Sài·gòn·eer

Back Văn Nghệ » In Plain Sight » Hành trình tìm kiếm bức tranh sơn mài lớn nhất Việt Nam: 'Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX' của Nguyễn Thế Khang

Câu chuyện bắt đầu vào năm 1996. Trước chuyến đi Việt Nam kéo dài một tháng cùng 30 giáo viên Na Uy khác, tôi đã cất công tìm đọc những câu chuyện ít người biết và các địa danh hay bị bỏ qua trên sách báo, mạng internet. Điều này xuất phát từ trải nghiệm dạy học cho người Việt tị nạn tại Na Uy hồi cuối thập niên 1970 và 1980. Trong quá trình tìm hiểu, một cái tên khiến tôi đặc biệt lưu tâm: họa sĩ Nguyễn Thế Khang. Ông đang ấp ủ một dự án tham vọng, nhằm tái hiện 36 phố phường Hà Nội qua một tác phẩm sơn mài đồ sộ. Ngay hôm sau ngày đặt chân đến thủ đô, tôi đã vinh dự được ông đón tiếp tại nhà riêng ở số 47 Triệu Việt Vương.

Năm ấy, vị họa sĩ đã bước sang tuổi 74. Ban đầu, ông đón tiếp tôi bằng thái độ từ tốn lịch thiệp, nhưng sự nhiệt thành đã nhanh chóng xua đi bầu không khí khách sáo. Chỉ vài phút sau, hai chúng tôi đã đứng trước bản phác thảo cho dự án tâm huyết của ông. Bản phác thảo vẽ lại toàn cảnh 36 phố phường Hà Nội vào khoảng năm 1850, thời điểm trước khi thực dân Pháp đặt ách đô hộ. Tác phẩm này sẽ được thực hiện bằng chất liệu sơn mài.

Tác phẩm mang quy mô vô cùng lớn Theo dự kiến, bức tranh hoàn thiện sẽ gồm 16 tấm ván lớn ghép lại, đạt kích thước 1,7 x 10,08 mét. Xung quanh tác phẩm là đường viền trang trí nổi chạm khắc các họa tiết minh họa những sự kiện lịch sử trọng đại và nét văn hóa đặc trưng của Hà Nội. Tác phẩm cũng kết hợp thêm các câu đối viết bằng chữ Hán và chữ Nôm cổ. Tính cả phần khung, tổng diện tích bức tranh sẽ vượt quá 22m².

Tác giả bài viết Olaf Husby (trái) và họa sĩ Nguyễn Thế Khang (phải) tại nhà riêng của ông ở Hà Nội vào năm 1996.

Họa sĩ Khang dự định sử dụng kỹ thuật sơn khắc. Phương pháp bắt nguồn từ Trung Hoa, đòi hỏi người thợ phủ nhiều lớp sơn đen lên một bề mặt gỗ đã qua xử lý. Đợi sơn khô, nghệ nhân bắt đầu chạm trổ các họa tiết lên bề mặt rồi mới tô màu, thếp vàng hoặc khảm thêm các vật liệu trang trí như xà cừ. Nhờ vậy, từng hình ảnh sẽ nổi bật sống động trên nền sơn đen tuyền.

Họa sĩ Khang trải rộng bản phác thảo dài chừng một mét rưỡi. Chẳng mấy chốc, mặt bàn ngập tràn các cảnh sinh hoạt đời thường của Hà Nội xưa với cổng thành, nhà cửa, chợ búa, cây cối, kênh rạch, thuyền bè, cầu cối, đài tưởng niệm, đền chùa. Khi hoàn thiện, tác phẩm sẽ tái hiện khoảng 400 nóc nhà thấp tầng cùng chừng 2.000 nhân vật thuộc mọi tầng lớp xã hội đang làm việc, trả giá, trò chuyện, dự lễ hay thực hành các tín ngưỡng dân gian. Lượng chi tiết đồ sộ đến mức tác giả buộc phải tinh lược ngay cả trên một bức tranh khổ lớn. Lấy ví dụ, phố Hàng Đào từng có 120 nếp nhà, song bản phục dựng của ông Khang chỉ có thể giữ lại 25 căn.

Phục dựng Hà Nội xưa

Quá trình chuẩn bị diễn ra vô cùng gian nan. Họa sĩ Khang dành nhiều năm ròng rã nghiên cứu giai đoạn quanh năm 1850 và thu thập tư liệu về một thế giới cùng những phong tục gần như đã thất truyền. Các nông cụ, kỹ thuật và phương thức tác nghiệp từng làm nên tên tuổi của phố Hàng Bạc, Hàng Đào hay Hàng Bông nay chỉ còn là dĩ vãng. Ngay cả thông tin chi tiết về kiến trúc, trang phục và đời sống sinh hoạt cũng trở nên chắp vá.

Ông đặt ra yêu cầu phải xuất bản bằng được một ấn phẩm đi kèm tác phẩm, có nhiệm vụ khắc họa rõ nét bối cảnh lịch sử, cấu trúc khu Phố cổ cùng hệ thống điển tích văn hóa dưới một lăng kính bao quát hơn. Vốn kiến thức của ông chủ yếu đến từ những năm tháng học sử tại trường tư thục Thăng Long, một trong những ngôi trường lâu đời nhất Hà Nội. Thầy dạy sử của ông khi ấy chính là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, vị Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam tương lai. Rời ghế nhà trường, ông Khang vẫn miệt mài nghiên cứu các cổ thư tiếng Việt và tiếng Pháp viết về Hà Nội.

Cận cảnh tranh sơn mài của Nguyễn Thế Khang.

Nguyễn Thế Khang tự nhận phong cách của mình mang hơi hướm tân cổ điển, dù chưa từng qua trường lớp đào tạo mỹ thuật chính quy. Từ nhỏ, ông đã được tiếp xúc với nghề thêu thùa và thếp vàng. Về sau, ông trau dồi kỹ năng trong các hội nhóm nghệ thuật đương thời rồi dần khẳng định tên tuổi qua những bức tranh sơn mài và tranh lụa. Sự nghiệp nghệ thuật của ông chỉ thực sự cất cánh sau khi ông về hưu ngành bưu điện vào năm 1980, ở tuổi 58. Ban đầu, ông tập chép thư pháp Trung Hoa, nhưng tinh thần dân tộc trỗi dậy mạnh mẽ trong và sau cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979 đã thôi thúc ông tìm về những truyền thống lâu đời của Việt Nam, đặc biệt là các chủ đề về lễ hội dân gian.

“Sáu tháng nữa, tức chừng tháng 10 năm 1996 tôi sẽ khởi công,” ông quả quyết nói khi cuộn bản phác thảo lại.

Có điều, dự án vấp phải một rào cản lớn: kinh phí. Quy mô tác phẩm quá đồ sộ buộc ông phải thuê thêm thợ phụ. Để có tiền trả cho họ, ông đành cắn răng rao bán những bức họa trong bộ sưu tập cá nhân, những đứa con tinh thần ông nâng niu và chưa bao giờ có ý định nhượng lại. Vậy mà số tiền thu về vẫn chưa thấm vào đâu.

Tôi mê mẩn vô cùng. Trong mắt tôi, dự án này độc nhất vô nhị, chẳng giống bất kỳ tác phẩm sơn mài Việt Nam nào khác tôi từng xem qua. Nhận thấy sự hào hứng của vị khách phương xa, ông Khang đặt thẳng vấn đề: “Anh giúp tôi tìm nguồn tài trợ được không?”

Ông nhẩm tính cặn kẽ: chính xác là 78.200 đô la Mỹ. Khoản này sẽ bao trọn chi phí hoàn thiện tác phẩm, tiền công cho hai thợ phụ, thiết bị triển lãm tại Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội, kinh phí truyền thông, cùng tiền in 1.000 cuốn ấn phẩm phụ trợ.

Rời ngôi nhà số 47 Triệu Việt Vương, tôi cẩn thận mang theo ghi chép, phác thảo, hình ảnh và tài liệu để làm hành trang đi xin tài trợ. Trong bản dịch tiếng Anh do chính tay mình chắp bút, họa sĩ Khang đặt tên cho dự án là ‘The 36 Old Street Quarter of Hanoi in the XIXth Century’ (Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX).

Hành trình tìm kiếm nguồn tài trợ

Vừa về đến Na Uy vào đầu tháng 4 năm 1996, tôi tức tốc đi tìm nguồn tài trợ dự án. Tôi chẳng quen vị mạnh thường quân nào đam mê hội họa Việt Nam. Bạn bè, người thân hay đồng nghiệp, có gom hết lại cũng không nào quyên góp được nửa triệu kroner. Giới nghệ sĩ Na Uy tuy phản hồi rất tích cực nhưng không ai hiến được kế gì thiết thực.

Rồi cơ hội cũng đến. Năm 1995, Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt sang thăm chính thức Na Uy. Tại tiệc chiêu đãi, Thủ tướng Na Uy Gro Harlem Brundtland bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác với Việt Nam, đồng thời tuyên bố chính phủ sẽ mở đại sứ quán tại Hà Nội vào năm 1996. Trước đó, hai nước cũng đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1971.

Nguyễn Thế Khang.

Đến tháng 8/1996, Cơ quan Hợp tác Phát triển Na Uy (NORAD) công bố chương trình tài trợ văn hóa dành cho các nước đang phát triển. Cũng trong thời gian này, chính phủ Na Uy ấn định ngày khánh thành đại sứ quán tại Hà Nội đúng vào dịp Thủ tướng Brundtland sang thăm đáp lễ ngày 8/10.

Thời cơ đến quá gấp gáp. Tôi liền gửi toàn bộ hồ sơ về Nguyễn Thế Khang cho Bộ Ngoại giao Na Uy và ông Jens Kjell Otterbech, vị tân đại sứ tại Việt Nam. Do không kịp chuẩn bị hồ sơ xin tài trợ bài bản, tôi đề xuất chính phủ Na Uy rót ngân sách trực tiếp cho dự án này để rút gọn thủ tục. Làm vậy, họ cũng sẽ có một món quà đầy ý nghĩa đánh dấu ngày Na Uy chính thức có mặt tại Thủ đô.

Ngày 12/9, Đại sứ Otterbech đích thân đón tiếp họa sĩ Khang tại Hà Nội. Vài hôm sau tôi nhận được thư thuật lại sự tình. Ông Khang đã trình bày tường tận dự án, mang ra đủ thứ tài liệu cùng bản phác thảo khổ lớn và được dặn cứ yên tâm, không cần lo hạn chót nộp hồ sơ. Phía đại sứ quán sẽ trao đổi trực tiếp với Oslo vì họ không đủ thẩm quyền tự quyết. Cuộc gặp diễn ra hết sức thân tình, ngài đại sứ còn hứa sẽ ghé thăm nhà và xưởng vẽ của ông.

Tôi thở phào nhẹ nhõm. Cuối cùng, sự tình cũng đã đến tai những người có tiếng nói quyết định.

Song, tham vọng của họa sĩ lúc này lại ngày một lớn. Ông rục rịch lên kế hoạch xây một phòng tranh tư nhân để trưng bày tác phẩm. Thấy giá nhà đất Hà Nội đang tăng phi mã, ông tin rằng đây là lúc phải chớp lấy thời cơ. Theo ông tính toán, nếu cất một tòa nhà năm tầng với đầy đủ tiện nghi sẽ tiêu tốn khoảng 200.000 đô la Mỹ. Cơ ngơi này sẽ cho thuê một phần, còn lại làm chỗ ở, không gian triển lãm, phòng trưng bày nghệ thuật, xưởng vẽ sơn mài và khu vực chế tác thủ công.

Ông xem đây là một nước đi “đón đầu” tuyệt vời. Ông đề xuất đại sứ quán Na Uy sẽ đứng tên tòa nhà, còn ông sắm vai trò giám sát và quản lý. Nếu bán được bức sơn mài đồ sộ kia, ông hứa sẽ hoàn trả toàn bộ vốn liếng cho chính phủ Na Uy, rồi bắt tay làm một phiên bản thứ hai cách tân đôi chút để dành riêng cho một bảo tàng tư nhân.

Đó là lá thư cuối cùng tôi nhận được từ Nguyễn Thế Khang. Phần mình, tôi tự nhủ bản thân đã nỗ lực hết sức, còn chuyện chạy theo cơn sốt đất Hà Nội lúc bấy giờ quả thực nằm ngoài khả năng của mình. Bẵng đi một thời gian, hy vọng xin tài trợ từ chính phủ Na Uy vụt tắt, tôi cũng đành buông xuôi. Câu chuyện cứ thế chìm dần vào quên lãng.

 ‘Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX.’

Số phận tác phẩm về đâu?

Gần 30 năm sau, nhân lúc sửa soạn đồ đạc quay lại Việt Nam, tôi bỗng nhớ đến chuyện cũ: rốt cuộc bản kế hoạch vĩ đại của họa sĩ Nguyễn Thế Khang đã trôi dạt về phương nào?

Tra cứu trên mạng không mang lại nhiều thông tin, ngoại trừ một kết quả vô cùng quý giá: bài phỏng vấn họa sĩ Nguyễn Thế Khang đăng trên báo VnExpress ngày 22/2/2001 với tiêu đề “Số phận long đong của bức tranh lớn nhất về Hà Nội.”

Hóa ra sau 8 năm ròng rã và 300 triệu đồng bỏ ra, họa sĩ cũng hoàn thành tác phẩm. Ông định giá bức tranh 1,2 tỷ đồng, gấp 4 lần chi phí ban đầu, nhưng vì khách mua dự kiến là Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội nên ông đã quyết định giảm giá xuống còn một nửa.

Các bức đã hoàn thiện của tác phẩm ‘Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX.’

Tác phẩm từng được trưng bày ngay tại trung tâm thủ đô trong đại lễ kỷ niệm 990 năm Thăng Long - Hà Nội vào năm 2000. Hết đợt triển lãm, người ta đành mang tranh cất vào kho đợi hội đồng chuyên môn chốt xem thành phố có mua hay không.

Giới chuyên môn lúc bấy giờ tranh cãi nảy lửa. Một bên cho rằng mua tranh là cách đền đáp công lao của nghệ sĩ, bên kia lại sợ châm ngòi cho cơn bão dư luận trong giới mộ điệu. Nhiều người từng đặt dấu hỏi về tay nghề của họa sĩ Khang, thậm chí coi ông là dân ngoại đạo. Hơn nữa, họ còn đau đầu trước một câu hỏi nhạy cảm hơn: tác phẩm này là nghệ thuật thực thụ hay chỉ dừng ở mức là đồ thủ công mỹ nghệ?

Ông Khang vẫn kiên định với mức giá đã chốt và tuyên bố sẵn sàng bán tác phẩm cho bên khác, thậm chí ra nước ngoài, nếu chính quyền Hà Nội từ chối mua. Khó khăn chồng chất khi sức khỏe của ông ngày một suy yếu, cần điều trị tốn kém chi phí hàng tuần. Cơ quan quản lý dùng dằng chưa quyết, bản thân lại mang gánh nặng bệnh tật, vị họa sĩ đành để ngỏ số phận tác phẩm tâm huyết của cả đời mình.

Một bài báo VnExpress khác xuất bản ngày 9/5/2001 đưa tin họa sĩ Nguyễn Thế Khang đã nhắm mắt xuôi tay trong những tháng ngày mỏi mòn chờ đợi. Gia đình mong chính quyền tôn trọng di nguyện của ông và mua lại tác phẩm. Đại diện cơ quan chức năng gửi lời chia buồn sâu sắc và khen ngợi bức tranh đã lột tả xuất sắc không khí lịch sử. Ngặt nỗi vì bức tranh quá lớn nên thành phố cũng không tìm đâu ra không gian đủ rộng để trưng bày cố định.

Lên đường tìm kiếm bức tranh

Quán cà phê ở 47 Triệu Việt Vương, nằm sát vách nhà cũ của họa sĩ Nguyễn Thế Khang.

Thế là mùa hè vừa qua, mang theo tinh thần của họa sĩ Khang, tôi thuê một phòng khách sạn trên phố Chân Cầm trong khu Phố cổ, và bắt đầu lân la gõ cửa các bảo tàng, không gian triển lãm xem bức tranh có đang lưu lạc nơi đâu. Bặt vô âm tín. Tôi quyết định đổi hướng tìm kiếm quyết liệt hơn.

Từ chỗ tôi ở đi bộ nửa tiếng là tới nhà cũ của ông Khang ở số 47 Triệu Việt Vương. Theo địa chỉ, tôi bước vào một khoảng sân yên tĩnh, nằm sát vách một quán cà phê nhỏ xíu. Lúc cô nhân viên trẻ bưng ly cà phê đá ra, tôi vận dụng mớ tiếng Việt bập bõm hỏi thăm về chủ cũ của căn nhà. Tôi viết tên ông cùng dòng chữ “tranh Phố cổ Hà Nội 36 phố phường” rồi vẽ nguệch ngoạc mấy nét phác họa. Cô gái mở Google Dịch lên và đưa tôi xem đúng một chữ: “Đợi.”

Lúc cô quay lại, tôi lờ mờ đoán được cô vừa chạy đi hỏi thăm hàng xóm và biết ông Khang có người con trai tên Nguyễn Thế Duy. Đáng tiếc là cô không có địa chỉ hay số điện thoại. Dù đã tiến thêm một bước, nhưng chặng đường phía trước xem ra vẫn còn mù mịt.

Thật may, một giám đốc sáng tạo tại Hà Nội, Trịnh Lan Hương, cũng hứng thú với câu chuyện này. Cô nhanh chóng kết nối được với anh Nguyễn Thế Duy và xác nhận anh đúng là con ruột của họa sĩ. Chúng tôi đánh xe rời phố cổ đến thăm anh và được đón tiếp nồng hậu. Có vẻ như cả gia đình đều có máu làm nghệ thuật: anh Nguyễn Thế Duy nay đã là một nhạc sĩ thành danh. Căn hộ của anh trông chẳng khác nào phòng tranh thu nhỏ, treo đầy các sáng tác cá nhân. Lẫn trong số đó, tôi nhận ra những bức sơn mài mang chữ ký Nguyễn Thế Khang.

Chữ ký của họa sĩ Nguyễn Thế Khang trên nhiều tác phẩm trưng bày tại nhà con trai ông.

Khi được hỏi thăm về các bức tranh sơn mài, anh Duy úp mở đôi chút rồi mở trang web của Old Streets Gallery. Toàn bộ tác phẩm hiện ra ngay trước mắt chúng tôi. Bức tranh không chỉ có 16 tấm như dự kiến ban đầu mà lên tới 21 tấm. Hai tấm ngoài cùng khắc chữ, 19 tấm còn lại phác họa toàn cảnh Hà Nội xưa kéo dài từ Hàng Than đến Hàng Khay và từ bờ sông Hồng đến tận Hàng Gai cùng Hàng Quạt.

Nhưng bản gốc hiện đang ở đâu? Hóa, ra, tác phẩm đang được trưng bày tại cửa hàng Hồng Ngọc Fine Art ở số 110B Ngọc Hà thuộc quận Ba Đình.

Hồng Ngọc Fine Art, số 110B Ngọc Hà — nơi lưu giữ tác phẩm đồ sộ của họa sĩ Nguyễn Thế Khang.

Hành trình tái ngộ

Tôi đặt chân đến Hồng Ngọc Fine Art vào một ngày tháng Tư ấm áp. Cửa hàng bày biện la liệt tranh thêu, y phục, tượng điêu khắc cho đến vàng bạc, đá quý. Đích đến của chúng tôi nằm ngay gần cửa ra vào, nép mình khiêm tốn bên những món đồ lưu niệm bình dân. Dọc theo bức tường phía sau quầy thu ngân là những tấm ván sơn mài nằm cạnh tấm biển đề “tác phẩm sơn mài lớn nhất Việt Nam” mang tên ‘36 phố phường Thăng Long Hà Nội thế kỷ XIX.’

Đáng tiếc là không gian trưng bày lại không xứng tầm với tác phẩm. Dài hơn 15 mét, bức tranh dường như lọt thỏm giữa những bức ảnh khổ lớn và vô số hàng hóa phục vụ khách du lịch. Lớp sơn mài bóng bẩy phản chiếu đồ đạc trong cửa tiệm. Một quầy thu ngân dài chắn ngang khiến người xem không thể chiêm ngưỡng toàn cảnh hoặc tiến lại gần để ngắm nhìn kỹ các chi tiết. Rải rác quanh đó là vài mẩu giấy giới thiệu, kèm theo bản dịch các tấm hoành phi chữ Nôm.

Không gian trưng bày hiện tại của ‘Hà Nội 36 phố phường thế kỷ XIX.’

Dù đã tìm lại được tác phẩm, nhưng liệu nhiệm vụ của chúng tôi đã thực sự khép lại? Cả nhóm muốn liên lạc với người chủ sở hữu. Theo lời anh Nguyễn Thế Duy, người này vốn yêu nghệ thuật và đã ngưỡng mộ tài năng của họa sĩ Khang từ lâu. Sau khi ông qua đời, vị khách này đã thuyết phục vợ ông nhượng lại bức tranh để mang về trưng bày tại cửa hàng. Về sau, vì nhiều biến cố cá nhân, ông phải sang nhượng cửa hàng và cũng rời khỏi Hà Nội. Mọi nỗ lực liên lạc với người chủ hiện tại đều đi vào ngõ cụt. Và bao nhiêu thắc mắc của chúng tôi đến nay vẫn đành bỏ ngỏ.

Dù vậy, chúng tôi không coi sự dang dở này là dấu chấm hết cho hành trình. Toàn bộ trải nghiệm vừa qua âu cũng là một cơ duyên, thắt chặt thêm tình cảm của tôi với mảnh đất, con người Hà Nội và cả Việt Nam.

Biết đâu đấy, câu chuyện chưa hẳn đã dừng lại ở đây, bởi giờ đây, khi nó được lan tỏa, nhiều cánh cửa mới có thể sẽ mở ra, không chỉ cho chúng tôi mà còn cho đông đảo công chúng. Khát khao lớn nhất của cả nhóm là tìm được một không gian triển lãm xứng tầm với hoài bão của họa sĩ Nguyễn Thế Khang. Tại đó, người xem sẽ có cơ hội gặp gỡ trực tiếp nguyên bản, khám phá tác phẩm thông qua công nghệ kỹ thuật số và tìm hiểu thêm về Hà Nội xưa qua một cuốn sách nghệ thuật được biên soạn chỉn chu. Còn hiện tại, bức tranh vẫn nằm đó, nhẫn nại chờ đợi những tâm hồn yêu nghệ thuật chịu khó gác lại vẻ ngoài khiêm tốn của một tiệm đồ lưu niệm để chiêm ngưỡng kiệt tác chắt chiu từ tầm nhìn và tâm huyết của cả một đời người.

Bài viết liên quan

in Âm Nhạc & Nghệ Thuật

Nhìn lại những đổi thay của hạ tầng Hà Nội qua lăng kính âm nhạc hoài niệm

Từ các “bài ca lao động” được phát bởi loa tuyên truyền, đến những nhạc phẩm ướm màu hoài niệm về một thời đã qua, những thanh âm của Hà Nội kể nên câu chuyện về một thành phố chưa bao giờ sống t...

in In Plain Sight

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam Hà Nội: Dấu ấn phụ nữ trong dòng chảy lịch sử, văn hóa

Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam ở Hà Nội mang trong mình một sứ mệnh quan trọng.

Linh Phạm

in In Plain Sight

Ở Bảo tàng Chiến thắng B-52, lịch sử thủ đô cô đọng qua kỷ vật chiến tranh

Một khối kim loại khổng lồ đập ngay vào mắt tôi ngay khi bước chân qua cánh cổng.

in Âm Nhạc & Nghệ Thuật

Khi biển âm thanh của Hà Nội trở thành chất liệu sáng tạo nghệ thuật

Các nghệ sĩ và dự án lấy cảm hứng sáng tạo từ thế giới âm thanh phong phú của Hà Nội sau đây sẽ giúp làm vơi bớt nỗi nhớ phố phường trong những ngày thành phố lặng yên trong giãn cách xã hội. 

Paul Christiansen

in In Plain Sight

Ngược dòng lịch sử để hiểu và yêu mến thêm công viên Tao Đàn

Những lớp rễ cạn của bụi cây và dương xỉ đan cài vào nhau, nỗ lực đâm chồi, vươn những tua cuốn và thân cây lên cao, bò lan trên mặt đất gồ ghề để chực chờ những vệt sáng ít ỏi. Mùi đất ngai ngái, nồn...

in Di Sản

Số phận 'ba chìm bảy nổi' của tượng Nữ thần Tự do hồ Gươm

Tượng Nữ thần Tự do, tác phẩm nổi tiếng của điêu khắc gia người Pháp Frédéric Auguste Bartholdi, vốn được biết đến là món quà Pháp trao tặng Mỹ nhằm thể hiện mối quan hệ hữu nghị giữa hai quốc gia.