Sài·gòn·eer

Back Đời Sống » Kiến Trúc » Gạch hoa gió trong dòng chảy kiến trúc miền Bắc Việt Nam

Gạch hoa gió trong dòng chảy kiến trúc miền Bắc Việt Nam

Từ kinh nghiệm ứng phó với thời tiết khắc nghiệt của người Việt xưa đến làn sóng “nhiệt đới hóa” kiến trúc Xô Viết thời kỳ tái thiết, những ô gạch hoa gió mỏng mảnh chính là điểm giao thoa tài tình giữa triết lý sống thuận tự nhiên xưa cũ với dòng chảy kiến trúc hiện đại — nơi gió, ánh sáng và thời gian cùng hòa vào làm một.

Ngôn ngữ của gió và ký ức kiến trúc Việt

Nếu ai đó dừng chân thật lâu trước những mảng tường của những ngôi nhà, ngắm nhìn những ô gạch đục rỗng với muôn hình vạn trạng hoa văn chạy dọc theo hành lang các khu tập thể hay trên những bức tường nhà dân… nhiều người sẽ nhận ra một ngôn ngữ chung của các ngôi nhà Việt Nam: ngôn ngữ của gió, của ánh sáng và của sự thích nghi khí hậu.

Những ô gạch ấy, người đời quen gọi bằng cái tên rất đỗi thân thương và đầy thi vị là gạch hoa gió, hay gạch bông gió. Dù có tên gọi là gì, nó vẫn chính là loại gạch kết nối triết lý sống thuận tự nhiên của người Việt xưa với hơi thở nhiệt đới hóa của kiến trúc hiện đại.

Bóng đổ của ánh sáng xuyên qua bức tường gạch hoa gió. Ảnh/Thiết kế: Chí Trung.

Ngược dòng thời gian về vùng đồng bằng Bắc Bộ thời kỳ tiền đại công nghiệp, kinh nghiệm thích nghi với khí hậu khắc nghiệt, nhất là từ cái nắng hè oi nồng của gió phơn Lào, cái lạnh mùa đông gió bấc cho đến những ngày nồm ẩm kéo dài, đã sớm trở thành một phần bản sắc trong đời sống cư dân. Thay vì đối đầu với thiên nhiên, người Việt xưa từ thế kỷ XI-XIX đã vận dụng tri thức dân gian và thuật phong thủy (với cốt lõi là điều tiết dòng chảy của gió và nước) để xây dựng không gian sống hòa hợp. Như PGS. TS Chu Quang Trứ trong cuốn “Kiến Trúc Dân Gian Truyền Thống Việt Nam” đã tổng kết, các công trình nhà ở truyền thống luôn ưu tiên mở hướng Nam hoặc Đông Nam để đón gió mát, đồng thời chắn kín hướng Bắc nhằm hạn chế không khí lạnh.

Khép lại thời kỳ phong kiến với những nếp nhà tre gỗ dân dã cùng hệ thống đình, đền, chùa mang đậm đời sống tâm linh, cảnh quan kiến trúc miền Bắc bước vào giai đoạn biến đổi sâu sắc trước những biến động lịch sử lớn của thế kỷ XIX và XX.

Một nhà dân có tuổi đời hơn 100 năm, từng trùng tu vào năm 1987. Ảnh: Chí Trung.

Từ kinh nghiệm dân gian đến sự giao thoa Đông Tây

Khi người Pháp chính thức nổ súng xâm lược, họ mang theo tư duy không gian phương Tây, một triết lý thiết kế xuất phát từ vùng khí hậu ôn đới, coi trọng tính công năng, hình khối hình học chuẩn mực và xu hướng đóng khép không gian để giữ nhiệt. Ở thời kỳ đầu, tư duy này thể hiện rõ qua sự xuất hiện áp đặt của các công trình Tân cổ điển hoành tráng hay những ngôi biệt thự mang phong cách địa phương Pháp. Nhằm khỏa lấp nỗi hoài niệm quê hương của các kiều dân, người Pháp đã bê nguyên xi bản sao kiến trúc từ các vùng núi hay ven biển chính quốc sang Hà Nội.

Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình nhà xứ lạnh mau chóng bộc lộ hạn chế trước thực tế khí hậu nhiệt đới gió mùa. Những mảng tường dày đóng kín khiến không khí bên trong trở nên ngột ngạt, tích nhiệt oi nồng vào mùa hè và đọng ẩm bí bách trong những ngày nồm. Chính sự chênh lệch này đã buộc các kiến trúc sư Pháp phải điều chỉnh, tìm giải pháp thích ứng với điều kiện bản địa.

Cũng trong bối cảnh này, những ô gạch hoa gió (hay gạch bông gió/thông gió) theo chân người Pháp vào Việt Nam, công nghệ đúc gạch xi măng và gạch thông gió nhanh chóng được đưa vào xây dựng tại các biệt thự, công sở và nhà phố. Hệ thống hành lang sâu, vòm cửa thông gió và đặc biệt là gạch hoa gió bắt đầu được đưa vào thiết kế như những mắt xích thoát nhiệt tự nhiên, cho phép dòng không khí liên tục luân chuyển mà vẫn chắn được nắng gắt. Sự va chạm và dung hòa đó đã đặt nền móng cho sự ra đời của Phong cách Đông Dương từ thập niên 1920, nơi kỹ thuật xây dựng phương Tây hòa quyện cùng giải pháp che nắng, đón gió truyền thống của phương Đông.

Ô cửa gạch hoa gió quen thuộc với nhiều người dân Việt Nam. Ảnh: Chí Trung).

Sau mốc lịch sử ký kết hiệp định Geneva năm 1954, kết thúc chiến tranh Đông Dương chấm dứt chế độ thực dân Pháp tại Việt Nam, miền Bắc bắt đầu công cuộc tái thiết xã hội chủ nghĩa, và một diện mạo kiến trúc mới đã ra đời, trưởng thành từ trong gian khó và tro tàn chiến tranh. Sự tàn phá khốc liệt của những trận mưa bom bão đạn của cái gọi là “Chiến tranh hủy diệt” từ năm 1965 đến 1973 đã biến nhiều đô thị như Hà Nội, Hải Phòng, Vinh trở thành những tọa độ bị tàn phá nặng nề. Trong bối cảnh ấy, nguồn viện trợ từ các nước anh em Xã hội Chủ nghĩa như Liên Xô, Đông Đức, Triều Tiên… đã góp phần thắp lên hy vọng về một cuộc sống mới. Những thành phố hoang tàn nhanh chóng phục hồi với mong ước của người dân về một hạ tầng hiện đại, có điện, nước máy và không gian sống văn minh cho tất cả mọi người bắt đầu được hiện thực hóa.

Chính trong không gian lịch sử đặc biệt này, mô hình “tiểu khu nhà ở” hay các “Khu Tập Thể” (KTT) học hỏi từ lý thuyết “microrayon” và kiểu nhà “khrushchevka” của Liên Xô đã mọc lên khắp nơi. Các khu tập thể được xây dựng bởi các đất nước trong khối Xã hội Chủ nghĩa như Kim Liên, Nguyễn Công Trứ cho đến Giảng Võ, Thành Công. Đó là hình ảnh của những khối nhà bê tông lắp ghép hay xây gạch 4-5 tầng sơn màu vàng mù tạt trầm mặc, nằm thẳng tắp và ngay ngắn giữa những khoảng cây xanh tươi mát.

Khu tập thể Giảng Võ được chụp năm 1988. Ảnh: William E Crawford/VnExpress.

Trong cuốn “Kiến trúc của các nước Xã hội Chủ nghĩa ở nước ngoài” do tập thể các tác giả người Liên Xô viết và xuất bản giai đoạn 1966-1977, các khu tập thể ở Việt Nam điển hình với: “Trung tâm của các khu phố nhỏ và khu dân cư được thiết kế có tính đến khí hậu, theo nguyên tắc “trung tâm kiểu công viên,” sao cho các khu phức hợp công trình dịch vụ được bao quanh bởi cây xanh.”

Dù mang tư duy quy hoạch Liên Xô hướng đến tinh thần cộng đồng, xóa bỏ chủ nghĩa cá nhân với những hành lang dài dùng chung, nhà vệ sinh hay bếp chung đầy kỷ niệm, tác giả Đặng Hoàng Vũ đã chỉ ra “ảnh hưởng của kiến trúc Xô Viết đối với kiến trúc nhà ở và công cộng tại Hà Nội giai đoạn 1954-1986,” là việc các kiến trúc sư Việt Nam đã khéo léo điều chỉnh phương châm thiết kế từ “Bền vững-Thích dụng-Mỹ quan-Kinh tế” của người Nga, sang “Bền vững-Thích dụng-Tiết kiệm-Đẹp trong điều kiện có thể” để phù hợp với thực tế đất nước lúc bấy giờ.

Và điều kỳ diệu nhất là, những khối bê tông khô cứng mang hơi thở Xô Viết ấy khi đặt vào dải đất miền Bắc Việt Nam đã được “nhiệt đới hóa” một cách đầy hợp lý và sáng tạo, mà sự hiện diện của những tường gạch hoa gió chính là minh chứng sống động nhất.

“Trung tâm công viên” Làng Chuyên gia Liên Xô Thủy điện Hòa Bình. Biên tập: Chí Trung.

Kế thừa bài học đắt giá từ quá trình thích ứng khí hậu của người Pháp như đã nói ở trên, thế hệ kiến trúc sư Việt Nam đầu tiên, những người trưởng thành từ Trường Mỹ thuật Đông Dương hay trở về từ Pháp, cả những lớp KTS du học Liên Xô về nước và những KTS nước ngoài (chủ yếu thuộc khối XHCN) làm việc tại Việt Nam, đã rút kinh nghiệm từ sai lầm sao chép nguyên bản những khối hộp hay mô hình nhà ở xứ lạnh.

Họ thừa hiểu rằng các khối nhà bê tông khrushchevka tiêu chuẩn Liên Xô sẽ nhanh chóng biến thành những “lò hấp” ngột ngạt nếu bê nguyên vẹn vào cái nắng gắt oi nồng và những mùa mưa bão miền Bắc. Đồng hành cùng các chuyên gia Liên Xô, Đông Đức, Triều Tiên sang viện trợ, họ đã chủ động cải biên bản vẽ, mang tri thức hiện đại nhiệt đới hòa lẫn vào triết lý sống nương tựa thiên nhiên của người Việt.

Trong bối cảnh nguồn lực tài chính quốc gia kiệt quệ, thiếu thốn vật tư sau chiến tranh và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ kiểu xây dựng lắp ghép của Liên Xô cùng các nước Đông Âu, ngành xây dựng thời kỳ này đã chuyển dịch mạnh mẽ từ lối làm thủ công sang mô hình công nghiệp hóa mang tính rập khuôn cao. Việc sản xuất hàng loạt dần trở thành một đặc trưng lớn của các công trình Xã hội Chủ nghĩa tại Việt Nam thời kỳ này.

Các chi tiết kiến trúc như các dãy hành lang, ban công hay những viên gạch hoa gió đều tuân theo một vài khuôn mẫu hình dáng cố định, khiến hàng loạt tòa nhà tập thể ra đời có vẻ ngoài đồng điệu, y hệt nhau; đồng thời sự dập khuôn liên tục còn đảm bảo tiến độ xây dựng thần tốc cho hàng loạt dự án dãy nhà tập thể.

Các dãy nhà tại làng Chuyên gia Liên Xô Thủy điện Hòa Bình được xây dựng từ cuối những năm 1970 đến cuối những năm 1980. Ảnh: Chí Trung.

Khi phương châm thiết kế được chuyển đổi linh hoạt thành “Bền vững-Thích dụng-Tiết kiệm-Đẹp trong điều kiện có thể,” những viên gạch hoa gió đúc sẵn theo khuôn mẫu cố định đã xuất hiện như một giải pháp “cứu rỗi.” Nhờ kết cấu rỗng ruột tốn ít nguyên liệu hơn gạch đặc và giảm tải trọng công trình, nó vừa giảm chi phí xây dựng, vừa giải quyết bài toán lấy sáng, giúp những dãy hành lang hun hút thoát khỏi sự ngột ngạt, ẩm mốc, giải tỏa bức xạ nhiệt, và thả vào không gian sống những vũ điệu bóng nắng lung linh dệt trên sàn nhà, bức tường.

Khu tập thể Tôn Thất Tùng (xây dựng trong giai đoạn 1960-1980) mang phong cách nhà lắp ghép với hệ thống tường gạch hoa gió nổi bật (Ảnh: Cư Xá).

Chính sự kết hợp giữa tư duy kết cấu bê tông hiện đại, quy trình đúc khuôn công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và triết lý đón gió bản địa đã đưa gạch hoa gió đi sâu vào đời sống cư dân như một phần cơ thể của các khu tập thể.

Tên gọi và tư duy không gian

Theo nhà nghiên cứu Alexandra van der Essen, trên bản đồ kiến trúc thế giới, khi nhắc đến kiến trúc hiện đại nhiệt đới, người ta thường nghĩ ngay đến những kiệt tác lừng lẫy tại Brazil, Ấn Độ hay Ghana gắn liền với những tên tuổi vĩ đại như Le Corbusier hay Oscar Niemeyer. Rất ít ai biết rằng, tại Việt Nam, một dòng chảy kiến trúc hiện đại vô cùng phong phú và độc đáo đã tự mình đơm hoa kết trái.

Alexandra van der Essen cũng chỉ ra rằng, khác với nhiều quốc gia châu Á, tại Việt Nam, giai đoạn giữa thế kỷ XX không có sự can thiệp trực tiếp của các kiến trúc sư lừng danh thế giới; thay vào đó, các kiến trúc sư Việt Nam, những người được đào tạo từ Trường Mỹ thuật Đông Dương hoặc trở về sau khi du học từ Pháp, đã tự tay nhào nặn nên một trường phái hiện đại của riêng mình. Họ không sao chép nguyên bản những khối hộp kính ngột ngạt của phương Tây mà tìm cách vừa “chắn nắng” vừa “hút lấy làn gió.”

Dưới bàn tay tạo hình của người thợ xây Việt Nam, những khái niệm kiến trúc hiện đại du nhập từ phương Tây đã biến chuyển thành một ngôn ngữ bản địa hóa đầy linh hoạt và giàu bản sắc dân tộc. Theo Giáo sư, Kiến trúc sư Andrew Cruse, trong các tài liệu lịch sử kiến trúc viết về Việt Nam bằng tiếng Anh, người ta thường dùng những thuật ngữ như “brise-soleil,” “shade blocks,” “pattern blocks,” “claustra” hay “breeze blocks” để gọi các bức tường hoa gió. Tuy nhiên, các cách gọi này thường chỉ nhấn mạnh vào công năng chắn nắng của chủ nghĩa hiện đại nhiệt đới. Thậm chí, từ “claustra” trong tiếng Pháp cổ vốn chỉ mang nghĩa là “mảng tường đục rỗng nhẹ,” còn chữ “breeze” trong breeze blocks thực chất lại dùng để chỉ loại xỉ than mịn thu được từ quá trình đốt than cốc, một thành phần cốt liệu nhẹ dùng để đúc gạch, chứ không hẳn xuất phát từ yếu tố làn gió.

Nhà phố Hà Nội những năm 1980-1990 với dấu ấn gạch hoa gió . Ảnh: William E Crawford qua VnExpress.

Sự khác biệt trong tên gọi đã phản ánh trọn vẹn sự khác biệt sâu sắc trong tư duy không gian. Nếu các thuật ngữ phương Tây thiên về vai trò chắn nắng, ngăn bức xạ nhiệt, thì các danh từ ghép trong tiếng Việt như gạch thông gió, gạch hoa thông gió, gạch hoa gió, hay gạch bông gió lại đặt sự lưu thông của không khí, luồng gió và tính thẩm mỹ làm trung tâm.

Andrew Cruse cũng chỉ ra yếu tố “hoa” có thể bắt nguồn từ khái niệm “hoa cửa” (花窗) truyền thống với những ô gốm tráng men đục rỗng mang họa tiết trang trí, vốn thường do thợ thủ công người Hoa sản xuất để điểm xuyết trên những bức tường gạch đặc. Tại Việt Nam, hệ thống mảng tường thông gió tồn tại dưới vô vàn kích thước, hình dáng và chất liệu: từ những vật liệu tự nhiên dễ phân hủy như gỗ, tre, lá cọ trong kiến trúc dân gian, đến các loại gạch đất nung, gốm tráng men, bê tông đúc sẵn và đá rửa (terrazzo). Người thợ có thể linh hoạt xếp những viên gạch nung nguyên khối theo kỹ thuật mạch hở, hoặc với các công trình có ngân sách lớn hơn, họ sẽ đúc bê tông hay đá rửa thành những khối hoa văn tùy chỉnh có kích thước vượt xa tiêu chuẩn thông thường.

Ô cửa tại Tiền Tế Đình làng Bạch Liên được thay thế bằng gạch hoa gió trong lần trùng tu năm 1987. Ảnh: Chí Trung.

Những viên gạch hoa gió mỏng mảnh, rỗng ruột mang trong mình một năng lượng kỳ diệu. Độ rỗng cao cùng cấu trúc thông thoáng giúp nó không bị tích nhiệt như tường gạch đặc, hỗ trợ không khí và ánh sáng đi xuyên qua một cách dễ dàng. Tác giả Hiếu Y trong “Brise soleil” đã chỉ ra ánh sáng chiếu vào mặt tiền, hệ thống gạch hoa gió tạo nên một bức tường hai lớp (double-skin), vừa nuốt trọn nhiệt độ bức xạ, vừa thả vào không gian bên trong nhà một vũ điệu của ánh sáng và bóng đổ.

Hay là cách nhà nghiên cứu Alexandra van der Essen nhận định về sự đa dạng của hình ảnh trên gạch hoa gió, từ hình chữ nhật, hình thoi, hình hoa mai hay những họa tiết cách điệu từ mạch nguồn Phật giáo, Nho giáo và văn hóa dân gian Việt Nam.

Mỗi khi bóng nắng chầm chậm xuyên qua những mắt lưới gạch, sẽ biến bức tường bê tông hay gạch đá vô cảm thành một bức tranh điêu khắc ánh sáng biến chuyển nhịp nhàng theo từng giờ trong ngày.

Gạch hoa gió tạo ra bức tranh biến chuyển theo ánh sáng thời gian thực. Ảnh/Thiết kế: Chí Trung.

Tuy nhiên, như đã nói ở trên, giá trị lớn nhất của gạch hoa gió Việt Nam không dừng lại ở câu chuyện chắn nắng hay trang trí giống như cách người nước ngoài đặt tên cho loại gạch, mà nằm ở khả năng điều tiết vi khí hậu và thông gió tự nhiên, một yếu tố mà nhiều nhà nghiên cứu quốc tế trong thế kỷ trước, khi nhìn vào kiến trúc nhiệt đới thường bỏ sót.

Mùa mưa bão ở miền Bắc có những thời điểm lượng mưa trút xuống lên tới hàng trăm milimét mỗi giờ, đi kèm với những cơn gió quật liên hồi. Việc dựng một bức tường hoa gió ngay trước hiên nhà, khoảng đệm lô gia hay hành lang đã tạo ra một khoảng không gian thở tài tình, nó cản bớt đà tạt của hạt mưa, nhưng vẫn cho phép luồng không khí ẩm tươi mới luồn qua các khe hở, lưu thông liên tục vào tận sâu bên trong căn nhà. 

Bài viết liên quan

in Kiến Trúc

Khám phá những 'phương ngữ' độc đáo của kiến ​​trúc hiện đại Việt Nam

“Kiểu nhà này là chú tôi tự nghĩ ra. Giờ làm gì còn bản vẽ, hồi đó cứ làm tới đâu tính tới đó thôi,” người chủ một homestay mang phong cách hiện đại (modernist) ở Ninh Thuận kể với tôi. Chẳng cần đến ...

in Kiến Trúc

Kiến trúc hiện đại Việt Nam là điểm tựa hoài niệm giữa thời kỳ tái thiết đô thị

Đã hai năm nay, hầu như ngày nào tôi cũng vào xem nhóm Facebook Kiến trúc Hiện đại Việt Nam, nơi các thành viên thường xuyên chụp lại, chia sẻ hình ảnh những công trình kiến trúc hiện đại giữa thế kỷ ...

in Kiến Trúc

Kiến trúc hiện đại Việt Nam: Tấm gương phản chiếu ngôn ngữ đời sống của người Việt

Lịch sử kiến trúc hiếm khi ghi nhận một phong trào nào mang tính bứt phá như chủ nghĩa kiến trúc hiện đại Việt Nam (Vietnamese modernism). Không chỉ phản ánh quá trình chuyển mình và tự định hình bản ...

in Ao Ta

Bản sắc văn hóa rực rỡ của người Hoa qua các công trình kiến trúc Chợ Lớn

Chợ Lớn bắt đầu hình thành khi người Hoa đến định cư và lập nghiệp dọc bờ sông Sài Gòn hơn 200 năm trước. Từ đó, khu vực này đã dần phát triển thành một trong những khu phố phồn thịnh nhất Sài Gòn.&nb...

in Di Sản

Hồ Con Rùa, minh chứng sống động của lịch sử đa tầng Sài Gòn

Khu vực Công trường Quốc tế-Hồ Con Rùa đã trải qua nhiều thay đổi về thiết kế và công năng xuyên suốt dòng lịch sử của vùng đất Sài Gòn. Từ một cổng thành của công trình phòng thủ quân sự thời Ng...

in Kiến Trúc

Nhìn lại Sài Gòn những năm 2009–2012 qua quá trình hình thành tòa nhà Bitexco

Sài Gòn thay đổi nhanh đến mức đường chân trời dường như biến chuyển sau mỗi đêm thức dậy. Khi những cao ốc tại Thủ Thiêm còn chưa kịp quen mắt, ta đã thấy Thanh Đa rục rịch chuyển mình, rồi những khu...