Bữa cơm đầu tiên của tôi tại Sa Pa đến như một cái duyên. Sau vài giờ gà gật trên xe giường nằm và một quãng ngắn di chuyển từ trung tâm thị xã vào bản, tôi cùng hai người bạn cùng đam mê sắc chàm đã đặt chân đến một ngọn đồi nhỏ ở bản Cát Cát. Giữa khoảng sân tĩnh lặng bao quanh bởi vài nếp nhà mộc mạc, những chum thuốc chàm nằm lặng lẽ bên cạnh dãy vải đang phơi mình trên sào tre trong không khí buổi sớm.
Khung cảnh xanh mướt của bản Cát Cát.
Vừa đến nơi, chúng tôi đã thấy em Mì đứng giữa sân. Em dẫn cả nhóm vào nhà bà nội, bà đang nhóm bếp còn em thì mải mê tẻ ngô. Mỗi người chúng tôi kéo một chiếc ghế đẩu và ngồi quây quần bên bếp lửa. Dù mới đến và chẳng giúp được gì nhiều, chúng tôi vẫn được bà và bé trao tận tay bát đũa. Măng xào, thịt kho và những bát cơm đầy ắp, mọi thứ đơn sơ nhưng đủ đầy và ấm cúng vô cùng. Bữa cơm ấy như “lời chào sân” cho những ngày sắp tới: làm việc thong thả, tay chân vận động vừa đủ, và quan trọng nhất là bụng dạ luôn được vỗ về bằng những món ngon chu đáo.
Kỹ nghệ nhuộm chàm bằng sáp ong của người H'Mông.
Sau bữa sáng, chúng tôi gặp gỡ những học viên còn lại cùng vợ chồng Nhái và Nủ, nnhững người trực tiếp đứng lớp khóa học nhuộm chàm mà chúng tôi đã lặn lội tìm đến. Khóa học kéo dài bốn ngày, bao quát các giai đoạn chính từ thu hoạch cây, ủ men theo phương pháp yếm khí truyền thống của người H’Mông địa phương, làm cao chàm cho đến thực hành các kỹ thuật nhuộm.
Tôi quyết định tham gia sau khi tình cờ thấy những hình ảnh về các lớp học trước đó trên mạng. Trong ảnh, mọi người ngồi quây quần bên chậu than đỏ rực để nung chảy sáp ong vẽ hoa văn, lúc khác lại thấy cả nhóm trong rừng sâu nghe Nủ giảng giải, hay rạng rỡ cầm trên tay thành phẩm trong tấm hình tốt nghiệp. Trên nền xanh đại ngàn và những nếp nhà gỗ mộc mạc, chương trình di trú Nhặt Lá, Đá Ống Bơ hiện lên thật khiêm nhường nhưng lại có sức hút kỳ lạ bởi sự gần gũi và chân thành.
Nhái (góc dưới bên phải) giới thiệu với học viên về đặc tính các loại vải.
Khi được hỏi vì sao không mở những lớp ngắn hạn kiểu workshop, Nhái chia sẻ rằng cô muốn học viên thực sự cảm nhận được sức sống của chàm. Những chum nhuộm ở đây cần sự chăm sóc rất cầu kỳ. Trong suốt thời gian lưu trú tại bản, chúng tôi thay phiên nhau khuấy để sục không khí vào, giúp bột chàm không bị lắng xuống đáy. Mỗi khi trời mưa, cả nhóm lại tất tả che chắn cho chum, rồi định kỳ kiểm tra độ kiềm và độ đậm nhạt của thuốc nhuộm, nhất là sau mỗi lần dùng. Chàm rất cần hơi ấm và thời gian để lên men. Nhờ vậy mà chúng tôi dần biết cách “bắt mạch” để nhận ra khi nào một chum thuốc đang “khỏe,” hay khi nào thì nó bắt đầu “xuống sức.”
Chum thuốc nhuộm nổi bọt từ quá trình lên men.
Nhặt Lá, Đá Ống Bơ
Nhái vốn là người Hải Phòng lên Hà Nội học đại học. Với niềm đam mê đặc biệt dành cho đồ thủ công, cô tự mày mò học may vá, thêu thùa, làm bánh và đóng sách. Nhận thấy bản thân không phù hợp với cuộc sống văn phòng, Nhái bắt đầu làm và bán đồ thủ công ngay từ những ngày còn trên ghế nhà trường.
Thuở ban đầu, Nhái thử sức với kỹ thuật nhuộm nóng bằng những nguyên liệu tự nhiên như lá bàng, vỏ hành hay hạt bơ. Mãi sau này, cô mới dần bén duyên với sắc xanh của chàm. Trong giai đoạn đó, Nhái cùng một người bạn thân thiết đã cùng nhau nghiên cứu, vừa học vừa làm để gây dựng một thương hiệu chung. Đến năm 2016, khi định hướng và mục tiêu của mỗi người bắt đầu có sự khác biệt, cả hai quyết định chọn cho mình những lối rẽ riêng. Nhái tiếp tục hành trình với Nhặt Lá, Đá Ống Bơ, còn người bạn kia thì thành lập Đu đủ, thương hiệu ứng dụng nhuộm chàm trong các thiết kế nội thất.
Càng gắn bó với sắc chàm, Nhái lại càng muốn tìm hiểu sâu hơn về chính loài cây này. Sự tò mò đó dẫn lối cô đến với việc trồng trọt và làm vườn. Nhái bắt đầu để ý hơn đến những gì mình ăn, đến từng nhành cây ngọn cỏ xung quanh, và rồi cô nhận ra mình cần một không gian rộng mở hơn để vừa có thể đặt chum nhuộm, vừa có thể tự tay gieo trồng, một điều mà phố thị Hà Nội khó lòng đáp ứng được.
Học viên cùng nhau chuẩn bị những bữa cơm giản dị.
Năm 2018, Nhái chuyển đến một trang trại nhỏ ở Lạng Sơn. Cô ở đó một năm trước khi dự định cùng người bạn đồng hành lên vùng núi Ngọc Linh xây dựng xưởng làm việc mới. Trong lúc chờ đợi, Nhái ghé Cát Cát giúp Nủ, khi ấy mới là một người bạn mới quen, xây dựng ngôi nhà giờ đây chính là tổ ấm của cặp đôi. Suốt thời gian đó, cô vẫn miệt mài học hỏi thêm về nghề nhuộm từ các phong tục địa phương. Cuối cùng, khi dự định ở Ngọc Linh không thành như mong đợi, Nhái quyết định dừng chân hẳn tại Cát Cát. Cô và Nủ kết hôn, rồi chào đón em Mì ra đời vào năm 2023.
Bắt tay pha một mẻ nhuộm mới.
Sau khi ổn định cuộc sống tại bản, Nhái bắt đầu mở lớp và phát triển dự án Nhặt Lá, Đá Ống Bơ, đồng thời vẫn gửi bán các sản phẩm tại cửa hàng của bạn bè ở Hà Nội. Từ khi Nhái mang bầu em Mì, Nủ bắt đầu xắn tay vào hỗ trợ vợ công việc kinh doanh. Dù xuất thân từ hai văn hóa khác nhau, cả hai vẫn kết hợp vô cùng ăn ý, cân bằng khéo léo giữa công việc và gia đình. Trong khóa học, Nủ là người dẫn cả nhóm lội rừng thu hoạch chàm, còn Nhái phụ trách hướng dẫn cách chọn vải, kỹ thuật nhuộm và chăm lo cho em Mì ngủ đúng giờ mỗi ngày.
Trước khi lớp học bắt đầu, chúng tôi được nhắc nhở nên ý thức về lượng rác thải vô cơ mang theo và phải tự mang rác về khi kết thúc chuyến đi. Đến nơi rồi mới thấy, nếp sống ở đây tuy chưa thể hoàn toàn vắng bóng rác, nhưng mọi thứ đều được gói ghém rất thiết thực và thuận theo điều kiện bản địa.Túi nilon được giữ lại để dùng nhiều lần; vỏ hộp sữa được rửa sạch, cắt gọn để mang về Hà Nội tái chế; xà phòng thì mua theo ký để dùng cho mọi mục đích. Trong bếp luôn có một thùng nhỏ thu gom rác hữu cơ để ủ phân bón vườn. Quan trọng nhất là tuyệt đối không có sự xuất hiện của hóa chất, từ vườn rau ăn hằng ngày đến đồi chàm phía sau nhà.
(Trái) Quy trình nhuộm vải. (Phải) Nủ nung chảy sáp ong để lộ ra hoa văn hoàn thiện.
Hiện tại, lượng chàm tự trồng vẫn chưa đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất, nên Nhái và Nủ phải mua thêm cao chàm từ các hộ dân khác. Tuy nhiên, việc thuyết phục người nông dân từ bỏ thuốc trừ sâu không hề đơn giản, dù họ đưa ra mức giá cao hơn. Cuộc sống vùng cao vốn khắc nghiệt; việc lạm dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học đã trở thành thói quen vì giúp cây lớn nhanh, lại đỡ tốn công chăm sóc. Những hóa chất này vốn được quảng bá như một “giải pháp thần kỳ” mà lờ đi những độc tính gây hại cho đất, làm suy giảm đa dạng sinh học và ô nhiễm nguồn nước, không khí. Bởi vậy, việc kiên trì vận động bà con giảm bớt hoặc nói không với hóa chất vẫn là một hành trình đầy gian nan của cả hai.
Thành quả sau một buổi cùng nhau thu hoạch chàm.
Bên cạnh đó, cơn sốt nhuộm chàm tại Việt Nam cũng kéo theo sự ra đời của nhiều cơ sở tương tự. Nhái phải đấu tranh nội tâm để làm sao vừa giữ đúng những tiêu chuẩn khắt khe của mình, vừa tạo ra được những sản phẩm có sức hút và gần gũi với mọi người. Nhặt Lá, Đá Ống Bơ chủ yếu hợp tác với các thương hiệu bản địa nhỏ, những người tìm đến cô để đặt hàng các loại vải nhuộm thủ công với hoa văn đặc trưng. Chẳng hạn như chiếc Áo Tấc của thương hiệu Đông Phong này, được may từ chính những thước vải do một tay Nhái nhuộm.
Mọi lợi nhuận từ lớp học đều được vợ chồng Nhái tái đầu tư để cải thiện hạ tầng, từ không gian ở đến khu vực nấu nướng chung cho học viên. Do địa hình vùng cao Sa Pa khiến chi phí vận chuyển vật liệu rất đắt đỏ, nên mọi thứ chỉ có thể nâng cấp dần dần. Về lâu dài, Nhái cũng mong muốn dành thời gian để học hỏi thêm về kỹ nghệ chàm và những kỹ thuật mới từ nhiều nơi trên thế giới.
Buổi sáng bình yên nhìn qua cửa sổ phòng nghỉ.
Ngoài công việc chuyên môn, Nhái và Nủ còn ấp ủ những dự án cộng đồng cho thanh thiếu niên tại bản. Nhái trân trọng giá trị thủ công của nghề nhuộm chàm, nhưng lớp trẻ địa phương dường như ngày càng ít mặn mà. Hiện nay, nhiều em sau khi học xong lớp 9 thường được hướng đi học nghề hoặc làm dịch vụ, vì ngành du lịch vùng cao đang phát triển và cần nhiều nhân lực. Vợ chồng cô hy vọng có thể vừa bảo tồn được nét văn hóa truyền thống, vừa giúp thế hệ trẻ tiếp cận với những hướng đi sáng tạo hơn.
Khi được hỏi về thành tựu khiến mình tự hào nhất, Nhái thành thật chia sẻ: “Thực ra là mình hơi kiểu bị tự ti, vì mình không có xuất thân từ ngành sáng tạo. Nên là mình luôn luôn cảm thấy là mình chưa đủ giỏi, và những thứ mình làm ra có thể tốt hơn nữa. Tất nhiên là sau một thời gian như thế, và nhìn lại, thì mình cũng thấy là thực ra là mình làm tốt rồi, mình đã cố gắng làm tốt nhất ở thời điểm đấy, nên cũng sẽ ok thôi.”
Bốn ngày trải nghiệm Cát Cát
Ngâm mình dưới dòng suối mát lành sau ngày đầu tiên học về chàm.
Cuộc sống ở Cát Cát mang một dấp dáng khác với những gì chúng tôi đã tưởng tượng. Chúng tôi sống chậm lại, nương theo tiến độ của lớp học một cách linh hoạt mà không thấy một giây phút nào bị lãng phí. Sau ngày đầu tiên, cả nhóm đã có một chuyến đi bộ ngẫu hứng ra suối cùng các cháu của Nhái và Nủ, cùng nhau vục làn nước mát lạnh dưới chân thác.
Đến ngày thứ ba, chúng tôi dành hàng giờ bên bếp lửa nhỏ để giữ cho sáp ong luôn nóng chảy. Cả nhóm vừa vẽ, vừa khâu vá, vừa hỗ trợ nhau hoàn thành những dự án cá nhân đôi khi tiêu tốn nhiều thời gian hơn dự kiến. Các bạn học của tôi hầu hết đều chọn khổ vải dệt tay hình chữ nhật cỡ lớn để làm khăn quàng, khăn trải bàn hoặc đồ trang trí. Riêng tôi chọn một tấm vải lanh vuông để làm khăn trùm đầu hoặc thắt nơ cổ. Trước đó, chúng tôi đã được chiêm ngưỡng bộ sưu tập của Nhái và Nủ, từ những món đồ đang làm dở đến những trang phục do chính gia đình Nủ tự may để mặc hằng ngày.
Một mẫu hoa văn nhuộm chàm truyền thống của người H’Mông.
Vợ chồng Nhái còn nhượng lại cho tôi một chiếc áo khoác cũ của Nủ, món đồ mà chính tay mẹ anh đã khâu và nhuộm từ ngày anh còn bé. Áo ở đây có phom vai rất lạ, trễ xuống tận khuỷu tay, khiến đường nét trông mềm mại chứ không hề cứng nhắc. Qua bao năm tháng lăn lộn trong các chum thuốc nhuộm, thớ vải vẫn giữ được sắc xanh chàm đậm đà, rực rỡ. Chiếc áo điểm xuyết những chiếc cúc kim loại nhỏ hình quả chuông và có vài vệt sơn trắng trên tay áo trái, vết tích từ những lần Nủ mặc chiếc áo “vía” này để sửa sang nhà cửa. Lúc bán cho tôi, họ cũng tinh ý tìm cách tẩy những vệt bẩn đó đi. Tôi từng định thêu đè lên, nhưng rồi lại thôi, vì đó là một cái cớ tuyệt vời để mỗi khi mặc áo, tôi lại được kể cho bạn bè nghe về những ngày ở Cát Cát và về những người bạn ở Nhặt Lá, Đá Ống Bơ.
Thông qua bộ sưu tập của họ, chúng tôi hiểu rõ hơn về hiệu ứng của từng kỹ thuật nhuộm. Bài thực hành của tôi là sự kết hợp giữa vẽ sáp ong (để tạo khoảng trắng), nhuộm chồng nhiều lớp để tạo các sắc độ xanh khác nhau và kỹ thuật khâu shibori. Kết quả là một tấm vải có bố cục như những mảnh ghép đầy ngẫu hứng. Các bạn học của tôi thì có tầm nhìn rõ ràng hơn, ứng dụng chỉ một kỹ thuật để tạo nên thiết kế đồng nhất về mặt thị giác.
Cả nhóm mải mê thiết kế trong khi Nủ đang nướng gà phía sau.
Nủ cứ thế tất bật ngược xuôi, vừa hướng dẫn chúng tôi, vừa tranh thủ nướng gà trên chính bếp lửa đun sáp ong. Nhiều bữa ăn trong những ngày đầu đều khá lúng túng vì mọi người vẫn còn lạ lẫm với nhau. Nhưng rồi, mọi khoảng cách đều tan biến mỗi khi Nhái bưng ra những mẻ bánh tự làm, từ bánh mì shokupan cho bữa sáng, bánh su kem mừng ngày tốt nghiệp, đến những ổ bánh mì sữa vốn định để dành nhưng đã bị chúng tôi “xử lý” sạch bách trong chuyến đi bộ sang Tả Vân vào ngày thứ tư.
Mẻ bánh su kem tốt nghiệp mà em Mì háo hức mong chờ.
Tôi rời Cát Cát với lòng trân trọng sâu sắc dành cho kỹ nghệ nhuộm chàm và cội nguồn văn hóa H’Mông. Kể từ đó, tôi luôn cố gắng duy trì sự tập trung và lòng hiếu kỳ trong cuộc sống thường nhật, những điều vốn dĩ đến rất tự nhiên trong suốt thời gian ở bản. Trên điện thoại tôi giờ đây là bức ảnh tốt nghiệp rạng rỡ và một nhóm chat vẫn nảy tin nhắn mỗi ngày, nơi mọi người tiếp tục chia sẻ cho nhau những mẹo nhỏ, những khám phá và suy ngẫm về sắc xanh huyền hoặc của chàm.
Nhái (thứ ba từ phía trái) cùng học viên ngày tốt nghiệp.