Sài·gòn·eer

Back Đời Sống » Ai mới là 'expat': Bóc tách danh xưng đầy tranh cãi tại Việt Nam và trên thế giới

"Expat là một từ mang tính phân biệt chủng tộc." Nhiếp ảnh gia Misan Harriman đã thẳng thắn đưa ra nhận định trên trong chương trình mạng SubwayTakes. Theo lập luận này, bản thân từ expat (viết tắt của expatriate) đã ngầm mang ngụ ý phân biệt chủng tộc, bởi nó tạo ra sự bất bình đẳng giữa các nhóm người di cư. Đồng tình với quan điểm đó, tác giả Mawauna Remarque Koutonin từng viết trên chuyên trang Silicon Africa rằng người gốc Phi, Ả Rập hay châu Á khi ra nước ngoài đều bị gọi chung là dân nhập cư. Trong khi đó, người châu Âu nghiễm nhiên tận hưởng danh xưng "expat" vì họ không muốn bị xếp ngang hàng với các sắc tộc khác. Bằng cách tự đặt bản thân ở thế bề trên, nhóm tinh hoa phương Tây đã đẩy cụm từ "người nhập cư" thành danh xưng dành riêng cho những bối cảnh mà họ coi là thấp kém.

Không ít người cho rằng danh xưng “expat” chỉ dành riêng cho người da trắng gốc Âu và phương Tây; đi kèm với nó là thứ uy quyền cùng đặc quyền mà những người bị gán mác “người nhập cư” không bao giờ chạm tới được. Làn sóng phẫn nộ gần đây xoay quanh một câu lạc bộ chạy bộ của người Hà Lan tại Bali vì hành vi phân biệt đối xử với dân bản địa là minh chứng rõ nét. Bên dưới bài đăng của Al Jazeera, một người dùng Instagram đã bình luận: “Họ không phải expat. Họ là người nhập cư. Xin đừng gắn mác người nhập cư cho người da màu còn người da trắng lại được nâng tầm thành expat.” Nhìn về một bối cảnh gần gũi hơn, cây bút Fred Wissenk cũng chia sẻ góc nhìn tương tự trên Vietcetera. Dù cho rằng nên gọi chung mọi người nước ngoài là expat, ông vẫn phải thừa nhận: “Chỉ cần bạn da trắng, người ta sẽ tự động coi bạn là expat. Tôi không đồng tình với tư duy này.”

Câu lạc bộ chạy bộ tại Bali bị tố cáo phân biệt đối xử với người dân địa phương. Nguồn ảnh: The Guardian.

Song, nếu vội vã kết tội danh xưng expat là phân biệt chủng tộc thì lại quá đỗi phiến diện và làm lu mờ những tầng ý nghĩa phức tạp hơn. Trên thực tế, có vô số người không mang màu da trắng nhưng vẫn được gọi hoặc tự nhận mình là expat. Do đó, việc đinh ninh expat phải là người da trắng vô hình trung đã bóp méo lịch sử. Tư duy áp đặt này chối bỏ sự hiện diện của các nhóm cộng đồng khác, chẳng hạn như hàng ngũ người Nam Á từng được thực dân Anh đưa đến Đông Phi làm công chức cai trị. Rộng hơn nữa, chúng ta cũng cần đặt câu hỏi liệu bản thân từ ngữ có tự mang tính miệt thị hay không, bởi ý nghĩa của ngôn ngữ luôn xoay vần theo bối cảnh. Đương nhiên, expat sẽ biến thành từ phân biệt chủng tộc nếu bị sử dụng với ác ý, ví dụ như khi người ta gọi một người da trắng là expat và một người Ả Rập là dân nhập cư dù cả hai có chung xuất thân và nghề nghiệp. Thế nhưng, bản thân từ “expat” không sinh ra để đại diện cho một khuôn mẫu cố định; cách dùng, ý nghĩa cũng như phạm vi của từ hoàn toàn phụ thuộc vào bối cảnh xã hội và vị trí địa lý.

Đi tìm định nghĩa expat

Quả thực, expat luôn là một khái niệm mơ hồ, khó diễn giải, xuất phát từ khoảng cách giữa định nghĩa từ điển và đời thực, cũng như giữa người tự xưng là expat và đối tượng bị gán ghép cho danh xưng này.

Vậy rốt cuộc expat là gì? Việc nhận diện cộng đồng người ngoại quốc tại Việt Nam cần đặt trên cơ sở nào? Đâu là lằn ranh phân định giữa expat, người nhập cư và người di cư? Từ điển Cambridge quy chiếu:

  • Expatriate: “người không sống tại chính quốc gia của mình.”
  • Immigrant (người nhập cư): “người đến một quốc gia khác để định cư vĩnh viễn.”
  • Migrant (người di cư): “người đi đến một quốc gia hoặc vùng đất khác, thường là để tìm việc làm.”

Trước hết, điểm khác biệt giữa “expatriate” và “migrant” nằm ở chỗ expat là những người sống ở một quốc gia khác với quê nhà, trong khi hành trình di cư (migration) có thể diễn ra giữa các nước hoặc chỉ trong phạm vi một nước. Khái niệm “người di cư” vì thế mang hàm nghĩa rộng nhất, giải thích lý do các tài liệu học thuật luôn phân loại expat là một nhánh nhỏ của nhóm này. Thế nhưng trên thực tế, expat thường được nhìn nhận như một tầng lớp tách biệt hoàn toàn thay vì chỉ là một nhóm phụ. Minh chứng rõ nét cho định kiến này là khi một cây bút của Việt Nam News dùng từ “người di cư” rồi phải cẩn thận rào thêm một dòng chú thích trong ngoặc đơn: "Xin lỗi các ‘expat,’ từ này đang chỉ các bạn đấy.”

Mặt khác, yếu tố chính để phân định expat và người nhập cư thường xoay quanh thời gian lưu trú dự kiến. Người nhập cư mang chủ đích sinh sống lâu dài, còn expat lại không xác định trước sẽ ở lại bao lâu. Dù vậy, trong thực tế đời sống và cả trên các diễn đàn học thuật, người ta hiếm khi bám sát định nghĩa này. Đại đa số đều mặc định expat là nhóm tinh hoa giàu có, học thức cao và đến từ các nước phát triển, còn những ai không lọt vào danh sách này đều bị gộp chung thành người nhập cư. Tuy nhiên, ngay cả cách diễn giải này cũng không thực sự toàn diện. Trong cuốn sách Expatriate: Following a Migration Category, tác giả Sarah Kunz lý giải rằng những người mang danh xưng expat có xuất thân cực kỳ đa dạng trên nấc thang kinh tế xã hội. Nghề nghiệp của họ trải dài từ các nhà ngoại giao, tổng giám đốc, cho đến giáo viên dạy tiếng Anh, tình nguyện viên nhân đạo, huấn luyện viên yoga hay thậm chí là thực tập sinh không lương. Khi miêu tả những expat từng gặp trong chuyến điền dã ở Nairobi, Kunz chắp bút: “Một số tận hưởng cuộc sống xa hoa, số khác chật vật làm mới đủ ăn, trong khi một vài người lại phụ thuộc vào đồng tiền chu cấp từ gia đình ở quê nhà.”

Một giáo viên ngoại quốc tại Hà Nội. Nguồn ảnh: Tuổi Trẻ.

Rắc rối nằm ở chỗ có nhiều ngôn ngữ trên thế giới không hề có khái niệm tương đương với “expatriate.” Lấy tiếng Việt làm ví dụ, chúng ta không có một đại từ nhân xưng hoàn toàn khớp với khái niệm này. Những từ thay thế gần nghĩa nhất chỉ quẩn quanh ở "người nước ngoài" hoặc “người Tây,” dù tiếng Việt vẫn rạch ròi khái niệm "người di cư". Tiếng Hàn cũng trong hoàn cảnh tương tự, bởi nhóm expat sống tại đây thường chỉ được gọi nôm na là “oekuk-saram” tức người nước ngoài. Xét ở hệ ngôn ngữ châu Âu, dù từ “expatrié” hay “expatriée” trong tiếng Pháp mang sắc thái khá sát với tiếng Anh, từ đồng nguyên “expatriado” hoặc “expatriada” của tiếng Tây Ban Nha lại ám chỉ những người sống lưu vong hoặc bị trục xuất khỏi quê hương. Đáng nói, đây cũng chính là lớp nghĩa nguyên thủy của từ “expatriate” trong tiếng Anh giai đoạn trước thế kỷ 20.

Ngay cả trong tiếng Anh, từ expat cũng mang những sắc thái khác nhau tùy theo từng khu vực địa lý. Chẳng hạn tại Mỹ, danh xưng này rất hiếm khi được sử dụng. Có hai lý do giải thích cho hiện tượng này: thứ nhất, nước Mỹ luôn tự hào rằng mình là vùng đất của người nhập cư; thứ hai, thủ tục nhập cảnh và lưu trú lâu dài tại Mỹ khắt khe hơn rất nhiều so với đặc quyền đi lại tự do mà giới expat đang tận hưởng ở các quốc gia khác. Ở một thái cực đối lập, các quốc gia vùng Vịnh lại gọi chung mọi lao động nước ngoài là expat, từ những công nhân xây dựng bị bóc lột thậm tệ cho đến các quản lý cấp cao của tập đoàn. Chính quyền các nước này cố tình gộp chung như vậy để ngăn những người không có quốc tịch nảy sinh ý định gắn bó với nơi mình đang sống, dù lực lượng lao động này chiếm tỷ lệ đáng kể, thậm chí áp đảo trong cơ cấu dân số. Quay lại với Việt Nam, dường như lằn ranh giữa expat và người nhập cư rất hiếm khi được phân định rạch ròi. Tuy nhiên, qua những phân tích sắp tới, ta sẽ thấy danh xưng expat tại Việt Nam cũng chưa bao giờ mang một sắc thái hoàn toàn trung lập.

 Nhóm lao động nước ngoài tại Dubai. Nguồn ảnh: The New York Times.

Chính vì bản chất đa nghĩa của nó, việc vội vàng quy chụp từ “expat” là phân biệt chủng tộc đã vô tình đơn giản hóa vấn đề. Thay vào đó, một cách tiếp cận thỏa đáng hơn là nhìn nhận nó như một khái niệm “bị chủng tộc hóa” (racialized) thay vì tự thân nó mang ác ý phân biệt chủng tộc (racist). Để làm rõ khái niệm “bị chủng tộc hóa,” chúng ta cần phân biệt sự khác nhau giữa một từ sinh ra để miệt thị sắc tộc và một từ bị gán ghép các định kiến về màu da. Một ví dụ chưa thật sự hoàn mỹ nhưng đủ tính gợi mở là khái niệm “con người.” Chắc chắn “con người” là một định nghĩa đã bị chủng tộc hóa. Hãy thử nghĩ đến bức họa “Người Vitruvius” của Leonardo Da Vinci. Tác phẩm phác họa một người đàn ông da trắng nhưng lại thường xuyên được tụng xưng là chuẩn mực cổ điển hay khuôn mẫu vạn năng đại diện cho toàn nhân loại.

Chưa kể, định nghĩa về con người từng bị lợi dụng để bao biện cho những trang sử đẫm máu về bạo lực và áp bức sắc tộc. Trong dòng chảy lịch sử đó, vô số người dân thuộc địa đã và đang bị tước đoạt tư cách con người nhằm hợp thức hóa sự áp bức bạo tàn. Nhưng liệu điều đó có biến bản thân khái niệm “con người” thành một công cụ phân biệt chủng tộc? Một chủ đề mang nhiều tranh cãi nhưng đại đa số chắc chắn sẽ nói không. Từ expat cũng nên được soi chiếu dưới lăng kính tương tự: bản chất từ này không phân biệt chủng tộc nhưng lại bị gán ghép và mặc định gắn liền với đặc quyền da trắng. Không chỉ vậy, nó còn phản ánh sự phân tầng giai cấp (điều hiển nhiên) và nhuốm màu định kiến giới. Bằng chứng rõ nhất là cụm từ “vợ của expat” (expat wife), khi người phụ nữ không được công nhận là một expat độc lập.

Lược sử danh xưng expat

Định kiến sắc tộc gắn liền với danh xưng expat vốn không tự nhiên sinh ra, mà là di sản của lịch sử bành trướng đế quốc và chủ nghĩa tư bản thế kỷ 20. Xuyên suốt quá trình này, khái niệm expat đã tiến hóa qua 3 mô hình chính.

Khởi đầu là nhóm expat thực dân, tiêu biểu như giới viên chức Anh ở Ấn Độ. Dưới ngòi bút châm biếm sinh động của tác giả Anne-Meike Fetcher, họ được miêu tả là "những quý ông Anh quốc, sau thời gian dài phơi mình dưới khí hậu nhiệt đới của Nam hay Đông Nam Á, đã sinh ra thói chán đời, tha hóa và nát rượu.”

Người hầu phục vụ một vị tướng người Anh cùng các vị khách của ông tại Bangalore. Nguồn ảnh: The New Statesman.

Thế nhưng, khi phong trào chống thực dân giành thắng lợi vang dội sau Thế chiến thứ hai, từ expat bắt đầu mang một lớp nghĩa mới. Các đế quốc thực dân châu Âu sụp đổ, nhường chỗ cho một thế lực toàn cầu mới vươn mình: nước Mỹ. Bằng sức mạnh quân sự và kinh tế áp đảo, nước Mỹ ra tay kiến tạo và chi phối thế giới. Đứng ở trung tâm của đế chế này là các tập đoàn đa quốc gia. Nhờ siết chặt dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, các tập đoàn vươn vai hóa thành những thế lực quyền uy trên bàn cờ kinh tế chính trị. Họ bành trướng chóng mặt, kéo theo nhu cầu khổng lồ về một thế hệ expat hoàn toàn mới nhằm thay máu lớp tiền nhiệm thời thực dân. Những nhân sự này xách vali ra nước ngoài công tác ngắn hạn, nắm quyền lèo lái các chi nhánh quốc tế.

Tiếp nối quá trình chuyển giao từ mô hình thực dân sang doanh nghiệp, thế hệ expat thứ ba bắt đầu xuất hiện vào thập niên 1980 và 1990 cùng với sự lên ngôi của chủ nghĩa tân tự do. Nhìn chung, đặc điểm của hệ tư tưởng này là chính sách hạn chế tối đa sự can thiệp của nhà nước ở quy mô nội địa, song hành cùng làn sóng toàn cầu hóa và thương mại tự do trên trường quốc tế. Hậu quả tất yếu của cơ chế này là tình trạng bất bình đẳng ngày càng nghiêm trọng, hệ thống công suy yếu, phúc lợi bị cắt giảm, quyền lợi của người lao động không còn được bảo vệ và mỗi cá nhân ngày càng bị cô lập.

Tại Việt Nam, chủ nghĩa tân tự do nhen nhóm từ công cuộc Đổi Mới, khi đất nước chính thức mở cửa đón người nước ngoài. Đợt tái cấu trúc tập đoàn Shell vào thập niên 1990 cho thấy rõ nhất bản chất của giai đoạn này.

Tác giả Kunz chỉ ra rằng dưới sức ép của làn sóng tân tự do, các expat làm việc cho Shell bỗng nhiên nhận được nhiều “sự lựa chọn” và tính “linh hoạt” hơn, nhưng đồng thời cũng bị đẩy vào tình cảnh bấp bênh và bất bình đẳng tột độ. Cơ chế lương thưởng bắt đầu được neo theo hiệu suất cá nhân, làm trầm trọng thêm sự bất bình đẳng giữa các expat và kích động bầu không khí cạnh tranh khốc liệt thay cho tính hòa ái vốn được kỳ vọng và vun đắp bấy lâu. Nếu vào thập niên 1950, các expat của Shell vẫn tự xem mình là một phần của “đại gia đình Shell,” thì đến thập niên 1990, hình mẫu “nhân viên tận tụy vì công ty” đã bị nhào nặn lại thành những “expat toàn cầu đề cao chủ nghĩa cá nhân và bị bứt lìa khỏi mọi liên kết xã hội.” Nói cách khác, họ chính là những sản phẩm điển hình của chủ nghĩa tân tự do.

Nhà văn Mark Hudson cùng những người bạn tại Khách sạn Majestic, Sài Gòn năm 1992. Nguồn ảnh: Saigoneer.

Kiểu expat toàn cầu với phong cách sống đề cao tính cá nhân này chính là hồi chuông báo hiệu cho sự trỗi dậy của một nhóm mà giới học thuật gọi là “expat tự định hướng” (self-initiated expatriate hay SIE). Đây là tầng lớp lao động dịch chuyển toàn cầu, sang nước ngoài làm việc tự nguyện mà không theo bất kỳ sự phân công nào, thường mang trình độ chuyên môn cao. Nằm trong số đó phải kể đến giới “du mục kỹ thuật số” (digital nomad), giáo viên dạy tiếng Anh, những người có sức ảnh hưởng trong mảng du lịch hay người làm nghề tự do. Cần làm rõ rằng nhóm SIE không hề thế chỗ hoàn toàn các expat doanh nghiệp vì tầng lớp này vẫn đang tồn tại. Tuy nhiên, họ đã giành lấy vị thế để trở thành khuôn mẫu đại diện mỗi khi người ta nhắc đến từ “expat.” 

Xét trên nhiều khía cạnh, nhóm SIE vốn dĩ là sản phẩm của chủ nghĩa tân tự do vì họ đang tiếp tục nhân bản hệ tư tưởng này. Việc sùng bái lối sống xê dịch toàn cầu vô hình trung che lấp đi thực tế, rằng khả năng tự do đi lại xuyên biên giới vốn bị phân hóa vô cùng gắt gao. Đặc quyền này phụ thuộc vào sức mạnh của cuốn hộ chiếu, độ “lỏng lẻo” của các hệ thống nhập cư, và tất nhiên là cả tiềm lực tài chính. Chỉ ra điểm mù này, Kunz bình luận: “Những kẻ tự xưng là công dân toàn cầu, thậm chí còn chối đây đẩy cả danh xưng expat, luôn mồm ca tụng về một thế giới không biên giới... thực chất chẳng khác nào những nhân vật bi kịch. Họ có thể vô tư và có thiện ý, nhưng lại kiêu ngạo đến mức mù quáng khi đem những đặc quyền có sẵn từ hệ thống xã hội ra để tự hào như thể đó là thành tựu của riêng mình.”

Khu Thảo Điền là nơi tập trung cộng đồng expat ở Sài Gòn. Nguồn ảnh: Vinhomes.

Dù luôn gắn liền với tinh thần quốc tế và sự đa dạng, nhóm SIE vẫn bị đóng khung trong hình tượng người da trắng. Theo Kunz, phải nhìn qua lăng kính tân tự do mới lý giải được sự mâu thuẫn này. Cụ thể, bà cho rằng nhờ tính linh hoạt và đa nghĩa, cộng thêm việc chấp nhận những cá nhân từ các gốc gác khác làm “người trong cuộc lâm thời,” danh xưng expat đã che đậy thành công yếu tố phân biệt chủng tộc. Nó mượn lớp vỏ bọc về một chủ nghĩa quốc tế phi biên giới để tạo ảo giác công bằng, nhưng thực tế lại được vận hành theo cấu trúc bất đối xứng của những tàn dư thực dân và tân thực dân, trái ngược hoàn toàn với những gì phong trào toàn cầu hóa tân tự do hứa hẹn. Chính vì vậy, người ta vẫn thường xuyên chỉ trích việc dùng từ expat để tâng bốc người da trắng dù expat thuộc màu da khác cũng tồn tại. Từ góc độ này, tư duy bao hàm (có chọn lọc) của từ expat cũng hoạt động hệt như cách các tập đoàn tân tự do tung hô “chủ nghĩa đa văn hóa” nhằm tẩy trắng bản chất bóc lột sắc tộc tàn bạo của chủ nghĩa tư bản trên quy mô toàn cầu.

Expat tại Việt Nam

Nhìn lại tiến trình lịch sử qua ba hình mẫu thực dân, doanh nghiệp và tự định hướng, danh xưng expat trên bình diện toàn cầu vốn mang sẵn định kiến về sắc tộc. Tuy nhiên, thực tế tại Việt Nam lại hoàn toàn khác. Sự hiện diện áp đảo của cộng đồng expat Đông Á đã phá vỡ quy chuẩn expat mặc định phải là người da trắng. 

Trên thực tế, vào năm 2025, phần lớn lực lượng lao động quốc tế được thống kê chính thức tại Việt Nam (dù cần lưu ý rằng con số này không đồng nhất với tổng số người nước ngoài sinh sống và làm việc tại đây — nhóm thường được gọi là “expat”) đều đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc hoặc Nhật Bản. Một chi tiết đáng quan tâm là bài viết trên Vietceteratựa đề “Góc nhìn của Expats về việc làm tại Việt Nam” đã giới thiệu 6 cá nhân nước ngoài; trong đó, ít nhất 5 người không phải là người da trắng và họ đảm nhiệm các công việc đa dạng, từ cấp quản lý cho đến huấn luyện viên yoga hay giáo viên dạy tiếng Anh.

Lễ khánh thành nhà máy Coca-Cola tại tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội) vào tháng 8/1995. Coca-Cola là một trong những tập đoàn đa quốc gia đầu tiên của Mỹ tiến vào Việt Nam sau Đổi Mới. Ảnh: Hoàng Đình Nam, qua trang Instagram @tonkin.jpg.

Thế nhưng, điều này không đồng nghĩa với việc danh xưng expat tại Việt Nam hoàn toàn miễn nhiễm với định kiến sắc tộc. Đúng hơn là mỗi nhóm expat lại bị gán với một định kiến riêng. Hãy thử đối chiếu bài viết của Vietcetera với chuỗi bài chân dung “Expat ở Thành phố Hồ Chí Minh.” Nếu bài viết đầu tiên tập trung vào nhóm expat gốc Á, thì tuyến bài thứ hai lại chỉ đề câp đến các expat phương Tây. Không phải ngẫu nhiên mà tuyến bài về người châu Á lại xoáy sâu vào công việc, trong khi loạt bài về người phương Tây lại khai thác rộng hơn về trải nghiệm và phong cách sống. Sự phân hóa này xuất phát từ hai hình mẫu expat đặc trưng tại Việt Nam: expat “công việc” (thường gắn với người Đông Á) và expat “trải nghiệm” (thường gắn với người phương Tây).

Một nghiên cứu về cộng đồng expat Hàn Quốc tại Sài Gòn chỉ ra rằng những người được phỏng vấn thường gọi thời gian sống tại Việt Nam là “một chuyến công tác dài hạn.” Cách nghĩ này đi ngược lại hoàn toàn so với hình dung thường thấy về các expat “phương Tây.” Vì vậy, không thể nói màu da không đóng vai trò gì trong cách nhìn nhận expat tại Việt Nam. Thay vào đó, tư duy phân biệt này vận hành theo một cơ chế khác biệt và không đồng đều. Điều này bắt nguồn từ tỷ trọng khổng lồ của nguồn vốn FDI đến từ các quốc gia châu Á như Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, kéo theo thiên hướng tập trung vào kinh doanh của nhóm expat khu vực này. Cái gọi là “cộng đồng expat” ở Việt Nam thực chất không hề đồng nhất. Khi viết về giới expat Hàn Quốc, Fred Wissink, nhà sản xuất của loạt bài “Expat tại Thành phố Hồ Chí Minh,” từng nhận định: “Họ sống rất khép kín. Đó là một cộng đồng 100.000 người nhưng tất cả đều tập trung ở Quận 7... Họ có một thế giới riêng và chẳng cần bước ra ngoài vẫn làm ăn thuận lợi. Bên ngoài ranh giới cộng đồng người Hàn, Sài Gòn ước tính có thêm khoảng 50.000 expat khác.” Điển hình cho lập luận phía trên, đây cũng chính là một dạng định kiến tồn tại ngay giữa các nhóm expat với nhau, bởi hiển nhiên không phải "tất cả" expat Hàn Quốc đều gom về Quận 7 hay sống biệt lập với phần còn lại của thành phố.

Phú Mỹ Hưng, thường hay được ví von là “phố người Hàn” của Sài Gòn. Nguồn ảnh: VnExpress.

Dù được dùng phổ biến cho người nước ngoài tại Việt Nam, expat chưa bao giờ là một danh xưng trung tính. Hai trường hợp dưới đây sẽ bóc tách những định kiến đằng sau cách gọi này.

Đầu tiên, dù vốn được biết đến là quốc gia xuất khẩu lao động, Việt Nam thực chất vẫn tiếp nhận một lực lượng đáng kể lao động chân tay ngoại quốc, đặc biệt là từ Trung Quốc. Nhà nhân học Nguyễn Văn Chính từng lý giải rằng các nhà thầu Trung Quốc ở miền Bắc thường ưu tiên tuyển nhân công đồng hương để tiện giao tiếp và dễ huy động qua các tỉnh biên giới. Phần lớn lực lượng này làm việc không chính thức theo hợp đồng ngắn hạn từ 3 tháng đến 1 năm, dù không ít người đã bám trụ tới cả thập kỷ. Đối chiếu với định nghĩa từ điển, họ hoàn toàn thuộc nhóm expat. Thế nhưng trong nghiên cứu của mình, ông Chính lại nhiều lần gọi họ là “người nhập cư.” Cách lựa chọn từ ngữ này phơi bày thực tế rằng expat là danh xưng mang đậm định kiến giai cấp và sắc tộc.

Gần 90% các nhà máy nhiệt điện tại Việt Nam là do nhà thầu Trung Quốc xây dựng. Nguồn ảnh: UNDP.

Ví dụ thứ hai là một trường hợp nhập quốc tịch được báo chí Việt Nam rất chú ý: ông Kenneth Atkinson. Vị doanh nhân người Anh này chính thức trở thành công dân Việt Nam vào năm 2025 sau 3 thập kỷ sinh sống ở đây. Điều đáng nói là các bài báo trên Tuổi TrẻVnExpress không một lần dùng đến những từ như “người nhập cư” hay “di dân.” Tuổi Trẻ xếp bài viết vào chuyên mục “Đời sống Expat,” còn VnExpress gắn hàng loạt tag chứa từ “expat.” Mục đích đặt câu chuyện của Kenneth Atkinson bên cạnh nhóm lao động chân tay Trung Quốc không phải để phân định ai mới là expat hay ai là người nhập cư, mà để minh chứng rằng bản chất của ngôn từ không hề vô tư hay trung lập.

Ông Kenneth Atkinson, một công dân nhập tịch Việt Nam, tại buổi ra mắt cuốn hồi ký vào tháng 9/2025. Ảnh: VnExpress.

Suy cho cùng, các cuộc tranh luận xoay quanh câu chuyện expat và phân biệt chủng tộc thường rơi vào lối tư duy một chiều, làm lu mờ những góc nhìn đa chiều về khái niệm này. Dù vậy, ngay cả khi đã nhìn nhận vấn đề thấu đáo hơn, tôi cho rằng ta vẫn có lý do chính đáng để gạt bỏ hoàn toàn danh xưng này bởi sự mập mờ và tính gây lú lẫn của nó. Phản bác lại quan điểm này, một số ý kiến cho rằng từ “expat” vẫn có thể được giữ lại nếu dùng như một công cụ định danh những nhóm người vốn đã nắm giữ một mức độ đặc quyền nhất định. Thế nhưng, rắc rối của đề xuất này là việc cố nhận diện đặc quyền thực chất lại có thể vô tình ban phát hoặc củng cố thêm quyền lực cùng địa vị. Điều này càng dễ hiểu khi ta gần như không thể đong đếm rạch ròi “mức độ” đặc quyền của một cá nhân. Vì lẽ đó, có lẽ giải pháp tốt nhất là chúng ta nên từ bỏ hoàn toàn việc sử dụng thuật ngữ này. 

Bài viết liên quan

in Đời Sống

Chợ Bến Thành sắp 'thay áo mới' sau 37 năm không trùng tu

Sắp tới đây, ngôi chợ 110 tuổi sẽ được "thay áo mới" bằng một đợt đại trùng tu mái ngói, cửa chính và cơ sở hạ tầng nói chung.

in Di Sản

Nhiếp ảnh gia Nhật ghi lại một Việt Nam chuyển mình vào cuối thập niên 90

Từ giữa thập niên 1990, quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam bắt đầu cho thấy những chuyển biến rõ rệt.

in Âm Nhạc & Nghệ Thuật

Nhìn lại những đổi thay của hạ tầng Hà Nội qua lăng kính âm nhạc hoài niệm

Từ các “bài ca lao động” được phát bởi loa tuyên truyền, đến những nhạc phẩm ướm màu hoài niệm về một thời đã qua, những thanh âm của Hà Nội kể nên câu chuyện về một thành phố chưa bao giờ sống t...

in Đời Sống

Tản mạn về những tờ rao vặt chuyển nhà rơi rải khắp thành phố

Mỗi lần ngồi ăn uống ở lề đường hay dừng xe chờ đèn đỏ, tôi hay ngẩng lên nhìn những cột điện, cột đèn, hay những bờ tường chưa sơn chưa trét vôi, và thấy những tờ rao vặt chuyển nhà.

in Di Sản

Xổ số kiến thiết kể chuyện Hà Nội một thời 'bao cấp'

Một tờ giấy nhỏ có thể nói lên điều gì về một thời kỳ lịch sử?

in Đời Sống

Đã từng có một thông điệp tiếng Việt nhỏ bé trên hành trình nhân loại vươn đến những vì sao

Ngay giây phút này, trong lúc bạn đang đọc những dòng chữ trước mắt, một “cánh chim” bằng kim loại đang miệt mài bay đi với vận tốc 60.000km/giờ, rời xa khỏi hệ Mặt Trời để dấn thân vào không gian vô ...