Nước mắm, thứ nước màu hổ phách sóng sánh mang vị mặn mòi xen lẫn vị ngọt thanh của thịt cá, từ lâu đã là linh hồn của mọi món ăn và là biểu tượng bất biến của bản sắc Việt. Thế nhưng, thứ gia vị quốc hồn quốc túy ấy lại bắt nguồn từ một cái tên phương Tây: cá cơm Commerson. Nếu chai nước mắm trên mâm cơm nhà bạn đến từ vùng biển miền Trung, nơi khai sinh ra nghề mắm, thì loài cá được ủ muối để chắt ra dòng tinh chất ấy chính là Stolephorus commersonnii. Danh pháp này được ấn định vào năm 1801 để vinh danh Philibert Commerson, một người Pháp da trắng. Hãy thử quay ngược thời gian về những bếp nhà gian khó thời thuộc địa. Ngày ấy, niềm vui hiếm hoi sau một ngày lao dịch có khi chỉ là bữa cơm nghèo được chan chút nước mắm chắt chiu. Ấy vậy mà, thứ hương vị an ủi linh hồn người Việt lúc bấy giờ lại được làm nên từ loài cá mang tên của chính kẻ xâm lược.
Trái: Philibert Commerson. Nguồn ảnh: wikimedia.
Phải: Stolephorus commersonnii. Nguồn ảnh: Arobid.
Câu chuyện “mượn tên ông Tây” đặt cho muông thú bản địa hóa ra chẳng phải chuyện của riêng loài cá cơm. Giở cuốn danh mục động vật hoang dã Việt Nam, người ta không khỏi ngỡ ngàng trước một danh sách dài dằng dặc những cái tên phương Tây, mà kỳ lạ thay, lúc nào cũng là đực rựa. Từ voọc Delacour (voọc quần đùi trắng, Trachypithecus delacouri), thạch sùng mí Lichtenfelder (Goniurosaurus lichtenfelderi), chuột Osgood (chuột lang biang, Rattus osgoodi), cho đến dơi nếp mũi Griffin (Hipposideros griffini), tất cả đều là giống loài thuần Việt, sinh ra và thuộc về mảnh đất này, nhưng số phận lại gắn liền với những danh xưng viễn xứ.
Trái: Voọc Delacour. Nguồn ảnh: Orangepopp.
Phải: Thạch sùng mí Lichtenfelder. Nguồn ảnh: Biolib.
Danh pháp hai phần (binomial nomenclature, hay còn gọi là tên khoa học), là tiêu chuẩn đặt tên sinh vật được công nhận trên toàn cầu, bao gồm phần thứ nhất là tên “chi” và phần thứ hai là tên “loài” để phân biệt các cá thể trong cùng một chi. Khác với tên thông thường vốn thay đổi theo từng ngôn ngữ (ví dụ tiger hay cọp đều là tên gọi chung của Panthera tigris), tên khoa học cung cấp một phương tiện chính xác, tương đối đơn giản để giới học thuật ở các khu vực và chuyên ngành khác nhau cùng trao đổi về các loài sinh vật. Điều này đặc biệt quan trọng đối với các loài động thực vật có dược tính hoặc chứa độc tố. Hệ thống này được nhà thực vật học người Thụy Điển Carl Linnaeus phát triển vào thế kỷ 17 trong những nỗ lực bất thành nhằm định danh mọi sinh vật sống trên Trái Đất, và hiện được quản lý bởi các bộ quy tắc thống nhất quốc tế, bao gồm Bộ luật Danh pháp Động vật học Quốc tế (ICZN).
Danh pháp hai phần, cùng những quy ước xoay quanh chúng, thực chất cũng lộn xộn y như cách làm việc của các nhà khoa học thời chưa có điện, động cơ chạy bằng khí đốt, tủ lạnh, máy đánh chữ hay điện thoại. Thông thường, phần thứ hai của tên gọi sẽ mô tả đặc điểm ngoại hình, địa bàn sinh sống hoặc tập tính để dễ bề nhận dạng. Dẫu vậy, không ít danh xưng ra đời chỉ thuần túy để bày tỏ lòng kính trọng đối với một cá nhân. Dù luật bất thành văn của giới học thuật là không tự lấy tên mình đặt cho khám phá mới, người ta vẫn mượn tên loài như một món quà tinh tế gửi đến thầy cô, bạn bè hay người thương. Thậm chí, có ông còn dùng nó để lấy lòng người đẹp hoặc dọn đường thăng tiến cho bản thân.
Trái: Ruồi trâu Beyonce. Nguồn ảnh: NBC News.
Phải: Chân đều Darth Vader. Nguồn ảnh: Pensoft.
Không chỉ quanh quẩn với tên các học giả, thế giới danh pháp đôi khi cũng rất “chịu chơi” khi mượn cả văn hóa đại chúng hay lối chơi chữ tếu táo. Thế nên ta mới có loài bọ biển chân đều Darth Vader (Bathynomus vaderi); một chi động vật giáp xác có tên gọi rất hầm hố là Godzillius; loài cá đầm lầy mang tên nhân vật trong Chúa tể những chiếc nhẫn (Galaxias gollumoide), hay thậm chí một con ruồi trâu có cái mông vàng óng được đặt theo tên nữ ca sĩ Beyoncé (Scaptia beyonceae). Thế giới tự nhiên mênh mông vô tận, từ hóa thạch triệu năm cho đến những vi sinh vật mắt thường không thấy được. Vậy nên, việc huyền thoại bóng đá Diego Maradona có một chú chuồn chuồn kim (Librelula maradoniana), hay Lady Gaga sở hữu một loài ong bắp cày (Aleiodes gaga) mang tên mình, hóa ra lại là chuyện thường ngày ở huyện.
Sanqiaspis vietnamensis, một loài cá không hàm cổ đại sống cách đây hơn 400 triệu năm, được mô tả chính thức vào năm 2009. Tranh minh họa bởi người dùng Deviantart avancna.
Trở lại với câu chuyện nước nhà. Do quy chuẩn đặt tên vốn xuất phát từ phương Tây, cộng thêm vấn đề bất bình đẳng toàn cầu và cả những định kiến chủng tộc thâm căn cố đế, hai tiếng “Việt Nam” xuất hiện khá thưa thớt trên bản đồ danh pháp quốc tế, bất chấp kho tàng thiên nhiên vô giá của chúng ta. Họa hoằn lắm người ta mới thấy những cái tên mang gốc tích từ thời thuộc địa như annamensis, tonkinensis hay cochinchinensis. Gần đây, xu hướng này đã cởi mở hơn với loài ếch cây Hoàng Liên (Rhacophorus hoanglienensis), loài thạch sùng núi Bà Đen (Gekko badenii), loài cá cổ đại không hàm (Sanqiaspis vietnamensis), hay loài sao la, báu vật của đại ngàn Trường Sơn (Pseudoryx nghetinhensis).
Thông thường, giới nghiên cứu chuộng lấy địa danh làm tên hơn là lấy tên người. Dù vậy, lịch sử ngành sinh học vẫn ghi nhận đóng góp của các học giả nước nhà qua loài rắn được đặt theo tên Tiến sĩ Ngô Văn Bình (Dendrelaphis binhi) hay Tiến sĩ Nguyễn Văn Sáng (Coluberoelaps nguyenvansangi). Những anh hùng dân tộc cũng bước vào thế giới tự nhiên một cách đầy kiêu hãnh: loài bướm đêm mang tên Lê Lợi (Marcopoloia leloi), bọ cánh cứng mang tên Lê Đức Thọ (Cyphochilus leducthoi), hay loài kiến vinh danh cụ Phan Đình Phùng (Xymmer phungi). Riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh được đặt tên cho cả một loài nhện (Pholcus hochiminhi) lẫn một loài bọ cánh cứng (Oedichirus hochimini).
Thường được gọi là rắn leo cây Bình nhằm vinh danh Tiến sĩ Ngô Văn Bình, Dendrelaphis binhi là một sinh vật vô cùng thú vị. Nguồn ảnh: iNaturalist.
Nhưng lẽ nào danh pháp khoa học chỉ dừng lại ở đó? Giới chuyên môn cho rằng tiềm năng của chúng còn lớn hơn nhiều. Một nghiên cứu gần đây của Hiệp hội Hoàng gia London đã chỉ ra: “Nhờ những quy định danh pháp lỏng lẻo đến không ngờ, việc đặt tên lại hóa thành một trong những mảnh đất sáng tạo tự do nhất của khoa học. Khi các nhà nghiên cứu được cởi trói tư duy, thành quả để lại luôn mang đến sự kinh ngạc: vô số tên gọi khoa học ra đời từ đủ mọi thứ tiếng với gốc tích từ nguyên phong phú lạ kỳ. Bản thân mỗi cái tên — cũng giống như người tạo ra chúng — có thể tuyệt đẹp, gây khó chịu, hài hước, sâu cay, đầy khiêu khích hay thậm chí là trêu ngươi người đọc. Chúng lật mở những vấn đề gai góc về công bằng xã hội trong lịch sử lẫn thực tiễn làm khoa học. Và suy cho cùng, một danh xưng độc đáo chính là cách trực tiếp nhất để hướng sự chú ý của giới học thuật về một đề tài nghiên cứu." Nếu một cái tên có thể đánh thức lòng hiếu kỳ với thiên nhiên, khơi gợi niềm tự hào lịch sử hay di sản quê hương, thì chẳng có lý do gì chúng ta lại từ chối một lối tiếp cận đầy ngẫu hứng như vậy.
Nhìn vào vài tên gọi mới xuất hiện gần đây, tôi tin rằng chúng ta đang đi đúng hướng. Lấy ví dụ như loài chuột voi Tây Nguyên mang tên Hylomys macarong vì cặp răng cửa dài như nanh ma cà rồng. Việc đưa ngôn ngữ bản địa vào khoa học chính là một cách “giải thực dân” tinh tế, giúp thế hệ trẻ tự tin nhìn thấy chỗ đứng của mình trong thế giới học thuật toàn cầu. Hay như chú chim nhỏ nhắn Actinodura sodangorum (Khướu vằn đầu đen) được đặt theo tên của đồng bào Xơ Đăng, những người con của đại ngàn nơi chú cư ngụ, một sự tôn vinh tuyệt vời cho bức tranh đa sắc tộc Việt Nam.
Trái: Loài động vật được mệnh danh là chuột voi ma cà rồng. Nguồn ảnh: Discover Wildlife.
Phải: Actinodura sodangorum, hay khướu vằn đầu đen. Nguồn ảnh: Wikimedia.
Nhưng cái sự hóm hỉnh, vui tươi như con trẻ, thứ gia vị cứu rỗi những bộ óc khô khan của giới học thuật, rốt cuộc đang trốn nơi nào? Xin thưa, nó nằm ngay đây: Banhxeochelys trani. Cái tên nghe đậm vị quê hương này thuộc về một chi rùa cổ đại đã tuyệt chủng từ 34 đến 39 triệu năm trước. Chuyện kể rằng, khi đào được những mảnh mai rùa mỏng dẹt, đầy vết nứt nẻ tại mỏ than Na Dương (Lạng Sơn), các nhà khoa học Việt Nam liền ồ lên vì trông chúng chẳng khác nào chiếc bánh xèo. Thế là một chi rùa mới toanh ra đời với danh xưng Banhxeochelys (trong tiếng Hy Lạp, “chelys” nghĩa là rùa). Loài duy nhất trong chi này được mang tên trani để tri ân ông Đặng Ngọc Trần, nguyên Cục trưởng Cục Địa chất và Khoáng sản, người đã đặt những viên gạch nền móng cho ngành nghiên cứu địa chất nước nhà.
Mai của Banhxeochelys trani được mô tả trong bài báo khoa học năm 2019. Nguồn ảnh: Wikimedia.
Hình ảnh phác họa loài rùa Banhxeochelys trani cổ đại. Minh họa bởi Alain Beneteau qua Facebook.
Một sinh vật tiền sử mang tên một món ăn quốc hồn quốc túy; liệu danh xưng ngẫu hứng ấy có thể khiến thế giới lưu tâm hơn đến hệ sinh thái vốn giàu có nhưng cũng dễ tổn thương của Việt Nam? Liệu nó có tiếp thêm lòng tự tin cho những bộ óc trẻ tuổi nước nhà dám dấn thân vào dòng chảy khoa học quốc tế? Hay bét nhất, có khiến bạn bật cười và muốn tạt ngay vào một quán ven đường để gọi một đĩa bánh xèo giòn rụm? Nếu câu trả lời là có, hãy cùng tôi chờ đợi thêm những cái tên “thuần Việt” và phá cách như thế trong tương lai. Giữa mảnh đất dồi dào nơi hàng trăm giống loài mới vẫn được phát hiện mỗi năm, cơ hội của chúng ta vẫn còn rộng mở vô cùng.