Ngày cuối năm, lớp bụi mỏng trên bàn thờ được thổi bay sau mấy lượt mẹ huơ cây chổi lông gà lia lịa. Những sợi lông mềm quét qua từng thớ gỗ, từng chân lư hương, khe kẽ bát nhang, nhẹ như một cái chạm đánh thức căn nhà sau giấc ngủ dài.
Trong bếp, mùi mứt dừa thơm phức còn ươm hơi nóng trên bếp, bọn trẻ con chúng tôi tỉ mỉ lau từng trái cây mẹ mua trong buổi chợ sớm, có trái vừa được cha cắt ngoài vườn, mong ngóng mẹ mau mau xuống bếp sắp quả vào chiếc đĩa tròn thật to. Tôi sẽ ngó thật kỹ xem trái dừa được đặt ở đâu cho vững, trái xoài vàng ươm được kê thế nào cho vừa mắt.
“Cầu-dừa-đủ-xoài-sung” — đó là mâm ngũ quả truyền thống nhà tôi vẫn dâng lên bàn thờ gia tiên mỗi độ Tết đến xuân về. Từ thuở nhỏ, tôi đã quen với những câu chuyện về ý nghĩa của từng loại quả, được bà ngoại và mẹ chậm rãi kể lại trong những buổi chiều cuối năm, khi căn nhà thơm mùi mứt Tết và gió xuân khe khẽ lùa qua hiên.
Ngoại tôi nói, mâm ngũ quả là lời cầu chúc không thành tiếng. “Cầu” lấy ý từ quả mãng cầu là cầu mong, là ước vọng; “dừa” đọc trại thành “vừa,” mong cuộc sống vừa đủ, không thiếu thốn; “đu đủ” là đủ đầy, no ấm quanh năm; “xoài” gần âm với “xài. ”ước mong có của để chi tiêu, không chật vật; “sung” là sung túc, viên mãn, là niềm hy vọng cho một năm mới hanh thông, phát đạt.
Mâm ngũ quả miền Nam. Minh họa: Dương Trương.
Từ lời ngoại, tôi nhận ra người xưa không mơ những điều quá xa xôi. Mâm ngũ quả của bà không mang tham vọng giàu sang, mà chất chứa ước mơ về cuộc sống vừa vặn với mình, biết đủ, biết ơn và còn chỗ cho hy vọng nảy nở. Mỗi lần nghe ngoại kể, tôi lại thấy những trái cây trên mâm không còn là vật vô tri. Chúng trở thành những lời chúc được gói ghém bằng tất cả sự chân thành gửi đến tổ tiên, một cuộc đối thoại giữa các thế hệ.
Với mẹ, câu chuyện mâm ngũ quả được nối dài bằng những kinh nghiệm đời thường, chắt lọc từ tháng ngày tảo tần. Mẹ dặn phải chọn trái dừa thật tròn để làm trụ, lựa xoài chín vàng ươm rồi đặt ra phía trước cho sáng mâm, tìm quả đu đủ vừa tay để kê cho chắc, mãng cầu cũng được chọn kỹ, da còn xanh, cuống tươi rồi xếp khéo vào giữa, sung điểm xuyết để mâm quả thêm đầy đặn. Mỗi thứ một vị trí, không chỉ khoe sắc quả mà còn giữ sự hài hoà, cân đối và vững chãi.
Khi lớn lên, rời xa mái nhà quen thuộc, có cơ hội đi nhiều nơi, gặp gỡ nhiều người, tôi mới nhận ra: mâm ngũ quả không chỉ có một cách trình bày và ý nghĩa.
Nhóm bạn tôi, mỗi đứa một miền quê, hay ngồi lại với nhau vào những ngày cuối năm, rôm rả từ việc sắm sửa, dọn dẹp, gói ghém Tết sao cho đúng kiểu nhà mình. Và chính từ những khác biệt rất đỗi quen thương ấy, tôi bất ngờ trước sự đa dạng trong cách bày biện mâm ngũ quả của ba miền đất nước. Mỗi nơi lại có cách lựa chọn và sắp đặt rất riêng, phản ánh điều kiện tự nhiên, tập quán và cả tính cách con người nơi ấy.
Mâm ngũ quả miền Bắc. Minh họa: Ngọc Tạ.
Với miền Bắc, mâm ngũ quả mang vẻ trang nghiêm, cân đối và hài hòa. Chuối xanh gần như không thể thiếu, thường được đặt ở dưới cùng, xòe rộng như bàn tay nâng đỡ, che chở. Trên nền chuối là bưởi hoặc phật thủ, biểu tượng cho sự tròn đầy, phúc lộc. Xen kẽ là cam, quýt, táo, hồng… tạo nên sắc màu rực rỡ nhưng vẫn giữ được nét nền nã.
Người Bắc không quá câu nệ số lượng đúng năm loại, mà chú trọng ý nghĩa và sự hài hòa âm dương, màu sắc. Nhìn mâm ngũ quả miền Bắc, tôi thấy thấp thoáng tính cách của con người nơi đây: chừng mực, chỉn chu và hướng nhiều về truyền thống.
Miền Trung lại mang một câu chuyện khác. Đất đai khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên khiến trái cây không phong phú như hai miền còn lại. Bởi vậy, mâm ngũ quả miền Trung không quá đặt nặng hình thức hay tên gọi mang tính cầu chúc. Người miền Trung quan niệm “có gì dâng nấy,” quan trọng là sự thành kính.
Trên mâm có thể là thanh long, dứa, cam, chuối, dưa hấu… những loại quả sẵn có theo mùa. Bên cạnh đó, với sự giao thoa văn hóa giữa Bắc và Nam, mâm ngũ quả của người miền Trung thường vẫn được bày đủ chuối, mãng cầu, sung, dừa, đu đủ và xoài. Cách bày biện giản dị, mộc mạc, không cầu kỳ, nhưng lại toát lên sự chân chất, bền bỉ và niềm tin rằng dù cuộc sống còn nhiều gian nan, chỉ cần lòng người ngay thẳng, điều tốt đẹp rồi sẽ đến cùng năm mới.
Mâm ngũ quả miền Trung. Minh họa: Khanh Mai.
Và khi được kể về mâm ngũ quả miền Nam tôi đã luôn rất hào hứng nói về cách “chơi chữ” đầy thú vị: mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài, sung, ghép lại thành ước mong “cầu vừa đủ xài sung” cùng những câu chuyện mà bà và mẹ đã kể. Chuối thường không xuất hiện vì phát âm gần với “chúi nhủi,” không may mắn theo quan niệm dân gian. Bên cạnh đó còn có nhiều loại quả cũng không được phép xuất hiện trên mâm ngũ quả với ý nghĩa kiêng kỵ tương tự. Ví dụ như lê và táo bị tránh vì liên tưởng đến “lê lết”, “đổ bể”, báo hiệu sự thất bại. Cam, quýt cũng ít được chọn do gắn với câu “quýt làm cam chịu”, hàm ý vất vả, lam lũ.
Những loại quả có gai nhọn như mít, sầu riêng,.. bị xem là mang ý nghĩa chông gai, trắc trở hay các loại quả có vị đắng, cay, chua như khổ qua, ớt, me không đem lại năng lượng tích cực cho năm mới. Ngoài ra, những quả có mùi quá nồng thì bị cho là gây khó chịu, thiếu sự thanh tịnh nơi ban thờ. Thay vào đó là dừa, đu đủ, xoài với dáng tròn đầy, màu sắc tươi tắn. Mâm ngũ quả miền Nam nhìn vào đã thấy Tết: sung túc, vui vẻ và tràn đầy hy vọng cho năm mới no đủ, làm ăn khấm khá.
Khi nhóm bạn tôi mỗi đứa kể về mâm ngũ quả quê mình, tôi chợt nhận ra: sự khác nhau ấy không tạo nên khoảng cách, mà ngược lại, khiến câu chuyện Tết thêm phong phú. Mỗi mâm ngũ quả là một lát cắt văn hóa, là cách người Việt đối thoại với thiên nhiên và gửi gắm ước mơ cho tương lai. Đặc biệt khi tìm hiểu kỹ hơn, tôi dần hiểu rằng những điều bà và mẹ gìn giữ trong mâm ngũ quả không chỉ là kinh nghiệm truyền đời, mà còn ẩn chứa một quan niệm văn hóa lâu đời của người Việt: thuyết ngũ hành. “Ngũ quả” — năm loại trái cây không đơn thuần là con số tượng trưng, mà là cách con người gửi gắm ước mong về sự hài hòa của đất trời trong năm mới.
Theo quan niệm dân gian, mâm ngũ quả là sự hội tụ của năm yếu tố Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, thể hiện qua màu sắc, hình dáng và hương vị của từng loại quả. Trái xanh tượng trưng cho Mộc, mang ý nghĩa sinh sôi, khởi đầu; sắc vàng, nâu của quả chín gợi Thổ là sự bền vững, chở che; màu đỏ, cam đại diện cho Hỏa là ấm áp, may mắn; những quả có sắc trắng, ánh sáng nhạt gợi Kim là sự tinh khiết, đủ đầy; còn Thủy hiện diện qua độ mọng nước, tươi mới, biểu trưng cho dòng chảy hanh thông của cuộc sống. Khi năm yếu tố ấy cùng hiện diện trên bàn thờ, người xưa tin rằng gia đạo sẽ được cân bằng, năm mới sẽ thuận hòa, yên ấm.

Mâm ngũ quã đại diện cho triết lý ngũ hành.
Có lẽ vì thế mà dù mỗi miền quê có cách chọn quả và bày biện khác nhau, tinh thần chung của mâm ngũ quả vẫn không đổi. Từ nải chuối xanh miền Bắc nâng đỡ cả mâm quả, đến mâm quả mộc mạc của miền Trung hay cách chơi chữ đầy lạc quan của miền Nam, tất cả đều hướng đến sự hài hòa giữa con người và thiên nhiên. Ngũ hành trong mâm ngũ quả, suy cho cùng, không nằm ở việc đủ hay thiếu một loại quả nào, mà ở tấm lòng gửi gắm vào đó.
Theo nhịp chảy của thời gian, của sự hiện đại và tiến bộ, mâm ngũ quả cũng chẳng thể nằm ngoài quy luật vận hành ấy. Khi mà trái cây ngoại nhập xuất hiện nhiều hơn, cách bày biện trở nên sáng tạo, thậm chí có những mâm quả được tạo hình công phu, chạm khắc độc đáo. Khi đứng trước những mâm quả ấy, tôi thấy lạ mà quen: lạ vì màu sắc rực rỡ, hình dáng mới lạ, nhưng quen vì trong từng trái quả, vẫn chất chứa sự thành tâm, vẫn hiện lên sự tỉ mỉ của những người cẩn thận chọn từng quả, xếp từng vị trí. Dẫu thời gian và hoàn cảnh đổi thay, tấm lòng con cháu gửi về tổ tiên vẫn nguyên vẹn.
Và chừng nào, trong những ngày đầu năm, trên bàn thờ mỗi gia đình Việt còn mâm ngũ quả được bày lên bằng sự thành tâm, chừng đó Tết vẫn còn nguyên vẹn hồn cốt. Dáng Tết có thể đổi thay theo thời gian, nhưng mâm ngũ quả với tất cả ký ức, ý nghĩa và yêu thương vẫn lặng lẽ ở đó như một mùa xuân bất tận, không bao giờ cũ hay xa lạ.