ô nhiễm thứ phát từ các đồn điền lân cận là không thể tránh khỏi.
Ông Natthanan Photiwong, 64 tuổi, trồng mía trên một mảnh đất nhỏ thuộc huyện Suwannakhuha, tỉnh Nong Bua Lamphu. Ông đã tránh xa thuốc trừ sâu tổng hợp 3 năm nay, sau khi chính ông mắc phải chứng viêm cân mạc hoại tử quái ác do chẳng may tiếp xúc với paraquat vào năm 2018. Nhưng gần đây, do tình trạng khan hiếm nhân công, ông phải bấm bụng nhờ vào thuốc xịt trở lại, để phát hoang thửa ruộng rộng 1.4ha nhà mình.
“Nguyên ruộng mía um tùm vậy mà dọn cỏ bằng tay không rất vất vả, nên tôi rất khó kiếm được người chịu làm,” ông giãi bày. “Cuối cùng tôi cũng phải thuê người xịt thuốc giúp, vì tôi vẫn không dám đụng vào thuốc nữa.”
Gần đó, tại huyện Na Klang lân cận, cô nông dân trẻ Sinaphon Namphrom, cũng có suy nghĩ tương tự. Gia đình Sinaphon chuyên trồng lúa gạo.
Dù tác hại sức khỏe của nông dược phẩm cũng làm cô quan ngại, cô vẫn phải sử dụng vì chúng “là nguyên liệu quan trọng giúp việc đồng áng dễ kiểm soát hơn, cho lợi nhuận cao hơn,” cô chia sẻ. “Chúng tôi ráng tự bảo vệ bằng cách mặc đồ bảo hộ khi xịt, và hạn chế liều lượng càng thấp càng tối, nhất là trên những thửa trồng rau nhà ăn.”
Một “phi công” lái thiết bị bay không người lái (drone) và trợ lý đang pha chế hỗn hợp phân bón và thuốc trừ sâu để phun lên ruộng lúa của khách.
Thứ duy nhất bảo vệ họ khi thao tác với hóa chất là chiếc áo thun trùm đầu.
Drone là công nghệ tương đối mới, đơn giản hóa công tác phun xịt so với xịt bằng tay. Trong những năm gần đây, nông dân Thái bắt đầu tìm đến drone nhiều hơn. Tuy nhiên, phương pháp này có nguy cơ khiến thuốc xịt tán xa hơn, làm ô nhiễm khu vực ngoài những thửa cần xịt.
Bà Prokchon thuộc Thai-PAN cho rằng “nông dân bị mắc vào vòng lặp lẩn quẩn của nợ nần và hóa chất.” Khi dùng hóa chất, người ta đã vô hiệu hóa những quá trình tự nhiên trước kia đã giúp đất màu mỡ hơn, và loại trừ sâu bệnh, cho nên hóa chất lại tiếp tục được sử dụng cho lần sau, không dùng không được. Chưa hết, hoạt động canh tác thương mại đã tạo nên một “nền kinh tế nợ nần” ở khu vực nông thôn, vì rất nhiều nhà nông phải vay mượn để mua vật liệu trồng trọt.
“Ngành nông nghiệp thương phẩm hoàn toàn không phát triển các phương pháp mới để hạn chế lệ thuộc vào hóa chất,” bà nói.
Ngoài ra, người ta gắn mác cho những biện pháp thay thế, không dùng hóa chất là đắt đến mức không thực hiện được. “Hệ thống sản xuất lương thực hiện tại không đề cao nông nghiệp hữu cơ,” ông Patiwat thuộc Hội đồng Người tiêu dùng Thái Lan, chia sẻ. “Hoàn toàn không có cơ chế nào để hỗ trợ nông dân đầu tư vào sản xuất lương thực hữu cơ, vốn quá đắt đỏ.”
Tương lai không thuốc trừ sâu?
Trong bối cảnh nông dân không có nhiều lựa chọn trong canh tác, tầng lớp trung lưu ngày càng đông đúc ở Thái đang rất quan tâm đến an toàn vệ sinh thực phẩm, dẫn đến nhu cầu thực phẩm hữu cơ tăng cao, đặc biệt tại những khu vực giàu có thuộc đô thị lớn. Thế là những doanh nghiệp như DiStar Fresh, do doanh nhân Krisana Tamvimol thành lập, ra đời, với mô hình nuôi trồng rau lá giá trị cao bằng phương pháp thủy canh trong nhà bằng giá thể (vertical farming).
Công ty này đưa vào hoạt động một cơ sở sản xuất rộng 400m2 vào năm 2021, tại huyện Bang Yai, tỉnh Nonthaburi, gần thủ đô Bangkok. Theo Krisana, cơ sở này có năng suất tương đương với một thửa ruộng truyền thống rộng 64.000m2 (6.4ha).
DiStar Fresh quảng cáo rằng rau trồng ở đây “hơn cả hữu cơ.” Rau lá trồng trong hệ thống khép kín, được nuôi lớn bằng dưỡng chất hòa tan trong nước thay vì đất — DiStar gọi là môi trường “siêu sạch” — được bảo vệ khỏi sâu bệnh ngoài trời, nên không cần thuốc trừ sâu.
Công nhân thu hoạch xà lách trong cơ sở DiStar áp dụng công nghệ cao và hệ thống kiểm soát khí hậu. Doanh nghiệp áp dụng thủy canh để trồng một vài loại rau lá nhất định.
Sản phẩm rau của DiStar được quảng bá là “hơn cả hữu cơ.” Rau ở đây có giá khá cao, thường bán cho khách hàng đô thị trung lưu.
Krisana nhận thấy rằng Thái Lan có hệ thống quản lý nông dược phẩm khá lỏng lẻo so với các quốc gia phát triển, nhưng chính nhờ tình trạng này, doanh nghiệp của ông lại ăn nên làm ra. “Chúng tôi đã ký kết với khoảng 1,000 đến 2,000 khách hàng thường xuyên,” ông nói. “Hiện nay, nhu cầu đã gần chạm ngưỡng năng lực sản xuất của nông trại, và chúng tôi đang tìm địa điểm mới để mở rộng trại thủy canh thứ 2 tại huyện Sai Noi.”
Dù ông Krisana tin rằng thủy canh là chìa khóa mở ra tương lai của nông nghiệp Thái Lan, đây có lẽ không phải là giải pháp cho những giống cây khác như lúa gạo hay mía đường. Lý do tiên quyết là chi phí: để xây dựng một cơ sở đủ năng lực để trồng được 3.2ha thành phẩm cần khoản đầu tư 20 triệu baht (gần 16 tỉ VND), theo Krisana.
Chi phí vận hành cũng cao không kém, dù ông Krisana nhấn mạnh rằng chi phí ở Thái cũng đã thấp hơn các nước phương Tây nhờ tiền điện rẻ hơn. Ở những nước phát triển, chi phí trồng một đơn vị rau xanh trong trại thủy canh rơi vào khoảng 15 baht (gần 12.000 VND), so với 8 baht (khoảng hơn 6.000VND) ở Thái, ông chia sẻ.
Tại một vườn trồng cam thuộc tỉnh Chiang Mai, miền Bắc Thái Lan, công nhân phun xịt thuốc trừ sâu lên cây trước khi thu hoạch để bảo đảm trái ra sẽ mang ngoại hình bắt mắt. Mỗi lần phun hết hàng ngàn lít thuốc trừ sâu.
Công nhân nhập cư từ Myanmar phân loại cam tại một cơ sở thuộc nhà cung cấp cam lớn. Doanh nghiệp này thu mua cam của nhà vườn, đóng gói, rồi phân phối cam thành phẩm khắp Thái Lan và cả xuất khẩu.
Một vài chủ vườn cam trong vùng đang cố gắng thay đổi cách canh tác. Như ở Trại cam Yoddoy, chủ vườn chủ trương giảm thiểu lượng hóa chất tổng hợp trong sản xuất và hiện tại đã giảm xuống chỉ xịt một lần mỗi mùa lúc cây bắt đầu ra hoa. Để dễ quản lý hơn, ông dừng bán cam cho các nhà phân phối lớn. Thay vào đó, ông tự quảng bá cam trên mạng xã hội để bán online, bên cạnh tổ chức tour hái cam tại vườn.
Cách xa thủ đô, tận tỉnh Chiang Mai thuộc miền Bắc Thái Lan, nổi tiếng với nghề trồng lúa và nhiều loại trái cây, một phong trào hữu cơ tự phát kiểu khác đang nhen nhóm. Saranarat Kanjanavanit, nhà đồng sáng lập doanh nghiệp Nunienoi Wetland and Farm (tạm dịch: Tổ hợp Đất ngập nước và Trang trại Nunienoi), là một trong rất nhiều nông hộ trong vùng là minh chứng rằng ngành trồng trọt cũng có thể tồn tại khi nói không với hóa chất tổng hợp, nếu tập trung hồi sinh đa dạng sinh học, thuận theo tự nhiên.
Theo Saranarat, khi bà mua lại miếng đất hồi năm 2018, môi trường sống ở đây rất cằn cỗi sau thời gian dài sử dụng nông dược phẩm mạnh tay, bao gồm cả phân bón hóa học và thuốc trừ sâu. Bà đã từng bước tái tạo độ màu mỡ của đất bằng biện pháp luân canh, trồng lúa và đậu nành luân phiên từng mùa để cố định đạm cho đất.
Kết quả là năng suất lúa hữu cơ của trang trại đạt đến 500kg một rai (1.600 m2), tương đương với các cơ sở trồng lúa thương phẩm có trợ giúp hóa học, bà ước tính.
Saranarat Kanjanavanit, đồng sáng lập nên Tổ hợp Đất ngập nước và Trang trại Nunienoi, rất ủng hộ canh tác hữu cơ.
Ngoài ra, Saranarat cũng không cần đến thuốc xịt để diệt sâu, vì ngay tại khuôn viên đất ngập nước tái tạo có nhiều loại côn trùng, chim thiên địch sinh sống, giúp kìm hãm mật độ sâu hại tại nông trại.
“Trong những năm đầu, rất nhiều người, kể cả người làm công cho tôi, không tin rằng canh tác thuận tự nhiên sẽ thành công, vì chúng tôi ghi nhận năng suất rất thấp. Nhưng sau khi chúng tôi cho thiên nhiên thời gian để tái tạo cân bằng sinh thái và nâng cao đa dạng sinh học, chúng tôi đã chứng minh được rằng, khi đã thấu hiểu và làm bạn với thiên nhiên, an ninh lương thực là điều hoàn toàn có thể đạt được mà không phải hi sinh môi trường, bà Saranarat nói.
Luke Duggleby là nhiếp ảnh gia chuyên về ký sự và chân dung tại Bangkok, Thái Lan, nơi ông đã sinh sống 15 qua. Ghé thăm website của ông để xem nhiều tác phẩm nhiếp ảnh khác.
Bài viết được thực hiện bởi Dialogue Earth và được Saigoneer chuyển ngữ. Ghé thăm đường dẫn này để đọc bài viết nguyên bản bằng tiếng Anh.